11/05/2013
Đỗ Xuân Tê : Tản mạn về nhà thơ tác giả Thi Thiên

clip_image001

“King David”, painting by Giovanni Francesco Barbieri (il Guercino) c. 1768

 

Trong số các nhân vật thời Cựu ước của lịch sử Do Thái, người dũng sĩ David đồng thời cũng là tác giả những vần thơThi Thiên được kể là khuôn mặt nổi trội mà cuộc đời thăng trầm và tài năng đa dạng của ông đã ảnh hưởng sâu đậm đến tiến trình lịch sử của Israel và dân tộc của vương quốc này hàng ngàn năm sau.

Trải qua các thế đại, David được các nhà phê bình Kinh thánh, phê bình văn học, các nhà sử học của thế giới khi viết về ông đã phong tặng các chức danh, các danh hiệu, các tên gọi vừa cao trọng hiếm thấy vừa dung dị đời thường tỷ như: người chăn chiên hiền lành, người dũng sĩ đảm lược, người nghệ sĩ có ngón đàn tuyệt vời, một nhạc sĩ biết soạn thánh ca lễ nhạc, một nhà thơ tác giả Thi thiên, một người tình tuyệt vời, một ông thánh, một kẻ tội lỗi khó tha thứ, một kẻ tại đào, một người cha bất lực, nhưng cũng là người bạn chung thủy, người tôi tớ trung tín, một anh hùng đức tin, một nhà lãnh đạo tài ba nhìn xa trông rộng, một ông vua lý tưởng, một người biết xây thành, một tư lệnh đạo quân luôn chiến thắng, một chủ tướng kiệt xuất chuyên mở mang đế quốc… và còn nhiều danh vị danh xưng khác đã đi vào huyền thoại có một không hai trong hàng danh nhân thế giới.

Gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp, David mặc nhiên có vị trí cao trọng trong lịch sử Do-Thái không hẳn chỉ trong lãnh vực chính trị quân sự mà trải dài qua các phạm trù thần học, triết học, văn học thơ ca, của cả dân tộc Israel. Có nhiều sách đã viết về ông như một Con người, như một Vị Vua, người Anh Hùng Đức Tin.

Riêng tôi, trong phạm vi bài viết ngắn này, xin tản mạn đôi điều sau khi được đọc vài sách Tiên tri và Thi thiên trong Cựu ước để lạm bàn về chất nghệ sĩ trong con người dũng sĩ của vua David mà những vần thơ ngọt ngào trong Thi Thiên và ngón đàn tài hoa trong lễ nhạc của ông đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho những nhà văn nhà thơ nhà soạn nhạc của các thế kỷ sau.

Xuất thân là một người chăn chiên, một nghề nghiệp nhờ tố chất của nó đã sản sinh nhiều người lãnh đạo kiệt xuất trong thời Cựu ước, ở tuổi thiếu niên, David được cha cho đi chăn dắt đàn chiên của gia đình nên đã phải xa nhà nhiều ngày đêm trong năm, quen chịu với thời tiết giá rét, thú dữ rình mồi để sẵn sàng chống trả, bảo vệ đàn chiên và tìm những đồng cỏ xanh tươi cho chúng.

Chính vậy mà ông đã biết bắn nỏ, bắn ná, dùng gươm, phóng dao, phóng giáo một cách thành thạo, kể cả dùng tay chiến đấu trực tiếp với gấu và beo để giành lại những chiên của mình. Tiếng đồn vang ra khắp các thung sâu núi cao để rồi trở thành chàng dũng sĩ thiếu niên đã địch lại người khổng lồ qua giai thoại DAVID vs GOLIATH sau này trở thành thuật ngữ trong chiến trận khi nói về các cuộc đọ sức không cân xứng mà người nhỏ, nước nhỏ vẫn đánh thắng người khổng lồ, nước lớn.

Bản thân là một dũng sĩ do hoàn cảnh và thời thế taọ nên, nhưng cũng chính vì trải qua những ngày đêm cô đơn trong không gian thinh vắng chỉ làm bạn với đàn chiên, với cỏ cây hoa lá, với sương đọng tuyết rơi, David đã tự giải khuây bằng tiếng đàn của mình, một loại đàn lya (lyre) rất phổ biến trong thời đại ông, dần dà do thiên bẩm nên biết hát và biết soạn các bài ca cho riêng ông.

Ở tuổi 18, ông đã trở thành một tay chơi đàn lỗi lạc, tiếng đàn du dương ngọt ngào có sức mạnh giải phiền, an ủi làm vui cho mọi người, mà còn xua đuổi được ác thần, ác tưởng trong tâm trí người nghe, cụ thể như vua SAUL của Do Thái vì những áp lực stress trong công việc triều chính lại hay bị quấy nhiễu bởi những ác thần trong tâm can nên ngỏ ý cần một thanh niên có ngoại hình đẹp, có ngón đàn hay, biết đánh giặc giỏi, biết thận trọng trong lời ăn tiếng nói, thì vừa lúc David ở tuổi này ông đang là một chàng thanh niên đẹp trai, da dẻ hồng hào, có đôi mắt xinh lịch, về chiến trận đã có thành tích diệt được Goliath, niềm hãnh diện cho dân Do-thái, lại biết xử dụng thành thạo các loại binh khí, và đặc biệt là có ngón đàn ‘thần sầu quỷ khốc’ đúng như ý muốn của vua .

Nhờ những tiêu chuẩn và thành tích như vậy mà ông đã được vua Saul tuyển chọn cho làm nhạc sĩ cung đình, người gảy đàn riêng cho vua, người mang vác binh khí cho vua khi chiến trận. Ông đạt trọn vẹn lòng tin của Saul không chỉ làm cho vua được giải khuây mà về sau này khi theo vua đi chiến trận, ông đã đạt những công trạng vượt trội cả vua. Các câu đồng dao, ‘Saul giết hàng ngàn/ David giết hàng vạn’ được truyền tụng trong dân gian, đã dự báo cho số phận của David không còn an toàn khi nhà vua tỏ lòng ghen tị rồi đổi thành thù nghịch nhiều lần muốn cướp mạng sống của David, và nếu không được Chúa phù hộ quan phòng như David hết lời cảm tạ trong các bài Thánh vịnh sau này thì David chẳng còn có dịp sống sót mà lên ngôi vua, mở đầu cho một triều đại huy hoàng cho vuơng quốc Israel.

Ông được kể là Anh hùng Đức tin, và rõ nét là một Dũng sĩ ham cầu nguyện, hay một ‘chiến sĩ cầu nguyện’ như ta quen gọi ngày nay để rồi hòa quyện với tâm tình nghệ sĩ trong tâm thức đã thúc đẩy ông trở thành một người nghệ sĩ biết tôn vinh. Cuộc đời ông theo dòng lịch sử bản thân, trong mọi hoàn cảnh dù khi hanh thông thành đạt hay nghịch cảnh ba đào, ông chỉ biết hết lòng cầu khẩn Chúa và nhiệt tình tôn vinh Thượng Đế.

Tôi đã được xem bức tranh minh họa của một danh họa về cuôc rước hòm giao ứơc vào thành David, do chính vua David cung thỉnh và vô cùng ấn tượng khi chính ông mặc ê-phót vải gai, chân đất, vừa đi vừa múa hát trước hòm giao ước (trong đó lưu giữ hai bảng đá ghi Mười điều răn của Thiên Chúa), cùng đoàn dân ca múa, đánh trống cơm, gõ nhịp, reo tiếng vui mừng, rộn tiếng thanh la, đúng như cảnh tượng được mô tả trong Cựu ước.

David đã thể hiện nét nghệ sĩ chân chất của mình như thế đó. Có người không hiểu cho làm như vậy là ‘nhẹ thể’ nhà vua khiến các con đòi khinh dể mình, trớ trêu thay có cả Mi-ca người vợ đấu vợ vua. Bà đã cười khi xem đám rước và còn tỏ lộ sự khinh thường khi trách cứ chuyện này với chồng trong chốn rêng tư. Chẳng hiểu có vì cớ này, nên Sách có ghi lại bà không có con cho đến khi thác.

Tản mạn về David, người nghệ sĩ thiên tài được mệnh danh ‘người viết Thi Thiên ngọt ngào nhất của Israel’ sẽ thiếu sót nếu không trích dẫn một số câu chữ trong sách Thi Thiên (Psalms) mà tổng cộng trong số 150 bài người ta ghi nhận có tới 2/3 do chính David vừa làm hoặc chấp bút. Đây là những vần thơ còn gọi là Thánh Vịnh được kể là trước tác không hẳn chỉ về tâm linh mà về giá trị văn học được nhìn nhận và gây cảm hứng cho văn nghệ sĩ toàn cầu nhiều thế đại sau.

Thi thiên không hẳn chỉ được viết trong thời đại ông, mà nghe nói kể từ khi có vinh dự được mang hòm giao ước của Thiên Chúa về thành David, chính ông và những thầy lễ nhạc đã gom góp sưu tập các bản lễ nhạc, thánh ca với các kỹ thuật đệm đàn và nhạc khí của các thời trước đó để dùng trong mục đích tôn vinh Thiên Chúa trong các lễ nghi thờ phượng và dâng hiến của lễ cho Ngài. Cũng qua một đoạn của Thi thiên, chính David đã hứa nguyện,

Hễ tôi sống bao lâu, tôi sẽ hát xướng cho Đức Giê-hô-va bấy lâu;

Hễ tôi còn chừng nào, tôi sẽ hát ngợi khen Đức Chúa Trời tôi chừng nấy.

Nhìn chung các bài Thánh vịnh đều mang nội dung như những lời cầu nguyện, những nguyện vọng muốn tỏ bày cùng Thiên Chúa, ca ngợi quyền năng sáng tạo vũ trụ, quyền uy cả thể của Đấng Chí Cao, đồng thời cũng tôn vinh và cảm tạ Đức Chúa Trời đã quan phòng tác giả qua cơn nguy khốn để vừa mang tính dạy dỗ, vừa làm chứng cho các thế hệ sau về lòng thương xót bao la của Đấng Tạo hóa, Cha chung của muôn lòai…

Về cảm quan có người thích bài này có người lại tâm đắc bài kia, cho nên do hạn chế của tiểu luận, tôi chỉ xin đan cử một vài tư tưởng đặc thù xuất phát từ đáy lòng tác giả mà biết chắc là của David.

Đại để trong bài Thi thiên số 14, bày tỏ sự gian ác của loài người và ngu dại của chúng sinh, ông dám viết,

Chúng nó thay thảy đều bội nghịch, cùng nhau trở nên ô-uế;

Chẳng có ai làm đều lành,

Dầu một người cũng không

Thi thiên số 16 khi luận về cái phước trên đời này thì nó vô cùng, nhưng trong thâm tâm suốt đời ông thành thực với lòng mình, David chỉ tìm thấy một cái phước, đó là ‘Đức Chúa Trời là Chúa của ông’

Đức Chúa Trời ôí xin hãy phù hộ tôi, vì tôi nương náu mình nơi Chúa.

Tôi đã nói cùng Đức Giê-hô-va rằng: Ngài là Chúa tôi;

Trừ Ngài ra tôi không có phước gì khác.

Bàn về luật pháp và điều răn của Đấng Tối Cao, có người cho là nặng nề khó bề thực hiện và gìn giữ trọn vẹn, thì ông lại vui mừng khẳng định trong bài Thi-thiên số 19 bằng những trải nghiệm tâm linh hiếm thấy ở một con người luôn yêu mến luật pháp của Đức Chúa Trời, ông viết:

Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại;

Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng;

Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa.

Các điều ấy quí hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng;

Lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong.

Trong chúng ta, có ai được như David khi ông hạ mình nài xin,

Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch,

Và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng

để rồi người viết Thi thiên tự thầm hỏi khi nhìn lại cuộc đời mình, vô tình hay cố ý bản thân nhà vua cũng đã phạm nhiều điều gian ác,

Hỡi Đức Giê-hô-va, nếu Ngài cố chấp sự gian ác,Thì, Chúa ơi! Ai sẽ còn sống? (Thi thiên 130)

Trích dẫn Thi thiên là chuyện khôn cùng, bài nào cũng lời hay ý đẹp xuất phát từ sự cảm động và gợi ý của Thánh Linh, nên người viết xin khép lại bằng bài Thi thiên phổ cập nhất trong Cựu ước, đó là Thi thiên 23. Thực chất bài Thánh vịnh này với nội dung chẳng khác gì môt lời Kinh cầu do chính David từ đáy lòng mình muốn bày tỏ niềm tin cậy tuyệt đối khi xưng Đức Chúa Trời là Đấng chăn giữ tác giả,

Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết

Tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào;

vì Chúa ở cùng tôi.

Cũng nhân trích dẫn Thi Thiên, người viết xin bày tỏ sự trải nghiệm một thời khi có dịp tiếp cận trong trại cải tạo tại miền Bắc những ‘vần thơ ngọt ngào’ này qua sự trao đổi lén lút của một vài anh em có đức tin cao, rồi đưa đẩy thế nào lại được nghe một điệu nhạc thân quen hầu như các trại viên nào cũng yêu thích bất luận tín ngưỡng dù đạo hay đời, đó là bản tù ca ‘Thân phận lưu đầy’ do Linh mục Nguyên Thanh được cảm hứng từ bài Thánh vịnh số 137 (có nơi ghi 136) đã sọan lại lời và viết các nốt nhạc không kém mượt mà tha thiết so với bản gốc.

Bản tù ca với nội dung lấy tích từ cảnh những người dân Do-Thái bị lưu đầy sang đất Babylon đã nghẹn ngào từ chối lời yêu cầu của các lính canh bắt hát cho họ một bài ca tình cờ lại trùng hợp với hoàn cảnh những thân phận các người tù cải tạo bị đầy ra Bắc vào cuối thập niên ’70 khi bài hát xuất hiện ‘chui’ qua những giọng ca ‘mượt mà như nhung’ của chính những người trong cuộc, đem lại nguồn an ủi vô biên trong những đêm giá lạnh trong tù nơi vùng đất trung du một thời nghiệt ngã. (Ta hãy nghe phần lời và nhạc theo đường link của Trang nhà, chuyên mục Tù khúc, Linh mục Nguyên Thanh – THÂN PHẬN LƯU ĐẦY).

Đỗ Xuân Tê

(*) trich dẫn Thi Thiên dựa theo bản dịch của Phan Khôi

Giê-hô-va, danh xưng Thiên Chúa của người Do-thái

 

 

 

©T.Vấn 2013