09/16/2014
Nguyễn Xuân Hòang : Sổ Tay

clip_image001

(Nguồn : Văn Magazine )

Lời Giới Thiệu : Sổ Tay của nhà văn Nguyễn Xuân Hòang là những trang ghi chép về con người, sự vật, sự việc xẩy ra chung quanh một con người dường như sinh ra chỉ để làm văn chương. Duới con mắt nhà văn, thế giới chung quanh ông được chiếu rọi qua buồng lọc của một trái tim nhân hậu, từ một cái đầu sắc bén, và bằng một cảm quan tinh tế bắt gặp được những góc khuất nhất của thế giới ấy mà không phải nhà văn nào cũng có thể bắt gặp được. TV&BH trân trọng giới thiệu đến độc giả một số bài Sổ Tay đã được tạp chí Văn online (http://vanmagazine.saigonline.com) đăng tải . Nay ngừơi chủ biên đã qua đời, trang Web không còn có sự chăm sóc, nên bài vở đã bị  mọt (corrupted), không thể truy cập được. Nội dung đăng tải sau đây chỉ là một phần trong những bài Sổ Tay trên tạp chí Văn ( báo giấy) trong khỏang thời gian 10 năm , kể từ năm 1996 ông tiếp nhận lại tạp chí từ tay nhà văn Mai Thảo cho đến khi tạp chí tự đình bản năm 2007.

T.Vấn & Bạn Hữu

Tháng 9 năm 2014

 

 

7-1999 – Vĩnh biệt Lê Uyên Phương

“H. ơi, anh Phương đã bỏ Uyên đi rồi!” Giọng nói nghẹn ngào, đầy nước mắt ở đầu giây điện thoại bên kia cách nơi tôi làm việc bảy tiếng đồng hồ xe chạy là của nữ ca sĩ Lê Uyên. Chị báo cho biết tin Lộc đã ra đi. Nhạc sĩ Lê Uyên Phương, tác giả Vũng Lầy Của Chúng Ta đã ra người thiên cổ đúng vào hai giờ chiều thứ Ba 29 tháng Sáu vừa qua. Chưa tới cái tuổi sáu mươi. Sáu mươi của cuối thế kỷ 20 không phải là tuổi già. Cái tuổi còn khả năng sáng tạo. Và Lê Uyên Phương đang hoàn thành tác phẩm âm nhạc cho năm 2000: phổ nhạc những bài thơ của các thi sĩ Việt Nam hiện đại.

Lần sau cùng tôi gặp Phương hình như vào tháng Chín (hay tháng Mười?) 1998 tại một quán cà phê trên đường Bolsa, góc đường Magnolia. Bởi vì tôi nhớ tháng Mười Một tôi chia tay Bolsa. Hôm đó anh đi với Phạm Công Thiện vừa từ Úc qua. Phương hơi nhỏ con, tóc dài, đôi mắt như cười, chiếc áo mặc ngoài màu sẫm và rộng so với khổ người anh (có vẻ như màu nâu là màu Phương thích nhất, tôi nghĩ vậy vì lần nào gặp anh tôi cũng tưởng chừng như mới ngày hôm qua, vì chiếc áo ấy không thay đổi.) Và lần này gặp lại anh tôi vẫn nhìn thấy một khuôn mặt rạng rỡ yêu đời. Anh có một nụ cười rất tươi và giọng nói ấm. Anh là người chỉ gặp một lần thôi cũng sẽ giữ mãi một kỷ niệm đầm ấm tin cậy. Tôi quen anh thời còn là sinh viên ở Đại học Dalat, đâu khoảng năm 1960. Đó là thời gian Lê Văn Lộc – với tên Phương sau này – đang viết những tình khúc đầu tay của anh. Tôi chưa kịp thân anh thì ra trường. Trở về Sài Gòn, tôi bị cuốn hút vào thế giới chữ nghĩa hơn là thế giới âm thanh. Có vẻ như âm nhạc không tác động nhiều đến đời sống tình cảm tôi, nếu có, phải nói chính những lời từ trong các ca khúc mới thực sự chinh phục tôi. Khi nhạc sĩ Cung Tiến giới thiệu những tình khúc đầu tiên của Lê Uyên & Phương tôi chợt nhận ra người bạn của những ngày ở Dalat lớn hơn những gì tôi nghĩ và biết về anh trước đó rất nhiều.

Lê Uyên & Phương, như Sony & Cher của âm nhạc Mỹ, quả thật đã chinh phục cả một lớp tuổi chúng tôi. Âm nhạc của anh không chỉ là những tình khúc lấy cái melody làm nền tảng, như một nhận xét của nhà báo Đỗ Ngọc Yến. Cái melody lãng mạn trong những ca khúc của Phạm Duy hay cái melody siêu hình trừu tượng trong tình ca Trịnh Công Sơn làm thành nét quyến rũ của hai bậc thầy về những bài tình ca này quả có khác với tình khúc của Lê Uyên Phương. Cái làm thành sức mạnh của âm nhạc Lê Uyên Phương chính là cái giai điệu cực kỳ khêu gợi dục tính. Đó những lời than thở cả một tình yêu “gặp hôm nay mà đã nhớ ngày mai”, không phải âm nhạc của mộng dưới hoa, của cầm tay nhau không nói, khóc lóc mà làm chi, anh về đi em đi. Âm nhạc của Lê Uyên Phương là tiếng kêu la chất ngất của thịt da, của loài thú sống với bản năng, của giống đực ngợi ca giống cái, của một sự thực không thể chối cãi về giới tính. Âm nhạc của Phương đã chinh phục tôi. Nghe Lê Uyên và Phương hát, tôi khám phá ra sự dịu dàng trong văn chương và âm nhạc thật ra chỉ làm vui lòng các cô tiểu thư giả vờ ngây thơ chứ không phải là thứ âm nhạc mà lẽ ra chúng ta phải hát cho nhau nghe bằng tấm lòng chân thật của tình yêu. Thứ tình yêu kiểu Lưu Trọng Lư đã qua rồi. Đã qua rồi tình yêu Tự Lực Văn Đoàn, đã qua luôn thứ tình yêu kiểu chàng và nàng như Vacances Romaines với Audrey Hepburn và Gregory Peck,… Âm nhạc của Lê Uyên Phương rất gần với truyện của D.H. Lawrence. Nó là cái phần vô thức trong phân tâm học của Sigmund Freuud, là cái tận cùng kỳ thú trong Kiều của Nguyễn Du. Tôi yêu âm nhạc của Lê Uyên Phương, tôi yêu tiếng hát cũa hai bạn, tiếng hát khêu gợi làm sao, tiếng hát đi qua một trái tim nóng bỏng và đã thổi cái hơi nóng tình yêu nồng nàn qua trái tim người nghe, bắt họ phải nhận ra rằng đó mới là tình yêu đích thật.

Bao giờ cũng vậy, mỗi khi nghe nhạc Lê Uyên Phương tôi đều nhìn thấy lại Dalat, một Dalat đã làm tôi trở thành một người khác với con người thời niên thiếu của tôi. Và tôi nhận ra mình ngu ngốc và rụt rè biết bao trước một Lê Uyên Phương chân thật và dũng cảm.

Sống cùng một bầu trời với anh tại nam California trong hơn mười ba năm nhưng tôi và anh gặp nhau không nhiều. Tuy vậy mỗi lần gặp nhau chúng tôi đều nhận ra người bạn ấy vẫn là người bạn của Dalat năm xưa: sương mù, con dốc, nhà ga, và cái lạnh lẽo của những ngày mùa đông. Âm nhạc Lê Uyên Phương trở thành những lời trối trăn của một cuộc tình trong thời chiến, không cơ may nổi loạn, chỉ làm sao có thể sống sót cho qua những cơn thảm sát ngu xuẩn của chiến tranh. Chia tay ngay trong giờ phút gặp gỡ của hiện tại này vì ngày mai chắc gì chúng ta còn nhìn thấy nhau. Lê Uyên Phương hát cho một tuổi trẻ bất lực trước cuộc sống không có ngày mai.

Nhưng cái gì làm thành âm nhạc Lê Uyên Phương? Trong một bài tùy bút có tựa đề là Âm Nhạc Từ Thiên Đường, trong tập Không Có Mây Trên Thành Phố Los Angeles, Lê Uyên Phương đã trả lời cho câu hỏi đó. Anh kể lại trong thời tuổi nhỏ đã có ít nhất bốn lần âm nhạc đã đến với anh. Lần đầu tiên vào một buổi chiều của Dalat, lúc anh mới khoảng tám, chín tuổi, cùng với người anh họ tên Bửu Ân, ngồi trên một ngọn đồi thấp gần ngôi trường tiểu học nằm giữa thị xã, trước mặt là con dốc dẫn xuống hồ Xuân Hương, xa là ngọn tháp nhọn của Lycée Yersin … Cả hai ngồi đó nhìn xuống con dốc, vừa bứt những ngọn cỏ xanh, vừa nói đủ chuyện trời trăng mây nước. Và đột nhiên anh phát giác ra cả hai ngưng bặt từ lúc nào, và đang lắng nghe trong không gian tràn ngập những tiếng đàn vĩ cầm: chồng lên nhau, quấn vào nhau, đuổi theo nhau như một dòng suối, những tiếng đàn vĩ cầm đến từ chiếc loa phóng thanh của hội chợ, một đoạn valse của Johann Strauss, rồi một dàn kèn đồng trỗi lên làm lung linh mọi thứ trong không gian.” Lê Uyên Phương viết “Ôi! Hạnh phúc biết bao, con người đã tạo nên được những âm thanh kỳ diệu như thế.” Và từ đó anh bắt đầu nhận thức thế giới chng quanh qua cái “nghe” của những âm thanh của buổi chiều hôm đó. Bài viết của anh cho tôi hình dung cái cảnh tượng cậu bé Lê Văn Lộc mỗi buổi chiều thường ra cái mép của khoảng đất trống trên đường Hàm Nghi, nhìn xuống thung lũng chỗ có rạp hát Ngọc Hiệp trên đường Phan Đình Phùng để nghe vọng lại âm điệu của cái concerto en C majeur của Mozart viết cho dương cầm được phát ra từ cái loa của rạp hát trước giờ chiếu phim…” Lần thứ hai, âm nhạc đến với anh từ những bài thánh ca trong nhà thờ Tin Lành, và anh làm quen với Mendelson, với Bach, với Schubert… Lần thứ ba, qua đài phát thanh Dalat, chương trình âm nhạc Hoa Kỳ đã chinh phục anh với tiết điệu của nhạc Jazz. Điều làm anh say mê là những tiết điệu nhịp nhàng của trái tim con người bên cạnh những buông thả của hơi thở, của cảm xúc thể hiện qua tiếng kèn đồng nóng bỏng.” Sự vắng bặt của lý trí trong nhạc Jazz đã mê hoặc anh. Và như thế Duke Ellington. Bessie Smith, Louis Amstrong, Lil Hardin đã đến với anh, mang cho anh bài học lớn lao về cái gọi là chất tươi của âm nhạc, là máu của âm nhạc. Tôi nghĩ rằng người ta sẽ dễ thẩm thấu âm nhạc của Lê Uyên Phương hơn nếu được đọc những dòng chữ đầy tính cách tự truyện của anh trong tùy bút Âm Nhạc Từ Thiên Đường:

“Tôi biết rằng tôi đã thuộc vào một nơi nào đó rất chênh vênh giữa lý trí của con người, linh hồn của Thượng Đế và hơi thở của tình yêu.”

Lộc đã ra đi. Lê Uyên Phương đã vẫy tay từ biệt chúng ta. Nhưng Tình Khúc Cho Em, Vũng Lầy Của Chúng Ta, vẫn còn ở lại, sẽ còn ở lại. Âm nhạc của Lộc không phải ai cũng hát được. Có những ca khúc gần như anh chỉ viết cho hai người hát. Và hai người đó chính là Lê Uyên và Phương. “Hãy ngồi xuống đây. Hãy ngồi xuống đây… ” Khi những âm thanh ấy cất lên chỉ còn lại cái khuôn mặt ngây dại của Lộc cúi xuống cây đàn thùng và cái dáng đứng cao gầy của Lê Uyên nhìn xuống những ngón tay anh. Hãy ngồi xuống đây! Hãy ngồi xuống đây! là những lời mời gọi của một tình yêu không còn ngây thơ nữa. Trái cấm đã ăn, cánh tay đã ôm ấp và hai thân xác đã nhập vào nhau.

Âm nhạc của Lê Uyên Phương là giai điệu của chúng tôi. Anh ra đi mang theo phần thứ hai của một tên tuổi đã đi vào trí nhớ mọi người. Sẽ khó mà tìm được một Phương khác cho Lê Uyên trong khi trình bày những tình khúc của Lộc. Tôi nghĩ như vậy.

Chỉ trong một thời gian ngắn, rất ngắn, chúng tôi đã tiễn đưa Mai Thảo, rồi Nghiêu Đề, rồi Nguyên Sa. Trước đó là Bùi Giáng ở quê nhà. Mới đây là Lê Đình Điểu ở Quận Cam. Và bây giờ là Lê Uyên Phương.

Rồi sau cùng mọi người cũng sẽ lần lượt rủ nhau ra đi thôi.

Nếu trái đất không thể chịu đựng nổi sự già nua, với một quá khứ đầy thử thách thì nó sẽ phải ấp ủ trong lòng một tuổi trẻ chưa kịp làm thành dĩ vãng. Nhưng điều đó cũng chả hề gì. Tuổi trẻ bây giờ đang chuẩn bị cho một quá khứ sắp tới, bởi vì tương lai đang có trong tay họ. Nghệ thuật của Trần Anh Hùng và Tony Bùi đang trả lời cho những câu hỏi như thế.

Những cơn mưa Sài gòn

tràn ngập kỷ niệm thời tuổi nhỏ

Mùa hè quả thật đã đến miền Bắc Cali. Mấy ngày cuối tháng Sáu độ nóng đã vượt quá con số 97. Cả thành phố như chìm trong một lò nướng thịt. Sức nóng ngoài trời làm mọi người ngật ngừ, dễ cáu gắt, giận dữ. Tôi lái xe trên đường trở về buổi tối vẫn không thoát dược cái nóng. Tôi nghĩ chắc không thể dưới 100 độ. Dưới Santa Ana, mùa hè tôi đã từng chịu những trận nóng dữ dội, nhưng tôi chưa thấy cái cảm giác bị nằm trong một lò nướng thịt này. Tôi đi tìm một cơn mưa cho bầu trời bắc Cali. Phải có một trận mưa lớn, thật lớn, may ra… Tôi nhớ Sài Gòn những ngày mưa, những cơn mưa xối xả đổ xuống con dường Phạm Ngũ Lão, lầy lội ở Ngã Tư Quốc Tế, ướt con đường Kỳ Đồng. Mưa kéo theo một dòng sông trên đường Trần Quốc Toản. Những cơn mưa tràn ngập trong cuốn phim Ba Mùa của đạo diễn Tony Bùi vẫn còn ướt trí nhớ tôi.

Cô phóng viên Vương Trường Nga My của tờ Việt Mercury luôn luôn hỏi tôi tại sao chưa đi xem Ba Mùa. Đó là một cuốn phim tuyệt vời, một cuốn phim mà mọi người Việt Nam đều phải đi xem. Và tôi đã đi xem Ba Mùa. Cái cảm giác sau cùng khi tôi bước ra khỏi rạp còn đọng lại trong tôi là những cơn mưa, đúng là những cơn mưa tuyệt vời. Cái ống kính của người cầm máy đã thu được cái chất rất Sài Gòn ở những cơn mưa trên đường phố. Hình ảnh chú bé mặc áo mưa bước đi lang thang trong thành phố đêm. Cảnh đá bóng dưới mưa trên đường phố. Và cái thế giới bên kia sự nghèo khó . Cô gái điếm. Người phu xích lô. Cô gái bán sen. Một người Mỹ đi tìm con. Đừng nói đến nhân vật thi sĩ bị phong cùi, chủ cả một đầm sen giàu có với cái bí ẩn kiểu tay trùm một băng đảng và là tác giả những bài thơ hạng C. Hãy bỏ cái cảnh những người phụ nữ miền Nam ăn mặc như Tàu. Hãy quên đi những tiếng hát “giả” trên đầm sen thiếu cái logic của nghệ thuật. Hãy tưởng tượng không nhìn thấy cái cảnh người phu xích lô bịt mắt côgái điếm chở đến một con đường đầy hoa phượng rất cải lương. Hãy đừng hỏi tại sao cứ phải là cô gái điếm, là người đạp xích lô,… khi nói về, viết về, lấy ảnh về Việt Nam, và hãy nhớ là Tony còn rất trẻ, chưa sống được cái kỷ niệm những cơn mưa Sài Gòn, chưa nếm được cái mùi của một đứa trẻ kiếm ăn trên hè phố, chưa ngợp trước vẻ đẹp của những cánh hoa phượng vĩ đổ xuống một mùa hè tuổi trẻ,… ta sẽ yêu cuốn phim đến chừng nào. Tôi hiểu tại sao cuốn phim được giải ở Đại hội Điện ảnh Sundance. Tôi hiểu được tại sao những người trẻ tuổi yêu cuốn phim này. Tony Bùi xứng đáng được ca ngợi. Và phải nói tài năng của anh được sự hỗ trợ rất lớn của những tay nghề rất cao trong đoàn làm phim của anh. Nếu thiếu những con người đó tôi nghĩ Tony sẽ vất vả nhiều. Bởi vì để thực hiện một cuốn phim, cốt truyện hay chưa đủ. Phim trước hết là hình ảnh. Ngôn ngữ của nó là hình ảnh. Ba Mùa có được cái sức mạnh ấy. Và chúng ta hiểu tại sao tác phẩm ấy đã chinh phục được những khán giả chọn lọc của phim ảønh Hoa Kỳ tại Đại hội Sundance. Bốn ngôi sao cho Tony Bùi. Và đừng tìm những ý nghĩa sâu xa nào khác để gán ép cho cuốn phim có những hình ảnh tuyệt vời này.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

 

8-1999 -Người đàn ông sexy nhất nước Mỹ

Tháng Bảy năm nay là tháng của những người đi xa: Tác giả Bão Thời Đại, nhà viết kịch Trần Lê Nguyễn ở Việt Nam; nhà viết tiểu thuyết lừng danh Mario Puzo với tác phẩm in ra trên 21 triệu bản, The Godfather- Bố Già, và gần nhất không phải là một kịch tác gia, cũng không phải là nhà tiểu thuyết, chủ bút tạp chí George, ông John F. Kennedy Jr., con trai của cựu Tổng thống Kennedy, cả ba nhân vật này đều đã từ giã chúng ta.

Người đàn ông sexy nhất nước Mỹ

Trong ba cuộc chia tay, có lẽ cuộc chia tay của John F. Kennedy Jr. (1960-1999) được xem là chấn động nhất, không chỉ trên toàn nước Mỹ, mà còn được cả thế giới quan tâm theo dõi, hậu chấn của nó cũng mạnh không thua gì cái chết của Công nương Diana nước Anh trước đây. Chiếc phi cơ của ông bay trong đêm tối , chở theo bà vợï và bà chị vợ đã bay chuyến bay cuối cùng vào bóng đen của biển cả. Trên nhiều tờ báo cũng như trên truyền hình, và trên mạng lưới điện toán mấy ngày qua, nhiều lần người ta được xem lại hình ảnh chú bé John-John trong chiếc quần ngắn, áo choàng xanh, đứng thẳng người trong ngày sinh nhật lần thứ ba của chú để chào chiếc quan tài mang thi hài của người cha thân yêu ra đi. Cái chào tay mà ký giả Michael Powell của tờ Washington Post viết là “một cử chỉ tự nó đã làm rạn nứt thêm những trái tim đã tan vỡ.” Chú bé ấy lớn lên trở thành một thiếu niên phơi phới “ném bắt những chiếc đĩa nhựa frisbee tại Công viên Central Park. Rồi thành người thanh niên trượt băng ẵm được một cô vợ tuyệt đẹp. Con người mang dòng điện 100,000 megawatt từng đọc bài diễn văn khiến cho cả hội trường phải đứng dậy vỗ tay trong kỳ Đại hội đảng Dân Chủ tại Atlanta năm 1988, người từng được tờ People phong là người đàn ông sexy nhất thời đại, đồng thời người bị trêu là “bảnh thế mà thi rớt kỳ thi đầu tiên vào luật sư đoàn,” người từng làm chủ bút sáng lập một tạp chí chính trị mà phi-chính-trị, tờ George, năm 1995, nhưng lại tinh nghịch cưỡng lại sự mời gọi của chính trường bầu bán. Trong số ra mắt tờ George, John F. Kennedy Jr. viết: “Như một khán giả đã được thấy trong cuộc đời mình cuộc trình diễn của những con rối khổng lồ, có thể biến công chúng bên ngoài thành những biểu hiệu không có nét nào giống họ, tôi hy vọng là chúng tôi sẽ cung cấp được một cái gì đó hữu ích hơn.”

Trong lịch sử của đất nước Hiệp Chủng Quốc chắc chắn người ta không bao giờ đem so sánh ông với thân phụ của ông, cũng như người chú Robert F. Kennedy của ông, nhưng nói theo nhà báo Mike Antonucci của tờ San Jose Mercury News thì cái chết của John F. Kennedy Jr. dẫu sao cũng “vẫn là một phần của bài thơ buồn, mang đủ những tính chất của một lời nguyền muôn thuở.” Lời nguyền muôn thuở nào? Của ai? Tại sao?Không thấy tác giả bài báo viết. Nhưng người ta nhìn lại số phận của những con người trong đại gia vọng tộc Kennedy này không khỏi đặt câu hỏi: Tại sao những cái chết khủng khiếp như thế. Từng người, từng người lần lượt ra đi, như những giọt máu cuối cùng từ cơ thể của một sinh vật khổng lồ bị vắt kiệt và từ từ ngã xuống. Đi tìm lời giải thích cho những cái chết tưởng là dễ hiểu một cách khó hiểu người ta đã gặp phải một bức tường màu đen của vô ngôn.

Nếu cái chết của Mẹ Teresa là một sự pha trộn của một định mệnh đầy ý nghĩa thì liệu có thể nào nói được rằng cái chết của John F. Kennedy Jr. là “một sự pha trộn lạ lùng của cái vô nghĩa và định mệnh” như cách nói của Mike Antonucci không?

Vĩnh biệt John F. Kennedy Jr. (1960-1999), vĩnh biệt Carolyn Bessette Kennedy (1965-1999). Cả nước Mỹ đang để tang cho sự ra đi của vị Hoàng tử sau cùng của Hiệp Chủng Quốc cuối thế kỷ XX.

Tác giả The Godfather và dịch giả Bố Già

Một buổi sáng tháng Chạp năm 72, một người đàn ông gầy ốm, mặt nhỏ choắt, mặc chiếc sơ mi màu cháo lòng, tay áo thả dài xuống lấp cả hai bàn tay, bước vào toà soạn Văn ở đường Phạm Ngũ Lão Sài Gòn. Mai Thảo giới thiệu với tôi anh là Tú tức Ngọc Thứ Lang, dịch giả cuốn Bố Già của Mario Puzo. “Mình đi uống cà phê đi!” Mai Thảo rủ cả hai chúng tôi. Quán cà phê nhỏ nằm bên hông toà soạn của bà Tư (tôi không nhớ tên bà có đúng là bà Tư không, nhưng tôi nhớ bà là người Nam rất dễ tính, xởi lởi và hệch hạc. Bà vẫn thường cho tôi ghi sổ nợ để cuối tháng trả một lần cho tiện, mặc dù tôi ít khi được dịp trả nợ, vì Bố già Vượng luôn luôn “thanh toán hộ” tôi trước kỳ hạn.) Thường tôi vẫn ra ngồi cà phê sáng ở quán Cái Chùa với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, chỉ hôm nào không ra ngồi ở Quán Cái Chùa, chúng tôi mới ăn sáng ở quán bà Tư. Aên sáng ở đây không có gì khác hơn là bánh mì hột gà (ốp la hay ô mơ lét) và cà phê (đen hay sửa). Quán nhỏ nằm bên hông nhà của một con hẽm, hình như là tiệm ảnh sát bên toà soạn Văn. Con hẽm rất hẹp, chỉ vừa cho một chiếc xe Honda ra vào một chiều. Quán chỉ có hai ba chiếc ghế lèo tèo, loại ghế cao đóng bằng gỗ tạp. Ngọc Thứ Lang ít nói. Và Mai Thảo hôm đó cũng không nói gì nhiều. Chưa uống hết ly cà phê, anh Ngọc Thứ Lang là người đứng dậy trước dợm bước đi, tôi thấy Mai Thảo đứng dậy theo kín đáo dúi vào tay Ngọc Thứ Lang mấy tờ giấy bạc. Đó là lần đầu tiên và lần duy nhất tôi gặp dịch giả Bố Già. Tôi không có cơ hội nào khác để gặp anh. Tôi đọc cuốn Bố Già bản tiếng Việt của Ngọc Thứ Lang và cuốn sách đã lôi cuốn tôi mạnh mẽ. Thời gian đó tôi đang thực hiện một loạt bài dưới tên Nhà Văn Ở Phút Nói Thật, phỏng vấn các nhà văn Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến, Mai Thảo, Bùi Giáng, Viên Linh , Nguyễn Mạnh Côn,… Bỗng nhiên tôi thấy muốn phỏng vấn một người dịch là Ngọc Thứ Lang. Bố Già Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm tờ Văn cười bảo tôi, phỏng vấn chi người dịch Bố Già, cứ phỏng vấn trực tiếp Bố Già có hơn không. Bởi vì tôi vẫn thường gọi ông là Bố Già mà! Tuy nhiên thời gian đó có quá nhiều việc phải làm nên tôi quên bẳng chuyện đi tìm anh để hỏi vì đâu anh nắm bắt được cái ngôn ngữ kỳ lạ của thế giới mafia như thế.

Cuộc chiến Việt Nam chấm dứt mà chúng tôi vẫn chưa được xem Bố Già trên màn ảnh lớn. Bố Già Nguyễn Đình Vượng thì đã mất trước đó một năm. Gia đình, bạn bè thì đã ly tán. Cả thành phố chìm trong bóng tối. Tôi quên mất Bố Già Mario Puzo. Tôi cũng không nhớ có một người tên là Ngọc Thứ Lang đã dịch cuốn Bố Già tuyệt hay.

Năm 1986 từ Bataan Phi Luật Tân đến Mỹ tình cờ tôi được xem cuốn video Bố Già. Tôi có cái cảm giác giống như anh Hoàng Hải Thủy, cuốn phim không lôi cuốn tôi như khi tôi đọc sách, mặc dù đó là một trong những tác phẩm lớn của điện ảnh Hoa Kỳ. Sự chờ đợi quá lâu đã làm tình cảm người ta nguội lạnh chăng? Tôi không tin là như thế. Bởi vì, có những tác phẩm, như cuốn Bác Sĩ Jhivago, sau bao nhiêu năm giờ đây xem lại vẫn làm trái tim tôi rung động như mới ngày nào vừa mới gặp người đàn bà định mệnh Lara từ cuốn tiểu thuyết của Boris Pasternak bước lên màn ảnh và khuôn mặt đam mê quyến rũ ấy cứ theo đuổi tôi mãi suốt những tháng năm trong đời mình.

Thời gian đã cắt bỏ một góc trí nhớ này, ráp nối một mãnh ký ức khác. Miếng bánh tráng nướng dòn trong tô Mì Quảng bao giờ cũng làm sống lại trong tôi cái hình ảnh dịu dàng của mẹ tôi một buổi chiều ngồi trước sân nhà trên tỉnh lộ Mười Ba ngó qua khoảnh sân banh ngập cỏ với cái khán đài không mái che và những hàng ghế gỗ xộc xệch long đinh ván cong lên hay đã gẫy.

Và cái bản tin tôi đọc được hồi đầu tháng cho biết tác giả The Godfather đã qua đời hôm 1 tháng Bảy tại thành phố Bay Shore, New York, thọ 78 tuổi, đã làm tôi nhớ lại hình ảnh người đàn ông gầy gò, chiếc sơ mi màu cháo lòng, hai tay áo dài thòng che lấp hai bàn tay, một buổi sáng nào đã bước vào toà soạn tạp chí Văn trên đường Phạm Ngũ Lão. Bây giờ anh ấy ở đâu, người dịch giả tài năng ấy? Hoàng Hải Thủy nói Ngọc Thứ Lang mất cách nay cũng đã 20 năm rồi. Sau 1975, hai nhà xuất bản ở Việt Nam giành nhau in lại bản dịch Bố Già của anh, giờ đây không phải trả tiền bản quyền người dịch nữa. Một nhà xuất bản Việt ở hải ngoại cũng đã in Bố Già và nay cũng miễn chi tiền bản quyền cho Ngọc Thứ Lang.

“Mario Puzo, tác giả The Godfather, tiểu thuyết best-seller từng bán đến 21 triệu quyển, qua đời ở nhà riêng trong thàmh phố Bay Shore, New York, ngày Một tháng Bảy 1999, thọ 78 tuổi, có năm con, chín cháu. Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già, qua đời ở trại Lao Cải Phú Khánh năm 1979, chưa đầy 50 tuổi, không vợ, không con.”

Theo trí nhớ Hoàng Hải Thủy thì ông đã gặp Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang, công tử Bắc Kỳ vào năm 1951 tại Sài Gòn. Đó là năm mà cả hai ông đều mới ở tuổi đôi mươi. Thế nhưng ở vào tuổi đó Tú đã là người chơi trội hơn Hoàng Hải Thủy nhiều: Đánh roulette ở sòng bạc Kim Chung và hút thuốc phiện. Năm 1955, mới chừng 25 tuổi, Nguyễn Ngọc Tú đã kiếm được nhiều tiền. Anh in và bán quyển Tại Sao Tôi Di Cư cho Bộ Thông Tin chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thời bộ trưởng Phạm Xuân Thái. Năm đó Nguyễn Ngọc Tú có trong tay cả trăm ngàn đồng, một số tiền rất lớn thời bấy giờ. Anh ăn diện như một tay chơi thứ thiệt: áo sơ mi hàng nhập từ Paris sang chỉ có trong một cửa tiệm trên đường Tự Do, đồng hồ vuông mặt đen, mũ mossant, cặp da, máy chữ, hút thuốc lá Phillip Morris vàng loại King size, bật lửa Dupont, cơm Tây, rượu chát,… Vào giai đoạn đó, Nguyễn Ngọc Tú gặp tình yêu. Nhưng mối tình trắc trở. Người yêu anh tự tử và cuộc đời anh bắt đầu xuống dốc không phanh. Anh nằm luôn trong căn nhà bán thuốc phiện ở hẽm Monceaux, Tân Định. Ăn, hút và ngủ luôn trong nhà đó . Để có tiền hút, Tú bán dần đồng hồ, máy chữ, cặp da,… Anh trở thành người nghiện hút nặng. Những năm 70 anh viết cho tuần san Thứ Tư của Nguyễn Đức Nhuận và nhiều báo khác với bút hiệu Ngọc Thứ Lang. Khi Nguyễn Đức Nhuận đưa cuốn The Godfather cho Ngọc Thứ Lang dịch, anh đã chọn tên Bố Già cho bản dịch của mình. Và cuốn sách trở thành tác phẩm ăn khách của Sài Gòn những năm 71, 72. Năm 1976, anh bị bắt đi phục hồi nhân phẩm trên Bình Triệu. Trung tâm cai ma túy nằm trong toà nhà Tu viện Fatima. Một nữ ký giả ngoại quốc đến thăm Trung Tâm ngạc nhiên khi biết Nguyễn Ngọc Tú, một con người thân tàn ma dại đang đứng trước mặt mình là dịch giả cuốn The Godfather của Mario Puzo. Cô nhà báo không tin. Và anh được phép về Sài Gòn mang cuốn sách dịch lên Trung Tâm cho cô ký giả thấy là thật.

Người ta còn nhớ khi cuốn tiểu thuyết viết về tổ chức Mafia ở Hoa Kỳ của Mario Puzo được Ngọc Thứ Lang chuyển ngữ vào năm 1972 dưới tên Bố Già lập tức, như tác phẩm nguyên bản của nó, Bố Già trở thàønh cuốn sách ăn khách nhất thời bấy giờ, mặc dù đó là thời điểm mà cuộc chiến Việt Nam đang bước vào những giây phút ác liệt nhất, thời mà Phan Nhật Nam viết Mùa Hè Đỏ Lửa.

Người Sài Gòn rất mê cuốn tiểu thuyết Bố Già, và chờ đợi xem cuốn phim thực hiện theo tác phẩm này, thế nhưng cho đến năm 1975, chưa người Sài Gòn nào được xem phim Bố Gia do Marlon Brando đóng vai Don Corleone. Mặc dù như lời Hoàng Hải Thủy, ngay từ đầu năm 1975, người ta đã cho nhập cảng cuốn phim này vào Việt Nam, nhưng phim vẫn chưa được trình chiếu trước công chúng. Tại sao? Hoàng Hải Thủy cho biết vì những người nhập phim còn chờ đợi ngày lành tháng tốt mới đem ra chiếu để hốt bạc. Sự chờ đợi của những con buôn ấy không bao giờ trở thành hiện thực. Cuốn phim ấy đã đi qua và mãi hơn 20 năm sau người Sài Gòn mới được xem Bố Già.

Với Mario Puzo, sau Bố Già ông vẫn không ngừng viết. Năm 1996, ông viết The Last Don – Bố Già Cuối Cùng, nhưng không mấy ăn khách, và tác phẩm cuối cùng của ông Omerta (Luật Kín Miệng) sẽ được ấn hành năm 2000, cuốn sách mà tác giả không còn cơ hội nhìn thấy mặt mũi đưá con tinh thần của mình.

Tác giả Bão Thời Đại không còn nữa

Có lẽ Trần Lê Nguyễn là một trong những người cầm bút mà tôi ít có cơ hội tiếp xúc nhất. Ở Sài Gòn, thỉnh thoảng tôi có gặp anh. Anh có đến chơi báo Văn đôi khi. Đôi khi tôi có gặp anh ở nhà Nguyễn Đình Toàn. Hình ảnh mà tôi còn ghi nhớ được về anh là một người hơi thấp, dáng chắc và khoẻ. Anh có một đôi mắt như lúc nào cũng chực cười và một mái tóc ít khi chải. Mấy người bạn ngồi ở quán Cái Chùa đường Tự Do thời đó nói anh mê cá ngựa và xì phé – như ông bạn Huỳnh Phan Anh của tôi vậy. Anh có dáng đi bương chải. Sau 75, có lần gặp anh ngồi ở một kiosque trên một con đường nhỏ cắt ngang đường Trần Hưng Đạo – hình như quán đối diện với một rạp hát cải lương Hồ Quảng – anh bảo hồi này anh bán tranh sơn mài. Anh gầy hơn xưa. Da xạm đen, đôi mắt buồn. Nhà báo Thanh Thương Hoàng trong một bài viết trên tờ Việt Mercury số ra ngày 16 tháng Bảy, 99, cho biết Trần Lê Nguyễn là người thích phiêu lưu mạo hiểm trong tình ái. Anh đã yêu một nữ môn đồ của Chúa, một người thuộc dòng họ lớn ở Huế. Người nữ tu đã cởi áo dòng vào Sài Gòn sống với anh và hai người có với nhau một đứa con. Nhưng cuộc sống giữa hai người quá khác biệt, “chàng và nàng” đành chia tay. “Nàng” trở lại nhà Tu, “chàng” gà trống nuôi con. Sau 1975, người nữ tu bị đẩy ra khỏi nhà Dòng, trở lại với sống với anh và mất trong cơn bạo bệnh. Người phụ nữ sống với anh trong những ngày cuối đời là cô nữ sinh hàng xóm, chăm sóc giúp đứa con của anh và trở thành vợ anh.

Nói về những người viết kịch ở Sài Gòn, người ta vẫn nhắc đến Vũ Khắc Khoan, Phan Tùng Mai và Trần Lê Nguyễn. Nhưng trong các kịch bản Thành Cát Tư Hãn, Người Giết Tần Cối và Bão Thời Đại, tôi chỉ được đọc Thành Cát Tư Hãn và Người Giết Tần Cối. Tôi không được đọc Bão Thời Đại. Cả vở Quán Nửa Khuya là sáng tác anh cho đăng trên tờ Kịch Aûnh khoảng năm 1958-1959, tôi cũng chưa được đọc.

Một người đam mê kịch như Trần Lê Nguyễn suốt đời chỉ mong sao được một lần nhìn thấy kịch mình trình diễn trên sân khấumà cho đế chết trời vẫn chưa chìu lòng người. Môt người đánh bạc không bao giờ thắng. Khi trường đua Phú Thọ mở cửa lại, anh trở lại tìm cảm giác mạnh và anh đã đột quỵ ngay tại trường đua. Trần Lê Nguyễn tên thật Nguyễn Văn Tạo, sinh năm 1924 và mất ngày 7 tháng Bảy, 1999.

Đến Le Petit Trianon nghe nhạc Hoàng Trọng

Giữa tháng Bảy, được tham dự một buổi chiều tưởng niệm nhạc sĩ Hoàng Trọng là một niềm vui ngậm ngùi. Đó là một buổi chiều được nghe lại những hồi âm của quá khứ, được thưởng thức tiếng dương cầm bậc thầy của Nghiêm Phú Phi và những ca khúc đã lớn lên cùng tuổi trẻ tôi. Mai Hương, Kim Tước, Quỳnh Giao những tiếng hát bay dài theo năm tháng, chuyên chở những âm điệu của Hoàng Trọng, làm thành một không gian Sài Gòn xưa giưã một thành phố điện tử California.

Nghe Mai Hương với Đường Về, Kim Tước với Mộng Đẹp Ngày Xanh và Quỳnh Giao với Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím tôi khám phá ra một Sài Gòn xưa tràn ngập những âm khúc dịu dàng. Chiến tranh Việt Nam đứng bên ngoài âm nhạc Hoàng Trọng. Như những trạm dừng chân dọc theo xa lộ Nam Bắc Cali, để người lái xe có thể quành vào nghỉ ngơi trước khi đi tiếp đoạn đường còn lại, âm nhạc Hoàng Trọng chính là những rest area của xa lộ cuộc chiến Việt Nam. Âm nhạc ông không gắn liền với cuộc chiến Việt Nam (mặc dù người ta không quên ca khúc Người Tình Không Chân Dung ông đã viết riêng cho cuốn phim cùng tên), nó chỉ là những lời tình tự của những con người đang trú ẩn dưới căn hầm an toàn không nghe thấy tiếng bom dội trên mặt đất.

Bằng những lời giới thiệu cũng tràn ngập quá khứ của MC Như Hảo, với những ca khúc quen thuộc được diễn tả bằng những tiếng hát đã từng đưa Hoàng Trọng đến với người nghe, người ta nhận ra mình đang gặp lại một Sài Gòn thanh bình trên một “quê hương mới” thực sự không có chiến tranh.

Hoàng Trọng, ông Vua Tango Việt Nam, như cách nói của nhiều người là một trong những nhạc sĩ sống với âm nhạc cho đến phút cuối cuộc đời. Nghe lại nhạc Hoàng Trọng là thưởng thức lại một lần nữa những âm điệu thanh bình của một vùng trời không khói lửa đạn bom, là bước vào căn hầm trú ẩn an toàn nhất của một cuộc chiến không thương tiếc. Hoàng Trọng với ban Tiếng Tơ Đồng và trên 200 ca khúc thanh bình sẽ còn ở với chúng ta lâu hơn khi nào chúng ta vẫn còn cần bóng mát của một tàng cây hay một chiếc dù che mưa tránh nắng của một thế giới không bình yên.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

10/1999

Vũ Hoàng Chương trong trí nhớ

Trên vách tường trong căn phòng nhỏ của Mai Thảo, treo khá nhiều ảnh. Những bức ảnh của Mai Thảo thời trẻ. Một bức ảnh do nhiếp ảnh gia Lê Phúc chụp Mai Thảo mấy năm sau này, trước ngày anh mất sức. Một khuôn mặt trầm tư, lạnh. Những nếp nhăn của thời gian ở đuôi mắt. Chiếc khăn quàng cổ dầy. Mái tóc đã thưa nhưng không có sợi bạc. Đôi mắt ngó xuống, cái nhìn như phóng vào khoảng không. Mai Thảo vững chắc. Rất đàn ông. Nhiều bức ảnh đời thường của anh rất đẹp. Tôi hiểu vẻ đẹp ngoại hình của một người đàn ông không nhất thiết phải có khuôn mặt của Alain Delon, càng không cần cái thân xác vạm vỡ mà thiếu bộ óc của Mike Tyson . Chính cái sần sùi của một làn da khô nứt, cái dáng cao mà vững, sóng mũi thẳng. cái cằm bạnh, cái lạnh của mắt nhìn, cái say mê khi nói về chữ nghĩa, cái phong thái sống ung dung, cái tấm lòng ở với bạn bè đã làm cho Mai Thảo trở thành một người đàn ông quyến rũ.

Tôi tiếc đã không xin anh Khánh – bào đệ của Mai Thảo – một bức ảnh trong căn phòng cuả anh trong hẽm Song Long. Đó là bức ảnh đen trắng, Mai Thảo chụp với thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Tôi nhớ mang máng hình như cả hai anh ngồi trên thềm nhà. Và nhiều lần Mai Thảo cho tôi biết anh rất thích tấm ảnh này. Lẽ ra tôi đã hỏi tại sao. Nhưng tôi đã không hỏi. Năm 1985, một năm trước ngày tôi đặt chân lên đất Mỹ, Mai Thảo cho in tập Chân Dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam, do nhà Văn Khoa của giáo sư Đỗ Đình Tuân xuất bản. Mười lăm chân dung “đã được minh họa từ những chất liệu của kỷ niệm và trí nhớ” của Mai Thảo, chứ không phải được viết bằng tác phẩm hay tài liệu văn học. Trong 15 chân dung ấy, Vũ Hoàng Chương là chân dung thứ nhất với tựa bài “Mấy Tháng Cuối Cùng Với Vũ Hoàng Chương.” Bài viết chiếm gần 40 trang trong tập sách chỉ dày 190 trang. Có thể nói đó là một bài viết tràn ngập tình bạn và cuồng nộ trước số phận mong manh của nhà thơ Vũ Hoàng Chương trong những ngày 1975.

Đọc lại bài viết của Mai Thảo về Vũ Hoàng Chương tôi khám phá ra trong thời kỳ nghi hoặc – những tháng năm 1975 – 1976 , thời mà nói như kịch tác gia người Đức Bertolt Bretch “nói chuyện với cỏ cây cũng là một điều tội lỗi” , tình bạn của hai ông thật là chân tình và vĩ đại.

“Một buổi tối, đến thăm Vũ Hoàng Chương, được ông cho coi những thư từ bạn bè ngày trước của ông từ Hà Nội gửi vào. Thư của Lưu Trọng Lư, Hoàng Lập Ngôn, Hoàng Cầm. Nhưng lá thư ngắn nhất là của Nguyễn Tuân. Chỉ vỏn vẹn hai câu: “Mấy lời hỏi thăm cố nhân. Thư bất tận ngôn.” Vũ Hoàng Chương cười: “Thằng Tuân ngày xưa với tao thân lắm. Khâm Thiên, bàn đèn, tao đâu nó đó, mà nó sợ. Chỉ dám dùng bốn chữ thư bất tận ngôn.” “Mày có trả lời bọn họ không?”

Tại sao mày tao? Tôi ngạc nhiên cách xưng hô giữa Mai Thảo và Vũ Hoàng Chương. Thi sĩ Vũ lớn tuổi hơn Mai Thảo nhiều. Ông có thể mày-tao với Mai Thảo, nhưng chẳng lẽ Mai Thảo cũng mày-tao với họ Vũ?

Tôi đọc bài viết về Vũ Hoàng Chương thêm một lần nữa. Tôi ngừng lại ở đoạn: “Tôi đến thăm Gác Bút thường ngày [như vậy] và thường vào buổi chiều. Thường, vì muốn, vì cầu, với tôi. Hai mươi năm sinh hoạt thơ văn của miền Nam, được ông nhận cho kết giao, rồi thân thiết mày tao và được ông xem như một tấm lòng tri kỷ, dù tuổi tôi thua tuổi ông đúng một Giáp mười hai năm, tôi đã đến thăm mọi chỗ ở của thi sĩ rất nhiều lần.” Tôi hiểu tại sao Phạm Công Thiện – thua tôi một tuổi, và cách Mai Thảo trên một con Giáp – mà cứ mày-mày-tao-tao với tác giả Sống Chỉ Một Lần. Tôi hiểu tại sao nhà văn Nguyễn Tuân – cùng lứa tuổi với Vũ Hoàng Chương, không bằng lòng khi tôi gọi ông bằng bác. Nhà văn không có tuổi. Nhà văn chỉ có già đi và chết. Nhà văn không đếm cái khoảng thời gian sống. Thời gian của mộït nhà văn là ý nghĩa những dòng chữ ông ta viết ra. Là những trang sách đã in. Là cái khả năng thể hiện sáng tạo. Là chính đời sống của ông.

Tôi viết những dòng chữ này nhân mới đây nhà phê bình văn học Đặng Tiến nhắc cho nhớ ngày 6 tháng Chín vừa qua là ngày giỗ thứ hai mươi ba của tác giả Thơ Say. Theo Đặng Tiến, Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn của đất nước, một tác giả quan trọng trong lịch sử văn học nước nhà, chiếm một địa vị riêng biệt trong các trào lưu thi ca. “Giữa những trầm luân của đất nước, tác phẩm của anh chưa được tìm hiểu toàn bộ và đánh giá đúng mức – ở miền Bắc cũng như miền Nam trước 1975, và trong nước cũng như ngoài nước những năm sau 1975 và gần đây.” Hiện nhà xuất bản An Tiêm, trong dự án dài hạn, muốn ấn hành một tuyển tập Vũ Hoàng Chương, có thể “nhích” lên toàn tập. Ông Thanh Tuệ, Giám đốc nhà xuất bản An Tiêm yêu cầu Đặng Tiến sưu tầm, biên tập và giới thiệu, với sự thỏa thuận của bà Vũ Hoàng Chương. Người đọc có quyền trông chờ tác phẩm lớn này của một nhà xuất bản đứng đắn và do một nhà phê bình văn học sâu sắc chủ biên.

Hãy Cứ Là Tình Nhân

Tôi vừa được nghe một ca khúc mới. Tác giả là một người rất trẻ, một cô gái. Tôi được nghe chính tiếng hát của cô và âm nhạc của cô. Tiếng hát không điêu luyện và thiếu kỹ thuật, vì không phải là một tiếng hát nhà nghề. Nhưng theo tôi đó là một bài hát hay và một tiếng hát còn nguyên cái vẻ xanh tươi của một tàu lá chuối sau vườn vừa dứt một cơn mưa. Tiếng hát quyến rũ, không phải vì cái âm điệu vừa tha thiết vừa nồng nàn của nó đâu. Theo tôi, hơi thở của khúc tình ca mới mẻ này chính là lời từ của bản nhạc. Đó là yếu tố khiến cho ca khúc Hãy Cứ Là Tình Nhân trở thành mối suy nghĩ xã hội trong tôi.

Nếu trước đây lời trong những tình khúc là nỗi đau tình ái, là sự sợ hãi không được sống bên nhau, là sự chia ly, là niềm cách biệt, là “mặt nhìn mặt cầm tay bâng khuâng không nói một câu,”* hoặc “một là sống trong lòng người đẹp Tô Châu, hai là chết bên dòng sông Danube,”* hay “từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng,”*…

Những khúc tình ca trước hết là những lời than thở não nuột, là tiếng kêu thấu trời xanh vì “em đã đi lấy chồng – hoặc anh đã đi lấy vợ, và ông trời đã chia cách đôi ta…” Hoặc sến hơn, kiểu như “đời tôi cô đơn nên đi đâu cũng cô đơn…”

Không được sống bên nhau thì chỉ có cái chết mới giải quyết được. “Em sinh ra là để được yêu, được sống với anh, bên anh cho tới ngày răng long đầu bạc. Không gì có thể chia cắt đôi ta, bởi vì đôi ta như chim liền cánh như cây liền cành, như thuyền và biển. “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời. Chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn. Nói gì kiếp khác với đời sau…” hoặc “Nếu từ giã thuyền rồi biển chỉ còn sóng gió, nếu phải cách xa anh, em chỉ còn bão tố…”*

Lời từ trong ca khúc này là tiếng nói mới của một lớp người trẻ, hơn nữa là tiếng nói của một cô gái trước cuộc sống xứ người: “Em không thích làm vợ, không thích anh là chồng… Chỉ cần anh nhìn em là tim em rã rời, chỉ cần anh nắm tay là hồn em đắm say… Hãy cứ là tình nhân.”

Tôi không biết lớp người trẻ hiện nay – những thanh niên Việt trên quê người, và cả lớp trẻ tại quê nhà – quan niệm thế nào về tình yêu và gia đình, nhưng Tú Minh, tác giả ca khúc Hãy Cứ Là Tình Nhân đã nói lên một tiếng nói mới: Sự kết hợp lứa đôi làm thành một gia đình không còn là “nguyên tắc” nữa. Thà làm một đôi tình nhân yêu nhau và run rẩy khi “anh nhìn em và em nhìn anh” hơn là sống bên nhau và chán ngán dằn vặt nhau. Phải chăng Hãy Cứ Là Tình Nhân là tiếng nói của một lớp trẻ trước thời đại của www. , của com. , của thiên niên kỷ mới? Hay chỉ là tiếng kêu đau thương trước sự thất bại trong đời sống lứa đôi?

Cô đơn là một mốt khá phổ biến tại Âu châu vào đầu thế kỷ 21. Hiện nay , chỉ tính riêng nước Pháp đã có từ bảy đến tám triệu người không lập gia đình hoặc không muốn… lập gia đình trở lại. Các nhà xã hội học cho rằng đã xuất hiện một loại người “cô đơn kiểu mới” và họ hết sức hạnh phúc trong sự cô đơn của mình. Đặc điểm của loại người này là không muốn san sẻ cuộc sống hàng ngày với bất kỳ ai, dù đó là người mà họ yêu thương tha thiết. Nhà xã hội học Jean Claude Kaufman trong tác phẩm “Hoàng tử và người phụ nữ cô đơn” viết rằng “Có vẻ như đám cưới là cánh cửa đóng lại chắc chắn nhất con đường vào tương lai.” Và yêu nhau đâu có nghĩa là phải sống chung với nhau dưới một mái nhà. Nhưng sống một mình không phải là một hiện tượng xã hội có nơi những người trẻ từ 20 đến 35 tuổi. Ngày nay, với những người trung niên với nhiều kinh nghiệm “gãy đỗ” cũng muốn bảo vệ thế giới cô độc của mình. Cái hình ảnh “chồng chồng vợ vợ con con” cách đây 15 năm được coi là giá trị cao nhất của tế bào xã hội thì giờ đây theo Kaufman người ta – nhất là phụ nữ – bắt đầu ý thức tự lập về tài chính, sống trọn vẹn với chính mình, và một cách nào đó có thể nói người ta đang muốn biến kế hoạch đó thành một quan niệm sống … mãn đời. Một nữ kịch sĩ người Pháùp, Kathy Bodet, 42 tuổi, nói “Tôi thử lập gia đình nhiều lần, nhưng không lần nào kéo dài quá một năm. Đàn ông đòi hỏi nhiều quá, mà tôi thì cần thanh tịnh. Họ vắt cạn sinh lực của tôi. Tôi thấy tình bạn hay hơn tình yêu.” Một câu trích dẫn khác có thể chép lại ở đây là của ông Didier Huré: “Hôn nhân là một khoảnh khắc đẹp đẽ có tính cách trang trí, còn đời sống độc thân là thời gian hạnh phúc có tính chất lượng.”**

Bạn có bao giờ xem sô Friends trên chương trình truyền hình của NBC mỗi thứ Năm không? Với Hãy Cứ Là Tình Nhân, Tú Minh có thể không phải là người [nữ] đầu tiên chọn cách sống cô đơn, nhưng cô là tác giả đầu tiên trong âm nhạc Việt Nam nói hộ một lớp người chọn “tự do” trong thời đại mới của những ngày tháng chuẩn bị bước vào thế kỷ 21.

Chào mừng Uyên Thao và Thanh Thương Hoàng

Hôm 14 tháng Chín vừa qua, nhà văn-nhà báo Uyên Thao và gia đình đã đến Hoa Thịnh Đốn và ngụ tại Virginia. Nhà văn Uyên Thao Vũ Quốc Châu là một trong số những tù nhân chính trị được chính phủ Hoa Kỳ trực tiếp can thiệp đòi Hà Nội để ông sang Hoa Kỳ tị nạn. Uyên Thao từng làm việc nhiều năm trong Đài Phát Thanh Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa . Trong những năm 1972 đến 1975 ông làm Tổng thư ký tòa soạn nhật báo Sóng Thần. Sau ngày 30 tháng Tư, ông là một trong số những văn nghệ sĩ và chính trị gia Việt Nam Cộng Hòa bị bắt giam ngay từ những ngày đầu. Ông từng bị nhốt xà lim nhiều tháng cùng một nơi với ông Phan Huy Quát, cựu Thủ tướng chính phủ Việt nam Cộng Hòa. Năm 1988, Uyên Thao mới được trở về Sài Gòn. Từ đó ông sống rất vất vả, bị ngăn cấm mọi việc, ngay cả việc xin xuất cảnh sang Hoa Kỳ tị nạn cũng không được. Chuyện ra đi của ông hầu như tuyệt vọng cho đến khi bà Khúc Minh Thơ, Hội trưởng Hội Gia đình Cựu Tù nhân chính trị đứng ra lo giúp. Bà Khúc Minh Thơ đã đến bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cùng với hồ sơ của hai nhà báo Uyên Thao và Thanh Thương Hoàng để trình bày với ông Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao chuyên về Di trú. Và kết quả là sau rất nhiều khó khăn và thời gian, hai ông Thanh Thương Hoàng và Uyên Thao đã đến được bến bờ tự do. Nhà báo Thanh Thương Hoàng hiện định cư ở thành phố Sacramento, bắc California.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

* Tô Vũ, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Du Tư Lê, Xuân Quỳnh…

** Lê Lộc, Nghệ Thuật Cô Đơn, theo Figaro Magazine, Psychologies Magazine, Kiến Thức Ngày Nay , 319, 20/6/99.

 

12-1999 -Chào mừng nhà văn Andrew X. Pham

Cao, hơi gầy, tóc cắt ngắn, ngắn gần như cạo trọc, một khuôn mặt khắc kỷ, một nụ cười hiền, nhưng đôi mắt dưới tròng kính trắng là một đôi mắt buồn, nhà văn Andrew X. Phạm , tác giả cuốn Catfish and Mandala nói với tôi bằng một thứ tiếng Việt không sỏi lắm..

Đó là một buổi tối thứ Năm 21 tháng Mười, 1999, tại trường Đại Học San Jose State University, nơi anh đã đến ký sách và nói chuyện. Cuốn sách là một hồi ký rất văn chương của một người Việt Nam rời bỏ đất nước – khi còn là một chú bé con, vào năm 1977 – trên một chiếc ghe vượt biển. Gần 20 năm sau, 1996, anh trở về trên một chiếc xe đạp khởi từ Vùng đất điện tử, để đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi về bản chất văn hóa của anh, về cái chết của người chị đầy trắc trở và về mảnh đất quê hương vẫn còn hằn trong trí nhớ anh.

Andrew X. Phạm nói “chuyến du hành này đã cho tôi biết rằng tôi là người Việt Nam hơn tôi tưởng và ít chất Mỹ hơn là tôi mong muốn. Hầu như mỗi đứa trẻ thuộc thế hệ thứ nhất lớn lên ở Mỹ, vào một lúc nào đó, đều tin chắc rằng mình hoàn toàn là một người Mỹ trên mọi ý nghĩa….”

Cuốn sách với tựa đề phụ là A Two-Wheeled Journey through the Landscape and Memory of Vietnam. là một tác phẩm nặng chất văn chương [hơn chất hồi ký] với đầy đủ ý nghĩa của nó.

Mặc dù rời bỏ Việt Nam ra đi lúc mới 10 tuổi, Andrew X. Phạm trở lại quê nhà đã tìm thấy lại một mảnh đất tràn đầy kỷ niệm.. “Bây giờ qua khung cửa kính nhuộm màu, tôi thấy một buổi chiều Sài Gòn như những buổi chiều khác trước đây. Tôi thấy mặt trời lặn đang chìm xuống trên những ngọn cây cổ thụ và những cây “ăng-ten” chia chỉa trên mái những ngôi nhà xếp lớp nhau… Các quán kiosk dọc theo con lộ, không có lề đường , đón lấy dòng người do xe cộ đùn lên. Những người bán bánh mì, những bà già với những đôi tay đầy dầu mỡ, … Những người đàn ông ở trần , da rám nắng, mặc quần dùi, đi dép cao su, ngồi xổm nướng thịt trên chiếc chảo sắt. Một con chó lông loang lổ cạnh sườn, ngửi phân một con chó khác. Trong một ngõ hẽm, bà mẹ và cô con gái chiên bánh và gói trong những tờ giấy báo bẩn..” Và anh gặp lại những người khốn cùng trong xã hội, những đứa bé ăn xin ở Hồ Con Rùa, ở chợ Bến Thành. Mỗi góc đường nhung nhúc những người đàn ông tàn tật, những người đàn bà với những vết thương lở lói bưng mủ. Từ những chỗ sưng tấy lên , da thịt ung thối tỏa ra một mùi hôi nồng. Những bé trai què quặt nằm trên tấm gỗ có bánh xe thô sơ, bò lết với đôi tay mang dép và một cái lon xin tiền cặp giữa những hàm răng bẩn. …. Một đoạn văn cho thấy xã hội đất nước ta còn quá nhiều vấn đề cần phải giải quyết, cần biết bao nhiêu những người như Mẹ Teresa. Trái đất này còn nhiều khổ đau – tất nhiên?- nhưng cái mảnh đất quê hương nơi mình sinh ra và bỏ đi, sống cuộc đời tha phương cầu thực, khi quay về nhìn lại sao mà bi thảm đến thế. Làm sao? Phải làm sao? Đừng nói chi xa. Hãy nói đến chiếc xích lô. Chiếc xích lô với người phu xe ngồi sau rướn mình nhấn bàn đạp chở một đôi thanh niên khỏe mạnh, ăn mặc đẹp đẽ sao nó làm lòng tôi xốn xang đến thế! Những chiếc xích lô làm đề tài cho những cuốn phim từ Trần Anh Hùng đến Tony Bùi, như một cách nhìn Việt Nam, nhưng cái tôi nhìn quê hương tôi là làm sao trong những thứ cần thay đổi, tôi mong sao cho chiếc xích lô không còn tồn tại trong trí nhớ của người ngoại quốc nữa. Trong những thứ làm nên văn hóa Việt Nam, xin xóa dùm tôi chiếc xích lô. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự đầy ải và hạ thấp con người là điều không thể chấp nhận được. Chiếc xích lô là một trong những “nghề” sau cùng phải được lấy ra khỏi đời sống người dân Việt Nam. Cùng lắm nó chỉ được coi là tấm ảnh vàng úa trong cuốn album bị bỏ quên trong ngôi nhà quá khứ. Có người sẽ hỏi: Vậy chứ nếu bỏ cái xích lô đi thì những người đạp xích lô sẽ sống bằng gì? Câu hỏi đó phải để cho những người đang cầm vận mệnh đất nước trả lời. Và tôi nghĩ câu trả lời đó cũng dễ thôi.

Cùng với Nguyễn Quí Đức, Andrew Lâm, Trần Đệ, Lai Thanh Hà, Lily Dizon,… Andrew X. Phạm đã mang đến người đọc bản xứ và cho thế giới văn chương cái nhìn của một người Việt Nam đạp chân trở lại trên chính mảnh đất quê hương mình.

Miền Trung chìm trong biển nước

Cái quê hương mà Andrew Phạm trở về không chỉ nghèo khó – trong cảnh phồn vinh bề mặt ở các thành thị – mà nó còn bị “trời hành cơn lụt mỗi năm” như trận lũ đầu tháng Mười Một vừa qua. Cả miền Trung chìm trong lũ lụt. Ở Huế chỉ trong vài tiếng đồng hồ sáng ngày 2 tháng Mười Một, nước sông Hương, sông Bồ dâng cao dìm cả thành phố và các vùng lân cận dưới biêûn nước. Báo trong nước cho biết đến 4 giờ chiều cùng ngày đã có 58,000 ngôi nhà trong tỉnh Huế-Thừa Thiên chìm trong cơn lũ. Giao thông hoàn toàn bị gián đoạn. Điện bị mất, truyền hình ngưng phát sóng. Chỗ bị ngập sâu nhất tại Huế lên đến 7, 8 thước. Tại Quảng Trị, mực nước sông Thạch Hãn lên đến 7. 24 thước. Báo cho biết 60,000 ngôi nhà bị chìm trong nước. Một chi tiết làm chúng ta chảy nước mắt: “Bệnh viện Triệu Hải nước lũ đã ngập giường các bệnh nhân.” Những bức ảnh của hãng thông tấn chụp hôm 3 tháng Mười Một, 99 tạ xã Cẩm Kim, Hội An cho thấy nhân viên giải cứu chèo ghe gần những mái nhà tranh ngập nước; một bứckhác chụp một phụ nữ chèo ghe thúng chạy lụt có chở theo con chó nhỏ, căn nhà ngói phía sau nước ngập gần mép cửa sổ, và trên căn gác ngôi nhà một cô bé chừng 10 tuổi đứng ngó xuống … Tôi không nhớ rõ mình đã chúng kiến trận lụt nào những ngày còn nhỏ ở quê nhà. Nhưng khi lớn lên ở Dalat, rồi Sài Gòn tôi chưa thấy một trận lũ nào như hình ảnh miền Trung chìm trong biển nước như tôi được thấy trong những bức ảnh này. Ở Nha Trang, trong những năm tiểu học tôi chỉ còn nhớ những ngày mưa bão lớn, con đường dọc theo biển chạy dài từ Nhà Giây Thép xuống Cầu Đá nước biển tràn lên mặt đường theo từng đợt sóng. Biển giận dữ điên cuồng gào thét. Biển đục ngầu ghê rợn. Biển địa ngục. Biển như một nấm mồ mở tung nấp ván thiêng đầy những oan hồn nổi dậy . Những hàng cây dọc đường Yersin trốc gốc. Những cành cây còn nguyên lá xanh nằm ngổn ngang trên mặt đường. Những trụ điện ngã nghiêng. Thành phố suốt đêm không còn ánh sáng. Bãi cát trắng nơi tôi vẫn thường xuống ngồi nhìn những con tàu ngoài khơi tưởng tượng những chuyến đi xa, tưởng tượng những thành phố mình sẽ đến, tưởng tượng những chuyện thần tiên chỉ có trong sách cổ tích…. cái bãi cát làm nền cho trí tưởng tượng của tôi đã hoàn toàn chìm trong biển nước. Những cây dừa và những tàu lá ngả nghiêng theo chiều gió. Lụt miền Trung và thành phố tuổi thơ của tôi bây giờ ra sao?

Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!

Tháng Mười vừa qua – đúng ra là ngày 13 tháng Mười – người đọc yêu mến nhà văn Vũ Trọng Phụng đã tưởng niệm 60 năm ngày ông qua đời. Tác giả của Giông Tố, Số Đỏ, … lừng danh với câu nói bất hủ “Biết rồi, khổ lắm , nói mãi!”, cha đẻ của những nhân vật Xuân Tóc Đỏ, Bà Phó Đoan, Cụ Cố Hồng, Nghị Hách, Thị Mịch, … Vũ Trọng Phụng là một trong số rất hiếm nhà văn Việt Nam “không ai bắt chước được, không ai theo kịp được”, (Nguyễn Tuân,) “ông vua phóng sự đất Bắc”, (Lãng Nhân Phùng Tất Đắc), “tiểu thuyết gia trác tuyệt của văn học Việt Nam (Nguyễn Đình Thi). Mười tám tuổi (1930) có truyện ngắn đầu tay – Chống Nạng Lên Đường – in trên tờ Ngọ Báo, chín năm sau vừa kịp hoàn thành cuốn tiểu thuyết thứ chín – Trúng Số Độc Đắc – trước khi qua đời vì bệnh lao. Một nhà văn chết vì suy dinh dưỡng ở tuổi 27, Vũ Trọng Phụng đã làm người đọc ngạc nhiên trước khối lượng sáng tác gần như đồ sộ trong thời gian cầm bút ngắn ngủi của ông: ba mươi truyện ngắn, chín tiểu thuyết, tám tập phóng sự, sáu vở kịch. Đó là chưa kể bản dịch vở kịch Lucrèce Borgia của Victor Hugo, một số bài viết phê bình, tranh luận văn học và hàng trăm bài báo viết về các vấn đề chính trị xã hội, văn hóa. (GS Trần Hữu Tá).

Nhà văn “trác tuyệt của văn chương Việt Nam”, “ông vua phóng sự đất Bắc” sống cuộc sống ngắn ngủi vì triền miên đói khát, vậy mà sau khi chết cũng không yên thân. Hai mươi năm sau ngày ông qua đời, 1958, Hà Nội bắt đầu “vạch lá tìm sâu” trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng. Người ta gọi ông là tác giả “khiêu dâm”, là “trốt-kít”, sách ông trong thư viện bị bỏ vào khu vực nghiên cứu đặc biệt, muốn đọc phải có giấy giới thiệu Nhà nghiên cứu phê bình văn học Phan Cự Đệ của Hà Nội, năm 1960, khi viết giáo trình Văn Học Việt Nam 1930-1945 (nxb Giáo Dục – 1961) không xem Vũ Trọng Phụng như một tác gỉa. Đến cuối năm 1960, Viện Văn Học [Hà Nội] tổ chức hai cuộc thảo luận về Vũ Trọng Phụng đưa ra những “ý kiến”: “Nghe nói” Vũ Trọng Phụng lúc còn sống có nhận tiền của mật thám Pháp, Vũ Trọng Phụng là một “nhà văn lưu manh”, “chỉ giỏi xỏ xiên”, “không có gì đáng nghiên cứu”,… Cho mãi đến năm 1983, Vũ Trọng Phụng mới được ghi nhận trong câu nói của Nguyễn Khải về cuốn Số Đỏ: “cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho một nền văn học.”

Trong một bài tham luận Hội Thảo Tưởng Niệm 50 Năm Ngày Mất Vũ Trọng Phụng đọc tại Văn Miếu Hà Nội, [ngày 12 tháng Mười, 1989] ông Hoàng Thiếu Sơn cho rằng cuốn Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng “chỉ muốn nói đến bọn nhơ øvận may chó ngáp phải ruồi mà nên sự nghiệp ” và ông cho rằng cái văn tài của Vũ Trọng Phụng là “đã cho ta thấy tất cả cái gọi là vô nghĩa lý của xã hội.” Điều này Vũ Trọng Phụng đã viết trong các tác phẩm của ông, “còn lòng xót thương thì Vũ Trọng Phụng đã để dành cho một cuốn tiểu thuyết khác, tiếp theo Số Đỏ, mà tác giả đã đặt tên là Số Đen. Nhân vật trong tác phẩm này là một con người hết sức đáng trọng vì nhân phẩm mà rất đáng thương vì cuộc đời gặp toàn sóng gió, trải qua mọi nỗi bất công. Số Đen trùm lên cả cuộc đời của nhân vật như thiên la địa võng, thật là chạy trời không thoát.” Cho đến nay, mười năm sau khi phát hiện có một tiểu thuyết mang tên Số Đen của Vũ Trọng Phụng, người ta vẫn chưa có cái “may mắn” được nhìn thấy mặt mũi của đứa con bị bỏ quên của nhà văn có mộït số phận đen đủi này.

Tưởng niệm 60 năm ngày mất của tác giả Số Đỏ, người đọc Vũ Trọng Phụng lại thêm một lần nữa nhìn thấy văn học Việt Nam từng có một nhà văn lớn, nhà viết phóng sự lớn .

Thầy Tôi

Hồi ở Đại học Dalat, người Thầy để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất có lẽ là Linh Mục Alexis Cras,** giáo sư phụ trách môn Siêu Hình Học. Tôi còn nhớ dường như gần suốt ba năm trời ông chỉ giảng đi giảng lại có mỗi một câu của Martin Heidegger. Ông có phong thái của một vị Thánh hơn là một giáo sư. Tôi không hiểu được gì nhiều qua những lời Cha giảng. Nhưng tôi học được nhiều điều nơi Cha qua cách sống. Tôi khám phá ra mỗi người chỉ có một đời sống để sống và gắng sống sao cho ra con người. Một con người tử tế. Làm con người tử tế giống như người đi trên giây xiếc. Nếu không đứng thẳng rất dễ ngã. Nói về Heidegger hay nói về Sartre, về Merleau-Ponty hay về Karl Jaspers, bao giờ Cha cũng đi kèm theo một tác giả Việt Nam. Cha thích nói về tác phẩm Hồn Bướm Mơ Tiên, về nhà văn Khái Hưng, nói về một ngôi nhà thờ Hà Nội, về một con đường của một thành phố mà chưa bao giờ tôi đặt chân đến. Trong lớp tôi có 28 sinh viên thì có đến gần 20 người là đi đạo Chúa. Tôi nằm trong số người ít ỏi còn lại. Tôi là một người athéiste. Cha thường bảo tôi là hãy giữ những gì con đang có, học thuyết chỉ là cái để nghe, để làm giàu sự suy tưởng của mình. Học thuyết không làm thành đời sống, chính đời sống mới làm thành học thuyết. Cha bảo hãy đọc Goethe đi. Đó là một con người vĩ đại. Nhưng tôi chỉ đọc Camus và tôi không cách sao mê nổi Goethe, Tôi thích Gide. Nhưng khi Gide bảo “Ôi gia đình, ta ghét ngươi!” thì tôi thấy mình không thể sống được nếu không có gia đình. Tôi khám phá ra tâm hồn tôi là hễ cứ yêu một thứ gì thì có nghĩa là phải làm ngược lại những gì thứ ấy mong mỏi. Đối với tôi Cha Cras là hình ảnh của một mẫu người dẫn đường. Cha đã dẫn tôi đi ở vào lứa tuổi mà tôi biết rằng chỉ có sức mạnh của bàn tay và quyền lực mới xứng với khát vọng tuổi trẻ tôi. Tôi đã từng đánh nhau với những thằng sinh viên mất dạy nhất ở sân trường Đại học Khoa học Sài Gòn. Tôi đã có lần cứa cổ một thằng ưa dùng tay chân dao búa trên sân Cù Dà Lạt năm tôi mười tám tuổi. Nhưng tôi cũng đã có lần chảy nước mắt vì một bàn tay dịu dàng xoa vết chém trên lưng tôi trong một buổi tối trong khu chợ cá Trần Quốc Toản. Tôi đã sợ hãi vì đôi mắt buồn rầu của mẹ tôi khi tôi bảo là tôi sẽ bỏ học ra đi – mà không biết đi đâu. Đôi khi tôi thấy mình giống như một thằng trôi sông lạc chợ. Tôi biết mình dễ trở nên một tên du đảng hơn là một cậu học trò may mắn đứng đầu lớp. Học cho lắm vào, cha tôi thường nói, đầu óc mày cũng chỉ có một dúm cỏ chữ nghĩa là cùng. Cỏ chữ nghĩa, cha tôi thường bảo vậy, chẳng hù dọa được ai đâu. Cho tới bây giờ sự hiểu biết mà tôi có thật ra cũng chỉ là một dúm cỏ. Cái hiểu biết thực sự của mình sao mà nó tầm thường, nhỏ nhoi.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

 

Tháng Giêng năm 2000

Gặp bạn ở Paris

Sau cùng tôi cũng đã trở lại Paris, trở lại thành phố của những ngôi nhà chật, những đường phố hẹp, những viện bảo tàng lịch sử, những người quen cũ và cả những người mới nghe tiếng nhưng tưởng chừng như đã quen lắm từ lâu. Paris của Nguyên Sa, Võ Đình, của Trần Thiện Đạo, Trần Hồng Châu, của Cung Trầm Tưởng, Đặng Tiến, của Lê Bá Đảng, Nguyễn Cầm, Kiệt Tấn,… trước kia và bây giờ là của Diễm Châu, Thanh Tuệ, Hồ Trường An, Miêng, của Trần Vũ, Trần Công Sung, Đỗ Kh., Thụy Khuê, Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Phan Thị Trọng Tuyến, Mai Ninh, Đặng Mai Lan, Trần Thị Diệu Tâm, của Cổ Ngư, Mạch Nha, của Linda Le và Kim Lefèvre, của các nhà báo Trần Văn Ngô, Trần Trí Vũ, Ánh Nguyệt, Trần Trung Quân, … Cho dù Diễm Châu có ở Strasbourg, Hồ Trường An có ở Troyes, Đặng Mai Lan có ở Reims, Mai Ninh có ở Normandie,… thì Paris vẫn là của những người cầm bút này. Y Chi và cả Nguyễn Hưng Quốc nữa, bây giờ đã ở Úc, nhưng trước đây cũng là người của Paris. Thành phố văn học của cả thế giới đang dành cho Việt Nam những khuôn mặt chữ nghĩa.

Tôi đến Paris đúng vào ngày mà hàng quán nào cũng treo bảng Le Nouveau Beaujolais Est Arrivé! Rượu Beaujolais đầu mùa thật ngon. Không phải là một tay sành rượu, nhưng tôi đã uống và đã thấy như vậy. Mới giữa tháng Mười Một, mà Paris đã lạnh như mùa đông. Trời hơi có chút mưa. Nhà tôi ở avenue de la République, Quận XI, gần Nghĩa trang Père Lachaise, nơi có những ngôi mộ của những nhân vật tên tuổi mà lần đầu đến Paris tôi chưa kịp thăm.

Buổi sáng đầu tiên trở lại thành phố này, tôi chưa biết mình phải làm gì trước khi thăm Huỳnh Phan Anh, người bạn đã cùng tôi sống những năm tháng của một Sài Gòn sôi nổi. Không ngờ vậy mà chúng tôi đã xa nhau gần mười lăm năm. Trước khi gặp lại bạn, tôi đã nghe Ánh Nguyệt và Đặng Tiến và Thanh Tuệ mô tả bạn tôi. Vẫn gầy ốm, đã có chút hư hao và … Tôi muốn đến ở với bạn một ngày, nghe bạn nói về Sài Gòn, về những người bạn còn lại của chúng tôi. Trong đám bạn sáu tên vẫn thường ngồi với nhau những buổi sáng ở quán Cái Chùa thời đó, bây giờ chỉ còn Huỳnh Phan Anh và Nguyễn Nhật Duật. Bốn tên kia, Nguyễn Quốc Trụ, Đặng Phùng Quân , Nguyễn Đình Toàn, và tôi, đã rời khỏi nước. Đó là những năm 60, những năm Sài Gòn cheo leo giữa chiến tranh ngày càng ác liệt và hòa bình rất đỗi mong manh; những năm mà đời sống chúng tôi chui rúc vào những quán cà phê trên đường Tự Do, như những con đà điểu vùi đầu trong cát; những năm SàiGòn gắn liền với không khí chính trị sôi sục của những cuộc xuống đường và lưụ đạn cay; những năm mà mỗi biến động của văn chương Pháp vẫn còn làm những trang sách Sài Gòn dính đầy dấu mực Paris.

Huỳnh Phan Anh trong nhóm chúng tôi là một người rất “mặn” với tiểu thuyết mới của Alain Robbe-Grillet, Michel Butor, Nathalie Sarraute,… Với cuốn tiểu luận Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô, Huỳnh Phan Anh đã mở ra một cánh cửa khác của cách nhìn văn chương Việt Nam sau thời Sáng Tạo. Những bài viết của anh trên tạp chí Văn cho thấy Huỳnh Phan Anh là một tài năng đa dạng: anh viết tiểu luận, anh dịch và anh sáng tác. Huỳnh Phan Anh là người có khuôn mặt của một thiền sư, nhưng mang nỗi đam mê của một Dostoievsky. Anh dựng nhà xuất bản Đêm Trắng và một trong những cuốn sách do nhà xuất bản này ấn hành là cuốn Khu Hừng Rực Lửa của tôi. Cuốn “tiểu thuyết vừa” này đã được chạy từng kỳ trên tạp chí Văn, lúc đó do Trần Phong Giao làm tổng thư ký, không phải là một cuốn sách bán chạy. Nói chung, những sách của nhóm Đêm Trắng với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật và tôi ra đời không được người đọc đón nhận như sách của Duyên Anh, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng hay Nguyễn Thị Thụy Vũ. Điều đó cũng dễ hiểu thôi.

Huỳnh Phan Anh mới đây đã chọn và dịch một hợp tuyển thơ của thi sĩ Pháp, Yves Bonnefoy, [từ những tác phẩm Po èm es, 1986; Ce Qui Fut Sans Lumière, 1987 và La Vie Errante, 1993, tất cả đều do Mercure de France ấn hành] và chính Bonnefoy đã viết lời tựa cho hợp tuyển đặc biệt này. Chuyến đi của Huỳnh Phan Anh là do Yves Bonnefoy bỏ tiền túi mời.

Nhưng sáu ngày ngắn ngủi của tôi ở Paris, ba ngày ở Bruxelles, tôi chỉ gặp bạn tôi ba lần. Hai lần đến và đi ở phi trường Charles de Gaulle, một lần duy nhất tại nhà Thanh Tuệ. Bạn tôi vẫn như xưa. Vẫn những đốm lửa không ngừng cháy sáng trên môi. Có gầy hơn, nhưng hơn hai tháng qua sống tại Paris, bạn tôi đã hồng hào. Anh vẫn còn giữ nguyên đôi mắt của một người đam mê. Chúng tôi không nói chuyện gì nhiều. Tất cả chỉ quây quanh đời sống. Cuộc sống của những người ở tuổi chúng tôi ngoảnh mặt nhìn lại những tháng ngày đã qua giật mình thấy sao quá nhiều biến cố dồn dập đổ xuống đời mình, bóng tối nhiều hơn ánh sáng, thiên đường ít hơn địa ngục và hãi hùng khi thấy tuổi trẻ đã không còn ở với chúng tôi nữa.

Tôi bước xuống phố. Con đường còn đọng nước mưa. Phòng điện thoại công cộng đã có ba người chiếm. Le Soleil Levant, quán cà phê góc phố. Kiosque bán sách báo đầu trạm métro. Tôi mua một tạp chí. Tờ Le Nouvel Observateur, với bìa la ảnh Marguerite Duras và Yann Andréa, người tình trẻ của bà. Duras mon amour, Le dernier homme de sa vie témoigne. Câu chuyện bắt đầu năm 1975, ở Caen, một sinh viên rất trẻ gặp nhà văn Marguerite Duras, – tác giả tiểu thuyết Người Tình – thần tượng của anh. Năm năm sau, mùa hè năm 1980, Yann Andréa gõ cửa ngôi nhà của Marguerite Duras ở Trouville. Và kể từ đó họ không rời nhau nửa bước cho đến ngày Duras qua đời vào năm 1996. Duras Mon Amour là trích đoạn trong cuốn sách của Yann Andréa. Tôi không xuống métro. Tôi đi ngược lên. Nghĩa trang Père-Lachaise. Những ngôi mộ, những nhà mồ, những bức tượng… như Oscar Wilde [tràn ngập những dấu son môi trên đá], như mộ Apollinaire rất đẹp, như Marcel Proust, Balzac, Merleau-Ponty, Gertrude Stein, Paul Eluard, Edith Piaf, Modigliani, Chopin,…. và cả mộ bia rất thấp của đôi uyên ương Yves Montand & Simone Signoret. Tôi có cảm tưởng mình đang đi giữa một thứ bảo tàng viện sống, giữa những nhà mồ và những ngôi mộ của những người vô danh [một vài ngôi mộ người Hoa và cả ngôi mộ của một người Việt Nam] nằm lẫn với những nhân vật lừng lẫy của văn học nghệ thuật nước Pháp. Những ngôi mộ với những bức tượng quá đẹp làm thành một quần thể những tác phẩm mỹ thuật…trong một nghĩa trang thầm lặng. Hai hôm sau, tôi đã trở lại nghĩa trang lần nữa với nhà văn trẻ Cổ Ngư để chụp ảnh mộ những nhân vật mà tôi từng nghe tiếng.

Ra khỏi cổng nghĩa trang trên đường Boulevard de Ménilmontant, tôi đi ngược lại trạm métro Saint Maur. Công nhân bãi việc. Một vài trạm rác rưới ngập lối đi. Những tấm bích chương quảng cáo du lịch Ai Cập và Maroc. Một ban hát xẩm chơi nhạc ở cổng xuống sân ga. Phần lớn khách đi rất nhanh, gần như chạy. Nhiều thiếu nữ ở Paris mặc áo choàng đen dầy phủ trùm tận gót chân, đứng chờ xe ở trạm . Xe vừa dừng bánh đã đẩy cửa bước nhanh vào toa và giở một cuốn sách ra đọc, không buồn nhìn ai.

Mùa đông đến sớm với Paris nhưng những chiếc áo choàng dày màu đen của những cô gái Pháp đã làm ấm một thời tiết giá băng.

Theo xe nhà báo Trần Văn Ngô, và nhà văn Trần Thị Diệu Tâm, xuống Sceaux, tôi được dự buổi ra mắt cuốn sách đầu tay của Miêng tại tư gia anh chị Quỳnh Dao-Huỳnh Hùng. Ngôi nhà đẹp, khu yên tĩnh, khách đứng chật phòng. Ấm cúng , thân mật. Đặng Tiến đang làm phóng sự văn học nghệ thuật cho BBC. Anh là người cộng tác khá lâu với Văn thời trước 1975. Những bài viết về văn học nghệ thuật của anh rất có giá trị. Tôi cũng gặp lại chị Thụy Khuê của đài RFI, Mai Ninh thường có bài trên Hợp Lưu, Trần Công Sung trên Thế Kỷ 21 và nhiều khuôn mặt quen thuộc khác.

Tại quán ăn An Hiên của anh chị Phạm Kế Viêm-Trần Thị Diệu Tâm, tôi được gặp lại “bà già trầu” Hồ Trường An, nhà báo Trần Trí Vũ, và Tuấn [RFI] , Thanh Tuệ, nhà xuất bản An Tiêm, anh chị Thụy Khuê-Lê Tất Luyện, nhiếp ảnh gia Huỳnh Tâm, nhà văn Đặng Mai Lan, nhà thơ Thụy Khanh, và giáo sư Bùi Xuân Quang…[Cũng tại quán này, trong một thời gian rất chật hẹp hai hôm sau, tôi gặp bình luận gia Trần Thanh Hiệp, nhà viết sử – nhà văn Chính Đạo-Nguyên Vũ, và người chuyên dịch Liêu Trai Chí Dị Phạm Xuân Hy.] Và sau đó [đúng đêm trước ngày lên đường trở về Mỹ] tạitư gia của anh chị Miêng-Khoa, ở Saint Denis, tôi được gặp hai vợ chồng Phan Thị Trọng Tuyến, anh chị Vương Văn Đông, Quỳnh Dao- Huỳnh Hùng. Những buổi gặp gỡ đầy tình thân ái và qua đó tôi học hỏi được nhiều điều rất hay. Miêng ít nói, văn chương sắc bén. Đặng Mai Lan cũng ít nói, truyện ngắn thơ mộng và lãng mạn. Trần Thị Diệu Tâm sôi nổi, truyện chị nhẹ, trầm; Hồ Trường An lưu loát thao thao như những trang sách của anh và Thụy Khuê kín đáo. Tôi thật may mắn có những ngày tràn ngập kỷ niệm tại một vùng đất văn vật lừng danh thế giới với những người mà tôi yêu thích.Chỉ có một điều ân hận là tôi không còn thì giờ đi thăm Trần Vũ, Đỗ Kh. và chị Nguyễn Thị Chân Quỳnh, đi Strasbourg thăm Diễm Châu, sang Anh gặp “bạn già” Nguyễn Đăng Thường, đến Đức thăm Lê Minh Hà và Nghĩa, ăn một bữa cơm với vợ chồng Thế Giang, ngồi giữa nhà hàng của Hoàng Nga nghe chuyện Việt Nam, đi một quảng đường với Ngô Nguyên Dũng… Tôi thiếu nhiều nơi phải đến, nhiều người phải gặp. Và sau cùng tôi cũng đã thiếu một ly cà phê với anh Vũ Thư Hiên như đã hẹn, vì cả anh lẫn Đỗ Kh. trong thời gian ấy đã đến Hoa Kỳ. Và Trần Vũ, ngòi bút trẻ tuổi xuất sắc của văn học Việt Nam hải ngoại đi chơi xa chưa về.

Sau cùng, tôi cũng chẳng biết thêm chút nào về Paris ngoài con đường avenue de la République, trạm metro Saint Maur và trạm République, nghĩa trang Père Lachaise, bateau mouche trên sông Seine và tháp Eiffel về đêm.lạnh buốt.

Paris, thành phố mà nhà văn Julien Green, “nhiều lần mơ ước viết một cuốn sách về nó như một cuộc dạo chơi không mục đích, thành phố mà ta không tìm thấy được những gì mà ta muốn tìm kiếm, nhưng người ta sẽ nhận ra được nhiều thứ mà người ta không chủ tâm kiếm tìm…. Thành phố này chỉ mỉm cười với những ai đến gần nó và lang thang trên những nẻo đường phố xá; thành phố ấy nói cho ta nghe thứ ngôn ngữ thân quen, yên lòng chắc dạ, thế nhưng tâm hồn của Paris chỉ hiện lên từ xa, và từ trên cao, và trong sự lặng thinh của đất trời người ta có thể nghe được tiếng kêu trầm thống của niềm kiêu hãnh và đức tin cất cao trên trời xanh.”

Tạm biệt Paris và xin cám ơn những người bạn đã uống cùng tôi một ly cà phê đắng.

Miền Trung vọng tiếng…

Chưa biết Paris là một thiếu sót, nhưng chưa được về miền Trung mang đến cho đồng bào tôi một tấm áo, một bữa ăn, một tập vở, một tấm lòng, tôi thấy đó mới là một thiếu sót lớn hơn rất nhiều trong lúc này. Cái đất miền Trung cát cháy, nghèo khổ cầy lên sỏi đá của chúng ta trong nhiều thế kỷ qua chưa năm nào tránh khỏi thiên tai.Cái đói và cái khổ đeo đuổi dai dẳng như lủ đỉa hút máu người. Trận lụt thứ nhất chưa qua, trận lụt thứ hai đã dội tiếp xuống. Những mái nhà nhấp nhô trên mặt nước như những đầu người bị chìm, những con đường đang trở thành những dòng sông, những khuôn mặt, những đôi mắt ướt nước mưa [hay nước mắt?] của những thanh niên chạy lũ trên ngọn đồi cao 30 mét của huyện Phú Lộc, suốt ba ngày không có một hột cơm trong bụng; ở cửa biển Thuận An, lũ xoáy đã tạo ra hai cửa biển mới: Hòa Duân và Vinh Hải. Nước! Nước! và nước! đâu đâu cũng chỉ có nước. Đất và nước làm thành quê hương,làm nơi trú ngụ của con người, nhưng đất hoang thiếu bàn tay người và nước tràn lan ngập lụt khắp mặt đất sẽ là thảm họa.

Trên tờ Thế Kỷ 21 số 128 tháng Mười Hai, tôi đọc mấy câu thơ rất cảm động của Thảo Chi:

…..

Trên tờ Tuổi Trẻ số ra ngày 11 tháng Mười Một, tôi đọc thấy ba bài thơ “Thương Về Miền Trung” :

Mẹ ngồi bám nóc nhà tranh
mắt không còn lệ để dành khóc con
giữa trời nước lụt mênh mông
biết nơi đâu xác của con trôi về!

Mới đêm qua mẹ còn nghe
tiếng con hát dưới bóng tre sau vườn
bây giờ đã thấy tang thương
làng trên xóm dưới không còn mái tranh!

(Nguyễn Như Mây, Mẹ Miền Trung Mất Con)

Em không về kịp nữa chị ơi
Mưa trắng cả một trời Quảng Trị
Lũ nguồn như từ thiên niên kỷ
Dưng không đổ xuống quê mình.

Mấy ngày rày cha cứ làm thinh
O út vô ra thở dài thườn thượt
Qua màn hình chỉ một màu: mây nước.
Ở nơi mô, nhỏ nhoi đất quê mình?

Thiệp cưới chị nhờ em đã lấy tận nhà in
Kịp tuần sau cả nhà ra đám cưới
Nhìn ảnh chị cười răng mà thấy tội
Bốn mươi tuổi còn gì?

Chuyện tình ngày xưa đẫm ướt mi
Ai xui khiến Thủy Tinh giờ tìm bắt chị
Chú út nghẹn ngào báo qua dòng lệ:
Lũ cuốn trôi nhà và chị… chị ơi!

Cha cố nuốt nước mắt vào trong, không nói nên lời
O út gào lên như người mê sảng
Cả nhà phủ một màn mưa trắng
Mưa trắng trời hay trắng cả con tim?

Em không về kịp nữa chị ơi!
Mưa vẫn trắng cả một trời Quảng Trị.
(Tạ Nghi Lễ, Chị Ơi!)

Ngày mai này em về Huế, Huế ơi
Xin đừng trách người về sau trận lụt
Xin Huế hiểu cả người không về được
Ở trong ni mà lòng cứ ngoài tê!

(Nguyễn Thái Dương, Ngày Mai Em Về Huế)

Trên Văn số này, nhà thơ Tô Thùy Yên, một khuôn mặt lớn trong thi ca Việt Nam gửi đến bạn đọc bài Huế Oán, bài thơ viết trong mùa thảm nạn của xứ Huế đau thương.

Trường thành nhiều chỗ đã sụt lở.
Thương em còn thơm hồn nhãn sen.
Mấy bận, sóng thần lấp cửa phá.
Đêm giông, mẹ nhắc chuyện năm Thìn….

Xin bạn đọc hãy dồn tất cả tình yêu về cho miền Trung ruột thịt và bi thương của chúng ta …

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

 

 

SỔ TAY THÁNG BA, 2000

Ba bài thơ mới tìm được của Mai Thảo

Anh Nguyễn Đăng Khánh, bào đệ của nhà văn Mai Thảo vừa gửi cho Sổ Tay ba bài thơ mới tìm được của tác giả Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền. Anh cho biết ba bài thơ này do anh Nguyễn Đức Chấn, cháu của Mai Thảo, tìm thấy tại Việt Nam hồi đầu năm 1999 khi Chấn về Sài Gòn đón mẹ sang Mỹ đoàn tụ cùng gia đình. Thư anh Khánh viết “Chấn đã cố tìm ở nhà chị tôi [mẹ của Chấn] nơi anh Mai Thảo thường tới ẩn náu khi bị chế độ mới truy lùng trong những năm 1975-78, một tấm ảnh mà Chấn đã chụp anh Mai Thảo với chị Kiều Chinh tại nhà hàng La Pagode. Mặc dù không tìm thấy tấm ảnh nhưng Chấn đã tìm được một tờ giấy trên đó anh Mai Thảo ghi ba bài thơ nhan đề Hình Tượng, Thủy Tinh và Kim. Sau hơn 20 năm, tờ giấy đã vàng, nét chữ đã mờ, rất khó đọc, nhưng vẫn là nét chữ của anh Mai Thảo. … Ba bài thơ trên xác định một điều: Anh Mai Thảo làm thơ từ nhiều năm trước đấy chứ không phải [mới làm thơ] vào những năm gần cuối đời với tập thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền xuất bản vào năm 1989…”

Cùng với những bài thơ, anh Nguyễn Đăng Khánh gửi cho Sổ Tay tấm ảnh [màu] do nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh chụp Mai Thảo ngồi với thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Trên góc trái bức ảnh, dưới chữ ký của Cao Lĩnh, tôi thấy dòng chữ viết tay: Dưới thềm gác mây 1974.

Bức ảnh mà tôi đã có lần ghi trong Sổ Tay là đã nhìn thấy trên vách phòng anh Mai Thảo trongcăn phòng nhỏ anh ở trên đường Bolsa, phía sau nhà hàng Song Long. Xin ghi lại nguyên văn ba bài thơ của anh như một tưởng niệm ngày anh qua đời và đồng thời là một đóng góp cho các nhà phê bình văn học những sáng tác còn bỏ quên của thi sĩ / nhà văn Mai Thảo:

hình tượng

Từ trong cửa tối nhìn ra
Thấy gần: bóng lá, thấy xa: biển trời
Lá lay, bóng cách ngăn đời
Biển im, hình tượng cõi người không ta.

thủy tinh

Trở mình chăn chiếu mênh mông
Giấc mơ chật hẹp vẫn trong cuộc đời
Mộng ta không xóa nổi người
Đáy đêm còn đọng tiếng cười thủy tinh.

kim

Miếng da bịt mắt thành đêm
Cây kim khâu miệng thành im lặng mồ
Tay chân, giây trói bao giờ
Da, kim, giây ấy bây giờ là ta.

Khẩu khí ấy, chữ nghĩa ấy không thể là ai khác, ngoài Mai Thảo.

Tôi vẫn thường nghĩ Nguyễn Đình Vượng là cha đẻ của tạp chí Văn, và Mai Thảo là người đã tiếp sức nuôi nó lớn lên. Văn không có mặt nếu không có cụ Vượng và Trần Phong Giao. Nhưng Văn không thể tồn tại đến hôm nay nếu không có Mai Thảo.

Nhà văn-giáo sư Cung Giũ Nguyên và những người học sinh cũ

Mấy ngày trước Tết, một số bạn học thời nhỏ ở Nhatrang gọi nhau gửi thư chúc Tết thầy cô giáo cũ còn ở quê nhà. Một người bạn cùng trường bảo tôi “anh nên viết cho thầy Cung Giũ Nguyên một cái thư đi. Dù sao anh và thầy Nguyên cũng có chỗ giống nhau.” Tôi hỏi giống nhau chỗ nào? Bạn tôi bảo “thì Thầy Nguyên là nhà văn, mà anh cũng viết văn.” Tôi nghĩ viết thư chúc tết thầy cô thì ai cũng viết được, cứ gì phải là nhà văn. Và tôi viết thư thăm Thầy. Tôi không còn nhớ hết các thầy cô thời tiểu học, nhưng ở Trung học tôi còn nhớ nhiều vị, mặc dù tôi biết chắc các thầy / cô tôi không nhớ tôi là đứa nào. Cũng dễ hiểu thôi. Tôi chỉ là một học sinh tầm thường trong đám học sinh tầm thường không xuất sắc và cũng không ngỗ nghịch phá phách. Thuở đó tôi là một cậu bé ghét nhà trường và sách vở. Lớp học, với tôi đôi khi chỉ là tù ngục. Cuốn vở tôi không chép bài học mà chỉ tràn ngập chi chít những hình vẽ, những khuôn mặt tôi ghét, tôi thương, những bầu trời giông bão mà tôi tưởng tượng một ngày nào sẽ xảy ra trên thành phố tôi đang sống. Tôi vẽ những ngôi nhà đổ nát, những đường phố không bóng người. Những chiếc xe nằm ụ bốc cháy. Xác người la liệt nằm lớp lớp trên bãi biển, sóng xô dạt vào bờ rồi kéo ra khơi xa… Nhà tôi ở gần nhà thầy Điểm giáo sư phụ trách môn hội họa. Phòng khách của thầy treo nhiều tranh, phần lớn là phong cảnh và một bức lớn, gần như chiếm hết tấm vách ngó ra mặt đường. Bức tranh vẽ biển xanh với bãi cát trắng, mấy cây dừa lả ngọn. Tranh vẽ như chụp lại từ một bức ảnh. Thầy người Nam, tánh tình cởi mở, học trò đứa nào cũng thương thầy. Giờ hội họa, đứa nào cũng được thầy cho điểm cao. Phần tôi, thầy luôn luôn nhắc, “vẽ như mầy mai mốt bán tranh cho ai. Sao không giống gì cả vậy. Biển trong tranh của con thầy thấy giống như mấy miếng giẻ chùi cọ. Đầu óc con không bình thường.” Tôi nói tôi thích thầy, nhưng không thích tranh của thầy. Tôi cũng không ưa môn văn với những tác phẩm đầy điển tích khó hiểu. Tôi chịu không nổi những Nhị Độ Mai, truyện Trê Cóc, v.v.. Tôi chỉ nhớ lỏm bỏm mấy câu của Cao Bá Quát, bài Đạo Phùng Ngạ Phu (Đi Đường Gặp Người Đói). Ngày hai cố chiếc tráp, ngày ba nhịn đói dài, thấy ai cũng tươi tỉnh, muốn nói nhưng nghẹn lời… Có lẽ tôi bị ảnh hưởng của cha tôi. Cả đời ông chỉ thuộc có mỗi một bài thơ, bài Thạch Hào Lạ của Đỗ Phủ. Nghe ông đọc đi đọc lại mãi sau mỗi chầu rượu tối tôi nhập tâm hồi nào không hay. “Mộ đầu Thạch hào thôn. Hữu lại dạ tróc nhân. Lão ông du tường tẩu. Lão phụ xuất môn nghênh.”* [Ngô Tất Tố dịch ra thơ lục bát: Lính lệ Thạch Hào: Chiều hôm, tới xóm Thạch Hào, Đương đêm có lính lao sao bắt người. Vượt tường ông lão trốn rồi, Cửa ngoài, mụ vợ một, hai mời chào…) Ông thường nói lập thân bằng binh nghiệp, đừng lập thân bằng văn chương. Văn chương chỉ là thứ vớ vẩn. Ông cũng thường hỏi tôi mày thích gì? Tôi trả lời “Con không biết.” “Nhưng ít ra mày cũng phải biết mày thích một thứ gì chứ. Như tao đây này. Tao biết tao thích thứ gì và tao ghét thứ gì.” Tôi nói tôi tôi thích nhìn biển động, tôi thích trời sập, tôi thích thế giới này không còn ai… Cha tôi nói “đồ ngu, thế giới không còn ai thì mày sống với ai?” Còn sợ? Tôi sợ những giờ học, sợ bị đóng khung – bất cứ thứ gì đóng khung cũng làm tôi sợ….. Tôi sợ thầy giáo, sợ nghề dạy học, sợ những ông bà công chức, sợ giấy tờ, sợ những ngày lễ lạc, sợ trói buộc, sợ gò bó… Tôi nghĩ, mình học hành còn không ra chi, nói gì làm nghề dạy người khác. Và lớn lên tôi trốn chạy nó, trốn chạy mãi, nhưng như một người đi trong mê lộ, cuối cùng tôi gặp lại khởi điểm, nơi từ đó tôi đã ra đi: dạy học. Cũng may bố già Nguyễn Đình Vượng đã cứu tôi một nửa, khi tôi bước vào tờ Văn, một nửa còn lại chấm dứt khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Tôi tìm thấy tôi.

Nhưng những ngày giáp Tết Canh Thìn vừa qua, khi những bạn học cũ thời nhỏ của tôi nhắc nhở việc viết thư chúc Tết thầy/cô tôi thấy những suy nghĩ đã từng làm tôi đau nhức ngày xưa trở lại trong tôi. Và hiện lại trong tôi rõ nét nhất là thầy Cung Giũ Nguyên. Nhưng tại sao thầy Cung Giũ Nguyên mà không là ông thầy, bà cô nào khác? Tôi không tìm thấy câu trả lời chính xác. Có thể vì hồi mới lớn tôi nghe người ta thường nhắc thầy là “nhà văn”, là tác giả cuốn tiểu thuyết viết bằng tiếng Pháp, cuốn Le Fils de la Baleine. Cũng chỉ là nghe thôi chứ không hề thấy mặt mũi cuốn sách ra sao nói gì đọc. Rồi câu chuyện về mối tình của Thầy Nguyên với một thiếu nữ. Cô gái kia chắc thua tôi một hoặc hai tuổi, còn thầy Nguyên, tôi biết thầy lớn hơn tôi chừng 31 tuổi. Người ta đàm tiếu, thêu dệt về mối tình của Thầy. Thời gian đó tôi đã vào Sài Gòn, học trường Petrus Ký, nhiều khi nghe người khác kể lại tôi ngạc nhiên tự hỏi tại sao người ta tốn quá nhiều thì giờ về một mối tình đẹp đẽ của thầy Nguyên như thế! Thầy Nguyên là một con người, và là một con người tài hoa.

Cách đây sáu năm, năm 1994, tôi được đọc một tác phẩm mới của thầy, cuốn Thái Huyền, do nhà Đại Nam ấn hành. Đây là bản dịch cuốn Le Boujoum tiếng Pháp, dày 700 trang đã xuất bản tại Pháp năm 1980. Khi đó thầy Cung Giũ Nguyên đã 71 tuổi. Chính thầy Cung Giũ Nguyên đã – theo lời yêu cầu của nhà xuất bản Đại Nam – dịch tác phẩm của mình ra tiếng Việt. Cuốn Thái Huyền tôi có trong tay là tập một. Đọc lại phần tiểu sử mới biết thầy đã viết truyện ngắn đầu tay đăng trên tờ Đông Pháp Thời Báo năm 1928 tức là năm thầy mới 19 tuổi. Những tác phẩm thầy Cung Giũ Nguyên viết trực tiếp bằng tiếng Việt đã xuất bản gồm: Một Người Vô Dụng, tiểu thuyết, 1930; Nhân Tình Thế Thái, truyện ngắn, 1931; Nợ Văn Chương, tiểu thuyết, 1934. Năm 1938 thầy chủ trương tờ Les Cahiers de la Jeunesse; làm chủ bút nhật báo Le Soir d’Asie, 1940-1941 và La Presse d’Extrême-Orient, 1954. Bài của thầy Nguyên cũng có mặt trên tạp chí Đại học Hoa Kỳ Syposium ở Syracuse, New York, 1952 và Books Abroad ở Norman, Oklahoma, 1956. Về sách trực tiếp viết bằng tiếng Pháp có Volontés d’Existence (Những Ý Chí Để Sống Còn), tiểu luận, France-Asie, Saigon, 1954. Tiểu thuyết Le Fils de la Baleine, (Con Ông Nam Hải) Arthème Fayard, Paris, 1956, được dịch ra tiếng Đức xuất bản năm 1957, tạiGenève và Franfort dưới nhan đề Der Sohn des Walfischs. Viện sĩ Hàn Lâm Pháp, ông Daniel Rops trong khi phê bình quyển truyện này đã có ý xếp Cung Giũ Nguyên ngang hàng với Giono, một nhà văn lừng danh của Pháp.

Tôi biết chắc là thầy không thích tôi nói lăng nhăng về thầy như những dòng chữ trên , nhưng tôi mong là Thầy sẽ tha thứ cho tôi về những phát biểu linh tinh của một người học trò cũ. Tôi chắc chắn sẽ có dịp viết thêm về nhà văn Cung Giũ Nguyên, người thầy ngày xưa của tôi, trong những số tới.

Nguyễn Đình Toàn và Hiên Cúc Vàng

Nguyễn Đình Toàn, một trong những nhà văn được yêu mến nhất của Sài Gòn trong những năm trước 1975 vừa đến với người đọc người nghe của ông bằng một CD mang tên Hiên Cúc Vàng. Tác giả Chị Em Hải và nhiều tiểu thuyết khác như “Áo Mơ Phai”, “Ngày Tháng”, “Con Đường”, “Sau Giờ Ra Chơi” và Đồng Cỏ”,… đã chinh phục người đọc trẻ tuổi Sài Gòn không chỉ bằng chữ nghĩa mà còn bằng cả âm thanh và âm điệu nữa. Những người Sài Gòn từng nghe chương trình nhạc chủ đề của ông trên Hệ Thống Truyền Thanh Quốc gia cách đây 30 năm hẳn không thể nào quên được giọng nói ấm áp truyền cảm của ông qua cách giới thiệu tiếng hát và các ca khúc nóng thời bấy giờ. Có thể nói Lệ Thu, Khánh Ly và nhiều ca sĩ nổi tiếng của SàiGòn trong những năm 60-70 đều lớn lên qua chương trình của Nguyễn Đình Toàn. Ông là người không chỉ xuất sắc về thơ và truyện mà còn là người có khiếu thẩm âm vô cùng tinh tế. Trước 75, ông viết lời từ cho nhiều ca khúc, trong đó có bài Tình Khúc Thứ Nhất rất nổi tiếng của Vũ Thành An. Sau 75 trong những ngày tù tội dưới chế độ mới, ông viết nhạc và giờ đây những ca khúc ấy được nữ ca sĩ tên tuổi Khánh Ly – người được Nguyễn Đình Toàn gọi là “góa phụ của chiến tranh” mang đến cho người nghe trong đêm nhạc Hiên Cúc Vàng tại Vũ Trường Ritz, thành phố Anaheim, Quận Cam..

Khoảng 500 khán thính giả yêu mến và ngưỡng mộ Nguyễn Đình Toàn đã đến tham dự chào đón một tài năng văn chương, mừng ông trở lại với người đọc-người nghe quen thuộc của những năm tháng cũ trong một bầu không khí mới. Có thể nói với Hiên Cúc Vàng, Nguyễn Đình Toàn đã mang đến cho sinh hoạt âm nhạc hải ngoại một làn điệu mới, một hơi thở mới.

Cách đây không lâu, khi nhà báo Lê Đình Điểu giới thiệu tác phẩm mới của Nguyễn Đình Toàn – cuốn Đồng Cỏ – tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt tại Nam Cali, tôi có viết một bài Tạp Ghi có tựa đề là: Nguyễn Đình Toàn-Sài Gòn-Pagode, nhắc lại những kỷ niệm của anh và đám bạn bè vẫn gặp nhau buổi sáng ở quán cà phê Cái Chùa [Pagode] và bao giờ cũng vậy giữa những Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Đình Toàn luôn luôn là người đưa ra nhiều nhận xét về bạn bè và văn chương người khác một cách sắc bén nhất. Ông là một trong những khuôn mặt lớn của sinh hoạt văn học nghệ thuật Sài Gòn những năm 70. Gặp lại ông sau bao nhiêu năm tháng xa cách, chúng ta không chỉ muốn nghe nhạc của ông mà người đọc đang muốn thưởng thức tiếp những tác phẩm văn chương mới mẻ của ông nữa.

Trầm Tử Thiêng: Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy

Ngày 25 tháng Giêng năm 2000, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, tác giả ca khúc nổi tiếng Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy đã từ giã anh em bạn bè ra đi. Tôi không có cơ duyên quen biết ông trong những năm ở Sài Gòn, nhưng ở Mỹ, năm 1986 khi từ đảo Bataan Phi Luật Tân qua làm cho nhật báo Người Việt thì không lâu sau đó Trầm Tử Thiêng cũng về trú cùng một mái nhà, nhưng công việc của anh là phụ trách chương trình văn nghệ cho Đài Truyền hình Người Việt. Trầm Tử Thiêng có một ngoại hình nhỏ thó, gầy gò, khắc khổ. Anh ít cười, ít nói, nhưng mỗi khi nói anh nói chắc nịch như đinh đóng những gì anh bảo vệ. Tôi còn nhớ năm đó Người Việt ra số báo Xuân – năm nào Người Việt cũng ra một số báo Xuân ngoài những số báo thường – và tôi có đề nghị anh viết một bài tổng kết về tình hình văn nghệ ca nhạc hải ngoại. Báo chuẩn bị đi in, nhưng bài anh Thiêng còn đang viết. Anh rất cẩn thận trong chữ nghĩa và bài anh viết càng lúc càng dài thêm do những tài liệu anh vừa thu lượm hàng ngày trong tiếp xúc với những nghệ sĩ trình diễn. Cho đến lúc không chờ bài anh được nữa, Nguyễn Đức Quang – lúc đó trong vai trò người điều hành tờ báo – và Lê Đình Điểu, chủ bút, bàn với tôi là quyết định lấp bài cho kịp đưa nhà in thì Trầm Tử Thiêng đưa bài. Bài anh viết công phu và khá dài. Nếy lay out nguyên bài thì tờ báo bị coi như trình bày lại từ đầu. Biết tính anh khó không ai dám dưa ý kiến cắt bớt một số chữ cho vừa số trang dành cho anh. Tôi lãnh nhiệm vụ trình bày ý kiến đó. Trầm Tử Thiêng không trả lời đồng ý hay không đồng ý cách giải quyêt. Anh không nói chuyện với bất cứ ai trong ba chúng tôi một thời gian khá lâu. Tôi biết anh giận, nhiều lần kéo anh đi uống cà phê, nhưng anh luôn luôn kêu bận. Phải hơn một năm sau [1987] tôi mới thấy anh cười với tôi. Thời gian đó anh đã rời Người Việt, trở lại với âm nhạc, phụ trách phần hòa âm cho ca sĩ Khánh Ly và Thanh Thúy. Nhiều năm sau tôi thỉnh thoảng gặp anh, khi thì ở quán Anh Thi đường Bushard, khi thì ở Coffee Factory, đường McFadden. Cũng có khi gặp anh ở những lần các ca nhạc sĩ ra mắt CD ở Ritz hay Majestic. Chúng tôi ngồi chung bàn nghe anh nói chuyện âm nhạc, đời sống và thế thái nhân tình. Khi ca sĩ Thùy Dương muốn thực hiện một vài ca khúc mới với lời từ viết sẵn cho anh phổ nhạc, tôi thường gặp anh ở quán Anh Thi. Tôi ăn vội vì còn phải về tòa soạn, còn anh vẫn thường nhâm nhi cà phê thuốc lá sau đó. Anh nói có nhiều chuyện muốn bàn với tôi, nhưng thấy tôi lu bu quá, anh hẹn để đó, trước sau gì cũng sẽ làm thôi. Cho đến cuối năm 1998, tôi đổi việc làm lên San Jose, anh từ Quận Cam gọi cho tôi biết anh vừa viết một ca khúc mới mà anh rất thích: phổ nhạc bài thơ của Xuân Diệu Cha Đàng Ngoài, Mẹ Đàng Trong. “Tôi sẽ lên San Jose tuần tới, Đêm Nhạc Thùy Dương tôi sẽ hát bài này cho cậu nghe!” Anh đã nhắn riêng tôi như vậy và đêm đó tôi đã bỏ việc lay out tờ Văn đến nghe anh hát. Đêm có Lê Uyên, Từ Công Phụng, Lệ Thu, Thùy Dương và Trầm Tử Thiêng. Ca khúc mới của anh do chính anh trình bày đã làm tôi thực sự xúc động. Tôi nói với anh bài ca này khó hát, tôi sợ ngoài anh ra khó ai diễn tả có hồn như anh, mặc dù giọng anh không mạnh lắm.. Anh biết điều đó. Và có vẻ như đó là lần sau cùng tôi gặp anh. Khi nhạc sĩ Trường Kỳ từ Montreal báo tin cho tôi biết Trầm Tử Thiêng đã qua đời, tôi hoàn toàn bất ngờ. Bởi vì tôi biết anh bệnh ít lâu nay, nhưng anh đã bỏ thuốc tây chữa thuốc ta và anh đã thấy hiệu nghiệm của việc dùng thuốc mới. Vũ Ánh từ Quận Cam sau đó đã viết mấy bài về Trầm Tử Thiêng trên Nhật báo Viễn Đông. Đó những bài viết rất hay về một nhạc sĩ.

Dưới tựa đề Những Dòng Nhạc Định Hình Trầm Tử Thiêng, Vũ Ánh đã nhắc đến ca khúc “Mưa Trên Poncho” của Trầm Tử Thiêng. “Hình ảnh chiếc poncho, một loại áo mưa làm tương tự như loại áo khoác của người Mễ Tây Cơ, bằng một loại vải nhựa, có mũ che. Nó thân thiết với người lính cả lúc sống lẫn lúc nằm xuống. Chiến trận miệt mài, nắng mưa sương gió, nằm bờ ngủ bụi, người lính dùng poncho như những tấm lót thay mền. Khi chết, cũng chỉ một chiếc poncho đó gói tấm thân vừa trọn nghĩa với đất nước. Mưa Trên Poncho là hình ảnh bi hùng tráng tuyệt vời của những người lính trận. Nó giống như chiếc nón sắt đa dụng, như chiếc ba lô vốn là tài sản duy nhất của người lính.

“Chiến tranh Việt Nam ngày một lan rộng. Nhạc viết về chiến tranh thời gian này khá nhiều và nhiều bài nổi tiếng. Nhưng nội dung những nhạc phẩm ấy đẩy người nghe vào hai trạng thái đối nghịch:

“Một làm cho người nghe chùng xuống tê liệt vì nỗi buồn và tuyệt vọng.

“Và một làm cho người nghe cảm giác người lính bị huyền thoại hóa một cách vụng về.

“Trầm Tử Thiêng không rơi vào hai trạng thái đó. Sựï lãng mạn đã giúp ông viết những ca khúc chiến tranh nhẹ nhàng hơn. Ông cho người nghe ý thức được nỗi đau đớn, phiền muộn, sợ hãi chiến tranh, nhưng đồng thời ông cũng mở cho người nghe những lối thoát bằng niềm tin và bằng sự lãng mạn của những cuộc tình trong thời chinh chiến. Khi nhạc phẩm Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy ra đời sau Tết Mậu Thân đã đánh động hàng triệu con tim của người Việt Nam.

“Nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, một người bạn khá thân của Trầm Tử Thiêng cho biết trong dòng nhạc lính lúc bấy giờ, ca khúc Một Trăm Phần Trăm [Ngô Mạnh Thu không nhớ tên tác giả] thường do Hùng Cường và Mai Lệ Huyền trình bày bán được một triệu bản thì Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy của Trầm Tử Thiêng cũng đã bán được trên 600,000 bản. Một kỷ lục vào thời đó.

…Và Vũ Ánh kết luận: “Tuy nhiên, suy đi nghĩ lại, trong suốt 40 năm sống cho âm nhạc, tác phẩm định hình cho Trầm Tử Thiêng chính là ca khúc Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy. Không có tác phẩm nhìn chiến tranh bằng con mắt lãng mạn này, có lẽ con đường mà ông đi sẽ chẳng có khúc quanh nào để lưu lại cho chúng ta di sản của một bậc tài hoa.”

Xin chào vĩnh biệt Trầm Tử Thiêng, người nhạc sĩ không ngừng tìm cái tuyệt đối trong một thế giới chỉ toàn những điều tương đối, trái tim lớn trong một thân thể nhỏ bé, tấm lòng bao dung trên một khuôn mặt khắc khổ.

Vĩnh biệt, bạn hiền!

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

 

SỔ TAY THÁNG TƯ, 2000

Nguyễn Văn Sâm và Khói Sóng Trên Sông

Văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh vẫn luôn luôn lôi cuốn tôi. Truyện của Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Kiệt Tấn, Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Vương Hồng Sển, Huỳnh Phan Anh, … và trong những năm tháng sống xa quê hương, được đọc Cao Đông Khánh, Hồ Trường An, Nguyễn Văn Ba, Võ Kỳ Điền, Trần Long Hồ, Bùi Thanh Liêm, Nguyễn Tấn Hưng, Lương Thư Trung, Nguyễn Thị Long An… với tôi là một hạnh phúc.

Đó là những tác giả mang đến cho người đọc không khí của miền đất “hảo hớn”, bầu trời của “bao dung và cởi mở”, hơi thở nồng nàn của ruộng đồng , sự thơm tho của cây trái, cái dào dạt mênh mang của dòng sông Cửu Long…

Đó là chưa kể Tô Thùy Yên, mà tiếng thơ của ông đã bay trùm lên khắp miền đất nước như một cái bóng lớn trong thế giới thi ca Việt Nam… Có thể tôi còn thiếu sót một số tên tuổi khác trong những tác giả Nam Kỳ Lục Tỉnh, nhưng một tác giả tôi không thể quên, đó là Nguyễn Văn Sâm, người bạn từ năm 1969 đã viết Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam,; 1971 Văn Học Nam Hà; 1972 Văn Chương Nam Bộ; và những năm tháng tại Mỹ ông đã viết Câu Hò Vân Tiên (Texas, 1985); Ngày Tháng Bồng Bềnh (Texas, 1987). Mười ba năm sau khi in tập truyện Ngày Tháng Bồng Bềnh, Nguyễn Văn Sâm vùa gửi đến người đọc những sáng tác mới của ông: Khói Sóng Trên Sông. Trong một email, ông hỏi tôi “tao sẽ in tập truyện mới. Nhà xuất bản Văn đứng tên được không?” “Tại sao không?” Tôi đã trả lời ông như vậy. Chúng tôi quen nhau đã lâu. Cùng học chung trường Petrus Ký, cùng đi quân trường Quang Trung, từng cà phê cà pháo ở những quán nước Sài Gòn. Sâm là một người chân chất, và thẳng thắn -như đa số người miền Nam.. Ông quả là một người bạn tốt. Tuy vậy, về chuyện chữ nghĩa văn chương, ít ra là thời bấy giờ, những năm sáu mươi-bảy mươi ở Sài Gòn, ông và chúng tôi không cùng chung một quan điểm.. Nguyễn Văn Sâm lúc đó viết biên khảo hơn là sáng tác. Có vẻ công việc dạy học đã đặt ông vào cái thế một công đôi chuyện.

Hồi đó, bọn chúng tôi -Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Nhật Duật, Đặng Phùng Quân – vẫn thường lê la ở quán Cái Chùa mỗi sáng, nói đủ thứ chuyện giữa những ly cà phê trước khi đến sở làm. Trong khi chúng tôi, nói theo Huỳnh Phan Anh, ‘đi tìm tiểu thuyết mới ở Việt Nam, dòng tiểu thuyết ly khai với truyền thống cũ,.thuộc Tự Lực Văn Đoàn, hoặïc nói rộng hơn, ly khai với tiểu thuyết giai đoạn tiền chiến” thì Nguyễn Văn Sâm hết Văn chương miền Nam, tới văn chương Nam bộ hết Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, tới Dương Tử Giang,… . Ông cứ đi ngược lại với bọn tôi.

Khi cuộc chiến kết thúc, chúng tôi mỗi người một ngã. Kẻ ở, người đi. Văn chương chữ nghĩa trong một thời đại hoài nghi trở thành trò chơi của tội lỗi. Sách vở từ trong tủ kính rủ nhau bước xuống chợ trời. Như những hạt bụi bị trận cuồng phong thổi tung, chúng tôi bay di mười phương tám hướng. Và sau cùng như những hạt bụi, chúng tôi lại gặp nhau.

Houston, nơi tôi đã đôi lần đến. Nhiều người bạn cũ đã gặp. Nhiều người bạn mới vừa quen. Cách đây mấy năm là Tường Vy & Cao Hữu Tích. Gần đây là Phương Hoa & Đăng Khánh. Bữa cơm gia đình nhà Duy Trác thân tình và đầy những nụ cười. Bữa cơm nhà anh chi Minh & Điệp Mỹ Linh tôi đã chạy đến theo cây kim đồng hồ. Gặp lại Đặng Phùng Quân, Hàn Song Tường, Ngu Yên, Trương Trọng Trác, Vũ Thanh Thủy & Dương Phục, vợ chồng Phạm Quang Tân, Nguyễn Vĩnh Châu. Và phải chờ đến trưa ngày hôm sau mới gặp lại người bạn già Nam Kỳ-Lục Tỉnh Nguyễn Văn Sâm..

“Mày nói cho tao mấy lời trong buổi ra maắt sách của tao.” Nguyễn Văn Sâm đã dặn như thế cả tháng trời trước khi tôi đến Houston. “Nói thì nói.” Tôi trả lời như vậy, nhưng thực sự lòng chưa biết sẽ nói gì. Tôi được Sâm cho đọc bản thảo trước. “Viết cho cái tựa đi, cha nội.” Sâm nói như ra lệnh. Sắp tới ngày ra mắt sách, tôi vẫn chưa gửi qua cho Sâm cái tựa. Còn hơn một tuần tôi email bài viết. Sâm trả lời “không convert được.” Phải nhờ đến Nguyễn Vĩnh Châu. Và đâu cũng vào đấy. “Cái thằng, coi bộ vậy mà cũng công tử Bạc Liêu chớ!” Tôi đã nghĩ về Nguyễn Văn Sâm như vậy.

Tôi thú thật là đến Houston mấy lần mà chẳng biết gì về thành phố này. Từ phi trường về đến nhà Tường Vy, hoặc nhà Phương Hoa, hoặc khách sạn. Và một tiệm ăn nào đó. Là hết. Houston sau cùng chỉ là những trang sách. Lần trước cách đây mấy năm nghe một chương trình nhạc và vinh danh một số người. Lần sau nghe nhạc Đăng Khánh với Tuấn Ngọc, Thanh Hà, Thái Thảo. Lần này, đến với Nguyễn Văn Sâm được gặp những người quen cũ: Doãn Quốc Sỹ, Vũ Ngự Chiêu, Cao Đông Khánh, Lê Quỳnh Mai [cũng hơn mười năm rồi, khi ngày đầu tiên đến Montreal giới thiệu số ra mắt tạp chí Thế Kỷ 21 và cuốn truyện dài Sa Mạc] , gặp giáo sư Đàm Trung Pháp, và những người đã từng đóng góp bài vở cho Văn: Quan Dương, Phạm Ngũ Yên, Thu Thuyền, Kiều Mộng Hà, Phạm Quang Tân, Nguyễn Anh Tuấn…

Phải nói là bài của giáo sư Đàm Trung Pháp giới thiệu và phân tích về Nguyễn Văn Sâm rất hay. Ông cho thấy một Nguyễn Văn Sâm là nhà văn sử dụng nhuần nhuyễn về ngôn ngữ Đồng bằng sông Cửu Long. Ông cho rằng tập truyện Khói Sóng Trên Sông của Nguyễn Văn Sâm “là một rừng thành ngữ bình dân, nghe lên thì khoái tai, mà đọc lên thì khoái mắt.”

Tôi chia xẻ ý kiến của giáo sư Pháp: Toàn tập truyện của ông Nguyễn tràn đầy lời ăn tiếng nói dân gian của sông Tiền sông Hậu. Truyện của ông nặng chất ký mà nhẹ chất tiểu thuyết. Có thể nói Khói Sóng Trên Sông là bức tranh vẽ lại sự hình thành của đô thị Sài Gòn. Không phải một Sài Gòn bề mặt với những con đường “cây dài bóng mát”, những quán cà phê đợt sóng mới, những vũ trường sang trọng trai thanhgái lịch và người hùng. Nguyễn Văn Sâm đã nhìn Sài Gòn từ cái phía trái của nó. Bóng tối và sự khốn khó. Sài Gòn của mồ hôi và nước mắt. Đó là Xóm Sáu Lèo, là đình Tân Kiểng, là khu Mã Lạng, là Xóm Chiếu, là Chánh Hưng, là Chợ Cầu Kho, là Bến Tắm Ngựa,…

Nguyễn Văn Sâm là một người kể chuyện hơi rề rà nhưng có duyên. Ông không vội vàng và người đọc ông cũng không có ý muốn ông phải gia tăng tốc độ. Ông cứ nhẩn nhơ nói, như một người đọc thơ Lục Vân Tiên, và người nghe có thể vừa nghe vừa uống rượu hoặc nhấp chén trà tàu.

Trong thế giới văn chương miệt vườn, Nguyễn Văn Sâm là người nắm khá vững ngôn ngữ Nam Kỳ-Lục Tỉnh nhất. Cũng dễ hiểu tại sao ông không sáng tác cùng thời với chúng tôi. Chính là những bài biên khảo về văn chương Nam bộ đã giúp ông sau đó – thay vì nghiên cứu – đã viết thẳng bằng trái tim.

Sài Gòn của Nguyễn Văn Sâm đích thực là Sài Gòn của những con người nào được nó nuôi dưỡng, dạy dỗ, và làm cho nó lớn lên.

Khói Sóng Trên Sông là một tác phẩm văn chương của một người cầm bút thực sự.

Nguyễn Nhật Duật đã ra đi

Nói về Nguyễn Văn Sâm tôi đã không thể không liên tưởng đến bọn chúng tôi. . Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Nhật Duật còn ở Việt Nam, Nguyễn Quốc Trụ ở Toronto, Canada; Đặng Phùng Quân ở Houston, Texas; Nguyễn Đình Toàn ở Long Beach, California. Điều đau buồn là “ông giáo” Nguyễn Nhật Duật vừa mới “đi xa”. Duật là người nghiêm túc nhất, “thầy giáo” nhất, “khổng tử” nhất. Tuy vậy anh là người trong một ý nghĩa nào đó là người cỗ võ nhất cho cái mới trong tiểu thuyết. Nếu Huỳnh Phan Anh coi như “lý thuyết gia” của nhóm thì Nguyễn Nhật Duật chính là người cầm thắng và nhắc nhở cái mới trong văn chương.

Huỳnh Phan Anh năm đó cho xuất bản cuốn tiểu luận “Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô”, một tác phẩm của một ngòi bút mới mẻ khiến những cây bút thời danh lúc đó ngẩn ngơ. Ai vậy? Tên này ở đâu ra thế? Bọn chúng nó có những ai? Một bài viết ngắn trong cuốn sách bày tỏ cách nhìn tiểu thuyết của nhóm: Đi Tìm Tiểu Tuyết Mới Ở Việt Nam.

Tháng Mười Một năm rồi gặp lại Huỳnh Phan Anh ở Pháp tôi quên hỏi “cái nhìn đó giờ đây đã thay đổi chưa hay vẫn còn nguyên?”

Nhân sự ra đi của Duật, sự gặp lại Huỳnh Phan Anh ở Pháp, Đặng Phùng Quân ở Houston và Nguyễn Quốc Trụ ở Canada vẫn trò chuyện qua email, tôi muốn ghi lại đây một trích đoạn bài của Huỳnh Phan Anh cho Sổ Tay kỳ này.

“Mỗi thời đại có tiếng nói riêng của nó. Tiểu thuyết mới trước hết là nỗ lực làm mới ngôn ngữ. Mỗi nhà văn thực hiện một cách thế sử dụng ngôn ngữ… Xa hơn ngôn ngữ, tiểu thuyết mới đánh dấu sự trưởng thành của kỹ thuật tiểu thuyết. Tiểu thuyết không chỉ là câu chuyện kể một cách dung dị thi ngây. Đó là sự tìm kiếm một lối kể, một cách viết, một kỹ thuật. Đây là vấn đề nội dung và hình thức. Có người cho rằng trong hình thức có nội dung và ngược lại. Kafka nói: Văn chương chỉ là kỹ thuật.

Albéres đã đi đến một định nghĩa về tiểu thuyết hiện đại: một sáng tạo văn chương dùng một câu chuyện kể để diễn đạt cái khác (une création littéraire qui se sert d’un récit pour exprimer autre chose.) Cái khác ở đây có thể là một kinh nghiệm đời sống. Nó cũng có thể là một vũ trụ quan đượm chất siêu hình hay đạo đức. Nó cũng có thể không là cái gì khác trừ những thì thầm của ngôn ngữ, ngôn ngữ như một định mệnh đang thành hình, ngôn ngữ như một tìm kiếm vô vọng, ngôn ngữ như một hiện hữu chống lại chính tác giả… Cái khác có thể là cái ngôn ngữ đang đi tìm. Viết một cuốn tiểu thuyết không có ý nghĩa như một sự hoàn thành: nó chỉ mới là một sự bắt đầu..”

Theo Hùynh Phan Anh thì thời gian đó Thanh Tâm Tuyền với cuốn Bếp Lửa và Nguyễn Đình Toàn với cuốn Con Đường là những nhà văn của tiểu thuyết mới Việt Nam.

Vẫn chuyện thầy tôi

Nhà văn Nguyễn Hữu Trí, tác giả Ăn Trưa Nghe Kể Chuyện Tình , tập truyện mới do nhà xuất bản Văn ấn hành, vừa cho tôi nghe cuộn băng phỏng vấn giáo sư – nhà văn Cung Giũ Nguyên ở Việt Nam. Trả lời câu hỏi trong các tác phẩm [viết bằng tiếng Pháp lẫn tiếngViệt của ông], tác phẩm nào ông ưng ý nhất, tại sao? Thầy tôi nói cái nghề viết văn và cái nghề dạy học của ông hình như đi song song. Từ khi ông bắt đầu đi dạy học thì ông đã bắt đầu viết văn rồi. Cho đến bây giờ [1999] ông vẫn còn đang dạy học và ông cũng vẫn còn cầm bút. Ông cho biết là năm 1932 ông có viết một cuốn tiểu thuyết tựa là “Nợ Văn Chương”, cái nợ đó bây giờ ông vẫn còn tiếp tục phải trả.

“Tại sao tôi viết văn? Thì cũng giống như hỏi tại sao tôi đi dạy học? Cũng chỉ với ý nghĩ là san xẻ những gì điều mình biết, trao gửi tâm sự cho những người có thể nghe được hiểu được mình.” Ông không nói ra, nhưng viết theo ôn g chính là phá vỡ cái cô đơn của mình. Ông bảo có những cuốn sách giờ đọc lại thấy thú vị, thú vị như khi gặp lại những học sinh cũ của mình. Những học sinh đã từng học với ông cách đây bốn mươi năm . Có người còn lâu hơn nữa. Có người từ thế hệ lúc ông còn dạy ở bậc tiểu học. Ông cho biết quyển sách [tiếng Pháp] mà ông có thể nhắc lại là cuốn Le Fils De La Baleine [nhà xuất bản Artheme Fayard, Paris, 1956, bản dịch tiếng Việt của cuốn này vừa được xuất bản ở Hà Nội dưới tên Kẻ Thừa Tự Của Ông Nam Hải, do một người học trò cũ của thầy dịch.] Theo ông, cuốn Le Fils De La Baleine là tác phẩm ông ưng ý nhất. Cuốn sách đã được phê bình rộng rãi ở các nước phương Tây. Hai năm, sau khi được xuất bản tại Paris, cuốn sách được dịch ra tiếng Đức, và được xếp vào sách bán chạy nhất thời bấy giờ.

Phân tích tựa đề cuốn sách, nhà văn Cung Giũ Nguyên cho rằng người nào học tiếng Pháp, mới đọc qua cái tựa có thể nói là “tác giả dốt biết bao nhiêu.” Bởi khi người ta nói baleine, con cá ông, thì làm sao con cá ông lại có con trai? Người ta sẽ nói Le Petit De La Baleine chứ người ta không nói Le Fils De La Baleine. Thế thì, một là nó “dốt” hai là nó có cái gì đây! Cho nên theo ông, cái tựa tiếng Việt đã lộ ra điều này trong khi cái tựa tiếng Pháp còn gây cho người đọc bối rối. Kẻ thừa tự không phải của con cá ong, mà là mà là của ông Nam Hải, một cái chức do nhà vua đặt cho một con vật. Con cá ông là một con vật đã từng cứu người và thuyền bè khi gặp sóng to gió lớn trên biển. Nhà vănCung Giũ Nguyên kể lại một đoạn trong cuốn sách một nhân vật bị chìm tàu, đầu ông ta va vô một tảng đá, sau đó ông mắc bệnh “quên” không nhớ gì hết, không biết mình là ai, không biết dĩ vãng mình ra sao. Tuy nhiên có đôi lúc ông nhớ lại cuộc đời mình, và đó là lúc ông cần phải gửi lại cho một người nào đó , để họ giúp ông làm lại trí nhớ, và ông kể chuyện.: Này ông, nhớ nhe, nhớ giùm tôi nhe. Tôi là thế này, thế kia, nhớ giùm nhe! Và ông kể tất cả tâm sự đời ông. Ông đi trên một chiếc tàu từ Pháp trở về quê hương, tàu bị chìm. Ông cũng là người có học hành thế này, thế kia,… Nhưng sau khi kể hết cuộc đời mình ông mới biết người nghe ông nói là một người điếc. Nhà văn Cung Giũ Nguyên cho rằng viết là trao đổi tâm sự ý nghĩ của mình cho một người khác, không phải để khoe khoang mà muốn cho người khác làm giùm cái trí nhớ của mình..

Chúng ta viết là để cho người đọc. Và khi người đọc không “đọc được” những dòng chữ của ta có nghĩa là ta thất bại.

“Lịch sử của văn chương là lịch sử của những tác phẩm. Tác phẩm không nói, nó là tiếng nói, và hơn thế, nó là chân lý, cội nguồn, bản thể của tiếng nói. Tác phẩm trước hết là kinh nghiệm của một người trong tư cách một vật thể. Đọc và hiểu một tác phẩm tức là một cách nào đó chia xẻ với tác giả kinh nghiệm đó.”

Liệu những ghi nhận trên đây của Huỳnh Phan Anh có chia xẻ cùng nhà văn Cung Giũ Nguyên mối tương quan giữa người đọc và người viết?

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

 

SỔ TAY THÁNG NĂM, 2000

Gặp gỡ ở San Jose

Đã bước qua năm thứ hai ở San Jose, tôi vẫn chưa biết gì về thành phố Thung Lũng này. Tôi vẫn còn là một người xa lạ. Tôi chưa biết Santa Cruz, chưa lái xe tới Fremont hoặc Hayward. Los Gatos, Palo Alto cũng gần thôi tôi cũng chưa đến. Còn Gilroy – thành phố tỏi – tôi chỉ đến một lần nhưng chưa có dịp quay trở lại. Tôi biết con đường Oakland, đi về hướng phố trở thành con đường 13. Nó sẽ gặp đường Santa Clara nơi có nhiều quán ăn. Một quán người Ý đường số 2; mấy quán Việt Nam như Quảng Đà, Vũng Tàu, Bắc Hương…Gần tòa báo trên đường Lundy tôi biết có quán Nhatrang, tiệm cơm Tàu Chief Minh.; . . Nhưng San Jose đâu chỉ có thế. Nhiều nơi đẹp đẽ tôi chưa một lần đặt chân. Nhưng với tôi, thế là đã nhiều lắm.

Ở San Jose, tôi luôn luôn nhớ Quận Cam, nhớ con đường Bolsa, nhớ tiệm phở Nguyễn Huệ của ông Cảnh nơi tôi có thể gặp bạn bè mỗi buổi sáng mà không cần hẹn; nhà hàng Song Long, gần căn phòng cũ của Mai Thảo; nhớ quán Viễn Đông của ông nghị Tony Lâm với những tiếng cười bất tận, … nhớ cả tiệm sách Văn Khoa, Tú Quỳnh. Năm tôi dọn lên San Jose, khi ông giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ Võ Thắng Tiết chưa mở nhà sách Văn Nghệ. Nhớ căn nhà Nguyễn Mộng Giác, nơi chúng tôi vẫn thường đến quây quần mỗi chiều thứ Bảy. Ở đó bao giờ cũng có nhà văn Nghiêm Xuân Hồng, “nhà tùy bút” Trúc Chi, “nhà sử học” Tạ Chí Đại Trường, anh chị Lê Thọ Giáo, Châu Văn Thọ, Tôn Thất Khoát, Huy Văn, Nguyễn Đức Quang, … Đôi khi có Phùng Nguyễn từ Bakersfield xuống, Đặng Tường Vy-Nguyễn Khắc Nhân, Giang từ San Diego lên…

Ở San Jose, tôi chưa tìm được một ngôi nhà như nhà Nguyễn Mộng Giác, nơi chúng tôi không hẹn vẫn gặp nhau, ăn uống, nói chuyện trên trời dưới đất. Những câu chuyện làm ấm trái tim.

Mười lăm năm ở một thành phố đầy người Việt Nam, làm việc với những người cùng màu da, cùng một ngôn ngữ, cùng một văn hóa,… khi đi xa tôi mới khám phá ra đời sống là một xâu chuỗi những thói quen gần với bản năng, nhưng cũng rõ ràng con người là một sinh vật thích ứng nhanh chóng với thiên nhiên và môi trường. Thích ứng để sống, không có nghĩa là hạnh phúc.

Xa lộ 880, với tôi, trở thành con đường Bolsa. Nha Trang là tiệm Song Long. Khu thương xá McCarthy ở Milpitas là Westminster Mall… mặc dù quả thực, sự so sánh này hoàn toàn là một so sánh khập khiểng và gán ép.

Vào giữa tháng Tư tôi có cái may mắn thở lại không khí cũ: Quỳnh Trang, Nguyễn Quí Đức, Phùng Nguyễn từ nam Cali lên. Và Hồ Như, cây bút nữ nhiều triển vọng ở San Jose rất ít khi được gặp đã đến họp mặt tại một quán ăn Việt Nam – kiểu Quận Cam.. Phùng Nguyễn, nhà văn đầy sức sống và đa năng đa dạng, người viết chủ chốt của tạp chí Văn, bao giờ cũng “phản ứng” nhanh chóng và “dị ứng” tức khắc với mọi ý kiến, và phản ứng ấy của anh luôn mang đến cho bạn bè hơi thở của niềm vui. Quỳnh Trang, Nguyễn Quí Đức, những người trẻ già dặn trong kinh nghiệm truyền thông, đã hội nhập vào đời sống văn hóa của người bản xứ một cách nhẹ nhàng, nhưng vẫn giữ được bản sắc của dân tộc trong đời sống là một niềm mơ ước không bao giờ đạt được của tôi. Nguyễn Quí Đức sáng tác bằng tiếng Anh hay viết trực tiếp bằng tiếng mẹ đẻ cũng đều dễ dàng như người ta uống cà phê mỗi sáng. Tiếng Anh nhuần nhuyễn, tiếng Việt giàu có, Nguyễn Quí Đức là một tài năng hiếm quý của văn học Việt Nam.. Tôi rất yêu thích những sáng tác của Đức. Làm sao trong đời sống văn học của chúng ta có được nhiều Nguyễn Quí Đức như thế?

Vùi mình vào công việc mỗi ngày tôi thấy thời gian ở đây chạy nhanh hơn nơi ở cũ. Hơn một năm nay tôi chưa bao giờ phải đặt câu hỏi “hôm nay phải làm gì?” mà luôn luôn là câu hỏi “còn chuyện này chừng nào sẽ làm?”. Hơn một năm những thùng sách, báo vẫn còn bừa bộn trong ga-ra, những thứ đáng bỏ đi đã bỏ rồi, nhưng những thứ nên bỏ đi vẫn còn bề bộn vì “nếu vứt đi đến lúc cần thì sao?” Câu trả lời cho “còn chuyện này bao giờ sẽ làm?” vẫn còn là một “ẩn số”.

Tới gần cuối tháng Tư mà mùa Đông hình như vẫn còn. Nhiều buổi sáng trời lạnh nhưng đến trưa thì nóng. Từ căn nhà nhỏ trong khu đất vòng của thành phố Milpitas, đến tòa báo ở đường Ridder Park mỗi buổi sáng tôi vẫn lái xe trên đường Calaveras ra xa lộ 880 xuôi nam. Nếu đường vắng chỉ cần 15 phút sẽ đến sở làm.. Nhưng nếu kẹt xe, thì….

San Jose là mộït thành phố lòng chảo, đi đâu cũng chỉ thấy núi dựng đứng trước mặt. Mùa này ngày dài hơn đêm. Gần bảy giờ chiều, ánh sáng vẫn còn. Tháng Tư sắp hết. Chỉ còn một tuần nữa là giáp một phần tư thế kỷ của ngày 30 tháng Tư năm nào. Tôi đã quên chưa cái ngày tháng ấy? Trên căn gác xép bằng gỗ của căn nhà trong xóm Mã Lạng một tối cuối tháng Tư, một viên đạn xuyên qua mái tôn, cắm phập xuống mặt gối chỉ cần nhích một đốt ngón tay tôi đã trở thành một trong những người ra đi sớm nhất hay cuối cùng khi cuộc chiến Việt Nam sắp kết thúc.

Salman Rushdie trở lại quê nhà

Nhà văn Salman Rushie, tác giả Những Vần Thơ Của Qủy, cuốn sách nổi tiếng thế giới đã mang đến cho ông bản án tử hình, và khiến ông trở thành một người bị buộc “ẩn mình trong bóng tối chờ chết.” Ông là nhà văn “lưu vong kép” , lưu vong ngay trong thế giới lưu vong. Mới đây, sau hơn một thập niên xa quê, ông vừa được Ấn Độ cấp chiếu khán nhập cảnh. Ông nói ông trở về là để hàn gắn lại mối quan hệ bị sứt mẻ với đất mẹ, nơi đã là nguồn cảm hứng cho những tác phẩm của ông. Đó là một chuyến trở về trong sự ẩn dật. Nhưng báo chí đã khám ra sự có mặt của tác giả “Những Vần Thơ của Quỹ” và Salman Rushdie không được bóng tối che chở nữa.

[Một người nổi tiếng] muốn sống cuộc sống bình thường thì cách hay nhất là làm cho mọi người chán ngán, Salman Rushie đã nói như vậy, và ông vẫn chưa thành công.

Cuốn sách mới nhất của ông có tên là The Ground Beneath Her Feet. Salman Rushie dù sao vẫn là một “tác giả nóng” theo cái nghĩa rất thời sự của nó. Mười hai năm chưa trở lại nhà mà Salman Rushdie ray rứt như vậy, còn những người cầm bút Việt Nam 25 năm sau cuộc chiến lòng thương nhớ quê hương còn ray rứt xót xa biết là bao nhiêu!!

Nhớ Thạch Lam

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

 

SỔ TAY THÁNG NĂM 2001

Trịnh Công Sơn Đã ra Đi

clip_image002
Bức vẽ trên đây của họa sĩ Đinh Cường, một trong số ít bạn thân của Trịnh Công Sơn, gửi cho tôi qua bưu điện theo đường express và anh bảo “cậu dành cho Sơn những trang đẹp đẻ nhé!”

Bức vẽ ghi ngày 1 tháng Tư, năm 2001, 12h 45 là ngày giờ Trịnh Công Sơn ra đi. Đó là một buổi sáng Chủ Nhật, tuần đầu tiên của tháng Tư. Một buổi sáng Chủ Nhật như mọi buổi sáng Chủ Nhật khác trong đời tôi: một buổi sáng để tùy nghi. Tôi nói tùy nghi theo cái nghĩa có nhiều chuyện phải làm và không biết phải làm cái nào trước cái nào sau, thành ra cứ ngồi nhìn thời gian đi qua.. và tùy nghi.

Cứ vào thứ Hai đầu tuần tôi tự hứa với mình là mọi việc sẽ thanh toán cho xong vào Chủ Nhật này: dọn bớt [lại một lần nữa!] cái garage, chở sách [lại thêm một lần nữa!] tặng thư viện; gọi một người bạn biếu hết cho anh những thứ làm vườn lỉnh kỉnh; sắp lại mấy số Văn theo thứ tự thời gian, xếp lại mấy cuốn sách cần đọc mang vào phòng khách – cũng là phòng làm việc của tôi; toàn là những lới hứa mà tôi đã không thực hiện được. Sáng nay tôi nhất định phải gọi điện thoại cho Trịnh Cung hỏi thăm anh về buổi gặp bạn bè buổi chiều ở Quận Cam. Một người bạn từ tuần trước từ phía nam đã gọi lên nhắc tôi “ông đừng quên nói mấy lời về người bạn chúng ta nhé! ông ấy sắp trở về Việt Nam…” Tôi có cảm tưởng như buổi gặp gỡ của Trịnh Cung và bạn hữu là một buổi chia tay và khi bạn tôi nhắc tôi đừng quên viết mấy lời tạm biệt anh tôi nghe như một nỗi bùi ngùi.

Chia tay một người và biết rằng mình đang nói lời vĩnh biệt, người ta biết rằng mình đã bỏ lại sau lưng những khó chịu những sắc mắc, những điều không vui vì cá tính và tâm tính.

Trịnh Cung là người cùng quê với tôi và cùng lứa tuổi tôi. Anh nói với tôi là anh sẽ về Việt Nam gặp Trịnh Công Sơn “chia tay với nó trước khi moa ra đi vĩnh viễn.” Trịnh Cung cho tôi biết anh mắc bệnh ngặt nghèo, và sự ra đi của anh chỉ là vấn đề thời gian. “Moa hết nợ rồi chớ thằng Sơn chưa hết nợ đâu. Và toa, toa còn nhiều nợ lắm.”

Nhưng buổi sáng Chủ Nhật 1 tháng Tư, đã là một Chủ Nhật khác. Trịnh Công Sơn ra đi trước khi Trịnh Cung trở lại Việt Nam. “Moa không còn cơ hội gặp nó!” Và như vậy buổi chia tay của Trịnh Cung và bạn hữu cũng đồng thời là buổi lễ vĩnh biệt Trịnh Công Sơn.

Người gọi tôi đầu tiên báo tin Sơn qua đời là Nguyễn Văn Khanh, đài RFA. Tôi gọi ngay cho Đinh Cường vì tôi biết anh là ban thân của Trịnh Công Sơn. Cường nói “tôi biết tin này sớm lắm, tôi đã email cho ông tin Sơn ra đi cách đây mấy tiếng đồng hồ mà! Có lẽ ông chưa mở mail.” Đúng vậy, sáng nay tôi chưa mở mail. Tôi cho phép mình không phải mở mail vào một ngày xem sao. Và cái mail đầu tiên trong ngày chính là mail Đinh Cường báo tin Trịnh Công Sơn đã ra đi. Cường nói anh rất buồn. “Tôi gần như bất động, không suy nghĩ gì được, không biết làm gì. Tôi tê điếng.” Tôi nghe như có tiếng nghẹn ngào của anh qua đường dây viễn liên. Tôi nói tôi muốn dành một số trang báo đặc biệt về Trịnh Công Sơn, và tôi hỏi xin anh những tư liệu về Sơn.

Cá nhân tôi. tôi không có nhiều kỷ niệm về Sơn. Tôi không thân thiết với anh. Trước và sau 1975 tôi có đôi lần gặp anh. Tôi yêu âm nhạc của anh. Đúng ra tôi yêu những ca từ của anh. Những câu viết rời của anh như là một đoản văn cho tôi. Trước hết nó là tình yêu của tôi: “Từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng.” Nó là nỗi nhớ của tôi trong những ngày xa quê: “Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa. Mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ.. Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà….” Nó là định mệnh tôi: “Những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây…”

Trong những tháng gần đây tôi đã nói với tôi bằng cái giọng của Sơn. Nhiều trang sách của tôi trong bộ Người Đi Trên Mây – từ Kẻ Tà Đạo đến Bụi Và Rác* – tôi đã đặc tả một nhân vật nhạc sĩ từ những cá tính và nghệ thuật cũng như đời thường của anh.

Trước và sau năm 1975, tôi có đôi lần đi chơi với anh. Nhưng chúng tôi không có nhiều điều để nói. Tôi nhớ cái ngày anh lên đài phát thanh Sài Gòn hát bài Nối Vòng Tay Lớn, tôi và anh Phan Lạc Phúc [tức Ký Giả Lô Răng] đứng trước đài nhìn qua hàng rào kẽm gai. Và sau đó, năm 1992 Sơn đến Montréal, Canada thăm gia đình và các em của anh, còn tôi trong chuyến đi với Nguyễn Mộng Giác, Đinh Cường, Khánh Trường cùng nhiều bạn khác đến dự buổi triển lãm tranh Võ Đình. Mặc dù đã đến cùng một thành phố , tôi và một số bạn đã “hèn nhát” không dám đến thăm anh để uống với anh một ly rượu. Những tin đồn đầy ác ý muốn phá phòng tranh của Võ Đình, và lên án sự gặp gỡ giữa những người bạn với Sơn mang đầy tính chính trị.

Sơn đã ra đi. Tôi nghe mấy tiếng nghẹn ngào của Đinh Cường bên kia đầu dây điện thoại. Tôi muốn nói một chút suy nghĩ về Sơn và về âm nhạc của anh.

Đối với tôi, nghe nhạc của Trịnh Công Sơn không phải chỉ là nghe những lời tình tự, mặc dù những người yêu nhau không ngớt lấy âm nhạc của anh làm kỷ niệm cho tình yêu của mình. Bởi vì nhạc Trịnh Công Sơn không đơn giản là những khúc tình ca, nhạc của anh còn mang đến cho người nghe sự đau xót của quê hương, và nỗi nhức nhối của một thân phận làm người. Đó là những lời kinh cầu, những tiếng thì thầm cất lên từ một nỗi đau cũa cả một thế hệ, cả một dân tộc, và caỵ một loài người, nếu tôi được phép nói như thế.

Người ta vẫn thường cho rằng âm nhạc và hội họa là hai loại hình nghệ thuật mang tính quốc tế. Nó đi thẳng từ một trái tim đến một trái tim. Nhận xét đó đúng, nhưng không phải ca khúc nào, bức tranh nào cũng làm được công việc đó – như Trịnh Công Sơn. Không phải họa sĩ nào cũng là Chagall và van Gogh, không phải nhạc sĩ nào cũng là Chopin và Mozart.

Tất nhiên. Những ca khúc của Trịnh Công Sơn đã không nhờ một trung gian nào khác. Tự nó, âm nhạc của anh có khả năng gõ được các cánh cửa của mọi trái tim, là chìa khóa gia?i mã mọi ngôn ngữ. Người ta thường so sánh Trịnh Công Sơn và Bob Dylan, vì tính phản chiến o+? ca từ chứa trong các tác phẩm của hai tác giả này. Nhưng theo tôi âm nhạc của Trịnh Công Sơn cao hơn sự so sánh đó. Nó vượt qua “phản chiến,” nó nhìn thấu suốt được kiếp nhân sinh. Nó không ngừng ở chỗ những lời tình tự giữa hai người nam và nữ. Âm nhạc Trịnh Công Sơn phát lên tín hiệu của những người cùng thế hệ với anh, thế hệ lớn lên trong một cuộc chiến nhưng đồng thời âm nhạc anh không có tuổi. Nó vượt qua không gian và tôi nghĩ nó còn sống lâu với chúng ta, khi nào người ta còn tình yêu. Chính là những ca từ như thơ trong âm nhạc anh trở thành tiếng kêu của kiếp người. Thượng đế của nó, nếu muốn gọi như thế, đó là con người.

Người ta không ngạc nhiên khi nghiệm ra ca từ trong các khúc tình ca của anh đẹp đẽ mà rời rạc, chữ này không dính chữ kia, câu này không dính câu nọ, ý trên rất xa ý dưới, mông lung và mơ hồ. Xin đừng đi tìm sợi xích thuần lý trong ca từ của anh. Hãy thưởng thức âm nhạc Trịnh Công Sơn trong một tổng thể. ở mỗi ca khúc của anh, người ta cảm nhận một tuyên ngôn. ở mỗi ca từ là một tiếng kêu ngạc nhiên bất ngờ trên mặt đất.

Trịnh Công Sơn là một thi sĩ.

Vâng, anh đích thị là một nhà thơ viết nhạc.

Người làm thơ giống như người đi trong rừng. Phải phạt cỏ mà đi. Phải phạt cây mà bước. Thơ của thi sĩ Trịnh Công Sơn đã mang cho âm nhạc Trịnh Công Sơn sức quyến rũ kỳ lạ.

hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
để một mai tôi về làm cát bụi.
ôi cát bụi tuyệt vời
ôi cát bụi mệt nhoài

Con người là cát bụi và sẽ trở về cát bụi. Cái ý đó không lạ, nhưng khi Trịnh Công Sơn đưa vào âm nhạc anh bằng những câu như sự “tuyệt vời mệt mỏi,” như “mặt trời soi một kiếp rong chơi,” … Trịnh Công Sơn đã bước qua cái chân lý thường hằng quen thuộc: cát bụi trở về với cát bụi. Trái đất này “mỏi ngóng tin vui từng ngày” bởi vì từng ngày chúng ta chỉ có tin buồn. Nỗi đau tuyệt vời ấy chính là nỗi đau làm người.

Tôi như trẻ nhỏ ngồi bên hiên nhà chờ xem thế kỷ tàn phai
Tôi như trẻ nhỏ tìm nơi nương tựa mà sao vẫn cứ lạc loài…

Đừng nghe tôi nói lời tăm tối
Đừng tin tôi nhé vì tiếng cười.

Ngợi ca anh hay lên án anh, yêu mến anh hay căm hận anh, muốn gần gũi anh hay muốn xa lánh anh, bênh vực anh hay chống đối anh… mỗi người đều có lý do riêng để biện minh cho mình. Nhưng không ai có thể phủ nhận tài hoa và sức quyến rũ của âm nhạc anh. Thật tình, người ta khó mà quên anh.

Trịnh Công Sơn là nghệ sĩ có một sức thu hút mạnh mẽ và đồng thời có một lực ly tâm cũng mạnh mẽ cực kỳ.

Xin chia tay anh, Trịnh Công Sơn.

Chúng tôi nhớ anh.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

* “Nguyễn Giang, một khuôn mặt lớn trong đời sống âm nhạc của đám đông với mái tóc dài hơi xoắn, chiếc kính cận gọng nhỏ, nụ cười nửa miệng. Anh là cha đẻ của những ca khúc mà mỗi lời hát như một lời thơ. Ngôn ngữ âm nhạc anh là bản lề giữa một bên là tiếng nói hàng ngày và một bên là suy tư triết học. Âm nhạc ấy được trình bày bởi một giọng hát lôi cuốn trẻ trung và đìu hiu: Mai Khanh. Tiếng hát của chị vang lên từ một trái tim hấp hối. Trong buồng ngực chị như có ngọn lửa tàn bạo thổi nóng từng tiếng ngân,… Tôi nghĩ người ta đã nói không quá đáng rằng âm nhạc của Giang sở dĩ chinh phục được tim óc người nghe là nhờ tiếng ca ma túy của Mai Khanh và ngược lại, giọng hát của Mai Khanh có được một chỗ đứng hàng đầu như cô hiện nay chính là vì tiếng hát ấy đã tựa được vào âm nhạc Nguyễn Giang. (Người Đi Trên Mây, Người Việt xuất bản, 1987, tr. 95-96). “Tôi còn nhớ tháng trước tình cờ gặp nhạc sĩ Nguyễn Giang ở một quán cà phê vỉa hè nhà bà luật sư Đại, Giang hỏi tôi… có bao giờ nghe những ca khúc mới của anh không…. Tôi nay ở trọ trần gian, trăm năm về chốn xa xăm cuối trời. ừ thì cũng chỉ là trọ thôi. Có lúc Giang thở ra, “Tôi như đứa trẻ tìm nơi nương tựa mà sao vẫn cứ lạc loài… Đừng tin tôi nhé vì tiếng cười. Đó là những lúc tôi thấy khuôn mặt Giang vốn đã nhỏ và nhô xương, hai con mắt sâu núp dưới đôi kính trắng, tối sầm lại. Dường như quanh đây có điều gì tuyệt vọng. Giang nói lửng lơ. Tôi hiểu bạn.” (Bụi Và Rác, NĐTM tập 2, Thanh Văn xuất bản, 1992, tr. 130-131). “Anh ấy là một trong những nhạc sĩ mà tôi ưa thích nhất. Chúng tôi quen biết nhau khá lâu, nhưng đi lại với nhau không nhiều. Tôi phục anh. Ngôn ngữ trong âm nhạc Nguyễn Giang gần gũi với chúng tôi, với cả một thế hệ chúng tôi… Âm nhạc của anh làm tôi nhức nhối…” (Bụi Và Rác, tr. 157)… Và nhiều trang sách khác.

 

SỔ TAY THÁNG MƯỜI 2001

Bóng tối

Có bao giờ bạn nhìn thấy trên bầu trời một đám mây đen khổng lồ bay ngang qua, mỗi lúc một tiến gần đến bạn và cả mặt đất nơi bạn đứng hoàn toàn chìm trong bóng đêm không?

Có bao giờ bạn bị một đám khói vĩ đại cuốn theo xi măng và sắt thép và…xác người đã thành tro bụi ùn ùn đuổi theo bạn trong một thành phố người người chen chúc nhau chạy trốn không?

Những cột khói gần giống hình quả nấm bốc lên ở New York ngày thứ Ba 11 tháng Chín, 2001 không chỉ mang đến cái cảm giác hãi sợ của một đám mây đen. Nó cũng không chỉ mang đến sự rùng rợn của một cảnh chạy trốn trong nỗi kinh hoàng của người New York. Nó mang đến trong tâm trí của toàn thể nhân loại – những ai được nhìn thấy nó tận mắt, và cả những ai chỉ nhìn thấy nó trên màn ả?h như một cuốn phim do Hollywood thực hiện – nỗi kinh hoàng của Ngày Tận Thế.

Trước đây, vào đêm giao thừa năm 2000, người ta run rẩy lo sợ Trái Đất sẽ tan tành. Cả thế giới sẽ sụp đổ. Và người ta thở phào vì Năm 2000 trôi qua trong sự bình an.

Thế nhưng, tiếng thở phào ấy chưa kịp tan trong không gian. Ngày thứ Ba, 11 tháng Chín, năm 2001 tới như một lời cảnh báo: Ngày Tận Thế đến chậm. Mặc dù Trái Đất đã không nổ tung và mặc dù loài người vẫn còn sinh sống, những suy nghĩ của con người về chiến tranh, về xã hội, về chính trị, nói chung về đời sống, từ nay đã khác. Chiến tranh quy ước không còn, khủng bố là một hình thái mới của chiến tranh thế kỷ 21. Có lẽ người ta không cần đặt ra câu hỏi ngày 11 tháng Chín ở New York là khủng bố hay chiến tranh. Khủng bố nay đã thành chiến tranh. Khủng bố là chiến tranh. Từ Khủng Bố có thêm một ý nghĩa mới. Nói theo nhà báo Đỗ Ngọc Yến, “đây là cuộc chiến tranh giữa nhà giầu và nhà nghèo, giữa bắc bán cầu và nam bán cầu, giữa một bên Có và một bên Không Có. Sự hòa hợp giữa con người trên trái đất không còn nữa.”*

Nhà văn Ngọc, bút danh của nữ bác sĩ Nguyễn Thị Minh Ngọc, làm việc tại một bệnh viện ở New York, tác giả nhiều truyện ngắn đặc sắc trên tờ Văn, – một trong những người chứng kiến cảnh hãi hùng trong những giây phút lịch sử – qua hai lần email: Lần đầu đúng ngay sau ngày 11 tháng Chín, là những cảm xúc còn tươi rói, và đầy xúc động; giờ đây, lần thứ hai, vào Thứ Bảy 15 tháng Chín, đã bình tĩnh và tự trấn an, cô cho biết:

“Tôi nghĩ đến lời sấm truyền Nostradamus được nhắc nhở khắp nơi trước khi nhân loại bước vào năm 2000 về một cuộc đại chiến khủng khiếp giữa các lực lượng Trung Đông và phần còn lại của thế giới. Sấm Nostradamus thường rất bí hiểm, sử dụng nhiều mật mã và chỉ sau khi biến cố xảy ra, đối chiếu lại, người ta mới giật mình thấy ông tiên đoán chính xác thời điểm, thậm chí cả tên nhân vật và địa danh. Những ngày cuối năm 1999, tra cứu sấm Nostradamus, những người diễn giải tin rằng ông ám chỉ thành phố New York khi nói về “New City” với những tòa nhà chọc trời lát cửa kính bên cạnh hải cảng và biến cố châm ngòi đại chiến thế giới là cuộc tấn công từ trên không bầu trời thành phố, gây ra cảnh khói lửa kinh hoàng và vô số người thiệt mạng. Ông còn cho biết “những kẻ bạo động sử dụng chính phương tiện của nước bị tấn công” và tiên đoán khủng hoảng kinh tế trầm trọng cũng như khan hiếm thực phẩm. Không hiểu sao lúc ấy những người diễn giải lại cho rằng mục tiêu tấn công là Nữ Thần Tự Do. Tất cả những bản phiên dịch khác nhau, không ai nhắc đến World Trade Center mặc dù Nostradamus đã mô tả khá đặc thù.

Dù sao, biến cố đau thương cũng đã xảy ra, sớm hơn người ta tưởng. Kể từ giây phút đó, nước Mỹ không còn như cũ nữa.

Gắn bó nhiều năm với thành phố New York, tôi đã yêu mến nó như quê hương thứ hai, sau Sài Gòn. Mỗi một tòa nhà, góc phố, cây cầu, dòng sông trở nên thân quen gần gũi. Hai ngọn tháp cao ngất bọc kính sáng lóa đương nhiên ngự trị sừng sững trong cuộc sống người dân thành phố. Một buổi sáng đẹp rực rỡ, trong phút chốc biểu tượng sự sung túc và thịnh trị của New York bùng nổ tan tành, chôn vùi hàng ngàn người dân. Khu downtown điêu tàn. Tấn thảm kịch bất ngờ làm mọi người bàng hoàng, rồi đau đớn, rồi phẫn nộ. Không biết bao nhiêu nước mắt đã đổ. Xung quanh tôi, hàng xóm, bạn bè, người quen – nhiều người có người thân bị thiệt mạng. Mục cáo phó trong các nhật báo xuất hiện ngày càng nhiều những tên người, mất ngày 11 tháng Chín, năm 2001 – nhân viên của World Trade Center, lính cứu hỏa, cảnh sát . Hy vọng tắt dần theo mỗi ngày qua, lực lượng cứu hỏa, cảnh sát và dân tình nguyện làm việc nỗ lực không kể ngày đêm trong đống đổ nát mà chỉ thấy những xác người cùng vô số mảnh thi thể tan tành. Từng đoàn người tự nguyện mang thực phẩm, quần áo, vật dụng đến ủng hộ lực lượng làm việc trên hiện trường. Thành phố rực màu cờ xanh-trắng-đỏ – trước nhà, trên xe, mỗi góc phố ngả đường. Cờ cắm trên từng cột điện chạy dài suốt xa lộ. Người dân mặc ba màu xanh-trắng-đỏ nhan nhản khắp nơi. Cờ trên nón, trên áo, trên tay. Hàng đêm, người người kéo đến đốt nến cầu nguyện, hát quốc ca ở mọi địa điểm. Mỗi góc phố có từng nhóm thanh niên phất cờ, xe cộ chạy ngang đều dừng lại bấm còi ủng hộ, vang động, nhiều người hô to “USA ! USA ! USA !” “God Bless America !”. Không khí tang tóc đau thương lẫn với căm thù. Người ta có thể linh cảm hơi hướm chiến tranh đang đến gần. Động viện lực lượng trừ bị. Nhiều tân binh tình nguyện nhập ngũ. Các sĩ quan hồi hưu và lính giải ngũ tình nguyện tái ngũ.

Chỉ là mới khởi đầu. Rồi cuộc chiến sẽ đi đến đâu?

Tôi chỉ mới 4 tuổi khi cuộc chiến ở Việt Nam chấm dứt. Tuy đọc nhiều sách báo về chiến tranh, đến bây giờ tận mắt chứng kiến thảm cảnh, tôi mới bàng hoàng cảm nhận phần nào sự tang thương mất mát ghê gớm của con người hủy diệt con người. Phải chăng đó cũng là tâm lý chung của đa số người Mỹ – một dân tộc an vui trong xứ sở hòa bình? Đồng bào tôi suốt một thế kỷ chinh chiến liên miên, hàng chục triệu gia đình mang khăn tang trên đầu. Phải chăng những thảm cảnh tương tự diễn ra hàng ngày?

Tôi thấy cái vô lý của đời sống.

Một buổi sáng đẹp trời, người ta lên máy bay chuẩn bị chuyến hành trình qua một thành phố khác, giở tờ báo ra đọc, nghĩ đến những gì sẽ làm, những nơi sẽ đến, những người sẽ gặp. Cũng cùng một buổi sáng đẹp trời, người người tấp nập đến sở làm, ly cà phê trên tay, bàn tán sôi nổi về thời tiết, về giải football sắp khai mạc, về những trận baseball cuối mùa đang hồi quyết liệt, về mùa cưới, về những chuyến du lịch. Thị trường chứng khoán Wall Street ồn ào mua bán trao đổi. Thành phố hào nhoáng trong nắng vàng rực rỡ.

Tất cả thay đổi hoàn toàn trong 18 phút.

Và New York, nước Mỹ cũng như thế giới không bao giờ còn như cũ.”

Thu Thuyền, một nhà văn nữ trẻ, qua điện thoại cho biết từ bao lâu nay sống trên nước Mỹ, cô chưa bao giờ thấy nước Mỹ là quê hương của mình. Trong lòng cô Việt Nam vẫn là nỗi nhớ thương, lo lắng và xúc cảm. Nhưng bây giờ cô nhận ra cô yêu nước Mỹ và cô nói, đây mới là tổ quốc của cô. Cô khóc và đau xót cho những mất mát của tổ quốc mình. Và hôm nay lòng trùng xuống, cô nói: chỉ có trái tim vẫn còn quá nặng trong lồng ngực.

Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, Canada, viết: “Chia buồn với các bạn Việt Nam ở Mỹ. Chia buồn với nước Mỹ. Tôi (Nguyễn Đức Tùng) xin thêm: Đó là cái giá phải trả cho Tự do và cho chủ nghĩa cá nhân kiểu Mỹ (và Bắc Mỹ).”

Nóng hơn cả là bài thơ của Xuyên Trà. Bài thơ đầu tiên nhận được chiều ngày 11 tháng Chín, từ Atlanta, qua email. Một bài thơ đầy ứ cảm xúc và phẫn nộ. Dưới tựa đề Ngày, Tháng Để Đời, ông viết:

11 . 9 . 2001
Ngày tháng để đời
Cho những ai
Muốn nhớ hay không muốn nhớ
Giờ phút kinh hoàng man rợ
Nỗi đau chung cho kẻ làm người
Vỡ ngang trời ngàn giọt máu tươi
Bao nhiêu thây vùi trong biển lửaTa biết chắc
Sẽ không còn nữa
Những giọng cười ngạ quỷ, bên kia
Từ tro tàn sẽ dựng thành bia
Ngày tháng để đời
Khắc trên mộ chí
Cái đau chung của đầu thế kỷ
Nhắc nhở người không có trái tim

Bài thơ trên đây chưa chắc là một bài thơ hay, nhưng tôi chắc đó là một trong số ít bài thơ Việt Nam được viết trong một biến cố dữ dội của đất nước mà mình đang sống.

Nhà văn Cổ Ngư, ở Paris, Pháp, qua email, cho biết vào khoảng 5 giờ chiều (giờ Paris), các đồng nghiệp của anh bắt đầu xôn xao với những tin nhận được từ internet và điện thoại về việc máy bay của khủng bố đâm xuống New York và Washington. Mọi người lo lắng. Và đến sáu giờ thì các phòng làm việc đều vắng tanh. Nhân viên bỏ sở về sớm hơn thường lệ… Trong lối vào métro, các cửa nhỏ đều mở toang, mọi người có thể ra vào mà không cần qua máy soát vé. Suốt buổi tối và đêm hôm sau, các đài truyền hình và truyền thanh Pháp liên tục phát hình ảnh tin tức từ Mỹ gửi về. Tổng thống Jacques Chirac và Thủ tướng Lionel Jospin đều lên tiếng chia buồn với dân tộc Mỹ, nhất trí cùng chính phủ Hoa Kỳ trong việc chống khủng bố, gay gắt lên án những kẻ bao che các tổ chức khủng bố đồng thời kêu gọi dân Pháp thậ? trọng, tránh gây hố sâu chia rẽ giữa các nước phương Tây và các dân tộc thuộc khối Ả Rập. Đài truyền thanh France-Inter truyền đi cuộ? phỏng vấn của một người Pháp thoát nạn trước khi hai cao ốc ở Wall Street sụp đổ. Ông nghẹn ngào khi nhắc đến những người lính cứu hỏa đã chạy ngược hướng với ông, về phía những cao ốc, và nhiều người trong số họ đã mất tích trong đống đổ nát.. Nước Pháp có 86 nhân viên thuộ? nhà băng Crédit Agricole ghi nhận mất tích. Nước Anh có khoảng 100 người làm việc trong hai cao ốc thuộc Trung tâm Thương mại Thế giới bị mất tích. Mặc dù từ trước tới nay, người Pháp vẫn chỉ trích và bài bác lối sống kiểu Mỹ, dân Pháp đã bày tỏ mối cảm thông và tình đoàn kết với dân Mỹ.

Những người cầm bút trẻ tuổi đã viết trên mạng như thế. Rồi đây trên những trang sách sắp tới của họ, liệu biến cố hãi hùng ngày 11 tháng Chín, 2001 sẽ ảnh hưởng ra sao?

Nhà văn Vũ Huy Quang, tác giả tập truyện Tân Liêu Trai cho rằng vụ tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới và Ngũ Giác Đài sẽ là dịp tốt cho những người cầm bút đọc lại lịch sử – lịch sử là người Thầy vĩ đại nhất, ông nhấn mạnh. Ông muốn nói người cầm bút sẽ phải viết khác đi. Khác như thế nào là một vấn đề khác. Ông bảo cần phân biệt hai hạng người: mạt nhân và siêu nhân. Mạt nhân theo ông là những kẻ đang sống nhưng coi như đã chết rồi.

Tôi muốn trở lại cái bóng tối đang bay trên đầu chúng ta, đang bay trên mặt đất, đang bao phủ tận ngõ ngách tâm hồn những con người mà sự ghê tởm của nó còn làm ta lợm giọng hơn cả cảnh hoang tàn đổ nát của New York và Washington D.C. trong ngày thứ Ba 11 tháng Chín, 2001.

Có bao giờ bạn nhìn thấy trên bầu trời một đám mây đen khổng lồ bay ngang qua, mỗi lúc một tiến gần đến bạn và cả mặt đất nơi bạn đứng hoàn toàn chìm trong bóng đêm không?

Có bao giờ bạn bị một đám khói vĩ đại cuốn theo xi măng và sắt thép và…xác người đã thành tro bụi ùn ùn đuổi theo bạn trong một thành phố người người chen chúc nhau chạy trốn không?

Có bao giờ trong tâm hồn bạn bị một bóng tối như thế bao vây không?

Chúc bình an cho mọi người.**

Về Mai Chửng

Tôi không có cái hân hạnh quen biết Mai Chửng. Năm tôi làm ở nhật báo Người Việt, một lần gặp nhà thơ Phù Hư, tôi hỏi anh đi đâu mà lâu quá không gặp. Phù Hư bảo đi Hawaii, làm nghề lái taxi. Tôi không tin. Phù Hư người gầy yếu, xanh xao. Sức khỏe như thế làm sao lái nổi taxi. Anh cười, xe nó chở chứ tôi có chở đâu mà cần sức khỏe. Nhưng anh nói thêm: Tôi bỏ rồi, cũng mệt lắm chứ không giỡn đâu. “Này ở trong ngành taxi có nhiều người quen ông lắm đó.” Tôi hỏi ai, anh kể vài người và anh nhắc đến Mai Chửng với những lời quý mến và trân trọng. Tôi nói tôi biết tiếng anh Mai Chửng, nhưng tôi không thân với anh ấy. Hồi ở Sài Gòn tôi cứ đàn đúm với đám nhà văn nhà báo hơn là các bạn chơi màu sắc. Phù Hư nói vậy bây giờ ông có dịp thì nên đi chơi với ông ấy đi. “Một người dễ thương cách gì!”

Sau này, cũng gần đây thôi, chị Q.H. một người bạn thân của chúng tôi nhắc tôi viết gì về Mai Chửng, anh ấy sắp có cuộc triển lãm. Tôi lấy điện thoại, gọi anh mấy lần, nhưng đều không được gặp. Cho đến ngày anh về Việt Nam triển lãm chung với các họa sĩ khác.

Khi tôi muốn liên lạc lại với anh để viết về những tác phẩm mới của anh thì nghe tin anh mất.

Ở Sài Gòn trong chuyến về thăm mộ cha tôi, thầy tôi, mẹ tôi và anh tôi, tôi có dịp gặp Trịnh Cung và anh Văn Quang. Mấy người quen cũ đều nhắc Mai Chửng mới về đây nhưng hôm khai mạc phòng triển lãm tranh tượng của những nghệ sĩ Sài Gòn cũ, anh bị bệnh nên không có mặt. Sau đó anh trở lại Mỹ và anh ra đi vào ngày 1 tháng Chín vừa qua.

Từ Việt Nam, Trịnh Cung và Văn Quang viết bài về Mai Chửng. Cả hai bài viết đều rất cảm động. Bài của Đinh Cường trong số Văn kỳ này cũng chứa chan một tình cảm tốt đẹp với con người tài hoa cùng thời. Nhưng ở đây tôi muốn xin trích một đoạn trong bài viết của một nhà điêu khắc – ông Nguyễn Văn Nam viết về ông thầy của mình .

“…. tôi đã học ở ông rất nhiều về nhân cách của ông (điều này đã chứng minh trong quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội), về cách làm việc, ý hướng sáng tác, đến chuyên môn trong kỹ thuật điêu khắc.”Tôi làm điêu khắc như khi rỗi rảnh mang chiếc xe đạp ra sửa lại.” “Tôi làm tượng rất đơn giản chỉ cần đất sét, một cây đập đất, một con dao làm bếp, đơn giản thế thôi! (vế trên tôi đọc được trong một vựng tập của hội họa sĩ trẻ Sài Gòn, vế sau là khi gặp ông sau này khi ông về VN thăm.)

Cái chính là ý tưởng trong sáng tác, rồi sau đó mới đến những trãi nghiệm về nghề.” Lời ông nói như một thiền sư.”

Mai Chửng xin vĩnh biệt anh.

Hợp Lưu thập nhị chu niên

Không ngờ Hợp Lưu mới đó mà đã 12 năm. Nhớ ngày nào trong căn nhà nhỏ chật chội ở thành phố Garden Grove, cả bọn chúng tôi ngồi nghe kể chuyện “chàng” Khánh Trường làm tờ Hợp Lưu bị đấm đá tưng bừng. Nhưng đấm đá thì đấm đá, “chàng” cứ ngó đàng trước mà đi. Mà đi như vậy đã hơn 4,000 ngày. Hợp Lưu số 62 tới đây của “chàng” sẽ là số Xuân Nhâm Ngọ? đồng thời cũng sẽ là số kỷ niệm Hợp Lưu tròn 12 tuổi. Nghe đâu sẽ có một chương trình họp mặt vĩ đại lắm vào ngày 8 tháng Mười Hai, 2001 tại Trung tâm Văn hóa Nguyễn Bá Học, 4072, Chesnut thành phố Westminster cùng với 40 tác phẩm sơn dầu của họa sĩ Khánh Trường.

Khánh Trường bảo, đó là một buổi họp mặt mang chủ đề Hợp Lưu với văn hữu & độc giả. Không những “chàng” triển lãm tranh mà “chàng” còn có phần ca nhạc thính phòng trong buổi khai mạc. “Chàng” nói phòng tranh sẽ kéo dài một tuần lễ, và sau đó sẽ bán với giá thật thân hữu, nghĩa là từ 400 đến 600 Mỹ Kim “nhằm tích vốn nuôi dưỡng Hợp Lưu cho năm tới.”

Làm chủ bút một tạp chí văn chương mà lại còn là một họa sĩ nữa, Khánh Trường thật không thua ai. Nghe đâu ông Nguyễn Xuân Hoàng đang gạ “chàng” Khánh Trường dạy cho cách pha màu. Ông ta cười bí mật: Biết đâu!!!!!!!!!! ?

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

SỔ TAY THÁNG GIÊNG 2002

Mưa ở Berkeley ….

Tháng Chạp, những ngày cuối năm, bão rớt ở Vùng Vịnh. Trời xám xịt. Lạnh. Mưa bắt đầu rơi khi tôi bước vào quán cà phê trên đường Telegraph. Cái tháp đồng hồ của đại học Berkeley sau lưng giống như ngọn hải đăng là cột mốc giúp tôi định hướng ngõ vào lớp học trong những lần đầu khi tôi mới đến thành phố này .

Quán khá đông. Có hai tầng, cấu trúc thật kỳ lạ. Mặt bằng phía trước thấp, chật; phía sau cao như một sân khấu, hẹp và ngang bè, là một thứ sân khấu khuất. Tôi mua ly cà phê, bơm một chút half & half, cầm theo gói đường equal màu xanh bước đến chiếc bàn duy nhất còn trống trong góc. Tôi đặt ly cà phê xuống, cởi áo khoác móc lên thành ghế. Sau đó bước lên “sân khấu” đi tìm phòng vệ sinh. Có ba cánh cửa không biết cửa nào mở vào toilet. Một thanh niên, có dáng vẻ sinh viên đang làm bài hay viết cái gì đó, nhìn tôi hỏi có phải ông cần restroom không. Tôi gật đầu. Anh bảo phải xuống quầy hỏi mượn chìa khóa. Cánh cửa sắt màu đen có lưới đó là phòng vệ sinh.

Tôi lấy chìa khóa trở lại “sân khấu”. Người sinh viên vẫn ngồi chăm chú với trang giấy trên mặt bàn. Phòng vệ sinh sáng và sạch, nếu ta đừng chú ý đến những chữ viết đủ màu sắc chằng chịt trên vách. Những câu văn thô tục lẫn giữa những dòng chữ như một bài thơ. Một thứ graffiti trên đường phố nhưng dồn lại trong ba bức vách của một nhà vệ sinh khá sạch. Tôi có cảm tưởng những dòng chữ này dùng để trang trí chứ không phải là phá hoại.

Có một câu chữ lớn tôi đọc được:

so long my friend, don’t say goodbye….

và sau đó còn mấy dòng nữa chữ nhỏ, rất khó đọc.

Tôi tự hỏi nếu là trang trí tại sao người chủ quán buộc khách phải có chìa khóa mới vào được? Cũng có thể là không có phòng dành riêng cho nam và nữ thành ra cái chìa khóa là tiện nhất. Tôi thấy mình thắc mắc vô duyên. Tiểu xong, tôi vẫn chưa muốn bước ra ngay. Tôi cũng muốn viết một câu gì đó, bằng tiếng Việt để cho người đến sau biết rằng ở đây không chỉ có bọn Mỹ chủ nhà chơi trò chữ nghĩa lăng nhăng. Tôi tiếc là không có trong tay cây bút lông loại to. Tôi mang chìa khóa trả lại quầy tính tiền. Trở lại bàn nơi tôi để ly cà phê và cái áo choàng, tôi ngạc nhiên thấy đã có người ngồi ở đó. Một người đàn ông và một người đàn bà Á châu. Tóc tai cả hai đều ướt. Thấy tôi ngơ ngác nửa muốn ngồi xuống nửa cứ đứng trơ ra, người đàn ông đứng dậy đưa tay bắt tay tôi.

“Xin lỗi! Xin lỗi!” Ông ta nói tiếng Việt.

“Tôi thật tình không hiểu. Thế này là thế nào? Mà sao ông biết tôi là Việt Nam?”

“Tôi thấy trên bàn có cuốn báo tiếng Việt này.”

“À” Tôi nhớ ra sáng nay tôi có mang theo một tờ báo Việt ngữ. Tờ báo địa phương ở San Jose ra mỗi thứ Sáu.

“Tôi thành thật xin lỗi ông, quán chật hết, không còn một bàn trống,” anh ta tiếp “ông cho chúng tôi ngồi cùng bàn nhé! Ngoài trời mưa dữ lắm, mà lạnh nữa!”

Và anh quay sang người phụ nữ – từ lúc tôi trở lại bàn của mình không nghe chị nói một lời – đặt tay lên vai chị:

“Cô Mía, bạn tôi. Còn tôi, ông cứ gọi là Huy.”

“Chào ông Huy. Xin chào cô Mía.” Tôi hơi lúng túng.

Chị đưa tay bắt tay tôi, hơi mỉm cười. Chị có mái tóc khá dài đen mướt, mắt một mí, sáng, má lúm đồng tiền, cằm chẻ. Chị không hẳn là một phụ nữ đẹp, nhưng chị có một nụ cười thật tươi trên khuôn mặt bướng bỉnh, mạnh mẽ và quyến rũ.

“Tên tôi không phải là Mía, anh Huy đùa đấy. Tôi tên là Mia.” Chị đánh vần: ” Em mờ, I, MI, A. MIA . Đọc là MIA, Như Missing In Action vậy. Còn ông?”

Tôi nói tên tôi và tôi kéo ghế ngồi xuống. Người đàn ông cầm tay chị, những ngón tay dài, xanh xao. Anh nhìn chị dịu dàng và che chở trái với khuôn mặt lạnh, khắc khổ đầy lo âu của anh. Tóc anh cứng, không chải, những giọt nước mưa không làm tóc anh nằm xuống mà còn đứng sững dậy. Anh mặc chiếc áo màu kaki nhạt, khoác bên ngoài chiếc áo jacket màu xanh sẫm. Bỗng nhiên như sực nhớ điều gì, người đàn ông đứng lên:

“Xin lỗi, tôi phải lấy nước chứ. Em uống gì?” Anh hỏi cô Mía, và không chờ cô trả lời, anh quay sang tôi “Ông dùng gì thêm không?”

“Cám ơn, tôi đã có cà phê.”

“Anh gọi cho em một ly hot cider đi. Trời lạnh quá!” và chị nói với tôi: “Cà phê ông đã nguội.”

“Cô có cái tên thật đặc biệt. Tôi chưa bao giờ nghe một cái tên như thế ở Việt Nam.”

“Đó là lý do anh Huy gọi tôi là Mía?”

“Vậy tôi gọi cô là Mía có được không?”

“Không. Ông tha lỗi. Mía là tên gọi riêng của Huy và tôi .”

Chị nói bình thản. Tôi ngượng chín.

“Cô là người ở đây?” Tôi hỏi cho có chuyện.

“Không. Tôi không ở đây. Tôi ở San Fran.”

“Cô ở San Fran sao? ” Tôi hỏi lại.

“Dạ phải. Ở San Fran thì sao?” Chị hỏi ngược, giọng ngạc nhiên.

“Không. Tôi chỉ hỏi vậy thôi. Là vì tôi nghe nói đời sống ở San Fran đắt đỏ đường sá chật chội nhà cửa cao quá. Đến đó chơi thì được, chứ ở thì không. Nhiều bạn tôi nói như vậy?”

“Không hẳn là như vậy đâu. Người ta vẫn sống ở San Fran được đấy chứ!”

“Cô đến Mỹ năm nào?”

“Cũng hơn 15 năm. Trước tôi ở dưới Los. Gần 12 năm. Tôi tìm được việc trên này mới vài năm nay.”

“Tôi cũng đến Mỹ cùng thời gian với cô, đã ở dưới Los một thời gian gần bằng thời gian của cô. Sao tôi chưa bao giờ gặp cô. Cô thấy trên này và dưới Los có gì khác nhau?”

“Ông muốn nói khác cái gì? Con người? Sinh hoạt? Xã hội? Văn hóa? Cộng đồng người Việt mình?”

“Tôi muốn nói chung chung. Cô thấy trên này dễ chịu không?”

“Ở đâu rồi cũng quen đó. Dưới Los tôi có nhiều bạn bè hơn. Sống trên này hơn ba năm rồi nhưng tôi ít giao du thành ra nhiều lúc buồn không biết đi đâu. Vả lại công việc tôi cũng khá bận rộn thành ra không nhiều bạn quen cũng là điều hay.”

“Vậy chắc là cô vẫn thường đi Los phải không?”

“Thỉnh thoảng thôi. Bởi vì càng ngày tôi càng thấy cái vùng đất này có nhiều điều hay mà dưới kia không có.”

“Điều hay?”

“Cider nóng của em đây!” Huy đặt hai ly nước xuống mặt bàn.

“Cám ơn anh.” Mía kéo người đàn ông về phía mình, hôn lên những ngón tay anh, sau đó chị ấp hai bàn tay vào ly nước như muốn lấy hơi ấm.. Chị uống từng ngụm nhỏ. Mắt chị không rời Huy. Và chị nói chậm rải: “Huy là một điều hay của tôi.” Chị lại nắm bàn tay người đàn ông, tiếp: “Và cũng là điều suy nghĩ của tôi. Nếu không gặp Huy có lẽ tôi đã bỏ xứ này về lại dưới kia từ lâu rồi.”

“Vậy sao?” Tôi nhìn người phụ nữ, rồi nhìn người đàn ông. Tôi muốn biết cái gì đã gắn họ lại với nhau. Cả hai đều không còn trẻ. Mặc dù, rõ ràng là chị trẻ hơn anh rất nhiều. Trên khuôn mặt mỗi người tôi đọc thấy một nỗi khắc khoải. Những nếp nhăn ơ? đuôi mắt của chị, những vết hằn trên trán của anh. Dù vậy tôi thấy trong sự chăm sóc của cả hai toát ra một đam mê, một thứ tình yêu cuồng tín.

“Xin lỗi ông, thế ông làm gì ở đây?”

“Tôi hả? Tôi không phải dân ở đây.” Tôi không muốn nói việc làm của tôi. “Tôi ở San Jose. Tôi lên đây có chút việc.”

“Anh Huy?” Chị quay sang người đàn ông. “Chân em lạnh quá!” Chị đặt cả hai chân lên đùi anh.

Người đàn ông cúi xuống. Anh bóp bóp chân chị, vụng về kéo từng ngón, khuôn mặt ánh lên một vẻ say mê kỳ lạ. Đột nhiên tôi nhìn thấy chiếc vớ màu xanh sẫm của chị tuột ra rơi xuống, và Huy nâng bàn chân trần của chị lên hà hơi giữa những kẻ chân, và tôi có cảm tưởng như anh cắn ngón chân út và hôn cổ chân của chị.

“Huy! Trời ơi!” Chị kêu giọng thảng thốt.

“Có gì đâu!” Tôi nói. “Cô đã thấy đỡ lạnh chưa?”

“Đỡ lắm rồi. Cám ơn ông.” Và chị nói với người đàn ông. ” Anh bóp mạnh chân em, mạnh nữa đi!” Chị chồm người qua mặt bàn hôn người đàn ông. Họ hôn nhau say đắm tưởng như trái đất này chỉ có hai người. Tôi nghĩ tình yêu của họ chắc phải là mãnh liệt lắm mới khiến họ không nhìn thấy trời đất gì chung quanh. Những người khách trong quán vẫn đọc sách, báo, vẫn viết, vẫn cười nói, chuyện trò quanh ly cà phê. Người chủ quán đang nghe điện thoại, đứng bên cạnh anh ta, sau quầy là một thanh niên chải tóc ngược kiểu mồng gà, hai cánh tay xâm hình chằng chịt, cạnh bàn chúng tôi là hai cô gái tóc vàng châu đầu vào một trang sách cười khúc khích.

Một người khách vừa bước vào, đứng giữa cửa, đang xếp dù rủ nước bám trên vải…Ông ta lớ ngớ nhìn quanh phòng. Mưa đã giữ khách lại. Vẫn không còn một bàn nào trống.

Tôi thấy mình thừa thải.

Bên ngoài, chiều đã xuống. Mùa này ngày ngắn đêm dài. Và trời đang mưa..

Tôi hớp thêm một ngụm cà phê, đứng dậy.

“Chào cô Mía, chào ông. Có lẽ tôi phải về.”

“Về? Ông về đâu?” Người đàn ông hỏi.

“Về Milpitas.”

“Mưa lớn lắm. Sao ông không ngồi thêm một chút. Trời này lái xe nguy hiểm!” Cô Mía nói. “Chúng tôi cũng sắp chia tay rồi.”

“Chia tay? Thế hai người không cùng về chung à?” Tôi ngạc nhiên.

“Không, tôi phải trở lại San Fran. Huy thì về Palo Alto. Tại sao ông nghĩ là chúng tôi phải về chung?” Cô Mía nói.

“Tôi tưởng vậy thôi.”

“Chắc ông nghĩ rằng khi người ta yêu nhau là phải ơ? chung dưới một mái nhà? Chúng tôi mỗi người đều có một nơi để trở về.”

Chị nói với một giọng đều và buồn. Có vẻ như chị cũng không muốn tin vào điều mình nói nữa. Tôi không nghĩ là chị đang nói với tôi.

Sau cùng, người đàn ông lên tiếng:

“Ông lái xe hay đi BART?* Tôi có thể đưa ông về.”

“Cám ơn.” Tôi nói. “Thường thì tôi đi BART. Hôm nay tôi lái xe.”

Tôi mặc áo khoác, cầm tờ báo, quyết định.

“Xin chào!” Tôi đưa tay về phía người đàn bà. Cô Mía bắt tay tôi và nói: “so long my friend, don?t say goodbye….”

Tôi nghe tiếng chị nói như hát. “So long my friend, don’t say goodbye….” Đúng là câu tôi vừa đọc thấy lúc nãy. Tôi lớ ngớ nhìn chị, và tôi bắt gặp nụ cười của người đàn ông:

“Tôi biết tại sao ông lúng túng! Ông đọc được câu đó trong phòng vệ sinh phải không?”

“Phải. Sao ông biết?”

“Tại vì tôi cũng đã đọc được câu đó.”

“Bộ ông và cô đây quen thuộc cái quán này lắm sao?”

“Chúng tôi vẫn thường hẹn nhau ở đây. Cái bàn này gần như dành cho chúng tôi. Nói đùa đấy, tôi làm sao đủ tiền mua cái bàn này.”

“Nhưng tôi nhớ không lầm, sau cái câu cô Mía vừa đọc còn mấy câu nữa mà. Chẳng lẽ ông cũng thuộc?”

“Không, tôi thì không. Nhưng cô Mía thuộc đấy. Mía, em đọc cho ông bạn chúng ta nghe bài này đi. Bài gì mà em bảo là của ban Ataris đó!”

“Đó là một ca khúc của bọn trẻ ở đây có tên là Hello and Goodbye. Ông có muốn nghe tôi đọc không?”

“……..”

“So long my friend, don’t say goodbye..
just give me one last kiss beneath this gloving sky
we’ll go walking through the park
and hang out in the rain…. ”

Người đàn ông ôm hôn cô, vội vã như sợ cô biến mất:

“Đừng anh!” Mía nói. “Đã đến giờ rồi, em phải về thôi.” Chị đứng dậy, choàng tay qua vai anh, kéo đầu anh xuống, hôn anh và thì thầm trong tai anh, rồi chị cầm bàn tay người đàn ông lên hôn và ngậm trong miệng rất lâu một ngón tay của anh. Người đàn ông nói:

“Còn sớm mà!. Mía có biết là anh cần em đến chừng nào không?”

Anh rút bàn tay ra, ôm siết người đàn bà.

“Còn mấy hôm nữa là Tết rồi. Từ giờ tới đó, em sẽ không gặp anh được đâu!” Chị lấy hai tay đập đập lên ngực anh. Tôi thấy mắt chị có ngấn nước. Và chị quày quả bước ra cửa. Không nhìn anh. Không nhìn bất cứ ai.

Tôi biết chắc là ngoài trời vẫn còn mưa.

Và cơn mưa dai dẳng đó cũng đã chạy theo tôi suốt dọc đường về.

Quán tên gì tôi không nhớ, nhưng cà phê khá ngon, ít nhất là ngon hơn thứ cà phê Starbucks mà nhiều người hiện nay ưa thích.

Tôi không gặp lại cô Mía và người đàn ông tên Huy một lần nào nữa. Tôi biết là họ yêu nhau – yêu một cách cuồng nhiệt như thể cả hai đang ở tuổi mười tám đôi mươi – nhưng tôi cũng cảm thấy hình như có một điều gì đó chen giữa hai làn môi của họ, mơ hồ không trọn vẹn.

Tôi muốn viết về họ. Về nhân vật Huy, mà tôi tưởng tượng là một người qua Mỹ gần 25 năm nay, thành công trong kinh doanh, nhưng vẫn chưa tìm ra được điều mình muốn tìm. Và người phụ nữ tên Mía, trẻ tuổi hơn, mặc dù đến xứ sở này muộn hơn, đã học hành thành đạt hơn, và cũng đã có được một chỗ đứng trong xã hội, nhưng trong tay chị vẫn là sự trống vắng thiếu hụt. Tôi nghĩ cả hai đều có đời sống riêng, những lo toan riêng, những liên hệ riêng. Và giờ đây như hai hạt bụi bay giữa đất trời, họ chạm vào nhau. Rất tình cờ. Và họ khám phá ra là họ cần nhau. Mỗi người vừa tìm thấy sự lấp đầy trong lỗ hổng của người kia. Nhưng cái cách họ hôn nhau, và cả cái cách chia tay của họ như có điều chi vướng mắc. Làm sao tìm cho ra cái đầu mối ấy nằm ở đằng sau cánh cửa tình yêu say đắm của họ. May ra….

Những dòng chữ trên thật ra chỉ là cách kể lại một câu chuyện trong một chiều mưa ở thành phố Berkeley. Và hình ảnh buồn rầu của khuôn mặt người đàn ông khi anh ôm người phụ nữ trong tay, khi bóp bóp bàn chân cô, khi cúi hôn những ngón chân khẳng khiu xanh xao của cô giữa một quán cà phê đông người, và cảnh chia tay kỳ lạ của họ cứ bám theo tôi mãi về tận nhà.

Liệu người đọc có tin được một tình yêu cuồng nhiệt như thế giữa hai người đã không còn tuổi trẻ? Liệu cái cảnh người đàn ông cúi xuống hôn chân người đàn bà giữa một quán cà phê đông người có thuyết phục được người đọc? Liệu tôi có cường điệu quá đáng trong hư cấu của một cuốn tiểu thuyết sẽ viết không? ………

Tôi vẫn nghĩ đôi khi hư cấu không bắt kịp hiện thực. Hiện thực có lúc còn vượt quá cả sức tưởng tượng của con người nữa là đằng khác…

Trời mù đặc. Trắng đục. Tôi là một tay lái xe tồi. Có lúc tôi nghĩ là chắc gì mình an toàn trở về thành phố. Mưa lớn, có lúc tôi muốn tấp vào Oakland trốn mưa. Nhưng đó chỉ là ý nghĩ. Tôi cứ tiếp tục ngó về phía trước. Ánh đèn của những chiếc xe chạy ngược chiếu rõ những giọt mưa lấp lánh. Tôi nghĩ đến một cuốn truyện sẽ viết như lời hứa với bạn tôi. Ít nhất cũng là cuốn thứ ba trong bộ ba Người Đi Trên Mây mà tôi đã nợ với độc giả của mình, và cụ thể là nợ một nhà xuất bản. Cái máy computer thật lợi hại. Cái nút delete đã xóa mất của tôi trên trăm trang sách viết dở dang. Tôi không đủ can đảm viết lại những dòng chữ đã viết. Và bỗng nhiên khuôn mặt đắm đuối của cô Mía khi áp vào ngực người đàn ông tên Huy hiện ra trong trí nhớ tôi, Tình yêu cuồng tín của họ theo tôi đến tận nhà.

Milpitas. Thành phố ấy có gì để tôi lưu luyến. Tôi đã ở với nó hơn ba năm trời. Năm đầu cay đắng. Năm thứ hai ngọt ngào. Nhưng năm thứ ba là sự buồn bã. Và năm thứ tư trước mắt tôi như cánh đồng không mông quạnh dưới chân một ngọn núi ở một vùng quê Khánh Hòa, Nha Trang khi tuổi tôi vừa mới lên năm. Xa gia đình. Bơ vơ. Lạc loài. Sợ hãi. Không biết đâu là nơi nương tựa. Tôi là một đứa bé mồ côi.

Năm đó là năm đầu tiên của cuộc chiến tranh Việt Nam.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

* Một loại xe như xe lửa, hay xe métro . Chaỵ từ Fremont lên Richmond và Daly City. Xe chạy qua Berkeley và có đường chạy lên San Francisco.

 

SỔ TAY THÁNG BA 2002

Người bạn bất ngờ trên xe B.A.R.T

1.

Tôi quen anh tình cờ trên xe BART. Tôi lên trạm Fremont, còn anh lên trạm thứ hai, trạm Union City. Hôm đó xe không đông lắm. Không hành khách nào phải đứng. Anh ngồi vào chỗ trống bên tôi. Trời lạnh. Xe qua các trạm South Hayward, rồi Hayward, Bay Fair, … Người lên rồi người xuống, anh vẫn ngồi yên, mắt chăm chú nhìn vào cuốn sách đặt trên đùi. Khi xe vừa qua khỏi San Leandro, anh giật mình quay sang hỏi tôi “Xin lỗi ông, xe đã qua trạm Fruitvale chưa?” Tôi ngạc nhiên nhìn thấy một chàng Mỹ đen nói tiếng Việt sỏi như thế. Tôi trả lời rằng tôi nghĩ là chưa. Xe mới vừa qua San Leandro. “Cám ơn ông. Vậy là còn một trạm nữa.” “Anh xuống Fruitvale à?” “Không. Tôi xuống Coliseum.” Không biết tại sao anh hỏi Fruitvale vì đến trạm Fruitvale là xe đã qua Coliseum rồi. Lúc đó là hai giờ năm mươi ba phút chiều. Tôi nói còn bốn phút nữa xe sẽ ngừng ở Coliseum. Anh gắp trang sách đang đọc dở dang, và thấy tôi cũng đang cầm trên tay cuốn sách, anh hỏi: “Xin lỗi, ông đang đọc gì?”

Tôi chìa bìa cuốn sách về phía anh. Cuốn Testaments Betrayed của Milan Kundera*. Anh hỏi tôi “Tay này là ai vậy?”

“Một nhà văn.” Tôi không biết trả lời anh cách sao.

Trời lạnh. Trên xe người nào cũng mặc áo khoác mũ trùm đầu. Một vài thanh niên da đen mặc quần áo sậm, rộng rinh, đầu quấn khăn giống như nông dân Việt Nam, cười nói ồn ào ở dãy ghế cuối. Ở cửa ra vào, một người áng chừng gốc Mễ, ngồi với chiếc xe đạp. Một phụ nữ Á châu đang áp tai vào cái điện thoại cầm tay. Không thấy ai cười. Những khuôn mặt lặng lẽ. Trạm xuống của tôi còn xa. Khi nào qua Ashby, tôi mới chuẩn bị xuống Berkeley.

Thấy tôi nhìn cuốn sách còn đặt trên đùi, anh cười: “Tôi đang đọc cuốn The Unwanted của Kiên Nguyễn. Ông đã đọc cuốn này chưa?”

“Có. Tôi có đọc qua.”

“Anh thấy sao?”

“Thấy sao là sao?”

“Ông có thích cuốn sách đó không?”

“Tại sao anh hỏi tôi?”

“Tại vì tôi rất thích. Cuốn sách đó nó nói một khía cạnh của đời tôi. Tác giả lai Mỹ trắng, còn tôi lai Mỹ đen. Tác giả có một bà mẹ Việt Nam giàu có, còn tôi có một bà mẹ Việt nghèo khổ. Tác giả được đi học đại học, tôi chưa hết trung học đã phải đi làm….” Và đột nhiên anh hỏi tôi “Ông làm gì?”

Tôi nói công việc của tôi hiện đang làm, anh cười:

“Làm báo có nói láo không?”

“Anh nghĩ là tôi nói láo sao?”

“Xin lỗi, tôi không có ý nói vậy đâu. Tôi chỉ muốn biết báo có nói sự thật không?”

“Cũng tùy.” Tôi nói.

“Sao ông không làm một nghề nào khác?”

“Nghề làm báo xấu lắm sao?” Tôi hỏi lại anh.

“Không. Tôi không có ý nói vậy.” Anh lập lại đúng câu anh vừa nói với tôi lúc nãy. “Tôi muốn nói làm báo khó mà trung thực lắm. Có nhiều điều cần nói thì không nói và có nhiều điều không cần nói mà cứ viết ra.”

Xe ngừng ở trạm Coliseum, anh đứng dậy.

“Tôi tên là Randy. Mong có dịp gặp lại ông. Chào!” Anh nói.

“Chào!” Tôi nhìn anh. Ngạc nhiên. Tôi thấy anh bước qua cửa, xách vải mang trên vai, cuốn sách của Kiên Nguyễn trên tay, đầu ngoái lại, vẫy tay.

Xe tiếp tục chạy. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời mù. Mưa.

Ba năm đã qua, nhưng Bắc Cali đối với tôi vẫn là một thành phố xa lạ… cho đến khi tôi quen biết Bart tôi mới khám phá ra một khía cạnh của vùng đất Thung Lũng Điện Tử. Tôi thích những chuyến đi trên xe bart. Nó giúp tôi nhìn thấy một một lớp người của thành phố thung lũng. Nhiều người da mầu tôi gặp trong các chuyến đi. Những khuôn mặt không quen biết nhưng gần gũi với tôi. Họ là những người trẻ ồn ào hoặc những người trung niên lặng lẽ. Đập vào tai tôi là một thứ ngôn ngữ đường phố mà tôi phải cố gắng lắm mới nắm bắt được. Có người ngồi lặng thinh, mắt nhắm bất động như một bóng ma, chỉ bừng mắt dậy đúng ga muốn xuống và âm thầm bước qua cửa. Dù họ có là ai, nhưng tôi biết đám đông ấy cùng một giuộc với tôi. Họ là tôi, và tôi cũng chính là họ. Sau lưng chúng tôi là một quê hương đã và đang xa. Và trước mặt chúng tôi là một quê hương muộn màng đang gần. Như người tình cuối cùng trong đời, quê hương đó sẽ ở lại mãi mãi với tôi.

Những chuyến xe bart cho tôi cái cảm tưởng tôi đang bắt đầu là người của vùng đất này. Cũng như tôi, một người đến từ Việt Nam, những người da mầu kia đến từ Mễ Tây Cơ, Nhật Bản, Ấu châu, Trung quốc, Đài Loan, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Ần Độ, Pakistan, Trung Đông, Phi châu,… Chúng tôi trộn vào nhau, quết vào nhau trong một mẻ bột. Chúng tôi trang trí cho một đất nước vĩ đại thứ màu sắc chủng tộc, mang đến sức lao động và trí óc của những sắc dân còn tươi mát vẻ lãng mạn của những vùng đất hoang dã, những trái tim khao khát mới lạ. Và sau cùng là tự do. Tự do, tiếng réo gọi của những chuyến đi.

Và chính ở đây, tôi đang bắt đầu có thêm những người bạn mới. Nguyễn Hữu Liêm, Lê Thị Thấm Vân, Quế Hương, anh chị Nguyệt Cầm-Peter Zinoman,… Căn nhà của Nguyệt Cầm và Peter ở Berkeley nhỏ mà gọn. Mấy tủ sách dựa tường, ở phòng khách và phòng ăn treo nhiều tranh của các họa sĩ Việt Nam trong nước, những bức tranh đẹp. Nguyệt Cầm có giọng nói nhẹ, êm và rất ngọt. Có lần họp mặt ở nhà Vũ Huy Quang, tôi còn được dịp nghe chị đàn và hát, một tiếng hát còn tươi như cá vừa vớt từ dưới ao lên, nhưng là một tiếng hát tràn ngập hơi thở của một trái tim. ..

Tôi quen Bart sau khi đã có thêm những người bạn mới. Và giờ đây là người thanh niên da đen tên Randy.

2.

Mấy tuần sau, những ngày thứ Năm, mỗi khi xe dừng ở trạm Union City, tôi bất chợt nhớ anh. Có những người, ta chỉ gặp một lần và ta không muốn gặp thêm một lần nào nữa. Và ngược lại. Tôi nghĩ có thể Randy đang ngồi ở một toa khác. Hoặc có thể anh đi vào một chuyến khác. Cũng có thể anh chỉ là người một lần tình cờ lên xe bart. Ở vùng này, con đường từ San Jose đi Oakland, Berkeley hay đi San Fran, người ta chọn cách tự lái xe hơn là chọn đi bart. Tôi có cảm tưởng bart là phương tiện di chuyển chỉ dành cho những người ngại lái xe, người da mầu và….. người nghèo.

Cho đến một ngày giữa tháng Hai vừa qua. Đúng ra là ngày 14 tháng Hai. Một ngày thứ Năm. Vừa bước lên xe ở trạm Fremont, tôi nhận ngay ra anh. “Hello, Randy!” tôi nói. Người thanh niên da đen đang cúi xuống trang sách đặt trên đùi, ngẩng đầu lên.

“Chào! May quá. Tôi đang có ý gặp ông.”

Tôi ngồi xuống cạnh anh, mở ba lô kéo ra cuốn Testaments Betrayed của Milan Kundera.*

“Anh vẫn đọc cuốn The Unwanted phải không?”

“Thì The Unwanted đó. Tôi đọc chậm lắm. Chỉ đọc khi đi xe thôi. Ở nhà nhiều việc, không có thi giờ đọc. Còn ông?”

Tôi nói về cuốn sách của Kundera, cuốn sách ở cuối phần ba Improvisation in Homage to Stravinsky giải mã cho tôi những ẩn số của một người cầm bút không còn ở trong nước [lưu vong, tị nạn, hải ngoại?]. Dưới tiểu tựa Số Học Của Sự Di Tản**, Milan Kundera viết: “Cuộc sống của một người di tản, là một vấn đề số học.” Và ông nhắc tới Joseph Conrad bằng những con số: sống 17 năm ở Ba Lan, và 50 năm còn lại của đời ở Anh. Ông sáng tác bằng tiếng Anh, đề tài Anh, tính chất Ba Lan nơi ông không còn nữa, ngoại trừ sự dị ứng chống Nga của ông, sự thù ghét của ông đối với Dostoyevsky; Vladimir Nabokov sống 20 năm ở Nga, 21 năm ở châu Ấu, [ở Anh, ở Đức và Pháp], 20 năm ở Mỹ, 16 năm ở Thụy Sĩ. Ông sử dụng Anh ngữ trong viết lách. Mặc dù tiểu thuyết của ông có nhiều nhân vật Nga, ông vẫn luôn luôn tuyên bố mình là công dân Mỹ, và là nhà văn Mỹ. Kundera cũng nhắc tới tên một vài tác giả mà tôi chưa hề nghe bao giờ: Kazimierz Brandys, sống 65 năm ở Ba Lan, năm 1981 định cư ở Paris sau vụ đảo chính của Jaruzelski. Ông chỉ viết bằng tiếng Ba Lan, về đề tài Ba Lan, tuy nhiên sau năm 1989, dù không còn lý do chính trị để ở lại nước ngoài, ông vẫn không trở về Ba Lan. Gombrowicz một tác giả khác, đã sống 35 năm ở Ba Lan, 23 năm ở Argentina, 6 năm ở Pháp. Tuy nhiên ông chỉ viết bằng tiếng Ba Lan, và các nhân vật trong tiểu thuyết của ông đều là Ba Lan. Năm 1964, trong thời gian ở Berlin, ông được mời về Ba Lan. Ông đắn đo, rồi cuối cùng từ chối. Khi ông chết, hài cốt ông được chôn ở Vence, miền nam nước Pháp.

Tại sao Gombrowicz từ chối không về Ba Lan, dù chế độ cộng sản của Ba Lan đã phân rã, và hầu hết những người hoạt động văn hóa đã tham gia phe đối lập.

Những người cầm bút di tản [lưu vong, tị nạn hay hải ngoại] của chúng ta, theo cách nói của Kundera, mà những điều kiện chính trị và văn hóa khác người Ba Lan hay người Nga, nhưng cũng có thể có một mẫu số chung là ngoài nỗi đau khổ nhớ tới quê hương, chúng ta còn thêm một nỗi đau khác, lớn hơn, nỗi đau khi gặp lại, nhìn lại quê hương sau bao nhiêu năm xa cách, nhận ra những gì trước đây gần gũi thân mật và giờ đây bỗng trở nên xa lạ, lạnh lẽo, trong khi vùng đất và con người xa lạ mà ta ngỡ ngàng khi mới đặt chân đến định cư giờ đây ngày càng gần gũi gắn bó, thân mật.

Đâu là lý do đích thật của sự từ chối trở lại quê hương của Gombrowicz. Chắc không phải là lý do chính trị. Đó là vấn đề con người, sự đụng chạm vào cái phần sâu xa nhất của trái tim. Sự từ chối trở lại quê hương của Gombrowicz là điều ông không thể thổ lộ được. “Có những điều [người ta] chỉ có thể [dùng ngôn ngữ của sự] nín lặng.”***

Randy ngồi im lặng nghe tôi nói, và nhìn đôi mắt anh tôi biết anh có vẻ như chẳng hiểu tôi ba hoa cái gì. Đột nhiên anh hỏi:

“Thế ông đã về nước lần nào chưa?”

“Có, một lần, vào năm ngoái. Đó là lần đầu tiên sau 17 năm xa quê của tôi.”

“Vậy là ông nghĩ khác ông Gombrowicz phải không?”

“Mỗi người có một cách của nhìn cuộc sống khác nhau. Tôi nghĩ Milan Kundera nói đúng.”

“Tôi không hiểu Milan Kundera. Ông nhà văn đó phức tạp quá. Tôi chỉ muốn biết ông nghĩ sao sau khi về Việt Nam?”

“Tôi thấy mình xa lạ. Tôi nôn nao, hồi hộp. Tôi đã chảy nước mắt khi bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi đã về thăm mộ mẹ tôi, cha tôi và anh tôi. Tôi đã đứng trước căn nhà của tôi, giờ đây đã có người chủ mới. Tôi lạc lõng trên con đường phố mà xưa kia quen thuộc thân mật với tôi biết là chừng nào.”

Câu chuyện giữa tôi và Randy còn dài, mãi tận đến Richmond là nơi cả tôi và anh không ai muốn đến.

3.

Anh/chị ở San Jose đã lâu, hay vừa mới tới, có bao giờ đi xe BART chưa? Nếu chưa, tôi nghĩ anh/chị nên đi một lần cho biết. Xe bart có vẻ gần với xe metro. Ga xe bart ở Fremont không rộn rịp như các ga metro ở Paris. Có vài nơi xe bart chui qua hầm, nhưng phần lớn xe bart đi giữa những gò cao. Ban đêm từ phía bắc Richmond trở về Fremont, anh/chị có thể nhìn thấy những thành phố sáng đèn ở phía dưới: Bay Fair, Hayward, Union city,…

Suốt hai mùa đi xe bart lên xuống Fremont – Berkeley , tôi khám phá ra giai cấp của những người đồng hành: Rất ít người da trắng, người da màu chiếm đa số, đặc biệt là người da đen và nâu. Da vàng cũng vừa thôi. Càng về tối, xe càng vắng. Đôi lần, tôi thấy hình như… chỉ có một mình mình ngồi giữa toa tàu trống trơn.

Tiểu thuyết lịch sử, tại sao?

Nhà văn Hoàng Khởi Phong vừa gửi đến người đọc phần một bộ trường thiên tiểu thuyết Người Trăm Năm Cũ phần một, gồm hai cuốn Trên núi Đồi Yên Thế I và II, dài 866 trang. Tác giả cho biết sẽ in tiếp Người Trăm Năm Cũ III và IV vào năm 2003. Tính về lượng, kể từ cuốn đầu tay: tập thơ Mặt Trời Lên in năm 1967, cho đến nay Hoàng Khởi Phong đã ấn hành 15 tác phẩm gồm thơ, tập truyện, hồi ký, truyện dài, ký sự nhân vật…. Với bộ sách này anh hứa hẹn với người đọc một cuộc chạy nước rút: vượt qua chiều dài của Sông Côn Mùa Lũ và Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác. Hoàng Khởi Phong viết khỏe, thử bút qua nhiều thể tài và đặc biệt ông có một ngòi bút trơn tru. Dù viết dưới bất cứ thể loại nào, tác giả cũng lôi cuốn người đọc bằng một văn phong hực lửa. Hoàng Khởi Phong thở trên từng trang chữ, chạy marathon trên từng cây số.

Sau Hoàng Khởi Phong, nhà văn Nam Dao cũng chuẩn bị in Đất Trời, tiểu thuyết do nhà Văn Mới xuất bản. Trong vòng hai năm qua, Nam Dao đã liên tục gửi đến người đọc các tác phẩm, không những được viết từ một ngòi bút nặng chất văn học mà còn là một trong số ít tác giả hải ngoại quan tâm tính tư tưởng trong nội dung và cách viết của mình. Hai tác phẩm mới đây của ông, Trong Buốt Pha Lê (tập truyện) và Khoảng Chơi Vơi (truyện và ký) do nhà Thi Văn xuất bản, Nam Dao đã bày tỏ quan điểm của mình trong sáng tác: “Trong một thế giới mở, người viết ở vị thế một di dân, tuy đèo bồng nền văn hóa của sắc tộc mình nhưng không bắt buộc cứ phải lập lại và khép kín trong những sắc thái và tình tự đặc thù cá biệt. Văn chương chỉ vượt lên tầm nhìn khái quát khi đối tượng khái quát. Đó là con người ở những điểm chia chung với nhau về thân phận. Nhìn rộng ra và đi sâu vào những mảnh đời của những sắc dân chung quanh ta là một hướng văn học đáng trân trọng.”

Vấn đề đặt ra ở đây là sau Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác là Người Trăm Năm Cũ của Hoàng Khởi Phong, và bây giờ là Đất Trời của Nam Dao … đều là những tiểu thuyết lịch sử.

Tại sao tiểu thuyết lịch sử? Thứ tiểu thuyết mà trước đây không lâu các nhà phê bình và những nhà văn hiện đại đã gần như bỏ quên nó. Tiểu thuyết lịch sử đã đi vào quá khứ như Hoàng Lê Nhất Thống Chí đã thuộc về một thời đại không còn là của chúng ta. Người cầm bút đương đại không thể không gắn bó với đề tài của cuộc sống hiện nay. Chọn đề tài quá khứ là một cách lẩn trốn hiện tại, lẩn trốn những vấn đề mà mỗi chúng ta bắt buộc phải chạm mặt hàng ngày.

Mặc dù ai cũng biết viết tiểu thuyết lịch sử không phải là viết lịch sử, người đọc khó tính luôn luôn soi mói vào những chi tiết (có thật không? có đúng không?) Các nhà văn hậu hiện đại không chia sẻ quan điểm này. Viết đòi hỏi trí tưởng tượng. Tiểu thuyết là những điều “bịa như thật” (ai đã nói thế?). Viết tiểu thuyết lịch sử yếu tố tưởng tượng càng phải mạnh hơn. Nhà văn Anh A.S. Byatt cho rằng trong khi đương đầu với các đề tài lịch sử, “nhà văn có toàn quyền sáng tạo ra quá khứ mộng tưởng theo ý họ từ những chi tiết khác thường về tên họ, biến cố và nơi chốn. Nếu chúng ta không biết, chúng ta có quyền phát minh và mọi thứ đều được phép.”

Thử đọc lại Nguyễn Huệ qua Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Mộng Giác, Trần Vũ để khám phá ra cái khác biệt của lịch sử và tiểu thuyết lịch sử. Hơn lúc nào hết, những năm gần đây, tiểu thuyết lịch sử đã có chỗ đứng của nó. Đừng quên giải Pulitzer năm 2001 về tiểu thuyết vào tay Michael Chabon với The Amazing Adventures of Kavalier and Klay là một cuốn tiểu thuyết lịch sử. Trước đó, nhiều nhà văn tên tuổi Mỹ cũng đã chọn đề tài lịch sử cho tiểu thuyết của mình. Như Toni Morrison với Paradise; Don Delillo với Underworld; Russell Banks với Cloudsplitter…****

Mai Trung Tĩnh, Như Thế

Mai Trung Tĩnh làm nhiều thơ, nhưng bài thơ mà tôi thuộc nhất là bài (tựa là gì?) có mấy câu như sau:

Khi nào em mệt mi
Thì xin em hãy cầm lấy tay anh
Ầy con đường đưa em tới
Vùng mây trời biển xanh
Khi nào em tội lỗi
Mời em hãy giẫm lên đời anh
Đừng quên anh đã có thừa ô nhục
Và nơi đây cũng không còn thần linh

Khi nào em tuyệt vọng
Thì xin em hãy cầm dao giết anh
Vì anh như tấm gương soi đối mặt em đó
Vỡ một lần cho xong.

Bài thơ ghi được bằng trí nhớ trên đây là một bài thơ đã được phổ thành nhạc, và trí nhớ của tôi không hoàn toàn bảo đảm sự toàn vẹn nguyên chất của bài thơ. Nhưng mới đây, ngày 20 tháng Hai, 2002, ngày Mai Trung Tĩnh chia tay với chúng ta mãi mãi, tại Catonsville, Maryland, nhà báo Phạm Trần ở Hoa Thịnh Đốn đã viết một bài về giấc mơ của anh, giấc mơ muốn in một tập thơ để lại cho vợ con, bạn bè và cho đời trước khi ra đi. Tập Thơ Mai Trung Tĩnh gồm 73 bài thành hình nhờ công sức của bằng hữu. Tôi không có tập thơ trong tay, nhưng bài viết của Phạm Trần cho tôi cơ hội có được bài thơ sau cùng của anh, bài Như Thế viết tại Annapolis năm 1995 là năm ông mới vừa tới định cư tại Hoa Kỳ.

Vẫn mây trời như thế
Nắng vẫn như thế
Gió và mưa như thế
Nhưng ta không còn phải sống những giây phút như thế
Thành phố ta ở không như thế
Những bộ mặt quanh ta không như thế
Ngôn ngữ ta nghe và báo ta đọc không như thế
Ấm nhạc ta nghe cũng không bị nghe như thế
Và những giấc ngủ của ta
Những giấc mơ của ta
Không còn bị như thế
Duy có một điều
Trong chỗ sâu kín nhất của lòng ta
Ta cảm thấy vẫn còn như thế
Có lẽ mãi còn nguyên như thế.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

* Linda Asher dịch từ bản tiếng Pháp Testaments Trahis của Milan Kundera, nxb HarperPerennial, 1995.

** Emigration Arithmetic. Sđd tr.93

*** Some things we can only leave unsaid.” Sách đã dẫn tr. 95.

**** Theo tài liệu của Thượng Văn.

 

 

SỔ TAY THÁNG NĂM 2002

Đi tìm nguồn cội

Trong cuộc hội thảo mang tên East Coast/West Coast: Vietnamese American Writers, Poets and Performers tổ chức hôm 2 tháng Ba, 2002 tại Đại Học San Francisco State, các nhà văn trẻ Mỹ gốc Việt đã gặp gỡ trong một khung cảnh ấm áp và cảm động. Họ là những nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ trình diễn người Việt Nam, nhưng họ nói và viết bằng Anh ngữ. Tác phẩm của họ có khác nhau về nội dung, nhưng cùng chứa một ý nghĩa: Đi tìm nguồn cội, đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai? Tôi đứng ở đâu?”

Monique T.D. Trương, Mộng Lan, Andrew Lâm, Andrew X. Phạm, Nguyễn Quí Đức, Lê Thị Diễm Thúy, Trường Trần, Kiên Nguyễn, Lan Trần, và Maura N. Donahue, Nguyễn Đại Hải. là những người đang đi tìm câu trả lời đó.

Bài viết này, thay thế Sổ Tay tháng Năm, chỉ là một giới thiệu chung chung về một hiện tượng mới: những nhà văn Mỹ gốc Việt trong văn chương Mỹ. Để có một cái nhìn tương đối đúng đắn hơn về tác giả và tác phẩm của họ, thiết nghĩ cần nhiều bài viết khác do những người hít thở được không khí văn chương và ngôn ngữ của họ. Người viết cần một chìa khóa ngôn ngữ để mở cánh cửa đó.

Monique T.D. Trương, tác phẩm đầu tay The Book of Salt sẽ được phát hành năm 2003, trả lời câu hỏi là động cơ nào đã khiến cô chọn nghề viết văn, cho biết như mọi người, cô cũng muốn chọn một ngành nghề nào làm ra tiền và bảo đảm cuộc sống, “nhưng tôi không thích nghề luật sư” mặc dù cô đã tốt nghiệp luật khoa trường Đại Học Columbia 1995. “Cha tôi thường bảo tôi hãy làm nghề gì tôi ưa thích.” Chị nói, “Vì vậy bây giờ tôi đã dành toàn thời gian cho việc viết lách.” Monique Trương là một trong những tác giả trẻ Mỹ gốc Việt viết văn bằng tiếng Anh.

Với Andrew Lâm, một nhà báo, một nhà bình luận, tác giả nhiều truyện ngắn – thì viết là một thôi thúc. Từ hồi nhỏ ở Việt Nam, anh đã thích viết. Thuở đó anh đã từng làm thơ tiếng Việt. Nhưng sau khi tốt nghiệp Đại Học Berkeley ngành sinh hóa, Andrew Lâm quyết định đi theo con đường viết văn. Và anh đã chọn việc diễn tả suy nghĩ của mình bằng Anh ngữ.

Mộng Lan đơn giản hơn. Cô viết vì muốn bày tỏ cảm xúc và ý nghĩ của mình. Trước khi là nhà văn, Mộng Lan là một họa sĩ. Chọn ngôn ngữ viết vì theo cô, cách diễn tả này “chính xác hơn.”

Về đề tài trong tác phẩm, Mộng Lan nói rằng cô không chọn đề tài. “Chính đề tài chọn tôi. Tôi viết về những gì tôi thấy và tôi cảm, những gì xảy ra quanh tôi, những gì chạm đến tôi.”

Tập thơ đầu tay của Mộng Lan, Song of the Cicadas (Khúc Hát của Những Con Ve Sầu). Cô nói “Một cách nào đó, trong tác phẩm đầu tay này của tôi, có từ 70 tới 75 phần trăm được viết từ kinh nghiệm ở Việt Nam,” kinh nghiệm mà cô có được trong sáu tháng trời giữa hai năm 1995-96. Phần còn lại của cuốn sách là kinh nghiệm sống của cô trong những tháng năm ở Vùng Vịnh này.

Trong tác phẩm của những người trẻ nói trên, người đọc vẫn như còn ngửi được mùi hương khói, tro tàn của cuộc chiến Việt Nam, vẫn còn mang nặng dấu vết, hơi hám, nỗi đau của cuộc chiến Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam như một lớp mây, một lớp mù sương bao trùm những trang chữ của họ.

Hình ảnh những nhà văn trẻ Mỹ gốc Việt này được miêu tả như một con người đứng giữa hai thế giới. Viết với họ là đi tìm lại bản sắc của mình. Một mặt họ sống và trưởng thành trên đất Mỹ, hấp thụ nền văn hóa Hoa Kỳ, trong khi đó họ vẫn sống giữa một gia đình còn nặng quá khứ trong phong tục tập quán, trong lời ăn tiếng nói, trong liên quan xã hội.

“Tôi là ai?” Có thể là câu hỏi thường trực của họ.

Với Monique Trương, The Book of Salt là câu chuyện về một người trẻ tuổi Việt Nam sống ở Paris vào cuối thập niên 1920. Anh nhận làm bếp và sống trong nhà bà Gertrude Stein, một văn sĩ người Mỹ lưu vong trong thời kỳ “Lost Generation” cùng với nhà văn Ernest Hemingway. Đây là thời gian bà Gertrude Stein sống với người yêu của bà ta là Alice B. Toklas.

Trong tác phẩm này, Monique viết lý do tại sao người đàn ông kia đã rời Việt Nam ra đi và vì sao anh ta quay về lại cố hương. Ý tưởng xây dựng tác phẩm này, cô cho biết được gợi từ một cuốn sách dạy nấu ăn của bà Toklas.

Monique Trương cho biết cô không chọn đề tài chiến tranh cho cuốn sách đầu tay của cô. “Tôi chỉ muốn qua tác phẩm này đưa ra một câu hỏi: chiến tranh là gì mà khiến cho một người phải bỏ nước ra đi, và bỏ lại sau lưng gia đình (nhà cửa). Với cuốn sách này, tôi muốn dùng trí tưởng tượng vẽ lại khung cảnh đầy xúc động trong đó chiến tranh không phải là yếu tố chính tác động lên tình cảm và quyết định của con người.”

Andrew Lâm thì khác. Anh cho biết mặc dầu rời Việt Nam lúc mới 11 tuổi, anh đã lớn lên trong một gia đình quân nhân, đã từng nhìn thấy sự đỗ vỡ tan nát và tro than của cuộc chiến.

“Ta không thể nào chối bỏ được quá khứ, muốn vươn lên khỏi dĩ vãng ta phải luôn luôn học hỏi quá khứ.”

Anh chọn đề tài nào đập vào cảm xúc anh mãnh liệt nhất, như mối quan hệ Việt-Mỹ vốn tác động lên cuộc sống cá nhân mỗi người Việt Nam.

Andrew X. Phạm, với Catfish and Mandala, viết theo thể loại non-fiction, anh đã mở toang cánh cửa ngôi nhà của mình ra trong một thái độ can đảm hiếm thấy trong loại hồi ký tiểu thuyết – nếu có thể tạm gọi như vậy – của một người viết trẻ tuổi Việt Nam. Cuốn sách của anh như một cơn lốc lôi cuốn người đọc vào một cuộc hành trình đầy hứng thú. Sức mạnh của tác phẩm này là chất liệu cuộc sống. Nhưng vẫn là câu hỏi chưa được trả lời: tôi là người Việt hay tôi là người Mỹ?

Theo Mộng Lan vấn đề bản sắc không đặt ra với cô. Cô nói “khi ở Mỹ tôi coi mình là người Mỹ, khi về lại Việt Nam tôi là Việt Kiều. Ở California, tôi là dân Cali. Chuyện rất là giản dị. Việt Nam là đất nước nơi tôi chào đời, còn nước Mỹ là nơi tôi lớn lên. Tôi chịu nợ cả hai xứ sở này.”

Những bài thơ của Mộng Lan, Trường Trần, Andrew X. Phạm, Kiên Nguyễn (The Unwanted) và Lan Cao (Monkey Bridge), Đinh Linh (Fake House), Lại Thanh Hà… ở Mỹ; và tiểu thuyết của Kim Lefevre (Métisse Blanche), Linda Lê (Les Trois Parques) ở Pháp… là những nụ hoa mới nở trong vườn văn chương Mỹ và văn chương Pháp.

Nhưng trường hợp của Nguyễn Quí Đức là một ngoại lệ, là một sự ngạc nhiên thích thú và là một khao khát khó đạt. Anh là một người đa dạng và tài hoa: nhà báo, nhà phát thanh, nhà văn viết bằng hai ngôn ngữ Việt và Anh, dịch giả Behind the Red Mist của Hồ Anh Thái, tác giả hồi ký Where the Ashes Are – và nhiều truyện ngắn viết bằng tiếng Việt của anh đăng trên các tạp chí văn chương tại hải ngoại như Văn, Văn Học, Hợp Lưu.

Với những tác phẩm viết bằng Việt ngữ – ngoài nước với 2 triệu dân, và có lẽ kể cả trong nước với trên 80 triệu dân – cái readership của các tác giả có vẻ như chỉ dừng lại ở con số 500 hay 1,000.

Viết bằng ngôn ngữ Anh hay Pháp, người ta dễ hiểu cái readership ấy rộng lớn hơn nhiều. Một tác phẩm được nhiều người đọc bao giờ cũng là niềm vui của tác giả. Người ta không in sách để bỏ vào một xó. Bởi vì không gì buồn hơn một cuốn sách in ra trong 5 năm trời không bán quá 1,000 cuốn.

Tác phẩm của những người trẻ này cho thấy cơ may cái vòng readership rộng lớn, mà còn cho thấy một hội nhập nhanh chóng của người Việt trên vùng đất mới: chưa kịp bước qua một phần tư thế kỷ, văn chương Việt Nam hải ngoại đã nhảy qua ba giai đoạn: viết về quê hương, tù đày, khốn khó, hoài niệm, quá khứ bằng tiếng Việt; chuyển dịch [chuyển ngữ?] những trang chữ tràn ngập dĩ vãng sang Anh ngữ [Pháp ngữ]; và giờ đây, chính những người trẻ tuổi này đã viết thẳng từ trái tim của họ ngôn ngữ của dân tộc mà họ đang sống với.

Nhưng liệu có thể gọi những tác phẩm của những người trẻ tuổi Việt Nam này viết bằng thứ ngôn ngữ không phải của mẹ đẻ – dù đề tài của nó vẫn là Việt Nam, nhân vật Việt Nam, khung cảnh Việt Nam – là văn học Việt Nam?

Nhà văn Nguyễn Quí Đức cho rằng tuy viết bằng Anh ngữ, nhưng linh hồn, tinh thần vẫn còn mang ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử đất nước, vẫn còn gần gũi với kinh nghiệm người đi trước. Chỉ khác là họ dùng hư cấu để nói lên kinh nghiệm, thay vì dùng tự truyện hay hồi ký, và do đó đem vào tác phẩm một khả năng phổ cập. Chính những tác giả có quyền chọn chỗ đứng cho chính mình.”

Trước đây vào thập niên 50, Cung Giũ Nguyên, tác giả Le Fils de La Baleine, là một nhà văn được biết ở Pháp và ở những nước nói tiếng Pháp. Cũng giống như vậy cho Phạm Duy Khiêm, tác giả Légendes des Terres Sereines. Trong văn học Việt Nam, người ta không ghi danh hai ông vào danh sách nhà văn Việt Nam.

Cao Hành Kiện, Nobel Văn Chương, tác giả Linh Sơn, viết bằng tiếng Hoa, nhưng khi ông nhập tịch Pháp, viết bằng tiếng Pháp, giải Nobel trao cho ông như trao cho một nhà văn Pháp; trường hợp Nobel Văn Chương V.S. Naipaul cũng tương tự. Ông đã mang danh dự về cho nước Anh, không phải cho xứ Trinidad của ông. Và như thế cho Amy Tan (The Joy Luck Club), cho Maxine Hong Kingston (The Woman Warriors), cho Henry Wang (The Golden Child). họ đâu phải là nhà văn Trung Quốc. Họ là những nhà văn Hoa Kỳ trong dòng chính của văn học Mỹ.

Họ đã nhập vào đất nước họ đang sống, suy nghĩ bằng thứ ngôn ngữ của người bản xứ, phản ứng như một người Mỹ – hay một người Anh hoặc Pháp – tác phẩm của họ cho dù là một cuộc du hành trở về nguồn cội, tìm lại một quá khứ mà họ chưa có, có chăng chỉ là một nỗi đau ngay từ gia đình bơ vơ những ngày trên đất mới, và sự hội nhập của gia đình và chính họ.

So với các nhà văn Trung Quốc, Ần Độ hay Nhật Bản viết bằng Anh ngữ hiện nay, có thể các nhà văn trẻ Mỹ gốc Việt chưa đủ trọng lượng, vài người còn bị nặng hình thức và kỹ thuật diễn tả, có những bước dọ dẫm, nhưng đã sao, họ còn trẻ, còn nhiều hứa hẹn. Họ là những nhà văn Mỹ đang bước vào dòng chính của văn học bản xứ, bằng thứ ngôn ngữ phổ biến và được đọc nhiều nhất hiện nay trên thế giới.

Dù sao, họ đang đóng góp vào văn học Hoa Kỳ những tiếng nói mới. Liệu tiếng nói ấy có được nghe? Liệu văn chương của họ có chiếm lĩnh những chỗ đứng đặc biệt trong thế giới chữ nghĩa vốn mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm tràn ngập những đầu sách của những người viết mới tài năng và sâu sắc? Sự tồn tại của tác phẩm họ cần được thử thách qua ngọn lửa thời gian. Nó đòi hỏi không chỉ là lòng đam mê chữ nghĩa mà còn tài năng của họ. Nếu không, những tác phẩm ấy rồi cũng sẽ nhanh chóng rơi vào quên lãng.*

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

* Tạp chí Văn hiện đang chuẩn bị làm một số đặc biệt về những nhà văn Mỹ gốc Việt với các tác giả nói trên (cùng với Lan Cao, Đinh Linh,…) qua sự điều hợp của nhà văn Nguyễn Quí Đức.

 

SỔ TAY sáu & bảy, 2002

Phạm Duy và vết thương di tản

Như những người cùng lứa tuổi, tôi ưa thích nhạc Phạm Duy, trước khi yêu thích nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi nghĩ, trước khi nổi tiếng với những ca khúc của chính mình, Sơn cũng là một người yêu nhạc Phạm Duy. Thế hệ của anh tôi, theo kháng chiến chống Pháp, chắc chắn là thế hệ của những người chọn con đường ra chiến khu một phần cũng vì âm nhạc của ông.

Nhưng tôi có thêm một lý do để nhớ đến ông nhiều hơn các bạn tôi một chút vì cho đến năm 1972 – không nhớ chắc là năm 72 hay 70, cái năm mà nhà văn Ngô Thế Vinh cũng ra hầu tòa vì một bài báo của anh – tôi bị phiền phức do một ca khúc của ông: Bài bà Mẹ Gio Linh.

Phạm Duy viết Bà Mẹ Gio Linh năm 1948. Năm 1972, sau khi Trần Phong Giao thôi tờ Văn, ông Nguyễn Đình Vượng nhờ tôi làm Tổng Thư Ký tòa soạn ở 38 Phạm Ngũ Lão. Lúc đó tạp chí Vấn Đề của kịch tác gia-giáo sư Vũ Khắc Khoan đặt trên lầu cùng địa chỉ với tờ Văn. Ông Thần Tháp Rùa khi đến tòa soạn bao giờ cũng đi ngang qua chỗ ngồi của tôi. Một lần ông hỏi tôi cho Vấn Đề một truyện. Tôi hứa. Và lần nào đi ngang qua bàn viết của tôi, ông cũng nhắc: Sao? Có truyện cho số này không? Tôi xấu hổ vì không viết được. Sau cùng, tôi quyết định nhất định phải nộp bài cho ông. Truyện ngắn Cha và Anh tôi đưa ông để đăng trên Vấn Đề – tôi nhớ hình như là số 52.

Một buổi chiều Mai Thảo đến tòa soạn kéo ghế ngồi trước mặt tôi hỏi Hoàng viết cái gì cho Vấn Đề mà báo bị tịch thu, đóng cửa vậy?

Tôi ngớ người.

Truyện ngắn Cha Và Anh là một hồi tưởng với nhiều hư cấu về một gia đình (tôi) bị chia cắt trong chiến tranh, và chia cắt ngay cả trong một thành phố. Một nhân vật bơ vơ mất hướng, không biết mình đi đâu, về đâu.

Truyện còn chép một số đoạn trong ca khúc của Phạm Duy:

Mẹ già cuốc đất trồng khoai
Nuôi con đánh giặc đêm ngày
Cho dù áo rách sờn vai
Cơm ăn bát vơi bát đầy…
……..
Nhà thì nó đốt còn đâu
Khuyên con báo thù phen này
Mẹ mừng con giết nhiều Tây
Ra công xới vun cày cấy.
………

Ông Khoan gặp tôi một tuần sau không vui. Tuy vậy, ông cũng tỏ vẻ lo cho tôi. “Anh có sao không? Có bị gì không?” Thưa anh, tất nhiên là có. Em phải hầu tòa đây.

Đó cũng là thời gian mà Ngô Thế Vinh cũng từ Biệt Đoàn 81 Biệt kích Dù về hầu tòa vì bài báo Mặt Trận Ở Sài Gòn của anh.

Nhưng tôi đâu chỉ dính với ông Phạm Duy chỉ chừng đó thứ. Những ca khúc sau này của ông, những bài Bình Ca (Dường Như Là Hòa Bình,Sống Sót Trở Về, Ngày Sẽ Tới…) cũng làm tôi ray rứt mãi.

Tôi ngạc nhiên về những bài Tục Ca,Vỉa Hè Ca của ông cùng đi với Đạo Ca, Bé Ca, Nữ Ca của ông. Ông Phạm Duy đa tài, đa dạng và là một người giàu có về âm thanh. Ông mơ mộng hơn những người lãng mạn nhất, nhưng ông cũng là người thông tục hơn những người thông tục nhất. Ông có nhiều tiếng nói cho nhiều hoàn cảnh.

Ông là một trong số ít nhạc sĩ “sống” và “mạnh” không phải là thứ nghệ sĩ ẻo lả của bàn đèn và khói thuốc. Nhạc của ông được nhiều thế hệ hát và hát khắp nơi. Nhạc ông được nhiều người nhớ và nhớ bằng những kỷ niệm đặc biệt. Nhạc ông được hát với một trái tim sôi nổi, nhưng cũng được hát với một nỗi buồn cùng cực. Nhạc ông có nước mắt. Và cũng được hát với một nụ cười.

Thế gian có những thứ tình cảm nào, ông đều cho người ta cơ hội bày tỏ thứ tình cảm đó.

Nhưng tôi biết không phải ai cũng bằng lòng ông.

Có người nhìn ông như một tài năng hư hỏng. Có người bảo sau những ca khúc phổ thơ từ Huy Cận, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, ông không còn để lại gì cho âm nhạc Việt Nam.

Tôi ngờ những người ấy sống bằng thành kiến.

Không người Việt Nam nào có thể quên ơn Phạm Duy.

Để soi sáng giá trị và ý nghĩa. của một tác phẩm nghệ thuật – một cuốn tiểu thuyết, một bức tranh, một nhạc phẩm – người ta thường qui chiếu về tác giả, về đời tư của người nghệ sĩ . Người ta nghĩ – cũng có lý thôi – giữa tác phẩm và tác giả chắc chắn phải có một mối giây nhân quả. Tác phẩm là sản phẩm của nghệ sĩ, nó tất yếu phải mang dấu ấn, hơi thở, đời sống, ý nghĩ của người sáng tạo.

Người ta đọc Kiều của Nguyễn Du và người ta đi tìm tiểu sử của ông để hiểu Kiều. Cũng vậy, người ta xem kịch Lưu Quang Vũ, xem tranh Nguyễn Trung, nghe nhạc Trịnh Công Sơn, người ta luôn luôn đi tìm tác giả. Người ta tìm đọc “những bản thảo dở dang, những thư từ, những nhật ký, hồi ký” và qua đó họ vẽ lại chân dung người nghệ sĩ. Chính chân dung ấy đã “soi sáng” tác phẩm của họ.

Tôi chia xẻ “một nửa” ý kiến đó.

Tôi không tin là cuộc đời của một nghệ sĩ hoàn toàn làm thành tác phẩm của họ.

Tôi không tin là tác phẩm đang được quần chúng yêu mến kia sẽ kém đi vì tác giả có một cuộc sống xã hội “không tốt đẹp” theo ý kiến của những nhà đạo đức.

Tôi không tin giá trị tác phẩm sẽ bị tụt xuống khi tác giả có một cuộc sống không cân bằng với tiêu chuẩn xã hội.

Những điều “tôi không tin” ấy thật ra chưa đủ lý lẽ để thuyết phục người khác. Cho đến khi tôi đọc được mấy cuốn sách của Milan Kundera, một nhà văn Pháp gốc Czech.*

Dưới tựa đề Soixante-treize mots (Bảy mươi ba từ), phần thứ sáu của cuốn Nghệ Thuật Tiểu Thuyết, Milan Kundera viết: “L’artiste doit faire croire à la postérité qu’il n’a pas vécu”, dit Flaubert.**

Vẫn theo Kundera, Maupassant không cho đưa chân dung của mình vào một loạt chân dung các nhà văn nổi tiếng: “Đời tư của một người và khuôn mặt anh ta không phải là của công chúng.” Heman Broch nói về mình, về Musil, về Kafka: “Cả ba chúng tôi đều không có tiểu sử thật.”

Nhà văn William Faulkner muốn làm “người bị triệt tiêu, bị xóa bỏ khỏi lịch sử, không để lại bất cứ dấu vết gì, không có cái gì khác ngoài những cuốn sách đã in.” Và Kundera nhấn mạnh: Sách và để in,tức là không có các bản thảo dở dang, thư từ, nhật ký.)

Tôi muốn bắt chước Kundera nói theo một ẩn dụ của Kafka rằng nhạc sĩ Phạm Duy (nhà tiểu thuyết) phá ngôi nhà của mình đi, để lấy gạch xây một ngôi nhà khác: các ca khúc của ông (cuốn tiểu thuyết).

Từ đó đi đến kết luận là những người viết tiểu sử về một nghệ sĩ (nhà tiểu thuyết, họa sĩ, kịch tác gia, nhạc sĩ, điêu khắc gia…) là người phá dỡ những gì mà nghệ sĩ đó đã làm, để làm lại cái mà người nghệ sĩ đã phá dỡ ra. Cái công việc chõ vào đời tư của một nghệ sĩ (tài năng) là một công việc tiêu cực, thuần túy tiêu cực, nó không thể soi sáng cả giá trị lẫn ý nghĩa của tác phẩm; “may ra thì chỉ nhận dạng được vài viên gạch.”***

Kundera không chỉ nói một lần về vấn đề này trong cuốn L’art Du Roman, mà ông nói nhiều lần. Trong phần thứ bảy cuốn sách này, dưới tựa đề Discours de Jerusalem: Le Roman et L’Europe. “Nhà tiểu thuyết là người, theo Flaubert, muốn biến mình đi sau tác phẩm của mình. Biến mình đi sau tác phẩm của mình, điều đó có nghĩa là từ chối vai trò nhân vật xã hội.”****

Phạm Duy là một con người, như mọi người. Ông đã sống tận cùng đời sống của ông, ông đã hiến tận cùng những gì ông có trong trái tim ông và thân xác ông. Tôi đồng ý với Hoàng Khởi Phong, Phạm Duy không cần vinh danh, vì cái danh ấy ông đã có, người ta nên biết ơn ông.

Trong cuộc sống của mỗi chúng ta, rõ ràng là chúng ta nợ nần quá nhiều người. Không chỉ nợ nần công ơn sinh và dưỡng của cha mẹ ta, mà ta còn nợ nần những người làm cho cuộc sống ta tốt đẹp hơn, có ý nghĩa hơn. Ngay khi họ làm ta đau đớn vì bản chất của họ, ta cũng nợ họ, vì nhờ đó ta khám phá ra sự đa dạng của con người,khám phá ra cái bộ mặt đen tối của một con thú tưởng là người, và ta cũng khám phá ra sức chịu đựng của mỗi chúng ta.

Phạm Duy và Stravinski

Chưa thấy nhà văn nào nói về âm nhạc say mê và đầy kiến thức như Milan Kundera. Trong cuốn Những Di Chúc Bị Phản Bội, ông dành nguyên phần thứ ba Improvisation en hommage à Stravinski (Ứng tác kính tặng Stravinski) từ trang 69 đến 119 để viết về Stravinski.

Tôi ước gì mình có đủ kiến thức về âm nhạc để viết một chương về nhạc sĩ Phạm Duy. Nếu cuộc đời của Stravinski chia làm ba phần dài gần bằng nhau. Ở Nga, 27 năm; Pháp và Thụy Sĩ nói tiê?g Pháp, 29 năm; Mỹ, 32 năm; thì Phạm Duy cũng chia phần đời mình qua những con số tương tự: Miền Bắc 29 năm, vào Nam 25 năm, và ở Mỹ nay ông đã ở được 27 năm.

Kundera viết “Di tản: một cuộc lưu lạc bắt buộc ở nước ngoài đối với người coi đất nước nơi mình sinh ra là tổ quốc duy nhất của mình. Nhưng tình trạng di tản kéo dài và một sự trung thành mới đang nảy sinh, sự trung thành với đất nước mình đã nhận; bấy giờ là đến lúc cắt đứt. Stravinski dần dần từ bỏ chủ đề Nga. Năm 1922 ông còn viết Mavra (hí kịch phỏng theo Pouchkine), rồi năm 1928, Nụ Hôn Của Bà Tiên, kỷ niệm về Tchaikovski, rồi ngoài mấy tác phẩm ngoại lệ không đáng kể, ông không trở lại chủ đề Nga nữa. Khi ông mất năm 1971, Vera vợ ông, tuân theo ý nguyện của ông, từ chối đề nghị của chính phủ Xô Viết chôn ông ở nước Nga và chuyển thi hài ông đến nghĩa trang Venise.”

Kundera viết tiếp: “Không còn nghi ngờ gì nữa, Stravinski mang trong mình vết thương của sự di tản, như tất cả những người khác; không còn nghi ngờ gì nữa, sự phát triển nghệ thuật của ông sẽ đi một con đường khác nếu ông có thể ở lại nơi ông đã sinh ra.

Phần đầu của Stravinski và Phạm Duy có vẻ như trùng hợp nhau. Sự khác là ở phần cuối. Chủ đề trong âm nhạc Phạm Duy luôn luôn là Việt Nam.

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời.”

Chủ đề ấy ở cuối đường là Minh Họa Kiều I và II. Việt Nam nhất trong những gì thuộc về Việt Nam.

Tôi viết những dòng chữ này như một lời biết ơn Phạm Duy.

Tôi không có nhiều lý lẽ để nói về âm nhạc ông. Tôi mượn nhiều lời của Milan Kundera để cám ơn ông.

Xin ông khỏe mãi.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

* L’ art Du Roman, Collection Folio, 15 Novembre, 1999 và Les Testaments Trahis, Collection Folio, 18 Janvier, 2002. Bản dịch của Nguyên Ngọc, NX Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001.

** Sách đã dẫn, trang 177. Flaubert nói: “Người nghệ sĩ phải làm cho hậu thế tưởng rằng anh ta không hề sống.”

*** Bản dịch của Nguyên Ngọc, sđd., tr. 156-157.

**** Bản dịch Nguyên Ngọc, Sđd., tr. 165

 

SỔ TAY tháng 9 2002

Sau cùng, bạn tôi đã đến…

Sau cùng, bạn tôi, Huỳnh Phan Anh đã đến.

Anh là một ‘thành viên’ trong bè lũ mấy đứa cùng thế hệ suýt soát tuổi nhau hoặc cách nhau chừng mấy tuổi, lớn lên trong một thành phố chiến tranh và văn chương. Hai thứ đó có vẻ như không ăn nhập gì nhau, nhưng quả thực là những năm sáu mươi, chúng tôi hằng ngày trong khi viết lách vẫn nghe tiếng súng nổ từ ven biên, khói lựu đạn cay trên đường phố và đôi khi đón nhận tin cái chết của bạn bè từ chiến trường bay về.

Ở lại quê nhà – vĩnh viễn – là Nguyễn Nhật Duật, đến trước Huỳnh Phan Anh không lâu là Nguyễn Đình Toàn, trước đó là Nguyễn Quốc Trụ và lâu hơn, trước nữa là Đặng Phùng Quân.

Chúng tôi, tưởng rằng sau cùng cả bọn có thể gặp lại nhau. Những tưởng là thế, sau 27 năm, nhưng thật ra chúng tôi nay vẫn mỗi người một ngã.

Cái thời mỗi buổi sáng cả bọn tụ tập la cà ở quán La Pagode, ly cà phê đen, cái bánh croissant nóng, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, không còn nữa. Khó mà tìm lại được nữa.

Trụ ở Canada, Quân ở Houston, Texas, Toàn ở Nam Cali.

Huỳnh Phan Anh, người sau cùng chân ướt chân ráo, ngày 22 tháng Bảy, 2002, đã đến bắc Cali, Thung lũng Hoa Vàng, Thung lũng Điện tử, vùng Vịnh, nơi có thành phố biển Santa Cruz, có Vịnh Nửa Vầng Trăng, gần John Steinbeck, gần Berkeley, gần San Francisco.

Anh đã đi một mạch từ Sài Gòn, Việt Nam đến Bắc Cali, nơi mà tôi phải đợi 13 năm sau khi đến Mỹ mới đặt chân đến.

Chúng tôi vừa tụ được hai người.

Bữa cà phê tao ngộ giữa tôi và anh là quán Starbucks, trên đường Brokaw, gần tòa soạn báo Mercury News. Cà phê Mỹ, dù là Starbucks không đủ đậm cho một người quen cà phê Việt Nam, nhưng dù sao đó vẫn là thứ cà phê uống được. Chúng tôi chọn chiếc bàn ngoài sân. Huỳnh Phan Anh hút thuốc, như những ngày còn ở Sài Gòn.

Chúng tôi không nói nhiều, nhưng tôi biết anh không vui.

Tôi có cảm tưởng nếu bây giờ ở Việt Nam chắc anh vui hơn. Bởi vì 27 năm đã qua, nhiều thói quen mới đã thành hình như một bản năng. Người ta đi đứng nói năng, ăn uống, giao tế trong một môi trường không như nơi anh vừa tới. Tôi mong cái cảm tưởng ấy sai. Nước Mỹ cũng sẽ là trạm nương thân cuối đời anh.

Anh đến Mỹ âm thầm, tôi không hay biết.

Gia đình anh ở đây. Chị và em của anh. Con gái và con trai của anh. Mỗi người đều ở đây từ lâu, nhiều năm trước khi tôi đến Mỹ. Tất cả đều có công ăn việc làm.. Tôi nghĩ, cũng như tôi, anh là người may mắn. Cách đây 16 năm, từ Bataan, Phi Luật Tân đặt chân xuống Virginia, tôi cũng đã chọn sự âm thầm đó. Tôi hiểu bạn tôi. Chuyện đâu có gì mà phải ầm ĩ!

Tôi biết cái nước Mỹ mà tôi đang sống, không phải là một xứ sở toàn hảo. Làm gì có sự toàn hảo trên cõi đời này! Nhưng tôi biết đây là một đất nước mà tôi mơ ước được tới, một nơi tôi có thể nương thân trong khi quê hương ruồng bỏ tôi.

Tôi nhớ ngày đầu tiên tôi đến xứ sở này là một ngày mùa đông. Thành phố Falls Church, Virginia. Tuyết trắng xóa dọc đường đi. Lạnh buốt. Và những ngày đầu tiên buồn nẫu ruột. Buồn hơn những ngày còn ở ngôi làng tị nạn Bataan, Phi Luật Tân, nơi suốt ngày tôi không biết làm gì hơn là quanh quẩn vùng chín vùng mười một, không có một tờ báo để biết tin tức, không có một cuốn sách để đọc….Tôi sống giữa những khuôn mặt thường trực đăm đăm chờ một chuyến đi…

Tôi đã có hai chuyến đi. Một chuyến từ Sài gòn, và sau đó một chuyến từ Manila, Phi Luật Tân. Một chuyến đi như chạy trốn, sau nhiều lần chạy trốn bất thành. Một chuyến đi công khai với một trái tim hồi hộp. Mười sáu năm đã qua. Tôi may mắn được làm một số công việc mà tôi ưa thích. Tôi may mắn có được những người bạn tốt trên dọc đường. Nếu không may mắn, không biết bây giờ tôi sẽ ra sao?

Tôi muốn nói với bạn tôi là anh đang có những người thân tử tế. Những bà chị, những người em, những đứa con. Anh có đủ một cách vững chắc, những thứ mà tôi có rất mong manh trong những ngày đầu.

Mười sáu năm qua, tôi có học được vài thói quen của đất nước này. Nhưng còn nhiều điều tôi chưa thông, chưa biết. Tôi nghĩ là tôi chưa hội nhập được vào cuộc sống này. Và có lẽ sẽ không bao giờ tôi hội nhập được một cách toàn diện. Tôi nghĩ Huỳnh Phan Anh cũng thế. Nhưng đó đâu hẳn là nỗi ưu tư chính của chúng tôi.

Nỗi ưu tư của chúng tôi là làm sao, Huỳnh Phan Anh ngồi xuống và viết. “Viết là một cách thế từ chối thế giới tác giả đang sống, chối từ chính thân phận tác giả.” “Viết là tự mình biến thành sự vắng mặt, lùi về hư vô. Nói theo Levinas, viết là chết.” Chính Anh đã viết như thế.

Năm 1968, mới 24 tuổi, với tiểu luận Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô, Huỳnh Phan Anh bằng một cách nhìn mới mẻ, đã làm chấn động giới văn nghệ Sài Gòn. Vượt lên trên cách nhìn văn chương của Tự Lực Văn Đoàn, bước qua cả quan niệm văn chương theo nhóm Sáng Tạo, Huỳnh Phan Anh, với kiến thức triết học và cách nhận thức văn học theo quan điểm tiểu thuyết mới với Nathalie Sarraute, Alain-Robbe Grillet, Michel Butor, Claude Simon,..đã thổi đến một hơi thở mới.

Ba mươi mốt năm sau, năm 1999, Huỳnh Phan Anh cho in tiểu luận-phê bình Không Gian Khoảnh Khắc Văn Chương, tác phẩm tập hợp những bài viết ở những thời điểm khác nhau (những năm 60-90) , tiếp cận những khoảnh khắc văn chương, “những bước chân có thể xóa đi hoặc giẫm lên trên những dấu vết của chính mình hoặc của ai đó, nhưng chung quy vẫn là những bước lang thang quanh mối ưu tư không dứt bỏ được, căn bệnh không thoát được: chữ nghĩa, cái đọc và cái viết.” Anh đã viết như thế trên những trang chữ của anh.

Đó là một tác phẩm – như tác giả nói – lâ? lại, khai triển, những chủ đề ông đã viết trước đó 31 năm.

“Hãy viết. Điều cần nhất đừng bỏ dỡ, đừng thua cuộc. Hãy ngồi lại bàn và viết, đừng nghĩ ngợi quẩn quanh, đừng thắc mắc lôi thôi.”

Huỳnh Phan Anh đã trở lại với bạn bè và người đọc, trở lại với Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô, chủ đề mà anh không ngừng khai thác từ bao năm nay. Chủ đề ấy anh không chỉ ứng dụng trên André Gide, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Samuel Beckett, Rimbaud, Valery, Claude Simon, Yves Bonnefoy, Rene Char mà còn ứng dụng trên Tản Đà, Nhất Linh, Hàn Mặc Tử, Đinh Hùng, Hồ Biểu Chánh….

Trong bài viết có tựa là Những Trang Rời, nhà phê bình Huỳnh Phan Anh đặt câu hỏi: “Phải chăng nhà phê bình trước tiên là một độc giả khốn khổ nhất, bởi hắn đánh mất tất cả, trừ trí thông minh của hắn dùng để đo lường, cân nhắc, phán đoán. Nhà phê bình đó là một độc giả chuyên nghiệp. Một khách bộ hành thông thạo luật đi đường. Một tên thợ săn lành nghề. Và nếu cần là một đao thủ phủ. Hắn đọc như một cách thế chiếm hữu và bạo động trên chính tác phẩm…”

Hãy tưởng tượng Huỳnh Phan Anh hạnh phúc khi anh ngồi xuống bàn viết viết lại những dòng chữ của anh trên một không gian mới.

Chào mừng tác giả Không Gian Khoảnh Khắc Văn Chương

Chào mừng cây bút tiểu luận-phê bình quen thuộc của chúng ta.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

GHI CHÉP tháng 12, 2004IRIS CHANG, TạI SAO?clip_image004Thứ Sáu 10 tháng Mười Hai, 2004

Người đàn ông tôi gặp trưa nay ở quán cà phê Starbucks tên B.

Ông và tôi quen nhau tình cờ từ hơn sáu tháng nay cũng ở quán cà phê này. Hôm nay ông ăn mặc khá giản dị, cái áo choàng lanh màu xanh đã cũ, quần màu vàng kaki hiệu Dockers hơi rộng, bàn tay ông to bè, những ngón tay ngắn và thô, móng tay dài cáu bẩn, như một người vừa làm vườn. Ông đứng xếp hàng trước tôi chờ mua cà phê.

“Chào ông.” Tôi lên tiếng trước.

“Chào!” Ông trả lời, giọng ông mệt mỏi.

Buổi trưa, nhiều nhân viên các cơ sở quanh vùng sau khi ăn lunch xong thường lấy cà phê trước khi trở lại sở làm. Hàng người chờ lấy cà phê khá dài. Ông B. quay mặt lại hỏi tôi hôm nay uống gì. Tôi cám ơn. Tôi nói để tôi vì tôi còn tiền trong thẻ starbucks.

Nhớ lần đầu gặp ông, cũng đúng vào lúc xếp hàng mua cà phê vào buổi trưa. Ông đứng sau lưng tôi và hôm đó bất ngờ ông hỏi tôi một câu bằng tiếng Anh “Xin lỗi, ông có phải là người Việt Nam không?”

“Phải”, tôi trả lời bằng tiếng Việt. “Tại sao” Tôi hỏi lại.

Ông nói mấy lần trước đi cà phê ở đây thấy tôi ngồi một mình nhưng ngại không dám hỏi sợ tôi không phải người Việt Nam. Người Việt mình ít ai uống Starbucks lắm. Cà phê Việt Nam dù gì cũng hợp gout hơn là cà phê Mỹ. Thấy tôi đeo sợi giây mang thẻ sở làm, ông hỏi, tôi làm việc gì ở sở này. Tôi nói dối, tôi làm janitor, nghiã là lau chùi bàn ghế, hốt dọn rác rến trong toà soạn. Ông nhìn tôi thương hại.

“Qua Mỹ hồi nào? Làm janitor sống đủ không? Vợ con ra sao?” Tôi trả lời cho qua chuyện, tôi biết mình đã lỡ nói dối không thể tiếp tục thêm. Tôi nói tôi qua Mỹ năm 1985, vợ tôi thất nghiệp cả năm nay, tôi có bốn đứa con, đứa út mới vào đại học, ba đứa kia đã có việc làm.

“Vẫn ở với con cái à?”

“Không”, tôi nói, “vợ chồng tôi sống riêng, giống như hai con khỉ già chờ ngày ra đi.”

“Đi đâu?” Ông hỏi.

Tôi cười, “thì ra đi đó mà. Ai sống mà chẳng có lúc sau cùng phải ra đi.”

Ông cũng cười, “nói bậy. Lương bổng sao? Đủ sống không?”

Ông ta nhắc lại câu hỏi.

Tôi nói “à thì cũng sống vậy vậy.”

“Qua Mỹ năm nào?” Đây là lần thứ hai ông hỏi tôi.

Tôi nhắc lại: Năm 1985.

“Mà ở thành phố này lâu chưa?”

“Ồ chỉ mới sáu năm thôi.”

“Trước ở đâu?”

Tôi nói trước ở Quận Cam.

“Hồi đó làm gì?”

Tôi nhắc lại: “À, thì cũng lau chùi phòng ốc, hốt rác rưới cho một toà soạn báo Việt ngữ.”

“Vậy sao?” Ông hỏi mà như nói.

Tôi hỏi lại ông, vậy chứ ông đến Mỹ từ bao giờ? Ông cho biết ông đã qua Mỹ từ trước 1975, đi du học rồi do biến cố tháng Tư 75, ông ở lại luôn. Ông hiện làm kỹ sư cho một hãng nhu liệu điện tử ở đây. Gần 10 năm sau ngày 30 tháng Tư, ông mới lo được giấy tờ cho vợ con qua, và bây giờ… ông bỏ lửng câu..”Tôi và vợ tôi không hợp nhau. Mấy đứa con đã lớn, đứa nào cũng có công ăn việc làm.

Tôi hiện sống một đời sống khác.”

Tôi muốn hỏi ông thế nào là một đời sống khác, nhưng tôi nghĩ lại, hỏi để làm gì?

“Ông dùng loại nào?” Tôi nghe cô thu ngân hỏi ông. Ông gọi món frappucino và quay sang nói với tôi “hôm nay không mang tiền lẻ, ông trả hộ ly nước của tôi nhé!”

“Không sao.” Tôi gọi một tall coffee, và như thường lệ, tôi đưa cái thẻ Starbucks cho cô thu ngân .…

Lấy cà phê xong, chúng tôi ra ngồi ở chiếc bàn trống ngoài sân…

Trời mùa đông vùng Thung Lũng năm nay lạnh hơn mọi năm. Tôi ấp hai tay vào ly cà phê. Aám. Tôi hỏi ông sao lúc này ít ra quán cà phê vậy? Ông nói hồi này ông uống cà phê Việt Nam nhiều hơn ở cái quán quen, chỗ đó thiếu chịu được. Tôi hỏi công việc của ông ông nói ông tính về hưu. Ông là người thích du lịch. Nhưng chuyện chưa tính xong, còn nhiều chuyện phải giải quyết trước khi nghỉ hưu sao cho có lợi. Ông hỏi tôi hôm nay có phải về sở lau chùi bàn ghế ngay không? Tôi nói còn sớm, tôi có thể ngồi nán thêm ít phút nữa.

Ông B. than hôm nay ông buồn quá.

“Tại sao?”

“Tay kỹ sư làm cùng sở tôi vốn là một tay hiền lành, bỗng nhiên hôm nay nó chửi tôi là đồ khốn nạn.”

“Tại sao?”

“Đời sống tinh thần tôi mấy lúc sau này không ổn. Tôi nhìn đâu cũng thấy người ta nói xấu tôi, âm mưu hãm hại tôi. Tôi không tin ai, cái khổ của tôi là tôi thấy chung quanh mình ai cũng ngu dốt, đứa nào cũng có ý xấu với tôi. Một câu nói bình thường của bọn nó cũng làm tôi điên đầu suy diễn ra trăm nghìn ý nghĩa thâm độc.

Tôi có cảm tưởng cả thế giới này đều nhắm vào tôi. Cái tay kỹ sư ấy mới qua Mỹ chưa đầy 20 năm mà giữ cái chỗ tốt trong khi tôi sống ở đây đã hơn 30 năm, ăn học đàng hoàng mà vẫn cứ còn lẹt đẹt. Nếu không phải nó bắt tay với thằng phụ tá chủ tịch công ty thì làm sao có đươc chỗ đó.”

Tôi hỏi ông B., hay là tay này nó có bà con họ hàng gì với ông chủ tịch công ty?

“Làm gì có chuyện đó. Chủ tịch công ty là người Mỹ, còn nó là người như mình, mũi tẹt da vàng mà!”

“Không”, ông B. tiếp, “không có bà con cô bác gì đâu. Tôi nghĩ là nó nịnh thằng manager Việt Nam, thằng này cất nhắc nó lên. Tôi biết thằng đó dốt bỏ mẹ, tài năng gì! Tôi sẽ nói cho bàng dân thiên hạ biết tay đó là một thằng dốt. Anh làm nghề hốt rác lau chùi nhà cửa thì không biết gì chuyện của những người có học như tôi đâu.”

Và đột nhiên, ông B. đổi đề tài:

“Ở Việt Nam ông ở thành phố nào?”

Tôi nói Sài Gòn.

“Hồi đó ông làm ngành nghề gì?”

Tôi ấp úng, “tôi làm thợ mộc. Nhà tôi có hai anh em, anh tôi là lính Biệt Động Quân, còn tôi … làm thợ mộc.” Tôi đã lỡ nói dối nên tới luôn.

“Còn tôi, tôi rời nước sớm quá, tôi không biết gì về tình hình đất nước những ngày 30 tháng Tư. Anh có bị tù không?”

“Không, thợ mộc không bị tù, nhưng tôi cũng ở tù vì tội vượt biên.”

“Tù ở đâu? Có cùng chỗ với ông Đại Học Máu không?”

“Không, tôi ở tù dưới U Minh.”

“Vậy là ở chỗ của ông Hương Rừng Cà Mâu chứ gì?”

Tôi nói tôi không hiểu ông muốn nói gì.

Ông cười, “anh không bao giờ đọc sách báo à?”

“Sách thì không, nhưng báo thì cuối tuần nào mà tôi không đọc, báo chợ bỏ đầy ở các tiệm ăn Việt Nam.”

Ông B. nhìn tôi, “mặt mũi anh trông không đến nổi nào mà sao không chịu học hành gì cả. Thế còn mấy đứa con của anh có học hành gì không?”

Tôi ậm ừ không trả lời. Tôi đang chán vở kịch tôi đang đóng.

Ông B. lại hỏi “lương bổng anh sao? Khá không?”

Tôi nói 12 đồng giờ. Cũng sống được.

Ông B. bỗng nghiêng qua bàn, kê sát miệng vào tai tôi thì thầm:

“Anh có cần tiền không?”

Cái miệng kinh khủng với đôi môi thâm xì, hai hàm răng vàng khè và hơi thở ông khét mùi thuốc lá làm tôi khó chịu.

“Tiền hả? Tiền thì ai mà không ham. Nhưng tiền ở đâu ra?”

Ông B. rút trong túi áo ra một tấm ảnh cắt từ một tờ báo. “Đây là thằng X. cái thằng kỹ sư ngu dốt mà tôi đã nói chuyện với anh, nó là thằng dám nói tôi là đồ khốn nạn. Tôi sẽ đưa anh một ngàn nếu anh làm nhục nó trước mặt đám đông.”

“Làm nhục bằng cách nào?”

“Anh chỉ cần chửi nó là đồ ngu, đồ dốt nát, đồ khốn nạn trước mặt đám đông ở một tiệm phở mà nó hay đến. Tôi chịu trả anh một ngàn đồng.”

Tôi không trả lời. Tôi nhìn ông B., ngạc nhiên hơn là khinh bỉ, khinh bỉ hơn là giận dữ.

Tôi đứng dậy, cầm xâu chìa khoá xe. Ông B. kéo giật tay tôi, “anh ngồi xuống đây với tôi chút nữa thôi. Tôi sẽ trả anh hai ngàn. Chịu không? Tôi đang có những ngày tháng không vui. Những ngày tháng mà bỗng dưng giữa đám bạn bè ai cũng nhìn tôi như một con quái vật mang hình dáng người. Một con quái vật trở mặt, thoắt một cái từ mặt người thành mặt thú, thoắt một cái từ cái dáng vẻ lương hảo thành tay lưu manh xảo quyệt, thoắt một cái từ sự thanh tao trở nên thô lỗ cục cằn… Con quái vật có đủ mọi thứ bề ngoài của một con người bình thường, nhưng khi nó há miệng ra tôi cho người ta thấy những chiếc răng nanh nhọn hoắc đầy máu me của mình. Con quái vật có những ngón tay cầm bút nhưng khi nhìn kỹ đó chỉ là móng vuốt của một thứ dracula đang bấu vào cổ người. Tôi vốn không tin có dracula trong đời sống này. Chẳng qua đó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng. Thật ra bây giờ tôi mới biết tôi đã có một ý nghĩ sai. Thế giới chúng ta quả thật có ma quỷ. có hồ ly, có Dracula. Dracula sống trà trộn giữa chúng ta. Chúng nói cười đi đứng sinh hoạt như chúng ta. Chúng luôn luôn than van thiếu thốn nghèo túng mặc dù chúng không hề túng thiếu. Chúng thích vơ vét, bốc hốt, thích dí mũi vào đời sống người khác may ra moi móc chút đời tư để kể lại bằng giọng hả hê. Chúng giống như con dòi ngúc ngoắc từ một đống phân. Chúng đóng vai một tên có chút kiến thức nhưng là một thứ kiến thức ăn đong cóp nhặt từ những trang báo, những cuốn sách chưa kịp tiêu. Những con quỷ dracula không thể sống nếu không hút máu của người khác. Nhưng nó sẽ không hút được máu ai nếu trước hết nó không làm cho người khác tin nó là một con người tử tế. Người ta cứ tưởng nó mềm như một miếng bông gòn, nhưng thực ra nó là một cục chì, đất sét. Nó là một con vật thông minh chứa đầy nọc độc. Tôi đang có những ngày không vui, khi bỗng dưng một hôm phát hiện ra con quỷ dracula mà lâu nay tôi cứ tưởng là người nào khác lại chính là tôi. Anh đừng bỏ đi, tôi sẽ cho anh mười nghìn đồng, mười nghìn chứ không phải hai nghìn, anh làm nhục tên kia dùm tôi. Tôi xin anh, chỉ khi nào anh làm được như thế con quái vật dracula kia mới ra khỏi đầu óc tôi, ra khỏi trái tim đầy lòng hoài nghi của tôi.”

Hôm nay là thứ Sáu, buổi chiều cuối tuần, công việc ở sở tương đối nhẹ nhàng, tôi có hai ngày nghỉ ngơi trước mắt.

Tôi nói với ông B. là ông cứ moi hết những rác rưới trong đầu ông ra đi tôi sẽ đổ dùm ông. Ông cứ móc hết sư nhơ bẩn của cống rảnh ra khỏi trái tim xấu xa của ông đi tôi sẽ dội nước sôi dùm ông. May ra…..

Chiều thứ Sáu tuần này là một buổi chiều không vui của tôi.

Hơn một tháng trước đây tôi cũng đã có một buổi chiều không vui khác về cái chết của một nhà văn nữ, cô Iris Chang, tác giả cuốn The Rape of Nanking, trên xa lộ 17, gần Los Gatos, vùng vịnh Bay Area. Xác của cô được tìm thấy trong một chiếc xe hơi với một viên đạn xuyên qua đầu vào ngày 9 tháng Mười Một. Iris vừa 36 tuổi và là tác giả của ba cuốn sách The Rape of Nanking, Thread of the Silkworm và The Chinese in America.

Bản tin của BBC cho biết The Rape of Nanking là một tác phẩm gây nhiều tranh cãi nói về những hành động tàn bạo của lính Nhật khi chiếm đóng một thành phố phía đông Trung quốc trong những năm 30. Iris Chang thống kê khoảng 10 ngàn người dân Trung quốc vô tội bị giết và khoảng 80 nghìn phụ nữ bị lính Nhật hảm hiếp. Tác phẩm của cô lột tả những chi tiết về sự chà đạp về thể xác và nhân phẩm của người phụ nữ Trung quốc. Cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới và trở thành một trong những tác phẩm bán chạy nhất trong những năm 90.

clip_image006

Iris Chang chào đời tại New Jersey trong một gia đình Trung quốc, có bằng cử nhân báo chí của Đại học Illinois, bước đầu sự nghiệp là một nhà báo sau đó tiếp tục như một nhà văn. Năm 25 tuổi cô viết tác phẩm đầu tay Thread of The Silhworm về cuộc đời nhà khoa học Tsien-Hsue-shen trong thời đại chiến tranh lạnh của nước Mỹ. Các tác phẩm của cô hầu hết tập trung vào vấn đề định cư của người Trung quốc tại Mỹ và cuộc chiếm đóng của Nhật trên quê hương Vạn Lý Trường Thành.

Cái chết của cô, theo cơ quan điều tra là một vụ tự sát được chuẩn bị kỹ lưỡng. Trước đó mấy tháng, Iris đã phải nhập viện vì suy nhược thần kinh. Và cô đã rời viện khi chưa hoàn toàn hồi phục và bỏ nhà đi từ đầu tuần, để lại một bức thư ngắn yêu cầu mọi người nhớ về mình với hình ảnh trước khi cô bị bệnh.

Có phải Iris Chang chọn cái chết bởi vì căn bệnh trầm cảm, khi ở cái tuổi 36 tràn đầy sinh lực, nhưng những gì cô tìm kiếm, đào xới từ lịch sử cuộc chiếm đóng của người Nhật trên quê hương gốc của cô, với sự dã man tàn bạo của người Nhật xúc phạm nhân phẩm của người phụ nữ Trung quốc đã khiến cô thấy ra cuộc đời không là gì cả trước hành dộng của những con thú mang bộ mặt người. Cái vẻ đẹp nồng nàn của cô, cái sức sống mãnh liệt của một người phụ nữ thành danh như cô không là gì cả trước nỗi đau của một dân tộc. Cô chọn cái chết vì cô không thấy đời sống không có gì đáng sống . Những tên lính Nhật mọi rợ và những thằng khốn nạn như tên B. làm cho đời sống chúng ta buồn nản càng buồn nản hơn.

Tôi không muốn nhìn thấy những bộ mặt thối tha và đểu cáng đó trong đời sống chúng ta.

Nhiều lúc tôi muốn ra đi, ra đi ở tuổi tôi cũng là vừa rồi, không có gì than thở. Ra đi ở cái tuổi của Iris Chang thật là một điều phí phạm.

Nhưng nghĩ lại, trời ơi, tại sao những tên lính quốc xã dã man không chết đi, tại sao những tên lính Nhật man rợ không chết hết đi, tại sao những tên khốn nạn như tên B. trong quán cà phê Starbucks không tan rữa như xác một con chó chết đi cho người khác sống, cho Iris sống, cho môi trường đời sống chúng ta không còn bị nhiễm độc vì sự bẩn thỉu của chúng?

Tại sao? Iris Chang? Tại sao

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

 

Vài hiện tượng trong VH

Nếu lấy những năm 1945, 1954, 1975 – những dấu mốc của lịch sử Việt Nam đương đại – làm dấu mốc cho Văn Học Việt Nam thì điều ấy cũng không lấy gì làm sai lắm.

1945: văn học kháng chiến và văn học đô thị; 1954: văn học ngoài bắc văn học trong nam, và đến năm 1975: Văn học trong nước và văn học ngoài nước, mà ta vẫn thường gọi là văn học hải ngoại .

Trong khi văn học đô thị và văn học kháng chiến chỉ kéo dài có 9 năm, văn học trong Nam-ngoài Bắc kéo dài 21 năm, thì văn học trong nước và ngoài nước tính đến nay đã là 30 năm. Và không biết còn kéo dài bao nhiêu năm nữa .
Ba mươi năm ấy nhìn la .i – cả trong và ngoài nước – chúng ta có khá nhiều tác giả, nhiều đầu sách, nhưng dường như không có tác phẩm nào lớn, theo nghĩa đưa được văn học Việt Nam hoà nhịp vào dòng văn học thế giới . Tại sao ?

Ba mươi năm, sau một cuộc chiến tàn khốc, bao nhiêu xương máu đã đổ xuống, bao nhiêu nước mắt, chia lìa, đau đớn và đau khổ. Cả bên này lẫn bên kia . Thử tưởng tượng [tôi không nghĩ chỉ là tưởng tượng đâu!] trên bàn thờ của một gia đình Việt Nam, bà mẹ đốt nhang trước chân dung hai đứa con, một người lính Cộng Hoà và một người lính Cộng Sản. Hai kẻ thù ngoài mặt trận là hai đứa con yêu của một bà mẹ. Không phải là cái thắng của một chủ nghĩa hay là cái thua của một thể chế, với bà mẹ, đây là nỗi đau hai mặt: cái chết của hai đứa con mang cùng huyết thống đứng trên hai chiến tuyến đối nghịch!
Khi cuộc chiến chấm dứt, nỗi mừng của người thắng trận cũng mang theo nỗi đau của người thua trận. Những vinh và nhục, không phải chỉ một cá nhân, một gia đình mà cả một dân tộc phải mang theọ Và kỳ lạ thay, những bài học mới cho cả hai phía: cái được cho người thua và cái mất cho người thắng.

Nếu tủi nhục và xót xa, cho người này; hãnh tiến và quyền lực cho người kia, thì cái được và cái mất nào cho một bà mẹ trong hoàn cảnh bi thương trên?

Hãy đếm xem có bao nhiêu người trai trẻ bỏ xác trên đường Trường Sơn, bao nhiêu người chôn vùi trong lòng biển cả, bao nhiêu là nạn nhân của hải tặc bạo tàn; bao nhiêu người trong lao tù khổ ải, nhà giam bên này, trại cải tạo bên kia,…chắc rồi cũng sẽ có lúc phai đi theo năm tháng nhưng làm sao mất hẳn trong trí nhớ lịch sử.

Sự đổi đời lớn lao, cắt da xé thịt, một thế hệ lớn lên, thành đạt ở đất nước ngoài Việt Nam, hay vùng vẫy vươn lên trong một đất nước đang còn thay da đổi thịt, thế nhưng văn học chúng ta bên này, bên kia vẫn chưa có tác phẩm ngang tầm với thời đại . Tại sao ?

Đó là một câu hỏi khá lớn cho một bài viết nhỏ. Tôi chỉ muốn giới hạn mấy suy nghĩ quanh vài hiện tượng văn học gần đây trong và ngoài nước để may ra tìm cho nó một câu trả lời .
Trước hết là chuyện Hoa Thủy Tiên trong bài Trò Chuyện Với Hoa Thủy Tiên và Những Nhầm Lẫn của Nhà Văn – trên bán nguyệt san Ngày Nay, Hà Nội [các số 4, 5, 6 các ngày 15/2/2004, 1/3/2004 và 15/ 3/2004] của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Bài viết thực sự đã gây một chấn động lớn trong giới văn học trong nước và ta .o ra những phản ứng nhiều tầng và nhiều hướng. Ông viết: “Khoảng hơn hai chục năm trở lại đây, ở Việt Nam không có những nhà văn có phong độ, khí phách lớn. Đến ngay cả những nỗi buồn cũng không phải là những nỗi buồn lớn. Thái độ hời hợt của xã hội với văn học, cách tiếp nhận của xã hội đối với các giá trị văn học cũng làm mất đi cảm hứng ở nhiều nhà văn nhiệt thành. Đấy là chưa kể đến sự tráo trở và lạnh lùng của cơ chế thị trường vẫn chẳng nể nang gì ai cả.”

Vậy thì văn học Việt Nam hiện nay thiếu gì? Nguyễn Huy Thiệp trả lời “văn học thiếu vắng những tham vọng to lớn”…. “Văn học luôn tránh né một vấn đề nan giải khó nói nhất trong xã hội: không phải khó khăn kinh tế, không phải sex, không phải là tình cảnh chiến tranh… Nó là vấn đề nhân tính. Văn học Việt Nam gần đây mất đi khả năng tưởng tượng, lãng mạn, mơ mộng và nhiệt huyết sống. Nó trở nên thực dụng, ê chề, lọc lõi, oái ăm, đôi khi đểu cáng.”

Để có một nhà văn có giá trị nhân đạo [có lẽ Nguyễn Huy Thiệp muốn nói nhân bản], ông viết, phải dựa vào nhiều yếu tố, không phải chỉ là nỗ lực cá nhân và tự phát, “năng khiếu” như lâu nay người ta vẫn tưởng. Đã đến lúc phải nghĩ đến một týp nhà văn khác: lớp nhà văn trí thức của một xã hội phát triển. Họ viết văn có bài bản, có lý luận, lý lẽ chứ không mò mẫm. Trước đây, ở Việt Nam hầu như chưa có những điều kiện xã hội để xuất hiện týp nhà văn nàỵ Theo ông, văn học giá trị bao giờ cũng đề cao nhân tính, và, một xã hội không có những tác phẩm văn học hay, không có những tác phẩm văn học giá tri . nghĩa là nhân tính mất đi.. . Trách nhiệm đó không phải chỉ ở một người nào mà nó ở toàn xã hội . [bđd].

Đánh giá nền văn học trong nước bằng cái nhìn từ trong, Nguyễn Huy Thiệp viết: “Nhìn vào danh sách hơn 1,000 hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam người ta thấy đa số đều chỉ là những người gìa nua không có khả năng sáng tạo và hầu hết đều… “vô học”, tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ, tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương, phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời, còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả.” [bđd].

Chính những dòng chữ này của Nguyễn Huy Thiệp, trong phần thứ ba của bài viết, là ngòi thuốc nổ tạo thành một chấn động liên lỉ.
Chuyện Hoa Thủy Tiên mới nở chưa kịp tàn thì nổ tiếp chuyện “Cái nước mình nó thế!” của Hoàng Ngọc Hiến – giáo sư đại học, nhà nghiên cứu phê bình văn học, tác giả của một nhận định từng làm rung động giới văn học trong nước những năm 80 khi ông đưa ra cụm từ “hiện thực phải đạo”.

Đây là bài phỏng vấn do Phạm Thị Hoài và Trương Hồng Quang thực hiện trên Talawas. Một bài phỏng vấn đậm đặc sôi nổi và mở ra nhiều cánh cửa trong đời sống văn học trong nước. Nó không chỉ liên quan đến những người cầm bút [trong nước] mà còn liên quan đến cả giới chức văn hoá và chính trị . Nổ tung như tạc đa .n, nếu có thể gọi như thế.

Từ Nguyễn Huy Thiệp với bước đầu đi vào thế giới văn chương –đến nhà thơ nữ Xuân Quỳnh, người phụ trách mảng văn xuôi nhà xuất bản Tác Phẩm Mới [tiền thân của Hội Nhà Văn bây giờ], và Nguyễn Duy, Thu Bồn. Rồi Nguyễn Minh Châu, Hà Minh Đức, đến Chế Lan Viên, Tố Hữu, Lưu Quý Kỳ, Bùi Minh Quốc, Vũ Thi . Thường, Nguyễn Đình Thi, cả ông Lê Đức Thọ và Trần Độ..…

Phát biểu về Chế Lan Viên, ông Hiến cho rằng “Nhà thơ lớn nước mình cũng nhà quê, cũng trẻ con cả thôi, cả nước mình nó thế: Nhà quê và trẻ con.”

Hoàng Ngọc Hiến còn cho biết ”Trần Đăng Khoa [người từng nổi tiếng là nhà thơ thần đồng trước kia, đã] tìm mọi cách để hạ uy thế của Nguyễn Huy Thiệp. Đối với Trần Đăng Khoa thì Nguyễn Huy Thiệp là thằng cường hào địa chủ trong văn học cần lật đổ.” Theo ông, cái cách của Trần Đăng Khoa là thế này: “Nguyễn Huy Thiệp là người sắc sảo, trí tuệ ư? Không, sắc sảo trí tuệ cái gì, chỉ có phép nói ngược thôi . Anh nói trắng thì nó nói đen, anh nói phải thì nó nói trái, Thiệp nó chỉ có thế, chứ chẳng có trí tuệ gì…. Họ [Trần Đăng Khoa và những người như ông Khoa] muốn chôn, muốn đóng ván thiên cho Thiệp.” Và ông gọi ông Khoa là nông dân và trẻ con.

Ông cũng nhắc đến tên nhà thơ Hữu Thỉnh [phe bảo thủ, chống đối Nguyễn Huy Thiệp] và Hội Nhà Văn Việt Nam – một tổ chức của Đảng và là “một bộ máy quan liêu, lấn át tính chất nghề nghiệp”, nhưng ngưòi ta vẫn muốn vào Hội vì quyền lợi và được đi nước ngoài . Ông cũng nhắc đến Nguyễn Khoa Điềm, người ở trên đe dưới bu’a, nhắc đến dịch giả Lê Huy Bắc, nhân vật được coi là người giỏi tiếng Anh nhất trường Sư phạm, một trường đại học mẫu mực, trường điểm của nhà nước, tương lai của nền học thuật Việt Nam. Thế nhưng, ông Hoàng Ngọc Hiến cho biết bản dịch của ông Lê Huy Bắc, “một đoạn mười dòng của ông ấy đã có bốn cái contresens, tức dịch ngược hẳn ý của người ta .” Ông cũng nhắc đến Đặng Việt Bích, con trai ông Trường Chinh, muốn làm Viện trưởng trường Đại học Văn Hoá-Nghệ Thuật, nhưng không được vì “quá lười đọc sách, ngu dốt, ích kỷ, nhếch nhác.”

Một câu nói đáng ghi nhận của ông Hoàng Ngọc Hiến: “Theo tôi, dùng tiếng Việt chính xác mới là yêu tiếng Việt, mà cái yếu nhất trong văn học Việt Nam từ 1945 đến nay là không chính xác về từ ngữ. Toàn dùng những từ chung chung, từ khuôn sáo, không chọn được từ chính xác…”
Đó là chuyện văn học do người cầm bút trong nước nhìn từ bên trong. Còn nền văn học hải ngoại qua cái nhìn của người viết và người đọc ngoài nước thì sao ?

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, tác giả hai bộ trường thiên tiểu thuyết đồ sộ Mùa Biển Động và Sông Côn Mùa Lũ, trong bài “Tình trạng lão hoá trong sinh hoạt văn học” [nxb Văn Mới, 2004] cho biết những nhà xuất bản uy tín trước đây [như Văn Nghệ, Thanh Văn, An Tiêm và mới nhất như Văn Mới] ngày càng ngại bỏ tiền xuất bản sách, nhất là loại sáng tác như thơ, tiểu thuyết. Số ấn bản trung bình chỉ lên đến 500, nghĩa là nếu bán hết may lắm lấy lại đủ vốn, cho nên dù sách xuất bản dưới nhãn hiệu nào, đa số trường hợp đều do chính tác giả bỏ tiền túi in lấy sách của mình. “Tình trạng ấy đưa đến một loạt phụ ứng: sách in ra nhiều nhưng chất lượng không bao nhiêu, nhu cầu quảng cáo để bán sách giết chết ngành phê bình, độc giả đứng trước rừng sách nhiều màu không biết nên mua sách nào sau nhiều lần “trao thân lầm tướng cướp” quyết định không mua sách nữa, không có người mua sách thì ngành xuất bản sa sút kéo theo động cơ thúc đẩy việc sáng tác… Cái vòng lẩn quẩn không lối thoát ấy có thể xảy ra cả trong nước, nhưng ở hải ngoại trầm trọng hơn do tình tra .ng lão hoá của sinh hoạt chữ nghĩa .”

Lão hoá theo Nguyễn Mộng Giác là khi người cầm bút chỉ nhằm viết cho những người cùng cảnh ngộ lưu vong như mình đọc, viết như lâu nay họ đã từng viết: “tiếc nuối một thời hoàng kim đã mất, xót xa trăn trở với những khổ ải đã trải qua, lật từng trang album bồi hồi với những kỷ niệm đẹp, mơ ước ngày trở về có khải hoàn môn dựng trên khắp nẻo đường và gặp lại một quê hương y nguyên như thời hoàng kim cũ…”

Có thể nói thêm là Lão hoá không chỉ ở người viết mà còn cả ở người đọc nữa, bởi vì ở hải ngoại số người đọc báo Việt và văn chương Việt ngày như một giảm xuống. Cứ nhìn vào các tạp chí văn chưong như Văn Học, Hợp Lưu hay Văn thì biết.

Đã đến lúc người viết nhận ra rằng tác phẩm của một nhà văn không chỉ nhắm vào một nhóm người, một cộng đồng nhỏ mà là cho cả một dân tộc nếu không có tham vọng có một readership lớn hơn, vượt khỏi biên giới của một quốc gia .

Những câu hỏi rất cũ đặt ra cho người cầm bút như Viết cho ai ? Viết cái gì? Viết như thế nào ? bây giờ vẫn còn có thể đặt lại trong một ý nghĩa mới . Nó không chỉ đúng cho người cầm bút hải ngoại mà theo Nguyễn Mộng Giác, nó còn đúng cả cho người cầm bút trong nước nữa . Ông kể lâu lâu xem một tạp chí hay một tuần báo văn chương trong nước, ông cảm thấy bị xúc phạm khi đọc hồi ký hay truyện ngắn của những cây bút Miền Bắc dùng những “nhân xưng miệt thị như “y”, “hắn”, “chúng”, “bọn nguÿ”, “thằng ngụy” y như trong thời chiến tranh. Rõ ràng là người viết văn ấy viết cho họ đọc với nhau, bất kể những thay đổi trong hơn một phần tư thế kỷ quạ “

Theo nhà nghiên cứu phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc [Chiến tranh, như một thi pháp, Talawas, 27/5/2004] thì trong văn hoá chiến tranh có ba điều đáng kể nhất: “chủ trương phi-nhân hoá kẻ thù, mỹ học về bạo động và đạo đức học về sự phá hoại .” Và trong quá trình phi-nhân hoá kẻ thù người ta tìm cách tước bớt chất ngưòi của kẻ thù bằng một hệ thống đại từ nhân xưng cực hạn chế: “thằng”, “con” và “mụ”…” Những biện pháp phi-nhân hoá kẻ thù như thế làm cho hành động giết người được miễn trừ trách nhiệm đạo đức: giết kẻ thù chỉ là giết một khái niệm, một con thú hay một kẻ chưa thành người vậy thôi .” [bđd].

Đào sâu hơn, Nguyễn Hưng Quốc cho rằng giới văn nghệ sĩ Việt Nam viết về chiến tranh ‘như một cách tái tạo la .i chi’nh mình’. “Những nỗ lực tái tạo ấy thay đổi theo thời gian và theo thời tiết chính trị chung quanh….. Nỗ lực tái diễn dịch và tái cấu trúc quá khứ như thế là hành động phổ quát ở hầu hết mọi người cầm bút. Bởi vậy, đối diện với đề tài chiến tranh, trong đó có chiến tranh Việt Nam, chúng ta không cần, không nên, và thật ra, cũng không thể đặt ra vấn đề chính xác trong việc tái hiện hiện thực.” Và ông kết luận: “Một cuộc chiến tranh có thể mang tính chính nghĩa hay phi nghĩa; nhưng một tác phẩm viết về chiến tranh thì chỉ có vấn đề hay hoặc dở mà thôi .” Và ông thêm, trong thế giới nghệ thuật, cái hay nhất bao giờ cũng được xem là cái đúng nhất. Chiến tranh và Hoà bình của Leo Tolstoi không phải là tác phẩm viết đúng nhất mà là tác phẩm viết hay nhất về cuộc chiến tranh Nga-Pháp. Và khi nó được xem là hay nhất, nó tự động được xem là chuẩn mực, từ đó, không phải chỉ có cuộc chiến tranh Nga-Pháp mà hầu hết các cuộc chiến tranh khác đều ‘bắt chước’ Chiến tranh và Hoà bình.” [bđd].

Cụ thể hơn, Hoàng Ngọc Tuấn trong một bài viết trên Hợp Lưu [số 71, tháng 6&7, 2003] có tựa đề “Văn chương về chiến tranh Việt Nam và nhu cầu sáng tạo bút pháp mới” cho rằng mặc dù “văn chương về chiến tranh Việt Nam cực kỳ phong phú về số lượng, chỉ có một số tác phẩm được xem là những thành tựu nghệ thuật.” Tại sao vậy ? Cũng như cách nhìn trên của Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn cho biết phần lớn tác giả xem nhẹ giá trị sáng tạo nghệ thuật và đề cao “sự trung thực”, họ viết như một người lính hơn là như một nghệ sĩ văn chương, cũng giống như một bức ảnh rõ ràng và chính xác và một bức ảnh nghệ thuật có một khoảng cách rất xa . Trong gần hai thập niên trở lại đây, một số nhà văn đương đại của Hoa Kỳ đã nhận ra rằng không phải chỉ có một sự thật, mà có nhiều sự thật về chiến tranh Việt Nam và về bất cứ sự kiện nào xảy ra trong cuộc chiến ấy, và họ nỗ lực tìm kiếm những bút pháp mới có khả năng diễn tả cái hiện thực đa phương, đa tầng của lịch sử và cái tâm cảm cực kỳ phừc tạp của con người trong cuộc chiến ấỵ” [bđd]

Ông nêu ra cuốn tiểu thuyết Paco’s Story của Larry Heinemann làm ví dụ. Theo ông, Heinemann phù hợp với quan niệm thẩm mỹ hậu hiện đại, theo đó tác giả không chủ tâm đưa ra một phán xét chung cuộc nào cả, và độc giả phải đối diện với vô số khả thể diễn di.ch. Sau này, trong số những nhà viết tiểu thuyết hậu hiện đại về chiến tranh Việt Nam, Tim O’Brien với tiểu thuyết The Things They Carried (1990) là đáng lưu ý nhất. Theo Hoàng Ngọc Tuấn trong khi tuyệt đại đa số các nhà văn chiến tranh trong thời hiện đại nỗ lực chinh phục độc giả bằng những sự kiện và diễn biến “như thật” hoặc “hoàn toàn có thật”, O’Brien lại cố làm cho độc giả hoài nghi liên tục bằng những sự kiện và diễn biến không ngừng tự mâu thuẫn nhau.. Hơn thế nữa, ông còn xen vào câu chuyện để, một cách tỉnh táo, lật tẩy chính lối viết của mình.” [bđd]
Nhiều người trẻ gốc Việt hiện nay tại hải ngoại đã không viết bằng tiếng mẹ đẻ mà viết trực tiếp bằng tiếng Anh hoặc Pháp. Họ không đơn giản chỉ viết cho người ngoại quốc đọc. Họ viết như một nhà văn. Một trong những người trẻ cầm bút đó, nhà văn Nguyễn Quí Đức – hồi đầu tháng Ba, 2005, trước một chuyến đi công tác trong vùng Đông Nam Á cho một đài phát thanh tiếng Mỹ do anh làm chủ biên – nói rằng đối với giới trẻ, văn chương ngày nay không còn biên giới, nó đã ra khỏi cái đường biên quốc gia, tuổi trẻ của anh và những người trẻ hơn anh, nhận ra không còn nữa cuộc đối thoại đông và tây, không còn chuyện bắc và nam, không còn chuyện xung đột tôn giáo . Thế giới đã nhỏ hẹp với khoa học kỹ thuật tối tân ngày một biến ảo không lường. Đinh Linh có thời đến sống ở Ý Đại Lợi, đạo diễn lừng danh Trung quốc Trần Khải Ca đến Việt Nam. Đây là thời đại để người ta đi tới chứ không phải để người ta bước lui . Một phụ nữ Thái lấy chồng Đức và sanh con bên Pháp, hay một người Â’n chào đời ở Anh và đi học ở Mỹ. Vấn đề toàn cầu hoá đang là câu trả lời cho những câu hỏi cục bộ của người cầm bút đương thời .

Trước đây gần tám năm, Salman Rushie cũng từng đề cập đến vấn đề trên cho văn học Â’n Độ, trong một bài viết dành cho hợp tuyển Những tác phẩm văn học Â’n Độ điển hình: 1947-1997 [sau đó bài được Tạp chí Dân tộc Â’n Độ (India’s National Magazine) số ra ngày 9- 22/8/1997 kỷ niệm 50 năm ngày Â’n Độ độc lập, in lại .].

“Tiếng Anh là phương tiện giao tiếp thông dụng nhất thế giới; chẳng lẽ chúng ta lại không vui mừng về sự tinh thông của chúng ta về thứ ngôn ngữ mà uy thế của nó càng ngày càng lớn ma.nh. Việc lên án các nhà văn về những thành công của họ trong việc bứt phá các rào cản ngôn ngữ không khác việc làm của chủ nghĩa địa phương hẹp hòi là bao (chủ nghĩa địa phương có thể là thói tật chính của văn học bản địa .) Vai trò quan trọng của văn học được thể hiện ở chỗ, nó là phương tiện có thể tạo ra những cuộc đối thoại giữa các quốc gia trên thế giới…… Văn học sẽ có ít, hoặc chẳng có gì để nghiên cứu với những cái tên chỉ được biết đến trong nước của tác giả.” [Phạm Phương Chi dịch, http://evan.com.vn, 10/3/2005]. Cái nhìn của Salman Rushdie đối với văn học Â’n không khác mấy cái nhìn của Nguyễn Quí Đức đối với sự bế tắc của văn học Việt Nam.
Sau cái tạm gọi là sự “nhếch nhác” của văn học trong nước và cái “lão ho’a” của văn học hải ngoại, liệu văn học Việt Nam bao giờ mới có tác phẩm ngang tầm thời đại .

Phải chăng, để ra khỏi cái ngõ cụt ấy là một nền văn học Việt Nam viết bằng tiếng Anh, Pháp của người viết trẻ ở hải ngoại và sự tiếp thu nguồn văn hoá thế giới một cách chủ động của người viết trẻ trong nước?

Tháng Ba, 2005

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

 

Chuyện một cái tủ sách

1.

Trong nhà tôi ở Sài gòn hồi đó có một kệ sách nhỏ đặt trên gác lững. Kệ sách là những thanh gỗ dài, bào láng, đặt trên những viên gạch đỏ xếp cao theo chiều đứng của sách. Sách mỗi ngày một nhiều, kệ sách cứ chồng thêm các thanh gỗ cao lên mãi, lên gần tới trần nhà. Đến lúc không đủ sức chứa, tôi bắt đầu cho sách vào thùng giấy, rồi cứ thế đánh số thùng theo thứ tự, thùng này chồng lên thùng kia .

Nhà nhỏ, sách lấn qua chỗ nằm, tôi đành phải nghĩ đến chuyện vất bớt những cuốn không cần đọc nữa . Vất nhưng tiếc, vì tuy không cần lúc này, nhưng biết đâu về sau có lúc cần tìm một đoạn, một câu . Một câu trích mà không có sách dẫn thì sao ? Sách mang ra thùng rác rồi lại mang vô.

Làm cách nào để giữ được những cuốn sách mà lúc này chưa cần đến?. Tôi hỏi Trần Phong Giao, lúc đó là thư ký toà soạn tờ Văn, cách giải quyết những cuốn sách của tôi . Anh hỏi lại tôi: “Cậu làm sao thế? Có chuyện gì vậy ?” Chẳng có chuyện gì hết. Tôi nói với Trần Phong Giao là tôi cần thanh toán mọi thứ trước nhất là sách vở.

2.

Trần Phong Giao là một người to lớn, có vẻ một công tư chức, một nhà thầu hơn là một người làm công việc sách báo chữ nghĩa .

Những người mới gặp anh lần đầu rất khó chịu vì cái vẻ hơi “kênh kiệu” của anh. Anh lạnh với người lạ trong giao tế, nhưng quen anh lâu mới thấy anh là người rất tử tế. Tôi không biết những thư ký toà soạn khác thế nào, chứ với Trần Phong Giao tôi có thể nói anh là một thư ký toà soạn đặc sắc. Hơi bảo thủ, và khắt khe, có vẻ như anh chỉ tin vào những tài năng đã được xác nhận, nhưng không phải vì thế mà anh không dám mở tay đón nhận những người viết mới .

Cách đây vài năm, một tình cờ may mắn tôi được nhà bình luận thời cuộc-kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa gửi tặng mấy số báo Văn cũ trước năm 1975, trong đó có số 164, ra ngày 15 tháng Mười, 1970, “Đi Giữa Mưa Thu” / Tuyển tập những cây bút trẻ.

Như tên gọi của nó, đây là một số báo dành riêng cho những người mới đến với Văn. Mới từ người vẽ tranh bìa: hoạ sĩ Hồ Đắc Ngọc. Và tất nhiên cái mới chính là từ những người làm thơ viết văn: Lê Văn Thiện, Đặng Tấn Tới, Kinh Dương Vương, Nguyễn Đường-Thai, Nguyễn Lệ-Uyên, Hoàng Ngọc Châu, Hồ Minh Dũng, Lộc-Vũ, Mường-Mán, Hoài Tuyết Trang, Phạm Ngọc Lư, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Văn Ngọc, Lê Miên Tường, Phạm Thanh Chương.

Tôi không biết trong số những người viết trên số báo này [cách đây đã 35 năm] ai còn ai mất, ai vẫn cầm bút và ai đã thay tên đổi nghề, nhưng tôi biết ít ra chúng ta vẫn còn Kinh Dương Vương [của truyện ngắn, ký Dung Nham khi làm thơ, và Rừng khi vẽ], vẫn thở khói còn Mường Mán viết truyện trong nước, vẫn còn Hồ Minh Dũng sáng tác mạnh mẽ ngoài nước. Trong thư toà soạn Trần Phong Giao thông báo sẽ còn thực hiện thêm nhiều số báo với người viết mới khác. Tôi không nhớ sau số này anh đã làm thêm được bao nhiêu số giới thiệu người viết mới, nhưng trong mục hộp thư tôi đọc được có nhiều người hiện có tên tuổi trong làng văn trong nước. Như Khuê Việt Trường là một. Tờ Văn thời Trần Phong Giao thực sự làm sống dậy một đam mê chữ nghĩa của nhiều người viết trẻ.

Trong thời gian làm tờ Văn, Trần Phong Giao thực hiện nhiều số đặc biệt không những về các nhà văn nhà thơ tiền chiến hay đưong đại mà còn giới thiệu nhiều khuôn mặt văn học thế giớị

Không mở đường và khai phá như Sáng Tạo, không bắt mắt với lối trình bày nghệ thuật và trẻ trung như Khởi Hành, Thời Tập, nhưng Văn có được một chỗ đứng đáng tin cậy nhờ thư ký toà soạn Trần Phong Giao .

3.

Trần Phong Giao là người khéo hỏi bài người viết và đối xử khéo sau khi đăng bài . Trong ngăn kéo anh bao giờ cũng có sẵn nhiều bài cho vài số báo . Anh đặt bài cho những số chuyên đề từ cả sáu tháng đến một năm trước. Có thể nói, tạp chí Văn thời Trần Phong Giao là một tạp chí văn chương hơi cổ điển và đặc biệt …. ít lỗi chính tả nhất, bởi vì trước hết anh là người cẩn trọng, chăm sóc từng chữ, từng câu, từng trang bài, và sau nữa vì anh còn có một người phụ tá cần mẫn tỉ mỉ, giỏi chính tả ngữ vựng: Đàm Gia Tuấn.

Đưa bài cho Trần Phong Giao, người viết có thể yên tâm nhiều mặt: bài không bị sai lỗi chính tả và, tiền nhuận bút có ngay sau khi báo rậ .

Tôi nhớ anh đi chiếc mobylette cũ, một chiếc xe xấu xí, nhả khói tợn và máy kêu hơi to, chân đi dép thường hơn đi giày, áo sơ mi ngắn tay bỏ ra ngoàị Trần Phong Giao ít cười và hơi nghiêm.

Tuy vậy cần ghi nhận, thời làm tờ Văn anh cũng bị nhiều trận đụng nặng. Ở quán Cái Chùa, bọn tôi: Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Nhật Duật, Đặng Phùng Quân, đôi khi vẫn đề cập đến anh như một “đề tài”. Có một ông thư ký toà soạn như Trần Phong Giao, “bố già” chủ nhiệm Nguyễn Đình Vượng yên tâm lắm.

Nhưng, năm 1972, không hiểu vì lý do gì đã làm cho hai ông chủ nhiệm và ông thư ký toà soạn “cơm không lành, canh không ngọt” nữa . Trần Phong Giao phủi áo ra đi . Anh đứng ra làm một tạp chí khác, tờ Chính Văn với nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Nhà thơ Viên Linh nói “anh em lúc đó rất tiếc, phải chi Trần Phong Giao làm một tờ giống như tờ Văn có lẽ anh thành công ngay .” Tờ Chính Văn chỉ sống đến số thứ hai thì chia tay .

Đó là thời gian ông Nguyễn Đình Vượng kéo tôi về với tờ Văn. Ông là người lo cho tôi nhiều thứ khó khăn trong đời sống mà tôi đang vấp phải . Tôi gọi ông Nguyễn Đình Vượng là “bố gìa” vì quả thật không ai bỏ thì giờ nhiều cho tôi như ông, mặc dù sức khoẻ ông trong thời gian này đã không còn như xưa . Tôi là ngưòi chịu ơn ông rất nhiều . Hồi đó tôi la cà ở quán cà phê nhiều hơn ở lớp học, tôi ngồi ở Chợ Đủi nhiều hơn nằm nhà. Ông Vượng đã đem tôi trở lại đời sống bình thường.

Tôi nhớ một buổi sáng Chủ Nhật, Trần Phong Giao đến nhà tôi, hỏi có đi cà phê không? Đối với tôi đây là một điều lạ. Trần Phong Giao ít khi cà phê, anh chỉ thích rượu và là người biết thưởng thức rượu ngon mặc dù anh không phải là tay nhậu . Anh cũng không có tật lê la đầu đường xó chợ như tôi . Tôi trả lời ừ đi thì đi . Anh đứng giữa nhà nhìn quanh. “nhà tôi đã chật mà nhà cậu coi bộ còn chật hơn. Sách báo đâu hết rồỉ” Tôi chỉ tay lên gác lững. “Trên đó! Không còn chỗ nằm nữa .” “Cái phòng khách này ban đêm dựng chiếc lambretta của cậu vẫn còn có thể để một tủ sách nhỏ đấy .” Trần Phong Giao chỉ nói khơi khơi . Chúng tôi ra quán Cái Chùa . Tôi gọi cà phê, nhưng anh chỉ uống một hớp và xin lỗi có chuyện phải đi .

Chiều tối khi tôi về tới nhà thấy có gì lạ. Chiếc lambretta của tôi không còn chỗ đậu . Tôi thấy một tủ sách bằng gỗ đánh vẹc ni bóng có cửa kính kê sát vách phòng khách. Trong tủ chỉ có một cuốn sách, bản dịch bài diễn văn nhận giải Nobel văn chưong của Albert Camus. Người dịch tôi có biết chính là Trần Phong Giao .

Sau đó tôi dọn nhà hai lần, nhiều thứ mang theo, nhưng nhiều thứ phải bỏ lại . Tuy vậy, bao giờ tôi cũng chở theo tủ sách Trần Phong Giao cho . Căn nhà sau cùng ở Khu Mã Lạng – căn nhà mà “bố già” Nguyễn Đình Vượng cho tôi khi tôi về thay thế vai thư ký toà soạn Văn của Trần Phong Giao – sách đã chất đầy tủ. Những cuốn sách trong tủ này đôi khi thay đổi do những cuốn mới đem về đang cần đọc và những cuốn cũ lấy ra tặng cho các bạn khác cần hơn tôi, nhưng cuốn Sứ Mệnh Văn Nghệ in bài diễn từ Nobel của Albert Camus do Trần Phong Giao dịch, không bao giờ thay đổi vị trí.

Thời gian này tôi rất ít khi gặp anh.

“Bố già” Nguyễn Đình Vượng lúc đó ốm nặng. Báo Văn từ bán nguyệt san chuyển qua Giai Phẩm. Tôi bận rộn với chuyện nhà trường nhiều hơn trước, nhất là sau khi “Bố Già” chia tay . Tôi không nhớ rõ, nhưng số báo Tưởng Mộ Nguyễn Đình Vượng [chữ tưởng mộ là chữ của Mai Thảo] Mai Thảo và tôi chia nhau viết bài và mời người viết, sau đó tôi trở về dành toàn thời gian cho nhà trường.

Tủ sách Trần Phong Giao vẫn nhìn thấy tôi mỗi ngàỵ Cho tới ngày 30 tháng Tư, 1975.

Những cuốn sách trong tủ và trong nhà tôi bị một trận “hồng thủy” cuốn trôi hết, bất kể đó là tự điển hay sách triết học, loại biên khảo hay lý luận nghiên cứu phê bình văn học . Cứ sách là tịch thu tuốt luốt cho chắc ăn. Sách được những người trẻ tuổi đưa xe ba gác đến chở như chở xác chết của những tội đồ. Cái tình cảm vất tay này nhưng tay kia lấy lại ngày xưa không còn nữa . Căn nhà nhỏ của tôi đột nhiên trống trải gọn gàng một cách dễ sợ

Cuốn Sứ Mệnh Văn Nghệ của Albert Camus, bản dịch của Trần Phong Giao cũng không còn – đương nhiên – và đầu óc tôi cũng trống rỗng như cái tủ sách trống trơn kia .

Thế rồi những năm tháng sau, chợ trời sách cũ dần dần xuất hiện rải rác nhiều nơi ở Sài Gòn. Tôi nhớ một hôm đi trên con đường Bùi Quang Chiêu, xem sách, bất ngờ tìm thấy một vài cuốn có chữ ký của mình. Có cuốn có chữ ký của Huỳnh Phan Anh và những bạn khác của Sài Gòn.

Tôi bắt đầu tha ở chợ trời về gần như đầy đủ những cuốn trước đây của tôi . Có điều là tôi vẫn không tìm thấy cuốn sách dịch bài diễn văn của Albert Camus.

Cách đây mấy năm thôi, Nguyễn Thụy Long nhờ Nguyễn Đạt mang tặng tôi mấy cuốn sách mà tôi là tác giả in ở Sài Gòn trước 75. Long nói anh đã tìm thấy nó ở chợ trời . Cuốn sách của mình viết ra sau một thời gian gió bụi bỗng một hôm trở lại tay mình ở một nơi rất xa quê hương. Mấy cuốn sách bị nhầu nát, bìa rách, giấy đen… Thời gian tưởng đã mất rốt cuộc hình như cũng tìm lại được.

Mười năm ở lại trong nước tôi chưa một lần gặp lại Trần Phong Giâ . Và mặc dù hai mươi năm xa quê tôi có đôi lần gửi quà cho anh nhưng chỉ là những món quà không đáng kể. Tôi nghĩ có lẽ nhà văn Trùng Dương là người giúp đỡ Trần Phong Giao nhiều hơn ai hết. Tôi nhớ lại thời gian làm báo Người Việt ở Nam Cali dù lương thấp không đủ nuôi sống gia đình, tháng nào tôi cũng gửi cho những thuyền nhân ở trại tị nạn Bataan Phi Luật Tân năm ba chục mỹ kim. Những người thiếu may mắn, đến đảo trước tôi cả mấy năm mà vẫn chưa thấy tên trên list định cư. Tôi thấy mình làm như thế là đúng thôi, nhưng bây giờ nghĩ lại thấy mình có phần tệ bạc với anh. Anh xứng đáng để được mình nghĩ đến nhiều hơn những người khác.

Cho đến một buổi sáng dậy sớm mở mail thấy thư Đặng Tiến. Một dòng chữ ngắn trên cái email gửi chung cho các bạn quen. Trần Phong Giao đã ra đi . Rất ít chi tiết về Trần Phong Giao . Tôi nhờ Trần Thị NgH. – tác giả Nhà Có Cửa Khoá Trái – ở Sài gòn cho một bài về anh. Chị viết một hồi ức về lần đầu đưa sáng tác của mình cho Trần Phong Giao . Một tiếp xúc khó chịu của ông thư ký toà soạn với một người viết mới là một ấn tượng còn ở lại hơi lâu với Trần thị NgH.

4.

Ở Mỹ chuyện mua một tủ sách gỗ có đánh vẹc ni có vân đâu phải là chuyện khó. Tìm cho nó một chỗ để trong phòng khách hay phòng làm việc, thậm chí trong phòng ngủ cũng là chuyện dễ như trở bàn tay . Tôi đã có nhiều kệ sách như thế, nhưng cái kiểu tủ sách Trần Phong Giao tôi không tìm ra .

Trong ga ra nhà tôi thuê ở thành phố Milpitas giờ đây đã chật ních sách báo . Mấy năm nay tôi đã dọn dẹp cho vào thùng giấy – loại thùng có thể mua ở các tiệm Staples hay Office Max, Office Depot – và đã chật đầy ga ra . Nhưng tôi không hiểu mình tha về từ đâu mà nhiều sách thế. Ga ra không còn chỗ chứa, sách đưa vào phòng khách, đưa vào phòng ngủ, rồi lại đặt lên kệ là những thanh gỗ bào láng theo kiểu Sài Gòn. Rồi bắt đầu phân loại chở sách đến tặng cho thư viện, tặng cho trung tâm người cao niên Việt Nam, tặng bạn bè, chỗ này một ít chỗ kia một ít. Nhưng đâu cũng vào đó, chưa đầy sáu tháng sau, sách lại dồn lên chật chội khắp các phòng.

Mấy dòng chữ trong email của Đặng Tiến làm tôi nhớ lại cái tủ sách mà Trần Phong Giao lặng lẽ chở đến nhà tôi một buổi sáng năm xưa ở Sài Gòn.

Suốt mấy năm nay, tôi vẫn còn một lấn cấn chưa giải quyết xong: Làm cách nào cho hết những thùng sách trong nhà tôi . Tôi trở lại cái cảm giác bỏ sách ngày xưa, như hồi còn ở Sài Gòn: bỏ thì thương mà vương thì tội . Tay này vừa vất sách tay kia đã kịp giữ lại .

Xin tạm biệt Trần Phong Giao . Xin cám ơn người đã xây dựng cho tờ Văn có một chỗ đứng cho đến ngày hôm nay . Nơi mà tôi sẽ đến cũng là nơi mà anh vừa đến con đường ấy với tôi không còn xa lắm đâu . Hẹn gặp!

——————————————-

TRẦN PHONG GIAO
1932-2005

Tên thật Trần Đình Tĩnh
Sanh năm 1932,
Mất tại Sài Gòn ngày 13 tháng Tư, 2005.
Thọ 73 tuổi.
Trước 1964, làm Tin Sách của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam.
1964, tổng thư ký tạp chí Văn.
1972, rời Văn, làm tờ Chính Văn với Nguyễn Mạnh Côn.
Đầu năm 1975, giữ mục Giải Đáp Thắc Mắc Văn Học tờ Thời Tập của Viên Linh..
Ông là dịch giả các cuốn:
Guồng Máy [L’Engrenage] của Jean-Paul Sartre Sứ Mệnh Văn Nghệ, diễn từ Nobel Văn chương của Albert Camus,
Sự Đã Rồi [Les Jeux Sont Faits] Jean-Paul Sartre [dịch chung với Nguyễn Xuân Hoàng.
Tác giả: Ngồi lại bên cầu
Nửa đêm thức giấc.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

 

TRÒ CHUYỆN VỚI TÁC GIẢ

Daughters of the River Huong

Dương Như Nguyện

Có lẽ người đọc Việt hải ngoại không xa lạ gì với tác giả Dương Như Nguyện qua những truyện ngắn của cô trên các tạp chí văn học tại Hoa Kỳ những năm 90. Năm 1999 nhà xuất bản Văn Nghệ [California] ấn hành cuốn Mùi Hương Quế của cô, và năm nay, 2005, Dương Như Nguyện cùng lúc vừa cho phát hành cuốn Chín Chữ Của Nàng [nxb Văn Mới, California], đồng thời với cuốn Daughters of the River Huong -a Vietnamese royal concubine and her descendants, Uyen Nicole Duong (Dương Như Nguyện). Bià do Tom Suzuki trình bày, RavensYard xuấtbản, sách dày 271 pages, SRP $17.95. Địa chỉ: RavensYard Publishing, Ltd. P.O. Box 176, Oakton, VA 22123 USA, www.ravensyard.com

clip_image008

Lâu lắm, dễ chừng 15 năm nay, tôi không gặp Dương Như Nguyện. Tôi nhớ khoảng năm 89, 90 gì đó tạp chí Văn Học của Nguyễn Mộng Giác đăng truyện Những Cỗ Quan Tài của Tịnh Tâm của một tác giả lần đầu tiên mà tôi được đọc: Dương Như Nguyện, và lập tức truyện của cô gây trong tôi một xúc động mạnh. Sao có thể có người viết nồng nàn đến thế. Không khí trong truyện tưởng là thư thả mà dồn dập, lạnh lùng mà nóng bỏng, và đẩy người đọc phải chạy theo tác giả mệt nghỉ. Như trong âm nhạc, có những dấu lặng, bỗng nhiên người đọc không thấy truyện của cô xuất hiện trên các tạp chí văn học Việt ngữ nữa. Cho đến năm 1999, người ta bỗng thấy trên kệ các nhà sách cuốn Mùi Hương Quế của cô. Dương Như Nguyện đã trở lại. Và sau đó là một khoảng lặng nữa. Sáu năm sau, 2005, các nhà xuất bản đồng lúc in hai tác phẩm của cô: Chín Chữ Của Nàng [Văn Mới] và Daugters of the River Huong [DORH] [RavensYard]. Đó chưa kể cũng trong năm nay cô sẽ cho in tiếp liền Con Gái của Sông Hương bản dịch Việt ngữ của Linh Chấn Brown.

Dương Như Nguyện cho biết cuốn DORH là một tiểu thuyết viết ở ngôi thứ nhất theo thể “ memoir” (hồi ký). Và cô nhấn mạnh, “ vì đây là tiểu thuyết- hồi ký có nghĩa là hồi ký của nhân vật, chứ không phải hồi ký của tôi.” Cô không muốn người đọc ngộ nhận giữa tác giả và nhân vật.

Ơ bià lưng cuốn sách, dưới dòng tít: Love & War /Tình Yêu & Chiến Tranh, người ta đọc được câu : “Truyện tình giữa André và Simone Mỵ Uyên tượng trưng cho cái chết của đặc tính lãng mạn của nền văn hoá Pháp ở thuộc địa, cộng thêm sự mở cửa của một nước Việt Nam bị tàn phá vì chiến tranh, phải đón trào lưu canh tân mang tính cách lệ thuộc của kinh tế toàn cầu. Bức tranh ấn tượng này sẽ nhắc nhở độc giả tới những chuyện có tầm vóc bao quát của Gone with the Wind và The Thorn Birds (Cuốn Theo Chiều gió và Tiếng Chim Hót trong bụi Mận Gai), đượm thêm nhân bản tính và tình yêu sâu xa giữa mẹ và con của The Joy Luck Club.”

Cô nói “Câu này không phải là quan điểm của tôi. Việc so sánh tác phẩm của tôi với Gone with the Wind, Thorn Birds, hay Joy Luck Club là ý nghĩ của nhà xuất bản, để giải thích lý do tại sao họ muốn đầu tư vào tiểu thuyết của tôi sau khi đã đọc bản thảo.”

Cô cho biết cô có thói quen là trong tiến trình sáng tạo, không bao giờ viết để cho giống hay theo một khuôn mẫu của bất kỳ tác phẩm nổi tiếng nào. Viết là viết theo sự thôi thúc sáng tạo (artistic vision) của chính mình mà thôi. Bằng chứng là trước khi RavensYard đến với cô, bà Sandra Kjistra, đại diện cho Amy Tan và Stephen King, đã hối thúc cô viết lại tác phẩm này cho giống cuốn Memoir of a Geisha của Arthur Golden, thì bà ta mới nghĩ đến việc đem tác phẩm của cô đến với các nhà xuất bản danh tiếng của Hoa Kỳ. Thế nhưng Dương Như Nguyện đã bác bỏ đề nghị đó, cũng chỉ vì không muốn đi theo một khuôn mẫu khi viết về nguồn cội của mình.

Hỏi tại sao cô chọn River Huong mà không chọn Perfume River như một cách đẩy sách đến người đọc dòng chính, Dương Như Nguyện cho biết lúc đầu nhà xuất bản RavensYard đề nghị đặt tên cho tác phẩm là“Những Cánh Hồng Đen”, dựa trên mối tình trái cấm của nhân vật chính, một thiếu nữ chỉ mới 14, 15 tuổi, nhưng cô không bằng lòng, và cuối cùng quyết định để tác phẩm mang tên của dòng sông Hương.

Cô cho rằng Perfume River là danh xưng do người ngoại quốc dịch tên của dòng Hương giang xứ Huế.

Theo cô, “Người Huế không ai gọi dòng sông lịch sử của quê hương mình là “dòng nước Hoa” cả. “Perfume” hay “parfum” là một kỹ nghệ buôn bán, một hình thức mỹ phẩm phù du bên ngoài, làm đẹp cho phụ nữ theo kiểu quyến rũ người khác phái, hoàn toàn có tính cách vật chất hời hợt, không phải là phẩm lượng bên trong. “Nước hoa” sẽ phai đi. “Mùi hương” trái lại có thể toả từ tiền kiếp, liên đới kiếp này sang kiếp khác, không gian này qua không gian khác, đi từ quá khư, ù hiện tại, và có thể chuyên chở vào tương lai, từ vô thức, tiềm thức, tới ý thức. Với mùi hương thật sự (authentic) như trong câu: “Hữu xạ tự nhiên hương” thì “hương” có thể trở thành bất diệt trong trí tưởng và tâm thức của người thưởng ngoạn.

“Hương còn là tiếng thơm, có thể toả ra từ đáy hồn là một luyến nhớ vào rừng kỷ niệm. Tiếng tăm (cái gì lưu lại) là sợi dây liên đới giữa sựphán đoán của lịch sử (external) với đạo đức cá nhân (intrinsic). Đạo đức ở đây có nghĩa là “universal truths” công cuộc đi tìm sự thực của người cầm bút, chứ không phải là kỷ cương của tôn giáo hay xã hội.

Chữ “hương” do đó mang ý nghĩa tâm linh nhiều hơn vật chất, phải dịch là “fragrance” trong trí tưởng, hoặc “good name” như trong “tiếng thơm muôn thuở”. “Hương” là một “motif” liên tục trong sáng tạo của tôi. Thí dụ Mùi Hương Quế. “Đó là tập truyện độc nhất tôi đem đến cho cộng đồng mình trong mười năm qua, hoàn toàn không có việc ra mắt sách, không có lời giới thiệu của ai, cũng không có bài phê bình nào, ngoại trừ bài của ông Đoàn Nhã Văn, một người tôi không hề biết, hình như cảm nhận được tâm thức của chữ “Hương” trong Mùi Hương Quế. Tôi chỉ mới đọc bài này ngày dạo gần đây.”

Dương Như Nguyện nói cô chủ trương đem bản chất văn hoá thực thụ của nguồn cội đến cho dòng chính, chứ cô không cần thiết phải bắt nhịp cầu cho dòng chính đến với nguồn cội của mình một cách dễ dànghơn. “Tôi chẳng cần phải dịch chữ ‘Hương’ như người Âu Tây đã dịch tên dòng sông quê ngoại! Nếu tôi gọi nó là ‘sông Hương’ thì độc giả của dòng chính cũng phải chịu khó viết và đọc chữ ‘Hương’ như tôi vậy thôi. Nếu tác phẩm gây được ảnh hưởng trong dòng chính, thì dòng chính sẽ biết đến tên ‘Hương’ (tiếng Việt) của dòng sông.”

Theo tác giả, đã đến lúc người nghệ sĩ sáng tạo phải viết lại hình ảnh sông Hương ngay trong lòng dân tộc, chứ đừng nói chi đến ngoài dân tộc. “Từ một lúc nào đó, sông Hương bị mang theo hình ảnh các cô gái‘ngủ đò’, nói về việc bán thân nuôi miệng của người phụ nữ. Đây là lý do khiến cô rất thận trọng trong việc chọn tên cho bản dịch. ‘Con Gái của Sông Hương’ để nói lên ý nghĩa liên hệ máu huyết, nguồn cội. Nếu sông Hương đã bị đồng hoá với việc ‘bán phấn buôn hương’ thì gọi nó là mỹ phẩm ‘parfum’ chỉ làm cho hình ảnh đó thêm độc địa mà thôi. Từ trước đến nay, người Việt mình cứ điềm nhiên mà chấp nhận những gì đã xảy ra, bình thường hoá ngay cả sự ẩu tả hoặc tiêu cực trong vấn đề ngôn từ và biểu tượng có liên quan đến dân tộc tính.” Cô giải thích.

Theo cô, “nói như vậy không có nghĩa là cô khinh bỉ những phụ nữ ‘ngủ đò’ theo ý nghĩa bình dân này. Tình tự dân tộc mà Nguyễn Du mang đến cho chúng ta bao thế kỷ nay là tiếng lòng của một kỹ nữ. Một kỹ nữ đã được bậc thức giả, đại nho tôn xưng là biểu tượng của chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Và cô kêu gọi: Xin nam giới và phụ nữ chấm dứt vấn đề coi sông Hương là chốn “ngủ đò” theo ý nghĩa tiêu cực này. Rồi truyền tụng lẫn nhau một cách vô ý thức, trong một thời điểm mà du khách ngoại quốc đã và đang đổ xô vào Việt Nam, thời điểm mà phụ nữ Việt Nam cất tiếng kêu thương trên toàn thế giới.

Dương Như Nguyện nhắc, hãy nhớ đến cái chết của Trần Cao Vân và Thái Phiên trong ngục tối, trong những ngày dầu sôi lửa bỏng bên thềm của phong trào lật đổ thực dân (decolonization) đầu thế kỷ 20. Cậu bé trai 16 tuổi trên ngai vàng vô nghĩa, đã đi theo tiếng hò trên sông, lời kêu gọi của hai nhà nho trong ngày tàn của quân chủ và thể chế Khổng Mạnh. Vang vang trong tiếng hò lịch sử ấy là lòng thương xót cảnh khổ của người dân đen thấp cổ bé miệng, và trách nhiệm của người lãnhđạo. Đó không phải là luân lý giáo điều của Khổng Mạnh, mà là căn bản của đạo đức dân tộc. Trước bến Vân Lâu…Nghe câu Mái Đẩy chạnh lòng nước non! Đây mới đúng là chỗ đứng lịch sử của sông Hương.

Cô kết luận: “Why do we have to repeat the linguistic convention attached to our roots by outsiders? Just because someone from the West has called the river ‘Perfume’, do we, descendants of this river, must adhere to such terminology (thuật ngữ)? Make the West call it what we call it, Huong, in the native language. Isn’t that the by-product of the work of a Vietnamese American artist who injects her roots into the host country by simply pursuing her art? Đây chỉ là một thí dụ nhỏ để nói lên chiều hướng khai phóng.

As far as I am concerned, the superficial ‘Perfume’ connotation is out of my Song Huong. Out, for good! (Cô nói cô không biết phải dịch ý này ra tiếng Việt như thế nào, xin chấp nhận việc cô chêm những câu tiếng Anh để kết thúc câu trả lời).”

Thế hiện nay cô đang đọc tác giả nào, Dương Như Nguyện cho biết cô mới vừa đọc lại một số những tác phẩm bất hủ của văn học Nga, the classics, từ Tolstoy cho đến Dostoyevsky, ngay cả Solzhensitsyn của thời cận đại. “Dĩ nhiên là khi quay về classique,” cô nói, “tôi đọc lại luôn Boris Pasternak và Franz Kafka. (Nhân tiện tôi đọc lại cả Henrik Ibsen của Na Uy (the Master Builder) để suy gẫm, George Bernard Shaw (để nhận thức thêm một lần nữa rằng Shaw đã đi trước quá xa thời đại của ông sống khi ông viết về phụ nữ), và cả Theodore Dreiser (để nhắc lại cho mình nhớ thế nào là một cuốn tiểu thuyết Hoa Kỳ, the cliche — the American novel, thật sự đúng nghĩa là tiểu thuyết với tất cả tâm lý nhân vật, cường độ, và cao độ của nghệ thuật tiểu thuyết!)”

Cô cũng đọc lại các nhà văn Nga và Đông Âu trong giai doan này vì cô cho rằng cô mường tượng thấy hình như các tác giả này được truyền tụng trong giới trí thức thuộc “thế hệ của ông”. Cô muốn tìm hiểu về cách nhìn và nếp sống tâm linh của thế hệ này. Lý do? “Tôi muốn tạo dựng một nhân vật chính (protagonist) là một người đàn ông Việt Nam cùng thế hệ với ông, sống trong lòng nước Mỹ, cho bản thảo sắp tới, bản thảo mà tôi chưa bắt đầu.”

Dương Như Nguyện nói cô rất trọng classiques, vì classiques đã được minh chứng bởi thời gian. Tuy nhiên, khi đọc lại classiques, cô thấy rõ những gì đã lỗi thời về bút pháp bên cạnh tính chất vĩ đại trường cửu của classiques. “Tôi cố tình không chú ý đến những tác phẩm hiện đại đang bán chạy hay đang nổi tiếng, được giải này giải nọ, vân vân, để tránh khỏi bị ảnh hưởng hay chi phối bởi thị trường hay chính trị.”

Theo cô, việc đọc các tác phẩm nổi tiếng, đọc càng nhiều càng tốt. là đường lối giảng dạy viết văn của Âu tây. Đến một lúc nào đó, người sáng tác ngưng đọc hoàn toàn, và không còn bị ảnh hưởng, tìm tòi cái gì nữa hết. Chỉ đọc những gì cần cho việc sáng tác mà thôi. “Tôi đã đi vào giai đoạn này kể từ năm 1998, sau khi làm xong một hình thức ‘fellowshi’ về tương quan giữa luật học và văn chương ở Harvard.”

Hiện tại, cô chỉ đọc những cuốn sách không nổi tiếng, mà cô lạicho rằng rất hay. “Đọc để thưởng thức, và đọc để tìm thấy chính mình.” Cô nói, “trong đó có cuốn The Sevigne Letters viết bởi một nhà văn trí thức không nổi tiếng: William Eisner, xuất bản bởi một nhà xuất bản boutique, chuyên về tiểu thuyết văn chương, hình như lúcnày không còn hoạt động thường trực nữa. Đây là tác phẩm hay nhất mà tôi đã đọc trong suốt một thời gian dài rất bứt rứt không tìm thấy đâu là tác phẩm ưng ý.”

“Nếu một ngày nào đó, có một nhà văn rất trí thức sẽ đọc Sông Hương hoặc những tác phẩm khác của tôi, như tôi đã đọc The Sevigne Letters, thì tôi cho đó là mình đã thành công, dù là thành công trong bóng tối.”

Về câu hỏi: Cô có chịu ảnh hưởng bút pháp của tác gỉa nào không?, Dương Như Nguyện nói:

“Bút pháp Hoa Kỳ? Thưa không. Hoàn toàn không. Tôi còn chủ trương sẽ đem metaphor, simile (bút pháp ẩn dụ) của tiếng Việt vào văn chương Mỹ. Tôi đã từng bị một, hai ‘readers’ phê bình (đây là những readers tốt nghiệp khóa văn chương) cho là văn của tôi ‘unAmerican’ vì các metaphor lạ hoắc! Một vài người khác (thường thường là trong ngành báo chí) thì hết lòng bênh vực tôi, nói rằng tiếng Anh của tôi nổi bật lên một giọng nói (the voice) rất đặc biệt và authentic. Mainstream nghĩ thế nào? Khi chọn con đường đặt tác phẩm vào tay Ravensyard (vì họ yêu cầu) và không đi qua các trung gian vănchương ở Nữu Ước, tôi chẳng nghĩ đến việc sẽ có tên tác phẩm mình trên mục book review của tờ New York Times. Điều đó thật tình không quan trọng đối với tôi. Tôi càng lớn tuổi càng lý tưởng và lãng mạn: nếu Hương quả thật là Hương, thì không cần New York Times cũng tạo ra Hương; Hương tỏa trong bóng tối thì mới là hương đặc biệt. Hương đem bán thành perfume ở Gallerie LaFayette là hương mại bản.”

Còn bút pháp của tác giả Việt Nam trong các sáng tác tiếng Việt của cô thì sao? “Hoàn toàn không.” Cô tiếp, “tôi viết song ngữ; viết thẳng bằng tiếng Việt; tuy nhiên bây giờ thì ngưng hẳn và chú trọng hoàn toàn vào tiếng Anh.”

“Không bị ảnh hưởng,” cô thêm, “không có nghĩa là tôi không yêu thích một số tác giả nào đó.”

Cô cho biết cô thích Nabokov, vì ông là người độc nhất trong văn chương Tây Phương viết nhiều thứ tiếng cùng một lúc cũng như tiếngmẹ đẻ: Anh, Pháp, Nga. Ông thật sự là một nhà văn song ngữ, một nhà văn lưu vong với rất nhiều khuôn mặt.

Cô nói, khi viết tiếng Anh, cô không thể theo nổi ngòi bút trác tuyệt của Nabokov. “Không dám có tham vọng đó. Viết chỉ để mà viết. Tôi rất ghét những người viết với tham vọng – some sort of a ‘hidden agenda’ như cái thang để leo trèo. Tôi chỉ có thể là tôi. Never any hidden agenda in what I write. The heart is the heart, pen is pen, and art is art.”

Theo Dương Như Nguyện, trong thế giới văn chương tiếng Việt, không ai viết tiếng Việt theo kiểu “lanh chao” [chanh chua và linh động] xứ Huế, thâm thúy và trung thực về tâm lý và sự chua xót nhọc nhằn của phái nữ trong đời sống trung lưu ở miền Nam Việt Nam hay hơn nhà văn Túy Hồng. “Cho đến hôm nay, chưa ai viết một truyện ngắn nào làm tôi nhớ mãi cho bằng một truyện ngắn của Trùng Dương. Và tôi chưa thấy có nhà văn nữ nào ở hải ngoại đã vượt lên trên đànchị nói trên. Đó là theo tiêu chuẩn chủ quan của tôi, dựa trên những gì tôi đọc từ tủ sách của bố mẹ tôi, thời thơ ấu.”

Cô nhắc câu: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi…” và nói “Hơi ấy chắc chắn phải vương vấn mùi hương quyện lên y trang như một hoài niệm tinh thần về quá khứ, một sự quyến luyến tinh thần, mãi mãi không phai nhạt vì đã nằm trong trí tưởng, chứ không thể là mùi nước hoa Chanel hay Calvin Klein ở cửa tiệm được!”

Trả lời câu hỏi Cô nghĩ sao về văn chương trong nước, văn chương ngoài nước, chuyện “nhếch nhác” bên trong và chuyện “lão hoá” bên ngoài?, Dương Như Nguyện cho biết: “Tôi không dám nói về văn chương trong nước vì không đủ dữ kiện. Tuy nhiên, những gì tôi đã đọc, ngoài vài truyện ngắn của Nguyễân Huy Thiệp, chỉ đem đến cho tôi sự thất vọng. Câu hỏi được đặt ra, trong một môi trường thiếu tự do ngôn luận, làm thế nào cho văn chương khởi sắc? Văn chương chống đối, dissident, được đánh giá theo một số tiêu chuẩn dành riêng cho văn chương chống đối. Tiêu chuẩn ấy chưa hẳn là tiêu chuẩn văn chương.”

“Nhưng trên văn đàn Mỹ Quốc, tự do ngôn luận đầy dẫy, trong những thập niên gần đây, đã có sự khởi sắc nào chưa, dù rằng Toni Morrison đã đem giải Nobel văn chương về cho nước Mỹ? Nên có một sự phục hưng (renaissance) nào đó hay không, cho dù tờ New York Times sẽ không bao giờ công nhận nhu cầu phục hưng khi họ viết về những tác phẩm được xuất bản trong guồng máy lớn?” (Cô cho biết cô nói ‘guồng máy’ là vì cô dạy luật công ty, thương mại – cái gọi là luật thương trường của tư bản. Theo con mắt nhìn của một luật gia, cô cho rằng kỹ nghệ xuất bản của nước Mỹ bây giờ là một guồng máy thương mại rất lớn có tính cách ‘độc tôn’ (monopoly) của thể chế tư bản).

“Về văn chương hải ngoại, Vietnamese exile literature, tôi công nhận và đồng ý với ông, rằng ngọn đuốc phải chuyền đến tay người của thế hệ mới. Nhìn vào thế hệ mới, theo tôi, thì ngay cả những tác phẩm bestsellers, và ngay cả cá nhân tôi với sông Hương (với tất cả những hạn định vì tình huống riêng biệt của nó (limitations by circumstances), hầu như chưa có một chỗ đứng gì đáng kể trong phạm vi rộng lớn.

Everything still remains to be seen. Con đường đi, dưới mắt tôi, là conđường thiên lý. Đường đi chưa đến.”

Nói về ‘lão hóa’ – Dương Như Nguyện hiểu theo một nghĩa khác của từ này* – cô gọi đó là chu trình chung của tất cả mọi sự việc. Cô nói “Trong lãnh vực văn chương, chưa chắc ‘lão hóa’ là điều đáng ,tiếc. (Nếu ‘lão hóa’ có nghĩa là ‘tuyệt tự’, không có ai để thắp tiếp ngọn đuốc, thì vâng, nên có tiếng chuông kêu cứu. Nhưng nếu thật sư đã ‘tuyệt tự’ thì có kêu cứu cũng không làm gì được. Nguy hiểm là ở sự ‘tuyệt tự,’ chứ không phải ở sự thật hiển nhiên: Lão Hóa.

“Văn chương cần tuổi tác và kinh nghiệm, giống như rượu ngon, giống như mỹ nhân tự cổ như danh tướng, càng nhiều tuổi càng sắc sảo (trong tiêu chuẩn gourmet, nếu thật sự là mỹ nhân, thì phải già đi mới đẹp. Nếu không tại sao người ta lại ví mỹ nhân với danh tướng? Có tướng nào trẻ măng mà có kinh nghiệm chiến trường đủ để trở thành danh tướng hay không, kể cả Napoleon và Alexandre? Thúy Kiều 16 làm sao thu hút cho bằng Thúy Kiều 35, khi mặt hồ thu đã long lanh ngấn lệ vì đường đời, và trái tim đã trưởng thành đủ để mang tình cầm sắc đổi ra cầm kỳ?”

Điều mà cô lo ngại hơn vấn đề ‘lão hóa’ là vấn đề ‘thoái hóa trong tiêu chuẩn’ (sub-standardization, chữ dùng của riêng cô). “Trong cộng đồng Việt Nam, hiện tượng này xảy ra, là trách nhiệm của những người cầm bút đi sau, và là trách nhiệm của độc giả. Của cộng đồngngười đọc. Điều này quá nan giải, vượt ra ngoài cuộc nói chuyện của chúng ta hôm nay, vì có liên quan đến vấn đề xã hội học của tình huống di dân.”

Cô nêu một thí dụ về cái mà cô gọi là ‘sub-standardization’.

“Cách đây mấy tháng, tôi được biết rằng tôi đã được xếp loại vào chung với một số phụ nữ viết văn tiếng Việt – viết về tình dục. Tôi xin khẳng định – tôi chưa bao giờ viết về tình dục cả. Tôi chỉ viết về kinh nghiệm làm người. Người nữ nồng nàn và người nữ nhọc nhằn. Và tôi cũng không lấy gì làm hãnh diện được chỗ đứng ‘tiền phong’ cho phong trào ‘viết về tình dục’ này.

“Trong việc phê bình văn học (một địa hạt quá thiếu vắng trong tình huống eo hẹp của kiếp di dân), dùng tiêu chuẩn gì đây để đánh gía hiện tượng này – cái gọi là ‘nhà văn Việt Nam viết về tình dục, nữ cũng như nam?’ Nếu nói rằng nhà văn nữ Việt Nam đi vào một thế giới mà trước kia là chỗ đứng của đàn ông, thì Anais Nin đã làm điều này từ thập niên 1930. Tại sao đàn bà Việt Nam bây giờ đi làm chuyện đó, chỉ để công nhận mình đã thụt lùi sau Anais Nin gần cả một thế kỷ?

“Artists write art. Artists write humanity. Thinkers write thoughts. Thinkers write social justice. Artists and thinkers do not write sexuality for the sake of sexuality. Nếu tình dục là một phần của kinh nghiệm nhân sinh, thì artists sẽ tả dục tình để đi tìm cái đẹp của nhân sinh và nhà tư tưởng sẽ mô tả dục tình để tranh đấu cho nhân sinh. Dục tình viết khơi khơi, gratuitously, là khởi điểm của mại bản, dùng ngay thân xác con người để làm shock effect, mà trong đó phụ nữ thường thường là bị bóc lột. Người luật gia nói rằng đây là mại bản appealing to the prurient interest. Không thể dùng realism để bào chữa cho chiều hướng mại bản này.

“Tình dục, realism, trong phạm vi tiểu thuyết, cần phải được authenticated trở thành một kinh nghiệm nhân sinh (tôi không biết phải dịch chữ ‘authenticated’ làm sao), Chu kỳ ‘authentication’ đó phải đặt trên kiến thức, trí tuệ, và sự ngậm ngùi suy gẫm về kiếp người — knowledge, experience, and then the necessary elaboration. Đi vào lãnh vực mô tả tình dục con người bằng trí tưởng tượng, và chạm cả vào phạm vi chuyên môn của tâm lý học và y học — có thể sẽ trở thành faux pas lớn nhất cho người tập cầm viết. Write only what you know! Đây là nguyên lý rõ rệt nhất cho trường dạy văn chương sáng tạo ở xứ này. Nếu không, viết về tình dục sẽ trở thành một sự trịch thượng, kệch cỡm và gượng ép. Có nhiều khi đi luôn vào cái mà độc giả có tầm vóc sẽ cho là ‘bad taste.’”

“Người cầm bút của thế hệ mới trực tiếp chịu trách nhiệm nếu sự trịch thượng, kệch cỡm và gượng ép này xảy ra trong cái được mệnh danh là ‘văn chương, văn học’ làm cho nó không còn là ‘văn chương, văn học’ nữa. Và như thế thì chẳng thà lão hóa còn hơn.”

Dương Như Nguyện nhấn mạnh: “Xin đừng hiểu lầm là tôi muốn phê bình những ‘nhà văn nữ’ của cộng đồng. Con đường viết là con đường riêng biệt của mọi người. Văn chương là cái gì còn lại của cái gì bị quên đi, bị bỏ đi, bởi người đọc (người đọc, chứ không phải là người đi mua trong thế giới mại bản).”

“Substandardization lại càng trầm trọng hơn nữa trong môi trường di dân, nơi mà người đọc ngày càng ít đi, và tình trạng ‘tự xuất bản’ gây nên một môi trường tàn khốc cho tiêu chuẩn.”

Cô cho biết cô yêu thích một vài tác phẩm của Vũ Khắc Khoan và Nghiêm Xuân Hồng, cũng như trường thiên tiểu thuyết cuối cùng của Nhất Linh trước khi ông mất – “cuốn tiểu thuyết đó mới thật sự là tiểu thuyết của ông Tam. Ba vị này, rất ư là lão hóa. Lão hóa như thế thì thế hệ mới của tôi cần nên lão hóa.”

“Cái khổ là có những người trong thế hệ mới này cứ chuyên môn đem chuyện ông Hemingway ra hỏi ông Doãn Quốc Sỹ, làm như thể ông Doãn Quốc Sỹ phải biết ông Hemingway thì mới trở thành nhà văn! Trong khi đó, nếu ông Hemingway còn sống, ông Hemingway không biết ông Doãn Quốc Sỹ là ai, vì ông Doãn Quốc Sỹ viết bằng tiếng Việt, mà sách lại không được phổ biến cho 80 triệu dân. Ngọn đuốc của thế hệ mới nên soicho những ông Hemingway của Đại Tây Dương được biết về bác Doãn Quốc Sỹ nhà mình, ngồi câu cá bên cái Hồ Thùy Dương của bác ấy (câu cá thay vì viết văn vì tác giả Hồ Thùy Dương đã lão hóa, lão hóa sau khi tấm thân gầy gò đã chịu đựng ngục tù chỉ vì nhà giáo đã từng cầm bút). Có những người khác trong thế hệ mới lại rất dễ bỏ quên hẳn bác Doãn Quốc Sỹ nhà mình, vì con đường đi vào dòng chính không cần sự lót đá (grounding) của cái Hồ Thùy Dương ngày xưa.

“Đó, mới chính thức là ngọn đuốc của người đi sau để giải quyết vấn đề lão hóa. Ngọn đuốc này phải thắp nên bởi nhiên liệu đến từ độc gỉa?. Tôi đau đớn mà nhận ra rằng vấn đề ông nêu lên không biết giải quyết ra sao. Thật tình mà nói, có thể tôi méo mó nghề nghiệp luật sư thương mại, nhưng tôi cho rằng vấn đề này mang tính chất của một vấn đề kinh tế. Cần có một Bill Gates cho văn chương hải ngoại. Tôi nghĩ đến điều này hằng đêm.

“Về phần tôi (con người nghệ sĩ tách ngoài phạm vi nghề nghiệp), sau tác phẩm này, tôi chỉ mong là một số độc gỉa hiếm hoi trong dòng chính sẽ nhớ cái tên dòng sông Hương, thay vì ‘Perfume River’ của nhà quảng cáo trung tâm du lịch. Như thế là tôi đã tạm thành công.

“Chỉ có thế thôi. Và chỉ có trời biết, cho dù rằng tên tôi là Như- Nguyện. May All Your Wishes Come True. Rút cục lại, tôi tự bảo mình: cứ viết đi, đừng suy nghĩ đến thành công hay không thì tốt hơn. Con đường thiên lý đẹp vì hoa nở trên đường đi, chứ không phải vì nó dẫn đến đích: một ngôi nhà vàng nào đó để nhốt con chim hót!”

San Jose-Denver
Aug 15, 2005

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

clip_image010

Tác giả:

Sinh quán tại miền Trung Việt Nam, Uyên Nicole Duong [Dương Như Nguyện] đến Mỹ năm 16 tuổi, năm ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ.

Tốt nghiệp Báo Chí và Luật Khoa tại Southern Illinois University, the University of Houston Law Center và Harvard Law School. Đã theo học ngành diễn xuất tai American Academy of Dramatic Arts ở New York và Pasadena, California, đồng thời cũng là một bỉnh bút cho Quận Học Chánh Houston. Được bổ nhiệm làm giám đốc cơ quan quản lý các sự kiện có thể gây rủi ro, và là người phụ nữ Á Châu đầu tiên có chân trong Ban quản lý điều hành của Sở Học Chánh Houston, ở tuổi 24. Đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán tại Houston, Tiểu Bang Texas và là người được Luật Sư Đoàn Hoa Kỳ vinh danh là vị chánh án người Mỹ gốc Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ trong năm 1992. Từng hành nghề tư vấn trong lãnh vực kỹ nghệ dầu lửa quốc tế, là luật sư của cơ quan giám sát thị trường chứng khoán Securities andExchange Commission, Hoa Kỳ, đồng thời là Giáo sư tại Đại học Luật Khoa Denver, Colorado.

Đã xuất bản:

Mùi Hương Quế (nxb Văn nghệ 1999)
Chín Chữ Của Nàng (nxb Văn mới 2005)
Daughters of the River Huong (nxb RavensYard 2005)
Con Gái của Sông Hương (bản dịch, RavensYard 2005)

Sẽ xuất bản:

Mimi and Her Mirror
Postcards from Nam
(Hai tác phẩm này đã hoàn thành từ năm 1999 nhưng vấn đề thương lượng với nhà xuất bản chưa xong.)
(Bản dịch: Bưu Thiếp từ Nam, Văn Mới 2006) – đã có sự chấp thuận tiên khởi của Văn Mới)
Tình Yêu, Đời Sống và Lưu Đầy (tập thơ song ngữ PenAsia 2006)
(PenAsia là imprint của một LLC – limited liability company – làcông ty con của một nhà xuất bản rất nhỏ ở Luân Đôn; đang tiến hành].

Đang viết:

Book of the Seven Dreams

“Đối với tôi, các tác phẩm đã in hoặc đang tiên hành không còn quan trọng. Các bản thảo chưa viết mới là quan trọng. Như tôi nói, trong trái tim tôi có con đường thiên lý.”

 

Nhã ca cái viết ra mới thực sự quan trọng

Tôi không biết mình đã đọc đi đọc lại bao nhiêu lần những trang sách trong Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng của Nhã Ca. Những dòng chữ khô, lạnh, bén, sắc và ngắn như nhát dao đâm xoáy vào trái tim. Như một cái buá nện xuống một bàn tay đang bám vào vách đá chờ được kéo lên. Những dòng chữ “phẫn nộ” có thể làm những đôi mắt khô khốc phải ứa lệ.

“Suốt buổi chiều, tôi ngồi với giỏ thăm. Xếp vào. Xếp ra. Nhìn. Rờ rịt. Anh còn mê man. Anh chưa nhìn thấy món ăn con thơ này. Dọn lên. Mắt mũi các con. Dọn lên. Tim gan các con. Dọn lên. Nước mắt các con, nước mắt Mẹ…. Tôi nằm xuống lúc nào không hay. Lúc tỉnh được dậy sau cơn mê mệt, giỏ thăm nuôi đổ, mấy gói cá muối bị xé rách, tung toé. Nơi lỗ cầu tiêu, lại nó, con chuột. Cặp mắt nhỏ như hai hạt đậu, tinh quái, thập thò. Ngày mấy? Tháng mấy? Còn hỏi làm gì nữa.” [1]

Nhân vật “anh” là thi sĩ Trần Dạ Từ và các con thơ của anh chị. Và khung cảnh là một phòng kiên giam dành riêng cho một người. Điều gì đã khiến một Trần Thy Nhã Ca với “buồn như lá cây, hồn thơ dại, xanh xao tháng ngày, …” [2] phải viết ra những dòng chữ trần trụi lạnh lùng đến như thế? Câu trả lời đã rõ. Nhưng viết được như thế không phải là tưởng tượng của một nhà văn, và không chỉ là kinh nghiệm của một người đã trải nghiệm những nỗi đau đó. Viết được như thế có nghĩa là đã phải sống như thế. Và hơn là như thế! Bởi vì, có bao nhiêu người đã từng sống như thế để có đượcmột Nhã Ca như thế? Đó cũng là một câu hỏi đã có câu trả lời.

Chị đã đi trên một con đường đầy gai nhọn, không tên gọi, không ngày tháng. Con đường máu và nước mắt. Con đường của một nỗi đau bị nén lại, một hạnh phúc bị chia cắt, bầm dập. Con đường mà ai đã đọc hồi ký của chị sẽ chảy nước mắt, nhưng chính những dòng chữ của chị chỉ là sự lặng câm.

Phải là một người có ý chí mạnh mẽ mới có thể đứng vững được trước những sóng gió của cơn hồng thuỷ 30 tháng Tư, 1975 đổ ập xuống Sài Gòn. Mặc dù, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhiều người đã trụ được. Nhiều ngưòi đã đứng dậy được. Nhưng từ một thiếu nữ lớn lên ở Huế, thành phố trang nghiêm và khắt khe, …. Trần Thị Thu Vân đã làm những bước nhảy vọt lớn: từ Huế cổ kính nhảy vào Sài Gòn phóng khoáng, rồi nổi tiếng với những bài thơ, nổi tiếng hơn với Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, với Giải Khăn Sô Cho Huế và thình lình bị đẩy rơi từ một thể chế này xuống một thể chế khác như lao từ đỉnh cao xuống vực thẳm của một nỗi đau ngất, rát nhức như muối xát trên những vết thương còn tươi rói. Chị là người đi trên một sợi giây xiếc giữa sống và chết, một bên là cái sống mong manh và một bên là cái chết lúc nào cũng giang tay chờ đợi. Tất cả những gì chị có đều bị tước đoạt, trần trụi, trơ trọi, bức rời. Sau nhà tù nhỏ sẽ là nhà tù lớn: Một người đàn bà với đàn con thơ dại và hai bàn tay trắng đứng giữa chợ đời.

Làm sao có thể viết được giữa một hoàn cảnh như thế? Phải đợi 16 năm sau, khi cả gia đình chị ra khỏi Việt Nam, Hồi Ký Không Ngày Tháng của Nhã Ca mới ra đời. Đây không phải chỉ là một ghi chép lẫn lộn thời gian và kỷ niệm. Hồi Ký đó là một tiếng nói mạnh mẽ của con người trước một thế giới bị tan rã, một tiếng chuông cảnh tỉnh của một vũ trụ bị mê đắm trong u minh.

Bao lâu còn chiến tranh – bất cứ một cuộc chiến nhân danh chủ nghĩa nào – tiếng nói ấy cần phải được cất lên, tiếng chuông ấy cần phải được gióng lên, thông điệp ấy cần phải được lắng nghe.

Người đọc biết Trần Thy Nhã Ca với “Bài Nhã Ca Thứ Nhất”, mở đầu cho một dòng thơ mới trong văn chương Việt Nam từ năm 1960. Nhưng thật ra trước đó, từ năm 1955, chị đã từng làm thơ học trò ký tên Thu Vân, đăng trên các tuần báo Văn Nghệ Học Sinh, Văn Nghệ Tiền Phong tại Saigon, chưa kể thơ thời bích báo tiểu học, trung học. Và trước đó nữa, từ năm 1954, khi mới 15 tuổi cô bé Thu Vân đã viết truyện dài đầu tiên có tựa là “Đường Một Chiều”. Đó là thời cuối trận chiến tranh Việt-Pháp. Chị nói: ‘Truyện được viết theo “đơn đặt hàng” của ông anh trong nhà, để đăng từng kỳ trong báo “Hồn Xuân”, tờ báo chép tay của một nhóm văn nghệ choai choai tại Nam Giao, Huế. Còn nhớ, người chủ trương nhóm báo Hồn Xuân là anh Tôn Thất Chi, người vẽ bìa số báo đầu tiên là ông anh Trần Văn Lễ. Sau đó có hiệp định Geneve ngưng chiến, chia đôi đất nước, rồi di cư, tập kết. Báo Hồn Xuân chỉ mới “xuất bản” được ba số thì đành tự “đình bản”. Truyện dài đầu tay “Đường Một Chiều” vĩnh viễn dang dở.”

Giờ đây đọc lại thơ và truyện Nhã Ca của những năm Sáu Mươi, Sáu Mươi Tám, Nhã Ca của 1975 và môt Nhã Ca của 2005, người ta khám phá ra một khuôn mặt văn chương đã đi qua hạnh phúc và khổ đau, đi qua một tình yêu lớn, đi qua những thao thức và chờ đợi, đi qua những phút giây làm mẹ và trải nghiệm qua biết bao nỗi đau làm người.

Nhã Ca kể lại báo chữ in đầu tiên của chị sau khi đã làm báo tường báo chép tay là tờ “Văn Nghệ Học Sinh”, do nhà báo Giang Tân làm Tổng Thư Ký. Chủ nhiệm, chủ bút là ông Lê Bá Thảng, chánh văn phòng của Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành.

Thơ, tuỳ bút, truyện ngắn ký tên Thu Vân được liên tiếp chọn đăng. Những “tác giả” có bài đăng trong tờ báo “văn nghệ họcsinh” này về sau thành bạn nhau. Khởi đầu có Lê Đình Điểu (làm thơ tình với bút hiệu Y Dịch, viết khôi hài với bút hiệu Lê Ngông Nghênh), Nguyễn Thụy Long (viết truyện mộng mơ với bút hiệu Mặc Lan Giao). Tiếp theo, có Lê Tất Điều (viết truyện con nít thậtdễ thương với bút hiệu Ái Nhân); Dương Nghiễm Mậu (triết lý như một ông già với bút hiệu Hương Việt Hương); Đỗ Quí Toàn (làm thơ với bút hiệu Đỗ Quí), Viên Linh (thơ sáu chữ, thơ lục bát số một), Nguyễn Khắc Nhân (viết tuỳ bút giọng miền Trung với bút hiệu Thùy Nhân), Tô Tam Kiệt (thơ chiến đấu hùng dũng)… Thình lình, vào khoảng 1956, bỗng thấy Điểu và Long giới thiệu cho chàng thi sĩ Hoài Nam, người sau này sẽ là Trần Dạ Từ …

Trần Dạ Từ, tình yêu đầu tiên và sau cùng của chị. Chị nói: “Ừ, thì đó, chuyện giản dị vậy thôi. Hai đứa quen nhau qua tờ Văn Nghệ Học Sinh, do Lê Đình Điểu và Nguyễn Thụy Long giới thiệu. Tiếp theo, nhận cả ngàn bài thơ. Khác với các bạn viết văn làm thơ tài tử, Từ là “nhân vật toà soạn”, người trả lời hộp thư của toà báo. (Sau này mới biết, thật ra, thi sĩ chỉ là một anh nhóc bụi đời, các “văn hữu” nhóc tì họp đại hội với ông chủ nhiệm yêu cầu cho chàng việc làm, nhờ đó chàng là “thầy cò” sửa bài, kiêm biên tập viên duy nhất của tờ báo bên cạnh tổng thư ký Giang Tân). Bị cả ngàn bài thơ tấn công, cô bé 16 tuổi chịu không thấu. Sau hai năm viết thư, hai người trẻ tuổi gặp nhau lần đầu năm 1958.

Trong Hồi Ký, Nhã Ca kể chuyện, mùng một Tết chàng từ Sàigòn ra Huế. Chị ngồi nghe tiếng còì tàu. Đã biết trước nhưng vẫn giật mình. Tàu hoả đang hú còi vào ga. Ghê quá, chị nghĩ, anh ta tới rồi đấy. Tàu từ Đà Nẵng ra đúng sáng mùng Một Tết. Chắc còn phải tìm đường, tìm nhà. Trước sau một giờ trưa, sẽ đi qua cổng. Bẩy giờ tối sẽ tới, sẽ gặp. Thư cuối năm, anh báo trước như vậy.

“Buổi trưa. Bao nhiêu người qua đường, biết ai là anh. Run quá. Coi tề, cái người nhìn mình một cái rồi quay đi, bước nhanh hơn. Anh? Anh vậy há? Mỏng như tờ giấy. Còn mặt mũi? Kịp thấy chi mô. Mới nghĩ chắc anh đó, mắt con bé đã hoa lên rồi. Nhát.”

Buổi tối, Trần Dạ Từ bước vào nhà. Chưa mời, anh đã ngồi, Nhã Ca viết trong Hồi Ký. Người cha vặn cái radio bóng đèn cổ lỗ đầy tiếng kêu rồ rồ. Ông anh lớn trong nhà nhăn mặt, bỏ sang phòng bên. Chị ú ớ. “Những lá thư xuôi ngược cả năm Sàigòn-Huế-Sàigòn. Những bài thơ tình đầu. Anh ngồi đó ốm nhom.” Sáng mùng hai tết, khi gặp lại anh trong… khách sạn, trên bàn có bài thơ “Thủa Làm Thơ Yêu Em”, ký tên Trần Dạ Từ.

Thêm hai năm sau khi gặp nhau, chàng thi sĩ nhát như thỏ đế, vẫn không dám cầm tay người yêu. Vậy mà tình yêu của họ đã làm ồn thành phố Huế. Ồn đến nỗi, “nàng” phải đành bỏ chạy theo chàng. Vô tới Sài Gòn, một người bạn của Từ, Nguyễn Khắc Nhân, đứng tên ông anh, gửi chị vô nội trúù trường Đức Trí ở đường Võ Tánh. Xong thời nội trú, Nhã Ca trở về Huế ở một năm để làm lành với gia đình. Sau đó chị vào Sài Gòn, in thiệp cưới và năm 1962, sinh con đầu lòng là Sớm Mai. Tiếp theo, thêm một loạt 5 đứa nữa. Cậu út là Hưng Chấn, cuối 1974. Hưng Chấn là tên do bố mẹ đỡ đầu của cháu là anh chị Cung Tiến đặt cho để lấy hên. Chị nói, nhưng hên đâu chả biết, chỉ thấy mấy tháng sau là miền Nam sập tiệm, hai vợ chồng đi tù.

Từ khi biết “chàng”, Nhã Ca bắt đầu viết nhiều hơn. Chàng không chỉ làm Văn Nghệ Học Sinh mà còn viết bài kiếm ăn ở các báo khác. Bài gửi cho chàng ở Văn Nghệ Học Sinh, bỗng thình lình thấy xuất hiện trên mục “Mỗi Ngày Một Truyện” của nhật báo Ngôn Luận, rồi nhật báo Lẽ Sống, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong… vừa nhận báo vừa nhận cả nhuận bút. Biết mùi nhuận bút rồi, khó bỏ. Vậy là viết đêm viết ngày. Từ 1960, khi bỏ Huế vào Saigon với Trần Dạ Từ, bạn bè họp thành một bọn, mỗi tên tự chọn một bút hiệu chính thức và bắt đầu sống với nghề cầm bút. Từ 1960, 1961 gì đó, cùng lúc với việc Trần Dạ Từ làm nhật báo Dân Việt, các bạn của Từ -Nhã chủ trương tuần báo Ngàn Khơi, in ở nhà in Nguyễn Đình Vượng, số 39 đường Phạm Ngũ Lão. Năm 1963, ông Vượng ra báo “Văn”, yêu cầu chị góp bài. Năm 1964, bài viết cho Văn được in thành sách. Báo Văn và nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng ấn hành truyện dài “Bóng Tối Thời Con Gái”. Nhà AnTiêm của Thanh Tuệ ấn hành tập truyện “Đêm Dậy Thì”. Sau đó là “Đêm Nghe Tiếng Đại Bác” và cứ thế đi tới…

Thế còn tập thơ “Nhã Ca Mới” và giải thưởng thi ca toàn quốc thì sao? Chị nói thơ “Nhã Ca Mới” do “Ngôn Ngữ” xuất bản, cũng đầu năm 1964. Ngân khoản in thơ lẫn tên nhà xuất bản đều do anh Nguyên Sa. Cuối năm ấy, Nhã Ca được giải thi ca toàn quốc 1965. Tiền lãnh giải dĩ nhiên không còn dấu vết. Huy hiệu giải thưởng là huy hiệu của nguyên thủ quốc gia nghe nói là bằng vàng – tương tự huy hiệu của Tổng Thống VNCH dành cho các giải thưởng về sau- chẳng nhớ đi đâu mất, có lẽ còn đâu đó trong… Sở Công An Thành Phố hoặc không chừng đã ra vỉa hè, bị nấu chẩy thành dăm ba “chỉ”, hay một hai “cây”…

Trong các bài viết về thơ Nhã Ca, từ Bùi Giáng, Võ Phiến, Thi Vũ tới Huyền Không tức Hoà Thượng Mãn Giác… thường nhắc tới bài thơ “Tiếng Chuông Thiên Mụ”. Võ Phiến viết là trong lịch sử văn học Việt Nam chưa hề có tiếng chuông nào vang dội khác thường tới mức ấy. Hỏi chị tại sao? Chị bật mí: “ Bài thơ in lần đầu trên tuần báo Ngàn Khơi, đầu năm 1963. Đó là thời điểm vừa xẩy ravụ biểu tình đẫm máu tại Đài Phát Thanh Huế và Phật Giáo bị chính quyền đàn áp. Tuần báo Ngàn Khơi do bọn này chủ trương bàn nhau phải cùng nhau viết cái gì đó. Dự tính có Nguyên Sa, Nguyễn Mạnh Côn, Chu Tử, Đỗ Quí Toàn, Nguyễn Thụy Long, Tú Kếu, Nguyễn Hữu Đông, Trần Dạ Từ… mỗi người sẽ cùng viết nhiều ít gì đó. Bìa offset do Đằng Giao trình bầy in trước 4 số đã ghi sẵn tựa đề chung là “Tiếng Chuông Thiên Mụ”. Tới ngày ra báo, Nhất Linh tự tử, rồi sư sãi bị bắt, Saigon giới nghiêm… Chỉ riêng bài thơ mang tên “Tiếng Chuông Thiên Mụ” được xuất hiện trên báo. Còn nhớ trong bài thơ có câu “Thức dậy cùng tan vỡ, thức dậy cùng lịch sử” đã được các bạn trong “Sở Kiểm Duyệt” nhẹ tay cho qua… Mọi bài viết khác không qua khỏi lưỡi kéo kiểm duyệt, đành phổ biến cách khác.

Trần Dạ Từ và các bạn của anh làm báo “Lửa” đánh máy quay roneo bằng cái máy chữ của anh Nguyên Sa cho, cả bọn xúm nhau vào phát hành chui… Trong việc phổ biến số báo “Lửa” ở các đại học thời đó có cả các nhà văn Nguyễn Thị Vinh, Nhật Tiến. Sau đó, Trần Dạ Từ bị mật vụ nửa đêm bịt mắt dẫn đi mất tiêu, cả bọn trốn chui trốn nhủi… Đó cũng là lúc có bài “Thơ Sớm Mai”, sinh nhật năm đầu tiên của cháu.”

Trả lời câu hỏi hiện nay chị đang viết gì? Nhã Ca nói: “Truyện ngắn, đang lo viết cho báo tết. Truyện dài, đang sắp xếp, sửa chữa bộ “Đường Tự Do Saigon”. Truyện đã viết liên tục hơn 10 năm trên Việt Báo, mỗi ngày mỗi viết. Độc giả có lòng hỏi. Có nhà xuất bản muốn trả tiền để in. Nhìn lại, đếm chữ thấy đã có tới hơn 10,000 trang sách. Truyện viết từng ngày, muốn thành sách, phải sửa chữa, sắp xếp lại. Cả năm nay, chỉ mới xong 640 trang cho cuốn 1, hiện đã đưa thử lên internet… Việc xuất bản trọn bộ, chắc còn phải mất thêm ngày tháng.

Về câu hỏi tác phẩm nào của chị được chị thích nhất, Nhã Ca trả lời có lẽ nhiều phần dành cho cuốn “Hồi Ký Một người Mất Ngày Tháng”. Đó là nói văn. Còn trong lòng, chị vẫn yêu và trân quí Thơ. Nhã Ca, tên tuổi ấy đã mang âm hưởng một bài thơ.

Nói về kỷ niệm mà chị nhớ hoài là thời kỳ trong nhà tù nhỏ và nhà tù lớn ở Việt Nam, Nhã Ca kể có lần được theo xe tù đi thăm nhà trưng bày tội ác Mỹ Ngụy ở trường Dược cũ tại Saigon, thấy sách của mình và bạn hữu được bầy dưới danh nghĩa “tội ác Mỹ Ngụy”. Đặc biệt, cuốn “Giải Khăn Sô Cho Huế” được treo trang trọng. Đã đứng nghiêm cạnh Lê Xuyên, Hoàng Anh Tuấn, Trần Việt Sơn… chào kính tác phẩm của mình và bạn hữu.

Hỏi chị đang đọc gì? Nhã Ca cho biết hiện chị đang đọc Milarepa, thơ và truyện kể về thi sĩ và thầy tăng lớn của Tây Tạng. Còn tác giả ưa thích? Với chị đó là Thơ Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Mai Thảo, Trần Dạ Từ, Đỗ Quí Toàn, Viên Linh, Tú Kếu…

Còn truyện? Chị nhắc đến Thảo Trường, Lê Tất Điều, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Thụy Long…

Với câu hỏi liệu có thể nói đến một nền văn học hải ngoại không, Nhã Ca cho rằng “Một nền văn học hải ngoại?” chắc chỉ là câu hỏi nhất thời hoặc tạm thời. Dăm ba chục năm, vài ba trăm năm, rồi sẽ qua đi. Những cái đáng còn sẽ còn lại. Yếu tố nơi sinh sống trong nước hay ngoài nước của tác giả bất quá chỉ là những ghi chú, không phải là yếu tố để tác phẩm văn chương tồn tại. Văn học hay văn chương Việt Nam là đủ. Người viết ở đâu cũng được, dù trong hay ngoài nước. Viết trong hay viết ngoài nhà tù chẵng phải là yếu tố quyết định giá trị. Cái viết ra mới thực sự quan trọng..

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

[1] Nhã Ca, Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng, tr. 61. Nxb Thương Yêu, 1991.

[2] Bài Nhã Ca Thứ Nhất.

 

Tôi nghe tiếng nước reo trên bếp

1.

Suốt mấy ngày đầu tháng giêng tây, thành phố Thung lũng tôi ở, mưa dầm dề và có những trận gió buốt lạnh. Cái thứ lạnh căm căm giống như cái lạnh ngày đầu khi tôi vừa từ Sàigòn lên Đà lạt. Vườn sau nhà có một sàn gỗ [deck] rất lý tưởng cho những buổi sáng mùa hè uống cà phê đọc báo hay những chiều họp bạn. Tuy vậy ở đây tôi chưa bao giờ có được cái hạnh phúc bắc ghế ra sân hóng nắng,

Cách đây ba bốn năm, có lần tôi ra sàn tính xem chỗ này có thể đặt cái bàn và mấy chiếc ghế để cuối tuần ngồi uống rượu với bạn bè được không. Tôi bước quanh mép sàn và bất ngờ sụp chân xuống. Mấy chậu hoa đổ theo. Sàn gỗ đã mục từ lâu. Ý định mời bạn bè đến nhà chưa bao giờ thực hiện được dù tôi đã ở đây bảy năm. Bảy năm với những ngày cuối tuần hết đến nhà người bạn này lại chạy đến nhà người bạn khác, ăn uống trò chuyện mà không bao giờ đón được bạn đến nhà mình.

Nhiều lần gọi cô chủ nhà than phiền về cái deck bị sụp, nhiều lần cô hứa cho người đến thay sàn mới, nhưng lời hứa của cô như gió thoảng mây bay.

Sáng nay, nhìn ra sân, những chỗ ván ghép đã thấy đóng rêu xanh, những chậu hoa ngã nghiêng, bụi hoa mọc sát bờ rào bị gió thổi cúi rạp đầu. Một con sóc từ bụi cây cao ngăn hồ nước phiá sau nhảy qua sân và biến mất dưới chân sàn. Những con sóc? Tôi nhớ một bài hát hồi nhỏ ở Nha Trang khi đi xem xi-nê ở rạp Tân Tân bao giờ trước khi phim chiếu cũng được nghe bài hát Ma Cabane Au Canada / Căn Lều Của Tôi Ở Canada nằm sâu trong rừng nơi có những chú sóc…Bài hát lập đi lập lại một điệp khúc quen tai đến nỗi bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng thuộc nằm lòng. Bài hát đó theo tôi vào Sài gòn, lên Đà lạt, vô nhà tù U Minh, vào trại tỵ nạn Phi Luật Tân và bây giờ một buổi sáng mùa đông ở California. Có những bài hát ta nghe nhiều lần nhưng không bao giờ nhớ nỗi một câu và có những bài hát dù không còn phổ biến nữa, nhưng nó vẫn cứ vang lên trong đầu bằng một trí nhớ không được chuẩn bị. Những bài hát làm sống dậy hình ảnh và kỷ niệm, sống dậy mùi vị cỏ cây và hơi thở của da thịt. Những con sóc thời thơ ấu và ca khúc Ma Cabane Au Canada của tôi.

2.

Có tiếng gõ cửa. Cái nút chuông có trên vách sao họ không bấm mà lại gõ? Tôi bước ra. Một người đàn ông da đen cao lớn, mặc bộ suit màu đen, đeo kính trắng, mũ đen rộng vành, cầm trên tay một xấp giấy, đứng trước mặt tôi.

Ông tự giới thiệu là Thomas Donahey, người của Thượng Đế. Ông nói thế giới đầy tội lỗi, đã đến lúc mọi người trên trái đất này phải sám hối. Tội ác như một nồi nước đang sôi sùng sục, và cầu nguyện là rút những thanh củi đang cháy ra khỏi bếp. Tôi nói với ông tôi chưa bao giờ phạm tội, tại sao tôi phải cầu nguyện? Ông lấy một tờ giấy màu xanh trong xấp giấy đưa cho tôi. “Đây là những lời kinh sám hối. Ông đọc sẽ rõ. Ông nói ông chưa bao giờ phạm tội à? Thật sao? Trong suốt đời ông, ông chưa bao giờ phạm tội thật à?” “Thật chứ!” Tôi nói. Ông Thomas nhìn tôi, tay ông vẫn chìa tờ giấy màu xanh về phía tôi. Đầu ông hơi nghiêng, gọng kính trụt thấp dưới sóng mũi, mắt ông to, nhưng tròng trắng nhiều hơn tròng đen. Tôi không muốn cầm tờ giấy nhưng thật là bất lịch sự nếu cứ để ông giữ nguyên tư thế đó. Tôi đành đưa tay ra. Ông Thomas tiếp, trên thế gian này không một ai, không trừ một ai – ông nhấn mạnh, mà không phạm tội. Sinh ra đời đã là phạm tội. Làm người đã là phạm tội.

Lúc đó hình như gió thổi mạnh hơn và bầu trời xuống thấp mịt mù mây đen cùng với những giọt mưa lạnh buốt tạt vào mặt chúng tôi. Tôi đẩy rộng cửa, mời ông vào nhà. Ông khoát tay, kẹp xấp giấy vào nách, bật chiếc dù đen đeo ở cánh tay lên. “Cám ơn. Tôi còn nhiều nhà phải đi. Tôi sẽ trở lại với ông một vài ngày sau, nếu ông còn muốn nói chuyện với tôi.” Ông kẹp gọng dù vào cổ, chìa tay cho tôi bắt. Tôi nắm bàn tay to bè của ông, những ngón tay dài mập màu nâu nhưng lòng bàn tay nhạt màu cà phê sữa. Ông bước đi, lưng thẳng, giương chiếc dù lên cao, nhìn về đằng trước. Bỗng nhiên tôi thấy ông giật mình đứng sững lại. Vô tình, ông đã giẫm lên cây ớt trước nhà vừa bị trận gió thổi ngã xuống. Cả một cành ớt chín đỏ nát dưới chân ông.

“Xin lỗi! Xin lỗi!” Ông quay lại nhìn tôi trước khi tiếp tục rảo bước.

3.

Sau bảy năm, từ dưới nam lên miền bắc thung lũng nhận việc làm mới, nay tôi đang có nhiều ngày để tùy nghi. Ngồi trước màn ảnh máy vi tính tôi đọc những bài viết trên các mạng Talawas, Tiền Vệ, Evăn,….. Hai cuốn sách đang được nhắc đến nhiều nhất lúc này là Bóng Đè của Đỗ Hoàng Diệu và Cánh Đồng Bất Tận của Nguyễn Ngọc Tư. Những lời khen “cực kỳ” và những lời chê cũng “cực kỳ” không kém cho Bóng Đè, trong khi với Cánh Đồng Bất Tận lời khen chê có phần chừng mực hơn. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên gọi Nguyễn Ngọc Tư là “người viết những câu chuyện bình thường về những điều bình thường của những người bình thường của cuộc sống quanh cô.” Nhưng với Cánh Đồng Bất Tận, “Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu chạm vào được những vĩa tầng cuộc sống của vùng đất cô sống và viết văn. Dữ dội và nhân tình [tính?] văn Tư bắt đầu là như thế.”

Trong khi đó trên mạng Evăn.com [trích lại từ báo ĐànÔng?] tôi đọc thấy câu “Danh hiệu nhân vật bị búa rìu dư luận ghê gớm nhất trong năm qua có lẽ phải trao cho nhà văn trẻ Đỗ Hoàng Diệu, do chuyện sex trong cuốn Bóng Đè của cô. Trả lời câu hỏi “Tình dục trong văn chương là bình thường hay không bình thường” cô nói “Tình dục, nó là một phần của đời sống. Nó đẹp như đời sống đang diễn ra. Nó nồng nàn như đời sống nhưng mặt khác nó cũng tăm tối như đời sống. Văn chương đạt đến văn chương nhất đấy là khi viết về cái phần ẩn sâu, giấu kín nhất trong con người. và sex là cái ẩn giấu nhất ấy. Nó là một trong những cảm xúc lớn lao và bền bỉ của con người. Thế tại sao tôi không được viết sâu về tình dục.”

Điều đáng tiếc là tôi chưa được đọc cuốn Bóng Đè của Đỗ Hoàng Diệu.

4.

Trời vẫn mưa, gió vẫn tiếp tục thổi rạp mấy bụi cây sân sau, và lạnh vẫn không giảm chút nào. Trời đất thế này tôi ngại ra Starbucks. Thôi đành ở nhà tự đun nước pha cho mình một ly cà phê buổi sáng. Thứ cà phê mà cực chẳng đã do lười biếng tôi mới uống. Thứ Nestcafe’ 100% Colombian, màu đen như than nhưng không mùi vị. Tôi mua vì nó có màu đen đậm, giống như cà phê phin Việt Nam. Một thứ nước màu đen để tạo cảm giác cà phê. Tại sao có thể gọi là cà phê mà không có chút hương vị cà phê?

Lại có tiếng gõ cửa. Hơi dồn dập. Tôi nghĩ chắc lại cái ông Thomas “người của Thượng đế”. Tôi bước ra mở chốt. Người đàn ông đứng trước mặt tôi gầy nhom, hơi thấp, lưng như có vẻ còng xuống. Mái tóc thưa, nhiều sợi bạc. Ông mặc chiếc áođi mưa bằng ni lông màu vàng. Ông cặp nách một gói giấy, có vẻ như là một cái chai. Đôi giầy thể thao màu trắng sần sùi, lấm nước mưa, hai sợi giây giầy bị tuột thòng xuống gần chấm đất. Gấu quần bị tươm ra, mòn rách. “Có phải ông là ông H. không?” Khách hỏi tiếp. Tôi gật đầu. “Tôi có thể vào nhà ông được không?” “Được chứ.” Tôi đẩy rộng cánh cửa ra. “Mời ông.” Tôi nói. Khách bước lên thảm, tự nhiên, không cởi giầy. Phòng khách nhỏ chỉ có một ghế cho hai người ngồi. Mấy thùng giấy và sách báo đã chiếm hết chỗ. Khách ngồi xuống ghế, đặt gói giấy trên bàn và tự tay mở ra. Một chai rượu. Khách nói đây là chai Les Violettes, Côtes du Rhône, năm 2000. Tôi không phải là người sành rượu đâu. Ông bạn tôi mua dùm cho tôi đó. Ông có đồ khui không?” Tôi nói, có, nhưng tôi vẫn chưa biết ông là ai? “Xin lỗi! Xin lỗi! Một cái tên đâu có nghĩa gì. Ông không biết tôi là ai là phải rồi. Nhưng mà tôi thì tôi biết ông. Tôi có đọc những bài viết của ông. Chắc ông sẽ hỏi tại sao tôi biết nhà ông phải không? Chẳng là tôi là bạn của một người bạn của ông. Ông còn nhớ ông Đ. không. Hiện nay ông ấy làm nghề xây cất dưới Lốt. Trước tôi cùng ở trại tỵ nạn Bataan, Phi Luật Tân với ông Đ. Đâu khoảng năm 1986. Hình như trước ông cũng ở đó phải không. Ông Đ. nói khi tôi đến thì ông cũng vừa rời trại. Hiện tôi làm nghề bỏ báo ở QuậnCam. Tôi đi Xe Đò Hoàng lên đây từ hôm qua, dự cuộc họp mặt mấy người bạn trước cùng đơn vị. Chai rượu này tôi mang lên tặng ông. Ông Đ. nói ông thích vang Pháp, ông ấy bảo tôi cứ mua đại một chai, cứ nhãn hiệu Pháp là ô-kê rồi. Vì làm nghề bỏ báo tôi có dịp đọc đủ loại. Bất cứ sách báo gì viết bằng chữ Việt là tôi đọc ráo. Nhiều bữa buồn hết sách báo tôi đọc luôn cả mục rao vặt. Tuy vậy báo tin tức thì coi xong là xong. Thời sự nó đi qua mau lắm! Tsunami rồi cũng qua. Katrina rồi cũng qua. Iraq thì ngày nào cũng có người chết, xe bom tự sát. riết rồi cứ thấy tin Iraq là tôi cho qua luôn. Nhưng trên giường tôi thì không bao giờ thiếu mấy tờ Hợp Lưu, Văn Học, Văn. Có nhiều bài, nhất là thơ, tôi đọc mà chẳng hiểu gì ráo. Tôi chỉ đọc truyện thôi. Có hôm tôi được đọc bài của ông. Điều tôi muốn nói với ông ở đây là… Khách bỗng ngừng lại: “Sao? Nhà không có đồ khui rượu sao?” Tôi nói, có, nhưng sáng sớm mà rượu chè gì ông anh. Thôi cũng được, khách nói, chỉ là vì tôi muốn cụng ly với ông thôi mà! Vậy nhà có cà phê không? Tôi nói có, nhưng cà phê dở lắm. “Không sao! Không sao! Cà phê gì cũng được, miễn nó là cà phê là ô-kê rồi!” Tôi đến bếp, mở ga nấu nước. Khách hỏi: “Tôi có làm phiền ông không?” Tôi trả lời, không, không, tôi muốn nghe ông nói. “Nói gì?” Khách hỏi. “Thì ông có thể cho tôi biết tại sao ông đến đây gặp tôi, chắc là ông có điều gì muốn nói chứ phải không?” “Gặp ông coi như gặp người đồng hương vậy thôi mà. Mà sao ông viết gì bi quan quá trời vậy? Cái Sổ Tay đó. Ông biết không, tôi ở đây sống một mình. Không gia đình, tứ cố vô thân. Vợ con tôi đã chết hết trong chuyến vượt biên. Hồi ở Sài gòn tôi chỉ là một người lính quèn. Tôi đi lính chỉ vì đến tuổi lính thì đi lính. Tôi không biết chính trị là gì. Chế độ mới tôi cởi áo lính ra, gia đình nheo nhóc, đi kinh tế mới. Sống không nổi, về Sài gòn, còn tệ hơn. Vợ chồng tôi dắt díu về Rạch Giá, quê vợ tôi. Thấy người ta vượt biên tôi cũng vượt biên. Tôi đâu có đồng xu dính túi. Vượt biên vì nhà gần bãi, giúp chủ ghe chứa người rồi người ta cho đi theo. Bị lộ, bị bắt, bị tù. Thả ra, vượt nữa. Lại bị lộ, bị bắt, bị tù. Chuyện cơm bữa. Chuyến đi tưởng được trót lọt, thì bị hải tặc Thái Lan. Vợ tôi bị chúng hiếp, xong liệng xuống biển, ghe đi tiếp bị chìm. ba đứa con tôi nằm trong bụng cá mập. Trên ghe cả sáu chục người chỉ còn có chín. Gần hai mươi năm nay tôi làm đủ thứ nghề toàn là tay chân. Hết bồi bàn rồi bưng phở, hết rửa chén rồi quét dọn thương xá. Thuê gì làm đó. Bây giờ thì đi bỏ báo. Những ngày đầu ở đảo đêm nào cứ chợp mắt là thấy vợ con hiện về. Qua tới Mỹ cũng còn ám ảnh. Nhiều đêm khóc vì nhớ vợ nhớ con. Bây giờ thì nguôi rồi. Thỉnh thoảng thôi. Tôi nghiệm ra người chết thì đã chết, người sống thì phải sống thôi….”

Tôi nói tôi cám ơn ông, nhưng tôi vẫn không hiểu ông muốn nói gì. “Tôi muốn nói, “ông có công ăn việc làm, có vợ có con, mà sao những gì ông viết ra buồn thảm quá. Mỗi lần đọc ông tôi thấy như ông xô tôi xuống một cái hố sâu. Tôi cũng muốn chết quách cho xong đời. Nhưng tôi nghĩ lại, tại sao chớ. Buổi sáng mở mắt ra tôi thấy một ngày vui, đi làm dành dụm được chút tiền tôi gửi về nhà cho mấy đứa cháu. Tôi thấy mình sống có ích. Cái sống là quan trọng. Tôi muốn nói, phải chi ông đừng viết về những điều buồn bã nữa thì tôi rất cám ơn ông. Bất cứ điều gì làm cho thế giới này buồn bã đều là tội ác. Ông không thấy vậy sao? Buổi sáng hôm nay trời đất ở đây mưa gió lạnh lẽo nhưng dưới nam Cali trời ấm áp lắm. Lạnh lẽo thì cũng có cái thú của lạnh lẽo chớ phải không ông? Buổi sáng hôm nay tôi thấy là một buổi sáng hạnh phúc. Chuyến trở về tôi sẽ kể cho ông Đ. nghe về cuộc gặp gỡ này. Chắc ông Đ. mừng lắm. Khách nói không ngừng. Khi ông dừng lại, tôi nghe ấm nước trên bếp vừa reo lên.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

 

Phụ Lục :

Một sổ thông hành để đi vào trái tim đời

Bùi Vĩnh Phúc

(Tựa, cho Sổ Tay Nguyễn Xuân Hoàng) (*)

Jean Michel Basquiat, Self Portrait (Chân Dung Tự Họa)

Nhà văn phải làm việc trên những chất liệu của đời sống. Nhưng hắn không được quyền mang tất cả những chất liệu thô của cuộc đời vào trang giấy. Đối mặt, tiếp cận với những hiện thực của cuộc đời, nhà văn phải ghi lấy những hình ảnh, những ấn tượng mình có vào trong tâm hồn. Hoặc kỹ hơn nữa, hắn phải luôn luôn có một vài mảnh giấy rời, hay một quyển sổ tay nhỏ, bỏ sẵn trong túi. “Lẩn” vào cuộc sống, nhìn ngắm, quan sát, rung động, khổ đau, hạnh phúc, giận dữ, thiết tha… với đời, hắn giữ lại tất cả những điều đó cho riêng mình. Khi thuận tiện, tìm một góc riêng, hắn ngồi xuống, hí hoáy ghi nhận cuộc đời trong mắt nhìn, trong cảm quan và ấn tượng của riêng hắn. Từ những cảm quan, ấn tượng có thể còn khá mơ hồ đó, những tác phẩm lớn có thể ra đời.

Các nhà văn Việt Nam chắc chắn là đã có rất nhiều người viết sổ tay. Nhưng rất ít người công bố những ghi nhận, cảm xúc, ấn tượng ban đầu ấy cho độc giả quan sát. Độc giả, trước sổ tay của một nhà văn, sẽ làm một công việc đặc biệt: quan sát cái được quan sát. Sự quan sát này mang tính văn học, thậm chí văn chương nữa. Nó không còn phải là cái quan sát mang nhiều tính thực tế, khách quan, trước những hiện tượng, sự kiện, biến cố của cuộc đời. Nó là sự quan sát, theo dõi, đánh giá cái đã được quan sát, theo dõi của nhà văn. Chắc chắn một sự quan sát như thế sẽ đem lại nhiều thú vị.

Trong văn chương Việt Nam, Mai Thảo đã là người đem lại cho người đọc những cái thú vị như thế. Nhớ, trong một bài viết về Mai Thảo, tôi đã đọc cái quan sát, rung động của Mai Thảo, trong Sổ Tay của ông, như thế này:

Câu văn của Mai Thảo ở đây thường “tự nhiên” hơn là câu văn của ông ở những chỗ khác. Rất nhiều câu cụt và ngắn một cách cố ý. Mà vẫn có nghệ thuật. Hình ảnh và nhịp điệu của chúng phơi phới bay múa. Nhịp điệu của hình ảnh? Vâng, đó là một đặc trưng của văn Mai Thảo.

” (…) Mưa. Mùa Thu. Mưa dương cầm Nghiêm Phú Phi. Thu vĩ cầm Đan Thọ. Phần tôi, sáng nay một hơi thuốc lá thấy ngon hơn, hơi thuốc của thơ Hồ Dzếnh: ngỡ lòng mình là rừng, ngỡ hồn mình là mây, cộng với cái nhìn bởi nắng đã lui quân nên đằm đằm bóng rợp, đã những ý thơ, hình thơ, ảnh thơ, tứ thơ về mùa thu, về mưa trời, về tháng chín óng ả hiện hình dưới hàng hiên tâm hồn sáng nay tôi đang ngồi, trên một ghế bành tưởng tượng, nhìn mưa Mỹ nghiêng nghiêng chở mùa thu Việt tới (…)

Mùa thu. Moderato, trong nhạc dân gian Phạm Duy. Lá vàng mùa thu. Doloroso, trong nhạc trữ tình Cung Tiến (…) Thơ tiền chiến về mưa thu, nắng thu lấp lánh thật nhiều châu báu, kim cương nơi thể thơ như một bình ngọc riêng được đúc ra để đựng hết mùa thu ngây ngất là thể thơ lục bát. Câu sáu đội mưa thu bay. Câu tám nhặt ngô đồng rụng (…)”

(Văn số 40, 10/ 1985)

“(…) Đích thực mưa xuân. Phơi phới, nghiêng nghiêng. Và lục bát trên những mái nhà. Và tứ tuyệt trên những đường phố. Và song thất ở những ngã tư (…)
Đêm qua thức giấc, thoáng nghe thấy, thật xa, những tiếng mưa trên những cảnh ngộ, những thân thế quê nhà. Tiếng mưa dài như một cuộc đời buồn. Những tiếng mưa tăm tối (…)”

(Văn số 57, 3/ 1987)

[Trích trong Lý Luận và Phê Bình/Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước (Bùi Vĩnh Phúc, California: Văn Nghệ, 1996)]

Trong văn chương thế giới, có lẽ Sổ Tay (Carnets) của Albert Camus là một trong những trang văn, ghi nhận những hiện thực thô của cuộc sống, bằng cái nhìn rất ấn tượng, đặc thù của mình. Hãy xem ông tả khung cảnh New York mà tôi thử dịch lại sau đây:

Có lẽ New York sẽ chẳng là gì cả nếu nó không có bầu trời của nó. Vươn mình ra khắp bốn góc của chân trời, trần trụi và bát ngát, nó đem lại cho thành phố sự huy hoàng, tráng lệ của nó vào buổi ban mai và nét vĩ đại vào những buổi tối. (…) [T]ôi nghĩ đến những buổi chiều khác, quá dịu dàng và lướt qua quá nhanh đến nỗi nó bóp thắt trái tim ta, những buổi chiều nhuộm tím những khoảng sân cỏ bát ngát của Central Park… Những bầy trẻ nhỏ da đen đang dùng gậy gỗ để quật bóng, giữa những tiếng reo cười ồn ào hạnh phúc, trong khi những cụ Mỹ già, áo sọc ca-rô, đang ngả người trên băng ghế (…), những chú sóc vụt chạy biến lao mình vào bụi rậm tìm kiếm những mẩu thức ăn khoái khẩu của chúng. Trên những lùm cây rậm rạp trong sân cỏ, những con chim đang tấu một khúc nhạc jazz chào mừng sự xuất hiện của ngôi sao đầu tiên trên nóc cao ốc Empire State…

(Albert Camus / Carnets, “Le Ciel de New York”)

Carnets, sổ tay, theo định nghĩa, là một cuốn sổ, giống như một giấy thông hành, một hộ chiếu, một thứ giấy tờ chính thức cho phép bạn đi lại, đặc biệt cho phép bạn vượt qua các biên giới quốc gia. Đúng là như vậy. Với Carnets, Camus đã đưa ra những ghi nhận về mọi sự của cuộc đời, những cái nhìn xuyên quốc gia, để nhìn vào trái tim sự sống. Ông đã viết, trong Carnets, “Một người trí thức là một kẻ mà trí óc hắn quan sát chính nó”, và “Chúng ta chỉ sống thật sự một vài giờ phút trong cuộc đời của mình.” Những giờ phút ấy hẳn phải là những lúc con người sống rất thực với bản chất, với rung động của chính hắn.

Nguyễn Xuân Hoàng cũng vậy. Ông cũng đã sống những giờ phút như thế trong Sổ Tay của mình.

Ông đã viết như thế này trong một đoạn Sổ Tay, khi nói về những người bạn thân thiết một thuở giờ đã ra đi, không còn có mặt trong cuộc sống:

Chia tay và gặp gỡ là một biện chứng. Nói theo nhà triết học Martin Heidegger thì bản chất con người là “luôn luôn bị ném về phía trước”. Con người là sinh vật luôn luôn lo toan và dự tính, bởi vì bản thể con người không ở trong con người, nhưng ở trước mặt nó. Chính trong viễn tượng đó, Heidegger gọi con người là vật sống đấy để chết. Con người sinh ra nhất thiết phải chết. Dasein là hữu thể để chết (sein Zum Tode: être pour la mort). Sự chết để lại dấu tích trên từng hành động, trong từng ý nghĩ ta.

(trích bài “Chia Tay”)

Những lời, những chữ ấy như tự nhắc nhở cho mình. Như tự nhắc nhở, rằng, một ngày nào đó ta cũng phải nói lời chia tay, từ biệt với thế gian này. Tự nhắc nhở như thế để ý thức hơn nữa về những giây phút sống của mình hiện tại. Để ta sống một cách có ý thức và có ý nghĩa hơn. Và người đọc, khi tiếp cận với những dòng chữ trên, chắc hẳn cũng sẽ làm một cuộc quy chiếu. Ngay trên bản thân mình. Để thấy rằng mình là một hữu thể hướng về cái chết. Être pour la mort. Viết như thế là vượt qua biên giới của cuộc sống hữu hạn trong vòng trần gian này. Để hướng lòng tới một đích tới xa vời và sâu thẳm hơn.

Viết như thế, nhà văn đã sử dụng một thứ carnets văn học. Nhận thức hiện thực. Và nhận thức nó với một cảm quan nhanh nhậy và bén sắc.

Cũng trong tinh thần ấy, vượt một biên giới gần hơn, nhìn ngắm, suy nghĩ về thế sống lưu vong, xa quê hương của mình, đối diện với một đám đông những người tứ xứ, được nhào trộn trong một mảnh đất của hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, Nguyễn Xuân Hoàng viết:

(…) Những khuôn mặt không quen biết nhưng gần gũi với tôi. Họ là những người trẻ ồn ào hoặc những người trung niên lặng lẽ. Đập vào tai tôi là một thứ ngôn ngữ đường phố mà tôi phải cố gắng lắm mới nắm bắt được. Có người ngồi lặng thinh, mắt nhắm bất động như một bóng ma, chỉ bừng mắt dậy đúng ga muốn xuống và âm thầm bước qua cửa. Dù họ có là ai, nhưng tôi biết đám đông ấy cùng một giuộc với tôi. Họ là tôi, và tôi cũng chính là họ. Sau lưng chúng tôi là một quê hương đã và đang xa. Và trước mặt chúng tôi là một quê hương muộn màng đang gần. Như người tình cuối cùng trong đời, quê hương đó sẽ ở lại mãi mãi với tôi.

(trích bài “Người bạn bất ngờ trên xe Bart”)

Đó là hiện thực. Hiện thực được nhìn ngắm và quán chiếu ở một độ gần và sâu. Nhưng, như trong một đoạn khác, Nguyễn Xuân Hoàng đã viết, cũng như một cách tự nhắc nhủ mình: “Tôi vẫn nghĩ đôi khi hư cấu không bắt kịp hiện thực.” Đúng như vậy. Cuộc sống thiên biến vạn hoá và đầy những bất ngờ, những điều không thể nào tiên liệu được. Hiện thực là một cái gì hết sức vũ đoán. Bản chất của nó là hư cấu, một nhà thơ châu Mỹ La-tinh, Juan Calzadilla, đã nói như vậy. Thực sự, hiện thực còn là một cái gì hư cấu hơn cả hư cấu nữa. Bởi lẽ, để hư cấu, thường, tối thiểu, người ta cũng phải tuân thủ một số luật tắc nào đó. Còn hiện thực, hãy nhìn mà xem, nó có chịu chấp nhận một nguyên tắc nào đâu. Bởi thế, Sổ Tay, một thứ giấy nháp, để viết xuống, để mô tả những khuôn mặt và những xung động của đời, cũng chỉ là ghi nhận lại những điều hư cấu. Nhưng, với một trái tim.

Giá trị của sổ tay là ở mắt nhìn, ở cách quan sát. Nhưng, dĩ nhiên, tất cả những điều ghi chép ấy phải bập bùng một ánh lửa phía sau. Ánh lửa bập bùng ấy nằm trong trái tim của người viết.

Nguyễn Xuân Hoàng có một trái tim bập bùng ánh lửa như thế. Ông viết về những điều xảy ra quanh mình, những điều bất cứ một người nào khác cũng có thể thấy. Nhưng những hình ảnh mà ông ghi nhận xuống, để thành những con chữ nhẩy múa trước mắt người đọc, đã được lọc qua một lăng kính đặc biệt của riêng ông. Chúng phản chiếu cái ánh sáng cháy đỏ, ấm nóng của những ánh lửa trong trái tim nhà văn. Cái ánh sáng ấy làm cho những hình ảnh thô tháp, tầm thường trong đời sống trở nên lấp lánh, và, đôi khi, như trộn lẫn trong chúng âm thanh của những tiếng nhạc, những bài hát mà chúng ta đã nghe đâu đó, trong đời.

… Có những bài hát ta nghe nhiều lần nhưng không bao giờ nhớ nổi một câu và có những bài hát dù không còn phổ biến nữa, nhưng nó vẫn cứ vang lên trong đầu bằng một trí nhớ không được chuẩn bị. Những bài hát làm sống dậy hình ảnh và kỷ niệm, sống dậy mùi vị cỏ cây và hơi thở của da thịt. (…)

(trích trong “Tôi nghe tiếng nước reo trên bếp”)

Những bài hát. Và trái tim ta. Và mắt nhìn, và chữ viết của nhà văn. Đời sống con người, có lẽ, một phần nhờ vào những thứ ấy, mà có thể tiếp tục. Dù cho nó có là một “hữu thể hướng về cái chết” đi chăng nữa, tôi tin chắc, con người đã hướng về cái chết kia với cả thân xác, tâm hồn và trái tim của mình. Thân xác, tâm hồn và trái tim ấy vẫn cần một chút “dưỡng chất trần gian” để đi trọn con đường của nó. Đó là thơ, văn và những gì tạo nên nghệ thuật của con người.

Nguyễn Xuân Hoàng, trong chữ viết của mình, đã đem lại cho chúng ta một chút “dưỡng chất trần gian” như thế.

Xin cám ơn Nguyễn Xuân Hoàng. Và cám ơn Sổ Tay.

Bùi Vĩnh Phúc
Tustin Ranch, Calif.

(*) Sổ Tay Nguyễn Xuân Hoàng, sẽ xuất bản.