11/20/2006
Nỗi ám ảnh của chiến tranh (2)

clip_image002

1.

Cuộc chiến tranh Việt Nam quả thật đã để lại nhiều dấu ấn khó quên cho nước Mỹ. Trong số đó, không thể không nhắc đến bức hình đọat giải Pulitzer năm 1973 , và sau đó đọat nhiều giải thưởng quốc tế khác , của nhiếp ảnh gia người Việt nhưng làm việc cho hãng thông tấn Associated Press là Hùynh công Út , tức Nick Út. Bức hình chụp một em bé gái Việt Nam trần truồng ( và một số trẻ em khác ) vừa chạy vừa khóc trên Quốc Lộ 1 ( Trảng bàng –Tây Ninh). Các em bị bom Napalm làm cháy phỏng hết người. Ngay trên quốc lộ 1, em bé gái ấy cùng với các em khác đã được cứu chữa và đưa đi bịnh viện. Theo lời kể lại của các phóng viên ngọai quốc có mặt hôm đó, chính Nick Út đã xử dụng xe công tác của mình ( do văn phòng AP tại Sài Gòn cấp) để cấp tốc đưa em bé gái ấy ( cùng với những em bị thương khác ) đến bệnh viện Củ Chi , Tây Ninh. Tại đây, các em đã được các bác sĩ và y tá bệnh viện hết sức cứu chữa. Riêng bé gái ( trung tâm điểm của bức hình trứ danh ) bị phỏng rất nặng, tưởng không qua khỏi, nhưng sau 14 tháng nằm bệnh viện cùng với 17 lần giải phẩu, em đã bình phục .

Em bé gái ấy tên là Phan thị Kim Phúc, năm nay 43 tuổi, hiện là một nhân vật được cả thế giới biết tới như một ” biểu tượng của sự tàn bạo của chiến tranh “.

Sau khi miền Nam hòan tòan sụp đổ vào tháng 4 năm 1975, Kim Phúc ( và bức hình trứ danh của nhiếp ảnh viên Nick Út ) đã bị nhà cầm quyền cộng sản xử dụng như một vũ khí nhằm lên án ” tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ và ngụy quân Sài Gòn ” .

Do chịu đựng không nổi những áp lực từ phía nhà cầm quyền mới, năm 1986, Kim Phúc tìm cách vận động để được đi du học ngành Dược ở Cu Ba. Tại đây, Kim Phúc gặp người chồng tương lai của mình là Bùi Huy Tuấn ( Tòan ?), một sinh viên du học từ Việt Nam. Năm 1992, hai người kết hôn và đi hưởng tuần trăng mật ở Moscow, Nga. Sau đó, trên đường trở về từ Moscow, lợi dụng khi máy bay phải đáp xuống Newfoundland, Canada để tiếp tế nhiên liệu, hai vợ chồng Kim Phúc đã xin tị nạn chính trị và được chấp thuận cho định cư ở Toronto, Canada.

Tháng 11, năm 1996, nhận lời mời của hội cựu chiến binh Hoa Kỳ, bà đến thủ đô Washington D.C. tham dự ngày lễ Cựu chiến binh Mỹ và đã được mời phát biểu trong buổi lễ. Sau đó, với sự giúp đỡ của một số cựu binh Mỹ, bà đã thành lập ” Kim Foundation “, một tổ chức từ thiện nhằm cứu giúp những trẻ em nạn nhân của chiến tranh trên tòan thế giới.

Tháng 11, năm 1997, Phan thị Kim Phúc được cử làm Đại sứ Thiện Chí ( Goodwill Ambassador) của tổ chức Văn Hóa Giáo Dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO).

Tháng 10 năm 2004, bà được trường đại học York ( York University ) ở Toronto, Canada trao bằng Tiến sĩ danh dự nhờ những họat động của Kim Foundation.

Mới đây nhất, tháng 9 năm 2006, cùng với 5 phụ nữ khác, bà được Hiệp Hội Phụ Nữ TrẻThiên Chúa Giáo ( YWCA) Mỹ tuyên dương nhờ những họat động xã hội nhằm nêu cao vai trò của người phụ nữ.

2.

Vào thời điểm tháng 6 năm 1972, cuộc chiến tranh Việt Nam đang ở vào một trong những giai đọan khốc liệt nhất. Cuộc hòa đàm ở Paris , bắt đầu từ sau biến cố Mậu Thân năm 1968, đang trong lúc bị bế tắc. Ở Mỹ, cũng như trên thế giới, phong trào chống chiến tranh lên cao. Cuộc chiến tranh vừa tốn kém, về cả nhân mạng (Mỹ) lẫn tiền bạc, vừa kéo dài ở Việt Nam đã làm dư luận Mỹ chán ngán. Họ muốn chiến tranh chấm dứt bằng mọi giá, bất kể hậu quả một miền Nam bị thống trị bởi chủ nghĩa cộng sản.

Bức hình của nhiếp ảnh viên Nick Út , xuất hiện đúng lúc vào thời điểm này, đã gây một tác động sâu sắc đến cách nhìn của thế giới ( nhất là công luận Mỹ ) về cuộc chiến tranh Việt Nam. Hình ảnh một bé gái 9 tuổi, bị phỏng nặng vì bom Napalm, vừa chạy vừa khóc, vừa chìa tay như một cử chỉ xin được cứu giúp đã làm thế giới bàng hòang. Cùng với một số yếu tố tâm lý khác, nó đã góp phần định hình một cảm thức ghê tởm chiến tranh của quần chúng, đồng thời ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành những quyết định sau này đã đưa đến việc nước Mỹ hòan tòan rút chân ra khỏi Việt Nam.

Về phía nhà cầm quyền Bắc Việt, lúc ấy, họ không bỏ lỡ dịp xử dụng bức hình cho những mục đích tuyên truyền của mình, kể cả khi chiến tranh đã chấm dứt. Năm 1982, một ký giả Tây Đức đã tìm ra tông tích của cô bé gái trong bức hình trứ danh. Đó cũng là lúc Phan thị Kim Phúc đang bị khai thác triệt để bởi nhà cầm quyền cộng sản. Họ buộc bà phải xuất hiện trong những cuốn phim tuyên truyền , bị quản chế không cho tiếp xúc với những nhà báo phương Tây. Chính vì lẽ đó, mà Phan thị Kim Phúc đã tìm mọi cách để đi sinh sống ở nước ngòai. Mới đây nhất, báo chí trong nước đã đăng tải những tin tức liên quan đến họat động từ thiện của bà, nhưng họ lờ đi hòan tòan sự việc bà đang sống với tư cách tị nạn chính trị ở Canada và nguyên nhân khiến bà có sự lựa chọn đó.

Với thế giới phương Tây, bức hình ( và Phan thị Kim Phúc ) đóng vai trò một nhân chứng sống cho tất cả những gì tàn bạo, độc ác mà chiến tranh đã gây ra cho con người, đặc biệt là những trẻ em vô tội, những thường dân bị kẹt giữa hai lằn đạn. Nhờ biểu tượng đó, họat động từ thiện của Kim Foundation được sự yểm trợ mạnh mẽ về tài chánh của nhiều tổ chức và cá nhân trên thế giới. Cũng qua biểu tượng đó, cá nhân bà Phan thị Kim Phúc đã đón nhận được nhiều ưu đãi và trọng vọng từ phía những nhà họat động xã hội , cũng như dư luận phương Tây.

3.

Đối với những cựu chiến binh Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam, thì bức hình ấy còn là một ám ảnh khó quên. Vì nó nhắc nhở họ đến một cuộc chiến gây quá nhiều tranh cãi , kẻ bênh người chống, và họ, người lính bị kẹt giữa trách vụ và ý kiến cá nhân . Mặt khác, các phương tiện truyền thông báo chí không bỏ lỡ một cơ hội nào, để qua bức hình và cá nhân bà Phan thị Kim Phúc, nhấn mạnh đến sự sa lầy của chính sách nước Mỹ những năm 1960s và đầu 1970s ở Việt Nam , mỗi khi họ có dịp chỉ trích chính sách đối ngọai của các chính phủ đương nhiệm. Đó là một thứ áp lực thật không công bằng , góp phần đẻ ra một thứ hội chứng gọi là ” hội chứng Việt Nam ” ở các cựu binh Hoa Kỳ.

Tháng 11 năm 1996, trong buổi lễ kỷ niệm nhân ngày Cựu chiến binh Hoa kỳ ở Washington D.C., bà Phan thị Kim Phúc đã trở thành một trong những chủ đề chính trong buổi lễ Kỷ Niệm ấy, với những lời phát biểu có tính cách tha thứ cho những lỗi lầm đã xảy ra trong chiến tranh (Việt Nam). Trong số cử tọa, có một vị mục sư, trước đây là quân nhân với cấp bực Đại Úy của quân đội Mỹ, đã từng tham chiến ở Việt Nam. Vị mục sư này bước ra nhận chính mình là người đã ra lệnh cho phi cơ ném bom Napalm xuống một ngôi làng ở Trảng bàng trong trận đánh làm cháy phỏng Kim Phúc và những thiệt hại khác của mùa hè đỏ lửa năm ấy.

Nhiều tài liệu sau này được bạch hóa, cho thấy, vị cựu Đại Úy tên John Plummer này không có liên quan gì đến cuộc ném bom vì không có trách vụ, không có thẩm quyền để làm việc đó, mặc dù ông tin rằng, với tư cách sĩ quan phối hợp hành quân với các lực lượng quân đội ở quân đòan 3 , dù không trực tiếp thì ông cũng đã gián tiếp trách nhiệm cuộc ném bom một ngày tháng 6 năm 1972 ở Trảng Bàng.

Tất nhiên, nhiều cựu binh Mỹ không đồng ý với quan điểm của mục sư cựu đại úy John Plummer. Họ nói đến sức ép vô hình của tâm lý chống chiến tranh và thái độ hầu như vô trách nhiệm của các chính trị gia trong những mùa tranh cử. Những phát biểu mị dân, kiếm phiếu của họ phần nào tạo nên mặc cảm phạm tội nơi những cựu binh đã từng tham chiến ở Việt Nam.

4.

” Cảm giác nhẹ nhõm “, sau khi xưng tội, khiến cho người bị ám ảnh bởi những bóng ma chiến tranh ( Việt Nam ) có nhu cầu nhận vơ vào mình những điều mà họ chưa từng làm, hay cho rằng , nếu ở trong tình huống đó, họ sẽ bị bắt buộc phải làm như vậy. Trong trường hợp này, bức thông điệp về Tha Thứ của nạn nhân chiến tranh và mặc cảm tội lỗi của người tự cho mình là thủ phạm, là một khí cụ thật hữu hiệu để những người Mỹ phản chiến ( trong chiến cuộc Việt Nam ) xua đuổi nốt chút mặc cảm tội lỗi riêng của mình ( sau khi nhìn thấy một miền Nam quằn quại vì thù hằn, vì tù đày, vì độc tài, áp bức dưới chính quyền cộng sản , mà chính họ, những người phản chiến, đã vô tình tiếp tay để dẫn đến kết qủa bi thảm như thế ).

Tha thứ và được tha thứ. Mới nghe qua, tưởng như sự việc đã được giải quyết. Bởi vì không có ai đòi nợ ai và không có ai phải chịu sự bất an trong tâm hồn mình mãi mãi. Nhưng, mặt khác, sự tha thứ và nhận lỗi ấy lại làm nặng thêm nỗi bất công cho những người lính chỉ đơn giản làm nhiệm vụ đất nước giao phó. Đã đành là bất nhân như lính, nhưng như danh tướng Patton đã nói, người lính phục vụ hữu hiệu cho tổ quốc mình bằng cách bắt phe đối phương phải chết cho tổ quốc của họ. Do đó, sự tha thứ và nhận lỗi ấy, vô tình, làm u uẩn thêm cái hồi ức buồn thiu của những người còn sống, đã vượt thóat được địa ngục Việt Nam. Đối với người chết, sẽ chẳng có gì đáng nói. Còn người sống, những cựu chíến binh Mỹ của cuộc chiến tranh Việt nam, những tha thứ và nhận lỗi ấy chỉ như một nhắc nhở rằng, bất kể họ chiến đấu anh dũng như thế nào để phục vụ tổ quốc ( Mỹ) , họ sẽ sống cho đến ngày nhắm mắt với mặc cảm của kẻ có tội.

10 năm sau ngày Tha thứ và nhận lỗi với Phan thị Kim Phúc, chẳng dư luận Mỹ nào luận tội Cộng sản Bắc Việt, kể cả Kim Phúc, người bị họ dùng như một lợi khí tuyên truyền , và sau cùng, chịu đựng không nổi, bà phải xin tị nạn ở phương Tây.

Xét cho cùng, nếu cộng sản Bắc Việt không dùng những người dân vô tội ở Trảng Bàng ( trong đó có anh em nhà bà Kim Phúc ) làm bia đỡ đạn thì chắc hẳn chẳng bao giờ có một Phan thị Kim Phúc như ngày nay.■

© T.Vấn 2006