05/09/2013
Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 42)

 

Chữ “tua rua” trong tiếng Việt cổ

Một câu ca dao khác có từ thời cổ xưa mà nguồn từ tộc Nam Dương hay Mã Lai cổ mà nhiều nhà nhân chủng học cho là có liên hệ đến chủng tộc Việt:

Bao giờ thấy vỏ thị rơi

Tua rua quặt xuống thì thôi cày bừa

Câu trên làm ta nhớ lại một câu ca dao khác mà Bình Nguyên Lộc đã sưu tầm được:

Tua rua đã xế ngang đầu

Em còn đứng đó làm giầu cho cha

Theo Bình Nguyên Lộc, tua rua là tiếng Mã Lai. Tua là ngôi sao. Rua là sao rua.

Người Việt gọi là sao Mang, người Tầu gọi là sao Mão.

(Mặc Giao – Văn hóa Việt)

Văn hóa cà phê

Nhiều văn hào lừng danh trên thế giới (như vợ chồng triết gia người Pháp Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir) khi ngồi xuống bàn viết, ngòai xấp giấy trắng phải luôn luôn có ly cà phê nóng trước mặt.

Từ thế kỷ 15, 16 ở Châu Âu đã xuất hiện khái niệm “văn hóa cà phê”, ám chỉ những quán cà phê thường có sự lui tới của các văn nghệ sĩ, các triết gia. Họ đến đó, trước hết như là nơi thường xuyên gặp gỡ hàng ngày, để ăn uống, trao đổi bàn bạc những bản thảo họ đang thai nghén, hay để chia sẻ những ý kiến riêng về các vấn đề văn hóa thời sự nóng hổi.

Nhiều tác phẩm quan trọng có tầm vóc thay đổi thế giới đã ra đời từ những quán cà phê như thế. Franz Kapka, nhà văn gốc Do Thái, đã đọc lại bản thảo tác phẩm lừng danh “Hóa Thân” (Metamorphosis) tại quán cà phê Café Stefan ở Prague (thủ đô Tiệp Khắc).

Tiệm cà phê cổ nhất ở Paris, khai trương năm 1686 (và đến nay vẫn còn họat động

(?)), Le Procope, với vị trí thuận lợi tọa lạc gần hí viện La Comédie-Francaise, đã

được sự chiếu cố đặc biệt của các nghệ sĩ, các nhà viết kịch (Molìere, Racine v.v..)

nên đã tồn tại một thời gian kỷ lục. Lịch sử về văn hóa cà phê tại châu Âu đã ghi

nhận sự ra đời của gần 40 quán cà phê, đến nay vẫn còn họat động tại 20 thành

phố, từ Budapest (Hung Gia Lợi) diễm lệ sang trọng đến một góc phố tồi tàn của

St. Petersburg (Nga).

Ở Sài Gòn, trước năm 1975, có quán cà phê La Pagode, nằm trên đường Tự Do, là nơi tụ tập của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của miền Nam. Cái tên La Pagode đã có chỗ đứng rất trang trọng trong nhiều tác phẩm văn, thơ xuất bản cả trước lẫn sau 1975. Cũng từ quán cà phê Cái Chùa (La Pagode), một nhóm các nhà văn, nhà thơ lúc ấy đã “lăng–xê” mốt “trí thức thời thượng”: kính trắng và ống vố (pipe). Và tất nhiên, trước mặt phải có ly cà phê bốc khói, và cái lọ đựng những viên đường thẻ trắng tinh.

(T.Vấn – Văn hóa cà phê)

Truyện ngắn I

Truyện ngắn đầu tiên trên không xuất hiện ở Tây phương mà là ở Trung Đông. Lịch sử truyện ngắn bắt đầu bằng Tales of the Magicians của Ai Cập, tiếp đến là Một nghìn một đêm lẻ của Ba Tư. Ở Tây phương, truyện ngắn chỉ xuất hiện khoảng 200 năm.

Tại Việt Nam, truyện ngắn có từ thế kỷ 13 với Báo cực truyện thời nhà Trần. Thế kỷ 16 với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (*).

Năm 1866, truyện cổ tích bằng chữ quốc ngữ do Trương Vĩnh Ký thu thập, sao chép lại và xuất bản tại Sài Gòn.

(Phụ chú: Theo Trần Văn Tích trong “Sự muôn năm cũ” báo Làng Văn thì tác gỉa Truyền kỳ mạn lục đúng ra là Nguyễn Dư chứ không là Nguyễn Dữ (*) như mọi người vẫn lầm tưởng)

(Trần Bích San – Văn Khảo)

Văn học miền Nam 1954-1975

Đặc điểm chính của nền văn học miền Nam từ 1954 đến 1975, là đã thoát khỏi văn học thế kỷ XIX, giã từ lãng mạn tiền chiến.

Nhiều nhà văn tìm cách xây dựng tư tưởng trên nền triết học hiện đại, đưa con người về hướng tìm hiểu chính mình. Triết học hiện sinh xuất hiện dưới nhiều hình thức: phòng trà tửu quán, ăn chơi, bụi đời, là từng thấp nhất; ở mức cao hơn, nó hậu thuẫn cho tác phẩm: con người quay về khảo sát chính mình, nhận thức chính mình, với những nhân vật của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu… Cách mô tả của Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền, nhiều chỗ, cho thấy các ông đã dùng hiện tượng luận trong sự mổ xẻ và phân tích.

Để áp dụng tư tưởng triết học vào thực tế văn học một cách vừa phải, dễ hiểu, đã có các ngòi bút như Nguyên Sa, vừa là giáo sư triết vừa là nhà thơ, như Nguyễn Văn Trung vừa là giáo sư đại học vừa viết sách triết học và phê bình văn học. Quan niệm dấn thân của Sartre, qua Nguyễn Văn Trung, thâm nhập vào đời sống giới trẻ: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lữ Phương, Nguyễn Đắc Xuân, là những học trò của Nguyễn Văn Trung, do ảnh hưởng quan niệm dấn thân của Sartre mà vào bưng, hồi 1968. Cuốn “Ca tụng thân xác” Nguyễn Văn Trung cũng đã ảnh hưởng ít nhiều đến các nhà văn phụ nữ trong lối viết mạnh bạo về thân xác của họ.

Tóm lại, triết học hiện sinh, chủ nghiã siêu thực và phân tâm học, giúp một số tác giả đào sâu thêm nhiều vấn đề trọng yếu của con người, của đất nước, đặt lại vấn đề chiến tranh. Kịch của Vũ Khắc Khoan phát triển khía cạnh phi lý trong đời sống. Thanh Tâm Tuyền trong thơ tự do, khai phá vùng tiềm thức con người bằng những cách tạo hình mới lạ. Truyện của Dương Nghiễm Mậu đào sâu cái trống rỗng ghê gớm trong hiện sinh con người, bị tha hoá trong chiến tranh và nhược tiểu. Mai Thảo vẽ lại một thời kháng chiến đầy ảo tưởng, và tạc những bộ mặt hư vô, chán chường, sống vật vờ trong say sưa, nơi vũ trường thành thị. Võ Phiến đào sâu xuống những mất mát của con người khi phải bứt khỏi nguồn cội, tra khảo vùng bản năng sâu kín của tính dục.

Phan Nhật Nam trình bày những bi đát của đời lính, những kẻ cầm súng bắn vào quê hương mình. Bình Nguyên Lộc tìm về nguồn cội của dân tộc di dân từ Bắc vào Nam, chiếm hữu đất đai của người Chàm, người Chân Lạp, tìm sống trong rừng đước, rừng mắm, vươn lên từ hai yếu tố cơ bản: đất và nước. Túy Hồng, Thụy Vũ thể hiện tâm linh táo bạo của người phụ nữ thời đại, chao đảo trước một thứ nữ quyền vừa thành hình qua sự nhận diện thân xác, và bị dằn vặt trong một xã hội vẫn còn chưa hẳn thoát khỏi đạo lý Khổng Mạnh, v.v…

Mỗi nhà văn có một vùng khai phá riêng. Tính chất đa dạng ấy khiến cho văn học miền Nam, qua các ngòi bút khác nhau, đã phản ánh được thân phận con người trong xã hội chiến tranh, bằng những hình thức sáng tạo mới, khác hẳn tiền chiến, tạo cho văn học Việt Nam một bộ mặt trưởng thành trong tâm thức nhà văn và tâm thức độc giả.

(Thụy Khuê – Văn học miền Nam)

Thể song thất lục bát

Quốc văn ta tiến đến đời Trịnh thành hình một thể văn có nhiều đặc sắc: thể ngâm. Ngâm là một thể văn vần trường thiên hợp bởi những tứ cú. Mỗi tứ cú gồm có hai câu bảy chữ rồi hai câu sáu tám, thành chu kỳ cứ nhắc lại mãi. Ðến cuối đời Trịnh (thể ngâm) được đưa vào 2 kiệt tác: Chinh phụ ngâmCung oán ngâm.
Câu thất ngôn đây (tức trong thể ngâm) khác hẳn câu thất ngôn Ðường luật:
a) Vần: Câu thất Tàu chỉ có cước vận. Câu thất Việt có yêu vận (khi bằng khi trắc) (…)
b) Nhịp: Câu thất Tàu ngắt theo nhịp 4 + 3 hoặc 2 + 2 + 3, Câu thất Việt ngắt theo nhịp 3 + 2 + 2.
c) Thanh: Câu thất Tàu theo nghiêm luật “Nhị tứ lục phân minh”. Câu thất Việt không theo luật ấy, tự có thanh luật mềm dẻo hơn.
(Phạm Thế Ngũ – Việt Nam văn học sử giản ước tân biên)

Chữ nghĩa thập niên 20

Ấp cây – Nghĩa là ôm cây mà đợi. Sách Trang Tử chép rằng: Vỹ Sinh là học trò có tín. Một hôm có hẹn với tình nhân, đến bên một cái cột cầu. Người tình nhân không đến. Vỹ Sinh cứ ôm cái cột cầu đến nỗi nước dâng lên và chịu chết đuối. Ý nói đợi chờ đã có tín thực, thì chết cũng đành, nghĩa là mong mỏi khao khát lắm.

(Phan Mạnh Danh – Thập nhất chân)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Nếu biết rằng em đã lấy chồng

Anh về, cắt phứt cho xong

Cuộc đời này chẳng còn em nữa

Thì có làm chi cũng như không!!!

“oi”

Nhiều học giả cho rằng phần lớn các âm tiếng Việt biểu thị hình dạng. Như khi đọc âm “oi” thì y như rằng có cái gì…dài thêm ra.

Cái vòi, cái ngòi (sông nhỏ), thòi ra, lòi tói, nhoi lên, ngoi lên..v..v..

(Nguyễn Triệu Việt – tạp chí Tân Văn)

Chữ Nôm

Nôm là biến âm của chữ Nam: Gồm chữ “nam” cộng với chữ “khẩu”.

(Chắc tiếng nôm khởi đầu dùng để…”nói”. Sẵn trớn nói bừa, e nhầm to)

(Trần Ngọc Thêm – Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam)

Đổi họ

“Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam” của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội thực hiện năm 1987. Tác giả đã đổi những nhân vật họ “Huỳnh” thành “Hoàng”, “Chu” thành “Châu”,Vũ” thành “Võ”.. v .v…

Do đó trong từ điển có những danh nhân như Hoàng Thúc Kháng, Hoàng Tịnh Của, Châu Mạnh Trinh, Võ Ngọc Phan, Võ Trọng Phụng… Làm như vậy không những kỳ quặc mà còn là một điều bất kính với tiền nhân.

(Đặng Trần Huân – Chữ nghĩa bề bề)

Văn hóa ẩm thực: “Ăn”

Người ta tìm ra rằng: “Cuộc đời của một người đàn ông hầu hết gắn bó với chữ “ăn” cho đến cuối đời:

Lỡ không có việc là…“ăn không ngồi rồi”.

Ăn theo, ăn bám vợ…“ăn sung mặc sướng”.

Ăn nên làm ra rồi bày đặt…“ăn kiêng”.

Về già rụng răng có nước…“ăn cháo”.

Ngồi trên bàn thờ là…“ăn xôi nghe kèn”.

Tiếng Việt nghèo nàn nhưng phong phú

Thấy cái đề tài nầy hay hay, cho nên cái bang tôi xin phép được góp hai câu. Tuy rằng không phải là văn thơ, nhưng hai câu vè nầy đã có từ thuở xôi đậu:
Hôm qua qua nói qua qua mà qua không qua
Hôm nay qua không nói qua qua mà qua lại qua

(Trau giồi tiếng Việt – ĐatViet.com)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

“Đào tị” và “tiểu táo, đại táo ” nghĩa là gì? Ai biết chỉ dùm!

Ngộ Không

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2013