01/27/2014
Phan : Chiều giáp tết

clip_image002

(Courtesy of www.panoramio.com )

Khi còn đi học, tôi thường thấy bâng khuâng trong những chiều giáp tết. Nên hay thả những bước vô định trên hè phố Sài gòn, hay lòng vòng xe đạp đi tìm thời gian vừa vụt mất. Vì lòng thèm thấy mặt người, được nghe tiếng nói, giận hờn, tưởng là mãi mãi nhưng nay đã là mãi mãi không còn. Vì thế, tôi thường ngồi thật lâu ở một nơi yên vắng như bờ ruộng, nhìn ra những ngôi mộ buồn hiu giữa đồng chiều mà thấm thía đời người ngắn ngủi so với sự yên nghỉ như một trừng phạt lớn. Sao người ta không chết lặng lẽ như hoa rụng đêm qua ngoài vườn cô tịch; cánh chim thôi bạt gió vào một chiều cuối đông trên biển vắng; như anh xa em không ồn, không tin sự lãng quên nên tình ngỡ…

Nhưng theo quan niệm phương đông, vua chúa chết đi thường để lại lăng tẩm đời đời; Người đời-tùy sự giàu nghèo lúc sống cũng cố gắng để lại nấm mồ bằng hết khả năng có thể chống chọi với thời gian. Một tình cảm không như nguyện thường làm nặng lòng nỗi nhớ vô vọng. Đó có phải là sự bâng khuâng trong những chiều giáp tết, làm cho lòng người chùng xuống tới cung bậc muộn phiền. Nhưng thời gian muôn đời bất bại. Tất cả sẽ hao mòn, bị hủy hoại và cuối cùng là hủy diệt bởi thời gian. Những ngôi mộ người đời không trường tồn mãi ngoài đồng chiều; lăng tẩm vua chúa không đời đời như vương mộng; cả nỗi nhớ, sự khát khao trong lòng người làm cho hồn chiều bâng khuâng vào những ngày giáp tết, rồi cũng xuôi theo thời gian về nơi an nghỉ…

Có một chiều giáp tết khi sắp ra trường, tôi ngồi ở quán vườn dưới dạ cầu Ông Lớn, vạt nắng cuối ngày hắt xuống ngã ba sông màu vàng sa di; và cái máy cassette cũ trong quán đang chạy những cuộc băng cũ (nhão) nên tiếng hát càng thê lương với những xuân khúc thường nghe trước 75. Tôi ngồi nhìn lục bình trôi vô ưu. Lòng tự hỏi giề lục bình kia có buồn khi nó được (sinh ra) tức là tách ra từ một giề lục bình lớn hơn bởi gió mưa, nước chảy hoa trôi. Giề lục bình nhỏ nhoi bắt đầu một phận đời lênh đênh trên giòng vô định. Chắc chắn có lúc nào đó trong đời nó sẽ mạnh mẽ lên, xanh um, rồi ra hoa màu tím để làm đẹp cho đời. Nhưng tôi thích sự kết thúc của nó hơn: là một chiều vô định – giề lục bình xơ xác lặng lẽ, âm thầm, chìm xuống đáy sông sâu, nơi nó không hề biết trước! Đó là định mệnh.

Như một chiều cổ tích trên sông. Khi cô giáo tôi quen trong khu tập thể giáo viên mà tôi đang sống. Cô chắt chiu, hà tiện những đồng lương ít ỏi từ bao giờ để có thể mua (rẻ) được từ nhà những học trò, chỉ là chục trứng vịt, mấy kí nếp, con gà sống… rồi niềm vui háo hức trong mắt lệ cho người là tôi từ chối không cùng về Sài gòn với cô. Nghĩa là tết không gặp. Tôi ở lại trường.

Buổi chiều giáp tết yên vắng trong khu tập thể vốn đầy ắp tiếng cười của thầy cô giáo trẻ càng tịch liêu. Tôi nghĩ đến những người lính ngày xưa không về nhà ăn tết, chắc họ buồn lắm! “Con biết xuân này mẹ chờ tin con… ; đàn trẻ thơ ngây ngồi chờ mong anh trai sẽ đem về cho tà áo mới ba ngày xuân đi khoe xóm làng…”

Người lính ngày xưa không về nhà ăn tết vì an ninh quốc gia. Nhưng đồng lương lính cũng mua được manh áo mới cho đàn em thơ ngây thỏa lòng mong đợi. Đất nước bây giờ đã hoà bình. Cho dù là hòa bình không mong, thì người giáo viên như tôi xem lại trong túi áo, túi quần, cũng không đủ tiền đò, xe để về nhà. Đàn anh tôi vác cây súng đi chiến đấu trên mặt trận ý thức hệ nên có vui-buồn riêng của đời lính; Tôi chỉ cầm viên phấn đi mong cầu thắng được sự ngu dốt ở những làng quê xa. Nhưng lại thua sự đói nghèo trước hoà bình giả tưởng…

Một chiều giáp tết mà tôi gọi là chiều cổ tích trên sông. Khi không còn chịu nổi sự cô đơn trong khu tập thể chỉ còn lại một mình. Khi nhìn kia là ngọn đèn bình với bộ bài ở chỗ giường thầy Kha. Giá còn mấy tay cao thủ ngồi chặt hẻo với nhau cũng qua đêm. Nhìn đến chỗ nọ là cái bàn viết của thầy Bình-mồng tơi, vì suốt ngày thầy Bình chỉ hát mỗi một câu: “mồng tơi ơi hỡi mồng tơi…” để tưởng niệm cuộc tình xe đạp của thầy Bình đã bị người ta cho hửi khói xe cub. Cái bàn viết vô tiền khoáng hậu là cái mẹt tre đan bóng lưỡng, đã sứt chỉ đường tà là đường mây viền quanh, do thầy để trên đùi mà soạn giáo án riết đến cái mẹt cũng rách mà chẳng nhét vô đầu học trò được chữ gì! Khổ tâm của riêng thầy Bình hay đó chính là khổ tâm của nền giáo dục khua chiên gióng trống, chạy theo thành tích với chỉ tiêu mà quên điểm quan trọng nhất là không có thực thì sao vực được đạo.

Bước sang phòng nữ để xem lại cửa nẻo cho các cô giáo trước khi tôi đi bụi tới sáng trong xóm dân cho đỡ buồn. Cái nón cũ của cô Nhiên trên tường còn lan tỏa linh hồn thiếu nữ đã chết vì vượt biển. Nhưng những cô giáo chung phòng nữ chỉ biết thương con Nhiên bỏ nhiệm sở, nên treo cái nón cái bang của Sếu-Nhiên để nhớ cây cười có hạng với những chuyện nói nhỏ cười to…

Tôi đi khi hoàng hôn đã đỏ ối trên sông Soài. Nỗi bâng khuâng nhỏ nhoi trong lòng, trong khu tập thể chật hẹp đã có không gian thoáng rộng ngoài bến sông nên lòng thấy nhẹ nhõm hơn… Xa xa, chiếc ghe có mui ngoài sông lớn đang vật vờ năm hết tết đến-chơi vơi. Nó chỉ còn là chiếc bóng trên sông trôi. Một chiếc bóng nghĩa đen khi không nhận dạng được người chèo trong chiều chạng vạng; và một chiếc bóng theo nghĩa lẻ loi, đang bơi trên dòng nước ngược; dòng cơm áo nhọc phiền…

Người chèo ghe phất khăn rằng chào tôi, nên tôi khua tay chào lại vì có thét lớn cách mấy thì gió sông Soài cũng cuốn theo chiều gió âm vang…

Chiếc ghe quay mũi vô bờ nên tôi dừng lại đợi. Trong chạng vạng sông nước hữu tình, dáng người phụ nữ in lên nền trời ảo giác mà thượng đế đã tạo ra tác phẩm tuyệt vời nhất của ngài. Đó là chị Mười-Miên, người phụ nữ cao, gầy, cỡ ba mươi tuổi. Làn da ngăm của chị mê hoặc, sự rắn chắc của cơ thể do chèo ghe quanh năm từ mở mắt tới đi ngủ. Đôi mắt sâu thăm thẳm nỗi niềm của chị như thôi miên. Chị thường mặc quần đen, áo bà ba đen, trên cổ lúc nào cũng có cái khăn ca-rô trắng đen, khi lạnh thì quấn lên đầu như người đi tế thần linh.

Tôi quen biết chị, đã gặp nhiều lần, ăn cơm chung với chị cũng nhiều lần ở nhà một học trò mà mẹ của em ấy như người bạn thân của chị Mười, nên chị thường ghé ăn cơm khi ngang qua nhà bạn; cũng như nhận món quà chia sẻ không khí gia đình của mẹ đứa học trò thì phải. Tôi không nói chuyện nhiều với chị nhưng giữa tôi với chị có sự thầm hiểu nào đó; mà lắm lúc tôi tin là sự che giấu thân phận có tài tình cách mấy thì bộc lộ vô thức của bản thân tạo phản!

Nhưng những bữa cơm ấy cũng chỉ qua loa chuyện thường ngày trong lúc ăn. Chuyện đàn bà còn lại sau bữa cơm của chị với mẹ đứa học trò thường ở dưới bếp; tôi với cha đứa học trò thường lên nhà trên uống trà, hay uống cho hết chai rượu đã mua, nhưng gặp mấy món trong bữa cơm chiều không bắt, thì uống chay. Vì rượu trắng thời ấy thường là rượu gạo, và người bán pha chế thêm nhữg gì không rõ, nhưng để qua đêm sẽ chua như giấm.

Đây là lần đầu tiên tôi gặp riêng chị,

Khi chiếc ghe đã vào bờ, chị cười tươi như bậu mới về, “Thầy có nhìn ra tui không? Tui ngoài sông nhìn vô cũng biết là thầy…”

Tôi nhìn ra sông chỉ thấy chiếc ghe. Chứ biết ai đang chèo. Sao chị nhìn hay vậy?”

“Thầy coi. Ở đây, có người đàn ông nào tóc dài như thầy? Nhìn là biết liền hà…”

“Thì ra… Chị đang về nhà hả?”

Bỗng gương mặt chị tối sầm xuống như trời chuyển mưa. Bao vui tươi, hớn hở, biến đi nhanh như gió sông Soài. Đôi mắt người phụ nữ Miên cũng xài ngôn ngữ chung của phụ nữ là dễ rươm rướm. Chị nói nghẹn ngào, “Phải như tui có nhà… để về.”

Đúng là chiều giáp tết, chữ “về” đè nặng tâm tư mọi người. Vậy chữ “ở” có chia sẻ được chơi vơi trong lòng người thương hồ đơn thân độc mộc; Sự chơi vơi trong lòng tôi, không cách gì đến được nơi muốn đến vì cũng không biết được là mình muốn đến đâu trong cảnh tù túng của ý thức, nghèo túng của đời sống đến không đủ tiền tàu xe để về nhà. Biết là vay mượn không khó, nhưng sống đời vay mượn đến bao giờ…?

Tôi bước xuống ghe không suy nghĩ, đạp cành mắm đẩy mũi ghe ra…

“Chèo đi chị Mười.”

“Thầy muốn đi đâu?”

“…cùng trời cuối đất.”

“Sao thầy không về nhà ăn tết – với gia đình, hả?”

“…Chị dạy tôi chèo đi. Tôi chèo chị đi chơi cho đỡ buồn. Đi đâu cũng được vì tôi đã nghỉ dạy tới qua tết. Không về nhà, không ai bắt tôi ở lại trường; và cũng không biết đi đâu nữa…”

Chị không nói gì thêm. Không dạy tôi chèo. Chỉ cho ghe ra chừng gần giữa dòng thì xổ buồm – là miếng bao cát bằng ny-lon của lính ngày xưa, tấm buồm vá chằng vá đụp hình tam giác có khung tre, căng trên cây tre như cây nêu vừa được dựng lên để hai kẻ cô đơn cùng ăn tết. Tôi nghĩ vậy trong im lặng, nhưng mắt không rời được sự kiều diễm của chị Mười bị gió ép sát vào sự nghèo nàn, mong manh của người thương hồ không quần này áo nọ…

Chị cũng im lặng, dõi mắt về quá khứ thì phải. Phía chân trời đỏ bầm của ngày tàn, có một gia đình hoàng tộc bên Cao Miên, bị Pôn-pốt chặt đầu thả sông không chừa một mạng. Nhưng xảy đứa bé gái còn vương nợ trần nên từ đó điêu linh. Tuyệt thế giai nhân phiêu bạt chiều giáp tết đang ngóng về cố thổ trong bộ dạng thương hồ làm mặt trời đỏ ối trên sông cũng hổ thẹn mà trốn biệt! Sự che giấu thân phận của chị trong vở kịch đời đã thành thục đến quên luôn bản thân, -mà sân khấu gọi là nhập vai. Nhưng cốt cách hoàng tộc vẫn nhìn ra được trong bộ dạng thường dân của nàng công chúa không chừng, vì tôi thấy trên ghe có bàn chải đánh răng với cây kem ngoại quốc chứ không phải hàng “nhu yếu phẩm” của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam. Trong cái xứ sáng ra chỉ thấy người súc miệng bằng nước lu, đã là văn minh! Chị còn quơ vội để cất giấu mấy món phụ tùng của phụ nữ mà lỗi do mắt tôi quá tinh ranh với hàng hiệu… Ngoài ra, trong giao tiếp ít ỏi của chị với người trên bờ là gia đình đứa học trò. Tôi có lần thấy chị thiếu từ Việt để diễn tả nên chị đã dùng tiếng Pháp lẩm bẩm trong miệng để truy ra tiếng Việt như tra tự điển. Làm cho tôi tin tâm sự của chị đã kể với mẹ của đứa học trò mà có lần bà đã kể cho tôi nghe trong sự bí mật – chỉ để giải thích việc bà thương chị Mười như chị em vì bà cũng lâm vào hoạn nạn tương tự như chị hồi 30 tháng 04 năm 1975…

Trời nổi giông lên, mây đen kéo về rền tiếng sét. Tiếng sét trong lòng tôi như bật nút chai champagne. Không lẽ tôi phải lòng người phụ nữ hơn mình lóng tuổi này rồi sao? Trời trả lời bằng những hạt mưa đã lắc rắc trên mui ghe, cũng bằng khung tre, căng ny-lon bao cát của lính ngày xưa. Chị hối hả cho ghe vô bờ,

“Thôi thầy lên bờ nghỉ nha. Dưới ghe lạnh lắm. Mà mui ghe cũng bị dột nữa…”

Ngần ấy tả tơi giáng lên thân kiều nữ sa cơ lỡ bước; tâm hồn thì chắc là rách nát với cô đơn… nên tôi không lên bờ. Chị neo ghe dưới dạ cầu Cá sấu một hồi cũng không xong vì ván lót cầu mục gãy đã nhiều. Gió vi vu buốt cuộc đời buồn lại thêm tiếng mưa về đêm oai oán, hay những linh hồn chưa chịu ngủ yên bên bờ lau sậy… Tôi nói chị Mười lủi ghe vô đám dừa nước gần đó, coi như đậu ghe trong căn nhà lá rồi còn gì?

Chị khen tôi thông minh… như một ông thầy giáo, nên chị cũng vâng lời như một học sinh ngoan. Quả thật chiếc ghe núp dưới vòm lá dừa dầy đặc nên chuyện mui ghe bị dột không làm khó nữa. Chỉ còn hai cái bao tử kêu chiều chưa có gì bỏ bụng – dù chiếc ghe là ghe thương hồ. Nào là khoai lang, bí đỏ, dừa khô, cá mắm, cá khô, bắp chuối, chuối nải, chuối khô… không biết có bao nhiêu thứ trên ghe.

Không ngờ chị cũng đang đợi tôi mở lời để chị bớt ngại đãi tôi một bữa ăn trên ghe thương hồ. Mà tôi thì có cái tự nhiên của tuổi trẻ,

“Chị Mười ơi! Trên ghe có gì ăn được không? Tôi đói bụng quá rồi!”

“Nếu-thầy không ngại. Thì tui nấu cơm cho thầy ăn?”

“Nấu đi. Nấu đi. Sao nãy giờ không nấu! Tôi thích nấu ăn trên ghe lắm. Lần, con Lan, thằng Đức, thằng Tâm, con Hạnh… học trò, tụi nó nấu cháo cá kèo với nước dừa trên ghe cho tôi ăn. Tôi nhớ hoài vì ngon lạ lùng…”

“Thầy nói thiệt hả? Vậy mà nãy giờ tui ngại nên không dám mời thầy ăn cơm.”

“Vậy thôi. Để chị bớt ngại, thì sang năm nhớ làm giỗ cho tôi ngày này vì tôi chết đói bây giờ.”

Thật khó quên được sự xoay trở tài tình của chị Mười trên chiếc ghe thương hồ cũ kỹ, nhỏ nhoi… loáng một lát chị đã nấu được nồi canh chua xịa. Cũng bạc hà, cà chua, me trái, ớt trái, giá,… Con xịa là một loại nghêu biển giống con nghêu nước ngọt, nhưng to hơn, ruột nó đen hơn. Nhìn không đẹp mắt bằng, nhưng ăn ngon hơn nghêu trắng mấy lần. Cơm thì nồi cơm nguội có sẵn. Chừng ăn hết nồi cơm này mới nấu nồi cơm khác chứ không nấu theo từng bữa như ở trên đất, ở nhà. Chị luộc hột vịt lộn, chiên khô lóc, là hai món đưa cay cho bình rượu đế bốn lít. Loại rượu đế lạnh vì chị cột đến mấy bình dưới lườn ghe. Khi bị công an chặn bắt rượu cấm thì chỉ tháo mối dây dù chỗ cột chèo là mấy bình rượu vô chủ dưới sông.

Bây giờ thì kéo lên mấy bình nướt mắt quê hương, tháo một bình, đưa lên ghe đãi ông thầy chưa dạy chị một chữ mà thọ giáo hơi nhiều về cách nấu ăn trên ghe của chị.

Được con thuyền đã phước. Chỉ chiếc ghe tròng trành do quá nhỏ bé với hai người và hành hoá linh tinh. Dọn được chỗ ăn cơm đã mừng như hôn sự sắp thành. Không biết sao tôi lại nói lời từ trong lòng nói ra. Làm chị Mười đỏ mặt. Chắc chị không biết là trông chị đẹp não nùng hơn mưa.

Ngọn đèn bão lu lu, khi tỏ khi mờ theo những lọn gió tọc mạch. Là lần đầu tiên tôi được ăn con xịa, trong nồi canh chua dư vị một đời. Cũng là lần đầu uống rượu đế bằng hai cái vỏ trứng hột vịt lộn. Thì ra sao chị nói lạ, “Thầy ăn hết một cái trứng đi để lấy ly uống rượu!”

Mưa ngọt ngoài trời cho lòng tôi ấm mãi trong chiếc ghe hèn mọn của đời này. Nên suốt phần đời còn lại từ đó về sau cứ nhớ tiếng còi tàu nửa đêm. Chị Mười đánh thức tôi, đưa tôi ra bến đò An nghĩa, dúi vào tay tôi cuộc tiền thương hồ cơ cực của chị, “thầy cầm chút, tấm lòng của tui mà đò, xe về nhà. Dù lòng thầy không muốn ăn tết thì cũng phải về nhà…”

Tôi nắm bàn tay chai xạm vết chèo của chị. Lời cảm ơn, “vẫn thấy bên đời còn có em…” không nói ra được nên nghẹn ngào quay đi. Hơi ấm của cái mền rách bươm theo kẻ bạc chu du theo dòng đời cho đến hôm vỡ oà nỗi nhớ, thì trời lại giáp tết với chiều bơ vơ…

Cái cảm giác bơ vơ nó lạ lùng là không muốn gặp ai mà chỉ muốn giữ chặt nó trong lòng niềm ân hận, hối tiếc trọn đời với chiều giáp tết vu vơ một lời thơ tượng thức trong đầu nhưng tan biến theo gió lòng bão nổi – muốn đi ngay, đến liền một nơi nào đó; gặp một ai đó để nói lời xin lỗi; lời cảm ơn; lời yêu thương còn xót lại trong đời đang vụt mất như năm tàn tháng tận trên tay – là chiếc lá vô tình đậu lại cây gạt nước trên xe; cây son môi lọt kẽ ghế – may mà người không nên nhìn thấy đã không thấy. Những mảnh vụn của đời sống chắp nối như xâu chuỗi vào chiều giáp tết để biến một năm nữa thành quá khứ trong đời nhớ nhớ thương thương…

Chiều nay lạnh vì gió buốt từ đông bắc thổi về, làm tôi nhớ gió chướng miền biển khi trời giáp tết; nhớ ghe thương hồ, nhớ canh chua xịa… hay nhớ hạnh phúc nhỏ nhoi đã nuôi tôi lớn.

Bỗng người bạm Mễ cùng ra về sau giờ tan hãng đang đi bên tôi. Anh ta vỗ vai tôi, nói tới ba lần mà tôi vẫn không hiểu được câu tiếng Việt của anh ta muốn nói. Cuối cùng anh ta nói tiếng Anh: Tôi nghe mấy người Việt nói ngày mai là ngày đầu năm của người Việt nam nên tôi muốn nói với bạn “Chuc Mung Nam Moi”.

Tôi cảm ơn anh, đem lời chúc tốt đẹp đó về cái garage là phòng điều nghiên của riêng mình mà thưởng thức. Chiều giáp tết trong lòng bâng khuâng nhấp ngụm cognac dư thừa từ một lần có bạn ghé thăm nào đó. Tôi không biết người khác có bâng khuâng như mình trong những chiều giáp tết hay không? Tôi gõ vô cửa sổ tìm kiếm của Google ba chữ: “Chiều giáp tết”. Ngồi nhìn màn hình cái laptop vô cảm như cô nàng mặt vuông ngoài chợ, siêu thị,… cứ lạnh lùng bắt khách hàng phải trả đúng, trả đủ tiền từng món hàng cho cô ta mà người khách khó tánh này lại cần một nụ cười của cô thâu ngân để bớt xót tiền bay ra khỏi bóp.

Thế mà cô hàng mặt vuông hôm nay cũng hiểu tôi nên tử tế không ngờ! Cô cho tôi gặp tôi trên Google. Đó là một trang mạng của Cựu sinh viên sĩ quan Thủ đức thì phải. Tôi đọc được,

Giờ Này, Chiều Giáp Tết

Nhạc: Nguyễn Văn Thành   – Nghe nhạc
Thơ: PHAN

Người Mễ lậu đứng bên đường cô độc
Tìm việc làm nhưng chỉ có mưa thôi
Người ăn mày chữ nghĩa dạt trôi
Chiều giáp tết ngồi nhìn mưa xứ lạ

Giờ này bên nhà chị thương vất vả
Hứng dột che mưa tơi tả một đời
Mai giao thừa cũng chỉ có mồng tơi,
Rau bù ngót quanh nhà không đi chợ

Giờ này bên nhà, tiếng ai đọ̀i nợ
Chó sủa thay lời khất tới sang năm
Giờ này cường quyền kẻ hỏi người thăm
Trang liệt nữ * nằm xà lim cay đắng . . . . .

Giờ này bên Đài trời mưa hay nắng?
Cô gái sông Tiền thức trắng đêm thâu
Giờ này Hà thành con hỏi cha đâu?
Mẹ cúi mặt, đi làm thuê xa lắm

Giờ này kinh đô mưa mờ lăng tẩm
Sông Hương nước chảy lững lờ
Dưới sông có đĩ,
Trên bờ, trên bờ có vua

Giờ này, nơi này tôi bán ai mua
Chiều giáp tết mưa buồn thêm phố cổ
Giờ này, nơi này trời mưa giá buốt
Giờ này, nơi này tôi bán ai mua

Giờ này, nơi này tôi bán ai mua
Trang liệt nữ * nằm xà lim cay đắng
Giờ này bên Đài trời mưa hay nắng?
Cô gái sông Tiền thức trắng đêm thâu
Giờ này Hà thành con hỏi cha đâu?
Giờ này, nơi này tôi bán ai mua

* Lê Thị Công Nhân

 

Chắc chắn tôi không biết người mang tên Nguyễn Văn Thành là ai? Anh ấy đọc được bài thơ ở đâu mà phổ nhạc? Tôi chỉ nhớ lại được một chiều giáp tết của người deli pizza ở downtown Plano. Trong chiếc xe dột mui với một chiều cuối năm xa xứ. Anh ta đã viết.

chiều giáp tết mưa buồn thêm phố cổ

nhớ hàng cây xanh thỏ thẻ tháng mười

gió se lạnh rồi thu sớm muộn thôi

đông đã về góp nhặt lá cuốn trôi

hàng cây đứng bên đời khô khốc

người Mễ lậu đứng bên đường cô độc

tìm việc làm…

http://batkhuat.net/tho-gionay-chieugiaptet.htm

Chiều giáp tết năm nay thú vị với khách giang hồ chữ nghĩa và giai điệu. Chiều giáp tết gặp người đồng điệu cảm hoài tương lân. Cảm ơn cố nhân thương hồ, cảm ơn người anh chia sẻ tâm thơ cuối năm thành dòng nhạc…

Phan

 

 

 

©T.Vấn 2014