07/18/2014
Đỗ Xuân Tê : Tô Hoài và Hai người khác

clip_image001

Khi còn là một học sinh trung học , trong các giờ Văn, tôi không nghĩ là khi tròn thất thập tôi vẫn có dịp thấy nhà văn Tô Hoài còn sinh hoạt với Hội Nhà văn Hà nội ở tuổi …94. Cũng chẳng thể ngờ là ở tuổi 85 ông vẫn còn cho ra đời tác phẩm cuối cùng, một tác phẩm chỉ dày 250 trang với cái tên hơi lạ Ba Người Khác mà bình sinh khác hẳn lối viết, lối tư duy, cả về đề tài lẫn bối cảnh sự việc, vừa gây ngạc nhiên vừa nhiều tranh cãi kẻ khen người chê trong giới phê bình và bạn văn tiền bối lẫn hậu sinh.

Nhiều người trong số độc giả kể cả tôi một người làm quen với ông ở tuổi Dế Mèn dù đã di cư vào Nam nhưng vẫn ngưỡng mộ văn tài của ông khi học thuộc lòng nhiều đoạn văn tả chân về lòai vật và nếp sống nông thôn để lấy ý và cách viết cho các bài Tập làm văn mà các học sinh miền Nam ngày ấy luôn trau chuốt để đạt điểm cao cho môn học quan trọng nhất khi đi thi trung học và tú tài.

Thành thật mà nói Tô Hoài chưa hẳn là bút danh độc đáo qua những tác phẩm tuổi thơ của ông ngày ấy được anh em chúng tôi mê đọc. Tên tuổi ông vẫn phần nào ‘mờ nhạt’ so với những cao thủ viết văn xuôi của nhóm Tự Lực văn đoàn và càng tụt hậu nếu so sánh với những nhà thơ lẫy lừng thời tiến chiến. Nhưng văn của ông không thể bị loại trừ ở các sách giáo khoa và đám học trò chúng tôi mê môn VĂN không thể bỏ qua hoặc làm ngơ những tác phẩm, đặc biệt các tác phẩm đầu tay nhưng lại là sáng giá nhất của Tô Hoài ở những năm đầu của thập niên ‘40. Những Dế mèn phiêu lưu ký, O Chuột, Quê người, Xóm Giếng ngày xưa, Cỏ dại…đã ra đời ở mấy năm này.

Bẵng đi một thời gian dài vì vận nước chia đôi, chiến chinh triền miên cả nam lẫn bắc, tôi mất dấu chân ông và trớ trêu chỉ tình cờ ‘gặp lại’ trong mấy cái rương sách dành cho tù hình sự ở các trại giam miền Bắc sau 75. Tôi có dịp đọc lại Dế mèn phiêu lưu ký, và chẳng còn gì đọc thì phải đọc cả vài cuốn của ông viết về vùng Tây Bắc, nơi chúng tôi đang ‘sống’. Phải nói tôi thất vọng vì Tô Hoài trước 45 và sau 45 khác xa một trời một vực. Từ Quê người (1941) đến Quê nhà (1981) – tác phẩm đạt giải văn học cao nhất của miền Bắc), Tô Hoài đã là con người khác.

Ông dứt khoát chọn đường đi và lối viết minh họa nhằm phục vụ cho Đảng (bản thân là đảng viên từ 1946) và trở thành khuôn mặt ‘thường trú’ trong Ban chấp hành của Hội nhà văn, mà hàng mấy thập niên liên tục làm chủ tịch Hội Nhà văn Hà nội. Ông có công viết và khám phá mảng đề tài về miền Tây Bắc, đi nhiều, viết khỏe và thường được trả công bằng nhiều chuyến đi nước ngoài trong công tác giao lưu và trao đổi kinh nghiệm giữa nhà văn của khối CS thế giới và các nước thứ ba. Người ta biết ông vì tác phẩm như Dế mèn phiêu lưu ký đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Đây là một đặc quyền và hình như ông là người xuất ngoại nhiều nhất trong số các nhà văn có vai vế, chính điều này đã quấn quít chân ông không thể xa rời để trở về với Tô Hoài của một thời Dế mèn vang bóng, đến nỗi Nguyễn Tuân người bạn già phải thốt lên, ‘mày là thằng đi nhiều còn tao chỉ là thằng đi…vờ’, đủ hiểu Tô Hoài đã được chế độ ưu ái như thế nào.

Cho đến những năm đầu thiên niên mới, mười năm trước ngày về cõì, ông đã ra mắt một tác phẩm nặng về ký ức của một nhà báo và cũng là người trong cuộc biết nhiều, có can dự trực tiếp vào một sự kiện thất nhân tâm nhất trong xã hội miền Bắc sau 54, cao trào Cải Cách Ruộng Đất để trình làng như món quà lại quả trước lúc đi xa (mà có nhà văn hải ngoại mới đây đã gọi là hành động ‘sám hối’) với cái tên Ba Người Khác do nhà xuất bản Đà Nẵng in và phát hành.

Dư luận đã bàn nhiều và các nhà phê bình đã chăm sóc khá kỹ lưỡng, người viết không cần đi sâu nhưng bản thân có gia đình là nạn nhân của chính sách bất nhân nên cũng khen ông Tô (không phải PVĐ) đã can đảm với tư cách nhân chứng khơi lại vấn đề dù đề tài đã cũ, ai viết người ta chưa tin nhưng người của Đảng viết và minh họa tất nhiên có hiệu quả đa chiều. Riêng về CCRĐ nhiều nhà văn đã quay lại mảng đề tài này trong thời mở cửa khi Đảng mở trói cho văn học. Tôi say mê tìm đọc và không bao giờ thấy cũ (kể cả Những Tháng Năm Cuồng Nộ mới đây của KĐ) một khi tội ác một thời vẫn chưa được nhìn nhận đúng mức, những nạn nhân chưa được các thủ phạm cao nhất có lời xin lỗi, chưa kể những nhà cửa ruộng vườn một thời chắt chiu của chồng cha người thân của họ vẫn còn nằm trong tay những đám bần nông.

Cũng cần nói thêm qua bộc bạch của Tô Hoài, ông đã thai nghén và viết xong Ba Người Khác từ 1992, xin in nhưng nhà nước không cho, phải chờ 13 năm sau nhờ nhà in nằm trong đất của ông Bá Thanh tác phẩm mới được ra mắt. Tôi tin điều này vì ở thời điểm nhà văn ở tuổi 70 cũng là thời kỳ mở cửa, thuận tiện cho sáng tác, và cũng là dịp để ‘dối già’ khi trút ra tất cả những điều cần viết đúng với lương tâm chức nghiệp của người cầm bút. Cho nên về văn phong có lạ, nhiều chỗ có lối lột tả đi xa với nét dung dị đời thường, cụ thể những đoạn văn ‘hủ hóa’ mà một ông già bình thường không còn ‘lửa’ để viết. Nhưng tôi không thể thuận tình khi trên Google có chỗ ghi lại, ‘tác phẩm mang lại một diện mạo mới cho văn chương Việt nam trong thời văn học hiện đại’, thì quả thật chưa đủ cơ sở cho sự đánh giá chủ quan này.

Quay lại chủ điểm của bài viết, tôi muốn nhân bàn về Tô Hoài, người có chiều dài tác nghiệp dài nhất trong văn học sử Việt nam, bất kể quan điểm chính trị, trong nam hay ngoài bắc, vào những ngày cuối đời gần như muốn nhắn nhủ với những người hâm mộ hoặc chỉ trích ông một thông điệp ngắn là muốn sống yên thân và tồn tại trong một chế độ toàn trị, cách duy nhất là…‘phải biết sợ’. Chính ông cũng biết sợ và vì vậy ông tồn tại. Ông cùng Hai Người Khác những bạn văn cùng thời tuy tuổi tác có cách biệt, Nguyễn Tuân, 1910, Tô Hoài (tên thật là Nguyễn Sen),1920, Nguyễn Khải, 1930 nhưng đều thuộc ‘Nhóm Biết sợ’. Cả ba nhà văn họ Nguyễn chuyên ngồi chiếu trên của một thời văn chương minh họa, đều được trao giải Hồ Chí Minh, giải thưởng cao nhất về văn học nghệ thuật (đợt đầu tiên) đã không dấu diếm và thành thật tỏ lộ với đời là họ biết sợ để tồn tại.

Ba người có lối tỏ lộ khác nhau, Tô Hoài thông qua tác phẩm Ba Người Khác, Nguyễn Khải dùng chúc thư chính luận Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất, Nguyễn Tuân nổi tiếng viết về Phở và các món ăn ngon chốn Hà thành chẳng cần úp mở nhìn nhận ông thích ăn ngon ngủ yên và không gì thích hợp hơn là phải biết sợ để yên thân.

Trong ba ông, tôi đã có bài viết về Nguyễn Khải phải nói là người khôn ngoan nhất, Tô Hoài thì tròn trịa hơn, nhưng Nguyễn Tuân người anh cả trong nhóm lại thực dụng, bộc toạc trong hành xử vì chính ông cũng có thời bị kiểm điểm và phải ‘đi thực tế’ ở miền núi với mấy ông của Nhân văn giai phẩm, sau này được xét lại ông bỏ ‘ngông’ chịu ‘hèn’ và luôn tự trào về nét văn hóa biết sợ của mình. Vốn là cao thủ về tùy bút, dấu ấn văn chương của Nguyễn Tuân, nên ông hay viết tạp ghi, mà tạp ghi thì nhiều điều cần nói, nên ông cũng hay va vấp và bị đám bồi bút soi mói qui chụp về con người gốc tư sản không chịu được khổ, thích ăn ngon (mà chẳng được no) của ông.

Nay thì cả ba ông vang bóng một thời thảy đều về cõi, cát bụi chân ai dòng đời một kiếp, bôn ba cho lắm cũng chỉ có một cái tôi, nhưng cái tôi một thời chỉ là cái tôi đã mất, cái ‘Tôi’ tìm được thể hiện trong Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Tuân trong lúc cuối đời mới là đáng quí và được viết hoa.

Đỗ Xuân Tê

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2014