09/28/2014
Ngộ Không: Người về một cõi muôn năm cũ – 2

clip_image002

“Sử lịch sai trang

Chạy quàng

Là lịch sử…”

(Lá hoa cồn – Bùi Giáng)

Canh khuya đèn tàn, sử quan dường như tối qua thức suốt đêm, sáng nay trước sân vài ba cây trổ hoa kết quả, ngậm hương mang tuyết, mờ mờ sương phủ lùm cây xa xa. Vậy mà trông mặt mũi ông ủ dột như chiếc lá ướt gặp mưa. Bởi lẽ nhìn suông đất trời như thế này với việc đời biến cải, thời gian đổi dời, hạ qua thời thu tới, đông tàn ắt xuân sang, luật biến dịch tự nhiên là thế. Tất cả như vừa mới qua giấc mộng dài, nhưng chưa chín một nồi kê…

Chẳng là với giấc mộng đồ thư nửa gánh, gươm đàn một bao, ông mang cái hoài bão lấy sở học ra kinh bang tế thế…Vậy mà con đường hoạn lộ không ngoài tiến vi quan thoái vi sư. Ông chỉ là thái tử thiếu bảo tức thầy đồ bát nháo dậy dỗ con vua, cứ như quan thái giám trông coi phi tần, cung nữ không bằng. Ấy vậy mà đến cái tuổi tứ thập nhi bất hoặc, tưởng ông không còn gì huyễn hoặc nữa! Thì nhờ ơn vua lộc nước, ông được tiến cử có chút hư danh trong triều, đó là tước vị sử quan. Nay ông đang ngồi ở sử quán rị mọ sao chép, thêm bớt bộ thông sử của những sử thần tiền nhiệm. Vả lại bộ thông sử cần hoàn tất trước lễ đại khánh, điều đó ắt hẳn sẽ làm vua ta mãn nhãn.

***
Dùng xong bát cháo gà nóng, sử quan sai trà đồng bày bàn trà trước hàng hiên. Ông muốn được thảnh thơi đôi chút trước khi nhập triều. Ông đang vờn mây khuấy nước cùng chim kêu hoa nở, gió thoảng hương bay thì buổi sáng nhón nhén của sử quan bỗng chấm dứt đột ngột vì có tiếng reo hò từ phía cửa Thượng Tứ vọng lại. Ông nghe rõ tiếng chân nhiều người rầm rập trên đường mỗi lúc một gần.

Đặt chén trà đang uống dở xuống, ông đứng lên trông cho rõ hơn. Qua mặt tường thành người ngựa đi được, phía ngoài là hàng rào gỗ dầy đặc, dưới hàng rào có hào sâu, trong hào thả chông, mười phần kiên cố. Ngoài tường thành là quán xá, bốn phương tám mặt, nơi nào cũng cây cối um tùm, qua hàng cây ông thấy loáng thoáng một nhóm người cầm gậy gộc đuổi theo một con chó. Họ vừa đánh vừa quát ầm ĩ: “Chó dại! Đánh chết nó đi!”. Chó và người vụt khuất sau mảng lá rậm của rặng cây ngô đồng. Tiếng kêu ăng ẳng của chó, tiếng gào la hét của

người đập vào tai ông. Lát sau, đám đông tản mát ai về nhà nấy.
Chuyện vặt ngoài kia chẳng đọng lại lâu trong tâm trí sử quan. Lòng dạ ông đang rối như tơ vò vi bộ thông sử ông hiệu đính đây còn nhiều khuyết sử cần phải cẩn án, hiệu đính này kia.

Chiều về, gặp buổi mây chiều gió sớm với bữa yến thưởng trăng tại Vọng nguyệt lâu, trong khi chờ vua giá lâm, các quan nói chuyện rôm rả về cái chết của con chó hồi hôm. Sử quan dửng dưng, nhưng các mẩu đối thoại cứ nhè chui tọt vào tai ông.

Thượng thư bộ lễ răng to như bàn cuốc, chép miệng: “Hình như là chó dại…”
Đông các điện đại học sĩ không bằng lòng với đồng liêu: “Còn hình như gì nữa? Chính mắt tôi trông thấy lưỡi nó thè ra, nước bọt nhễu trắng mõm.”
Tả thừa tướng cãi um lên: “Sao lại chó hoang, phải có chủ chứ?
Hàn lâm viện học sĩ gật gù tiếp lời: “Kẻ nào là chủ con chó hè?”

Vọng nguyệt lâu ắng lặng chốc lát. Nghe thủng chuyện, sử quan trầm ngâm nhìn áng mây bay và tự hỏi sáng nay chính ông đã thấy nó chạy ngoài tường thành. Bây giờ ông không dám chắc một điều gì cả! Vua Khải Định vẫn còn đang mải mê coi hát bộ trong hậu cung. Câu chuyện lại tiếp tục với đông các điện đại học sĩ: “Nó đã cắn nhiều người, đánh chết là phải.”
Thượng thư bộ binh: “Đánh là thế nào? Bọn lính giản bắn mấy phát tên mới giết được nó.”
Tiền thị vệ giọng xởi lởi: “Bẩm phải.”
Hữu thừa tướng gạt đi: “Không có cung tên nào hè. Chính mắt tôi thấy con chó bị đánh bằng gậy!”

Vừa lúc vãn tuồng hát, vua giá lâm. Sau khi miễn lễ cho các quan, vua vui vẻ báo tin: “Các khanh biết không? Sáng nay, một ngự lâm quân của trẫm đã bắn chết con chó bằng súng điểu thương!” Không ai bảo ai, các quan đại thần nhất loạt đứng lên, nâng chung rượu khai vị bằng hai tay, đồng thanh: “Lạy thánh mớ bái, thật không hổ danh ngự lâm quân!”.

***
Trên đường về sử quán, sử quan bã bười, tươi tớp về cái chết của con chó khiến ông bối rối. Như thị ngã văn, sự việc vừa xảy ra ngay trước mắt, ông còn chưa biết đâu là sự thật thì làm sao mà viết thành văn bản cho sử thi? Huống chi nhân vật lịch sử, sử tài cách ông cả chục năm mới đây thì còn mù mờ biết nhường nào? Ấy là chưa kể sử kiện xẩy ra cả ngàn năm trước, cả trăm năm sau như gió thổi mây bay thì nào ai có hay biết. Vì vậy những gì ông đang hiệu chỉnh trong bộ thông sử đây, với giác ngoại biệt truyền bất lập văn tự, nếu như có bậc thức giả nào đấy văn kiến súc tích, sở kiến cao minh để ông kiến văn sở thị thì hay biết mấy. Ông nghĩ thêm đêm nay ắt hẳn phải thay bấc đèn nhiều lần và quay lại thăm chừng đèn đóm…

 

 

clip_image004

 

Bất chợt ông ngước mắt nhìn lên bức truyền thần vẽ vị tiền bối của ông là cụ Phan Thanh Giản, cụ đồng thời cũng là Quốc sử viện giám tu ở đây, mà trước kia thời Vua Minh Mạng được gọi Quốc sử quán. Vị đại thần này là người đã soạn thảo bộ Đại Nam hội điển, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí. Cụ mặc áo đại triều mầu thiên thanh, đội mũ cánh chuồn, chân mang hia cánh phượng. Cụ trông thật cương nghị và quắc thước với bộ râu trắng, dường như đang nhìn ông muốn…dò hỏi chuyện gì làm ông đang rối trí đây.

Chuyện là sử quan đang nổi trôi bồng bềnh như thuyền gặp sóng với mấy cái tựa đề sử thi của cụ Phan gì mà lẵng nhẵng quá thể! Trong một giây phút yên sĩ phi lý thuần, ông bật ra ý đồ hay là hãy tránh giẫm lên những bước chân sói mòn của tiền nhân dựng sử theo kỷ truyện của Tư Mã Thiên với tiểu sử nhân vật. Hay như cụ Phan chẳng hạn với sử biên niên, sử liệu viết theo niên hiệu, niên đại mà Khổng Phu Tử là người tiên khởi. Hoặc giả như với sử cương mục của Chu Hy với tiểu đề ở đầu chương là đề mục rồi dàn trải dông dài hồi sau.

Vì vậy ông chẳng rỗi hơi lặp lại toàn bộ thông sử vì ai cũng biết rồi, nhiều khi chỉ làm rối ren thêm. Những gì ông đang đầu bù tóc rối bây giờ, tất cả chỉ là những mảnh rời của những đoạn tạp bút, nói cho ngay là…tạp sử. Trong mươi trang tạp sử này, ông không bản lai diện mục như với cái chết của con chó sáng nay để đi tìm đâu là sự thật. Ông chỉ đề mục một vài khúc ông chưa thông tuệ của triều Nguyễn mà ông đang là bề tôi. Rồi cứ thế mà ngược dòng lịch sử khoắng mái chèo dăm ba uẩn khúc của khuyết sử vẫn còn tồn nghi. Hay nói khác đi, ông muốn đối thoại với lịch sử một nghìn năm trước, một trăm năm sau…Ấy vậy mà nước sông ba trăm năm mới đổi dòng một lần, thế nên chẳng hẳn là suôi chèo thuận mái. Rõ ra sử quan như chiếc thuyền con ngược bến Văn Lâu về một vùng hoang vu vạn lý…

***

Với tay lấy bộ tứ bảo… Gia dĩ ông là thái tử thiếu bảo, ông chấm bút lông vào nghiên mực và bắt đầu với con vua trước vốn là ấu đồ của ông…

“…Thái tử Bửu Đảo ăn ở với nhiều cung phi, cung tần mà vẫn chưa có người nối dõi, thì trong cung sẩy ra chuyện cô gái hầu của công chúa Ngọc Lâm, con vua Đồng Khánh, xuất thân từ gia đình dân giả, tên Hòang thị Cúc. Một hôm trong cung khám phá ra cô hầu Cúc có thai.

Đức thái hậu, chánh phi của vua Đồng Khánh, nghi vua tằng tịu với con hầu, bèn cho đào một cái hố sâu, đổ nước, bắt cô Cúc đứng ở dưới đó, để cho lính tra khảo. Nhưng cô vẫn một mực không chịu khai, Bửu Đảo thấy vậy, thương hại nên nhận là “tác gỉa” của bào thai này.

Vua Đồng Khánh băng hà, Bửu Đảo vì không có con trai nối dõi nên bị hội đồng hòang tộc lọai ra ngòai. Nhưng bà Hòang Thị Cúc, tuy xuất thân từ giới dân giã, nhưng rất khéo léo, vận động thẳng Tòan Quyền Đông Dương để Bửu Đảo lên nối ngôi tức Vua Khải Định. Còn cái bào thai sau là thái tử và sẽ là người kế vị vua…”

Chuyện Hoằng Tôn Tuyên hoàng đế Khải Định chỉ có vậy, nếu vẽ rết thêm chân chăng nữa không ngoài là ông vua mê đào hát. Ngay chính ông múa bút tự trào với khẩu khí chẳng biển ngẫu chút nào: “Xuân xanh tuổi ngoài đôi chục, chơi đục trần ai, khi bài khi bạc, khi tài bàn vác, khi tổ tôm quanh, khi năm canh ngồi nhà hát, khi gác cổ ả đào, khi ghẻ tầu con đĩ xác, khi nằm rạp thuốc phiện tiêm, hoang ra dáng, rạng ra rồng, ngông ra phết, cóc biết chi tồi, miệng én đưa qua mùi gió thoảng”.

Thế nên vua thường tuần du vào Sài Côn để xem hát bộ, cải lương. Sài Côn ở đâu sử quan cũng chẳng mảy may hay biết. Huống chi Bắc thành ngoài Bắc bộ, hay Nam Kinh mãi ở bên Tầu, sách địa dư, địa chí không có nên viết sử nhiêu khê không phải là ít. Còn vua kế vị là ai, vương hiệu gì là chuyện của sử quan kế tiếp, như ông đang làm cái công việc của Quốc sử viện giám tu đây. Như triều đại nhà Nguyễn với Dực Tông Anh Tự Đức, cứ theo giai thoại với chuyện vào thời này, Tự Đức truyền quan quân kéo tới đập phá đền thờ quan Trạng “An Nam lý học hữu Trình truyền”. Hỏi ra mới hay Tự Đức tức giận vì câu sấm “Gia Long tam đại – Vĩnh Lạc vi vương”. Diễn nghĩa là chả phải truyền tử tôn đời đời kế thế như Bà Thiên Mụ dậy mà theo cụ Trạng Trình chỉ có 3 đời: Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Vì Tự Đức không phải giòng giống nhà Nguyễn, mà là con của Quận Quế người Vĩnh Lạc. Lại nữa, Vua Tự Đức không có con nên nhà nước Bảo Hộ Pháp chọn con nuôi Tự Đức đưa lên ngôi với đế hiệu Dục Đức. Cứ theo ông: Nhà Nguyễn ngừng lại ở triều Tự Đức hay quá lắm là Khải Định.

Mò mẫm ở thời Tự Đức, ông bắt gặp cụ Phan Thanh Giản đã xuất dương nhiều nơi. Ông như chiếc đèn dầu đang muốn soi rọi những bước đi của vị tiền nhân này thì…Thì bỗng cái đèn hạt đậu đang đỏ đèn bỗng lóe lên một cái như muốn phụt tắt. Ông chồm người khều cái tim dầu. Và quay lại…Ông thuỗn người ra vì vừa nhắc đến “triều vua nhà Nguyễn thuộc Pháp” thi ông thấy rõ mồn một…một ông Tây mặt như lá chuối hơ lửa, đứng trong thư phòng tự lúc nào. Ông dụi cái đóm lửa và thần ra nhìn ông khách lạ như gặp lại “người về tự trăm năm”. Người khách lạ ngó lơ như không có ông ở đấy, lẳng lạng kéo cái ghế trông ngồi xuống, bình thản săm soi bản trước tác mà ông đang rị mọ…

Đèn đóm đã tỏ đèn lại, sử quan ngắm ông Tây kỹ hơn rõ ra đại nhân này cao lớn như quan Khâm Sứ Trung Kỳ vẫn thường đến gặp bà Hòang Thị Cúc: Ông liếc trộm thấy quan đội mũ chùm hụp như cái nồi. Lưng đeo cái hồ lô. Áo không có cánh tay, hai túi có nắp đậy như cái liếp cửa trái bếp, hai cầu vai có mảnh vải như con cá rô con nằm bẹp dí. Áo bỏ trong quần. Quần không có ống, chân quấn vải giống cái rọ bắt cua và mang giầy da bò. Người quan ngoại có nét mặt đồng nhan, nghiễm nhiên như tùng bách. Như có linh tính, sử quan quay lại nhìn bức truyền thần đằng sau lưng, và đập vào mắt là cái khung trống trơn…

Ông đang trơ mắt ếch thì nghe cười khủng khỉnh:

– Bản chức là Phan Thanh Giản đây.

Sử quan như Từ Hải chết đứng vì chẳng hiểu là người hay…ma. Vừa ngây người nhìn bộ áo quần cụt ngủn, ông vừa suy nghĩ ngôi có tôn ti, lễ có cấp bậc nên bối rối ra mặt và lắp bắp:

– Đại…đại nhân là…là cụ…cụ…

– Cụ cố gì. Tiên sinh cứ khách sáo, rõ vẽ chuyện.

Rồi “cụ” chỉ vào bộ đồ đang mặc:

– Hồi qua Tây nhờ nhìn cái đèn đường chổng ngược nên bản chức sắm được đấy.

Sử quan líu lưỡi:

– Cụ đi…đi…Tây.

Cụ Phan cười cười:

– Thì còn ai trồng khoai đất này, sử của tiên sinh chép rành rành thế đấy.

Thủ lễ vấn danh xong nhưng trong cái đầu đậu phụng của sử quan như dầu tẩm bột gạo vì với cụ Phan, ông một lòng tác dạ ngưỡng mộ đã lâu. Nay nhân giải vong niên, thật là tam sinh hữu hạnh mới được hội kiến nên ông cứ đực ra như ngỗng đực. Vừa lúc cụ chỉ vào dòng chữ “…Còn cái bào thai sau là thái tử và sẽ là người kế vị vua…” ngay trước mắt ông và dậy:

– Hoàng tử Vĩnh Thụy vốn người ngoại tộc, được Khải Định nhận làm con nuôi. Khi Khải Định Hoàng đế qua đời ở tuổi 41. Các quan phụ chính đại thần như Tôn Thất Hân , Nguyễn Hữu Bài vội vàng ra bản thông tri đưa lên nối ngôi, lấy hiệu là Bảo Đại, mới 13 tuổi.

Rồi ông tiếp:

– Năm 1949, Bảo Ðại đã chọn Sài Gòn làm kinh đô của Việt Nam.

Câu nói vo ve trong tai sử quan như ong vò vẽ kêu, cụ nói giọng mũi lơ lớ…như quan Tòan Quyền Đông Dương và cho ông hay thái tử sau này là…vua. Nghe vậy, ông hân hoan ra mặt nhưng sẽ tham vấn sau. Nhân nghe đến địa danh Sài Côn mắc chứng gì lại là kinh đô Sài Gòn, trong khi ông đang ngồi bí rị ở sử quán kinh đô Huế. Một công đôi chuyện có cụ đây, ông định biện giải là bấy lâu nay ông lạc vào mê hồn trận với những nhà biên khảo, học giả cùng địa danh bắc giáp địa dư, tây giáp địa chí như lạc vào bát quái trận đồ. Chưa hết, những sử quan đi trước với mỗi người mỗi niên đại, niên hiệu khác nhau nên ông chả biết đâu mà lần với sử nước nhà. Thêm nỗi huyền hoặc, huyền sử nữa là sao cụ lại biết quá khứ vị lai ấm sinh Vĩnh Thụy của ông. Ấm sinh ông nay mới ba tuổi, mươi năm nữa sẽ làm vua, chạy trời không khỏi nắng ông sẽ chẳng là…quan phụ chính đại thần như cụ đây.

Thế nên ông càng líu ríu tợn và lưỡi đá miệng nói chữ:

– Sao các hạ hay mà tại hạ chẳng…hay.

Cụ giọng khàn khàn, tịt tịt:

– Hay ho gì đâu…Chẳng dấu gì tiên sinh, bản chức vốn là người thiên cổ, tức người cõi trên ở chốn thiên đàng. Bản chức giống thiên thần suốt ngày bay tới bay lui. Lắm khi bản chức bay tới cả nghìn năm trước, trăm năm sau mà chữ nghĩa sau này gọi là “lỗ hổng thời gian” ấy mà, thưa tiên sinh. Vì vậy có một số người vượt thời gian không gian, ngược lại quá khứ và tìm thấy tiền kiếp của mình ở một góc làng xa xôi hẻo lánh nào đó. Thỉnh thỏang họ lại mang về dăm cái nồi, cái chảo hoen rỉ, cũ kỹ cả trăm năm. Hoặc họ lạc đường tới hậu kiếp, mang về…cái máy nói cầm tay, cái máy vi tính. Như bản chức đây…

***

Nói xong, cụ lôi trong túi áo ra bao giấy bóng kính to bằng bàn tay có hàng chữ Tây Phillips Morris để lên bàn…Sử quan thần ra chẳng biết là cái của nợ gì? Giọng cụ khừng khực: “Thuốc lá có từ thời Lê Quý Đôn đấy”. Sử quan thêm lụi đụi với thuốc…Cẩm lệ này! Thêm nữa, cụ xuất dương có khác, lời truyền tụng bốn bể nghe danh, quả đà chẳng hề sai lạc đúng là ý tại ngôn ngoại, học thuật tinh vi, hình mạo nham cổ, ắt có cái hanh thông hơn người. Nhân khi nghe cụ dậy có thể quay về tới cả nghìn năm trước cả trăm năm sau, sử quan đang có những khúc mắc về sử thi. Buồn ngủ gặp chiếu manh, nay cửu trùng tri ngộ, sử quan cũng muốn cơ xướng náo nhiệt một phen với cụ qua nhà Lê với chuyện Lê Lai liều mình cứu chúa.

Ông năm nắm với có bột mới gột lên hồ nên thưa gửi với cụ văn bản mà ông có được:

“…Theo Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sử: Quân Minh biết Chí Linh là chỗ Lê Lợi lui tới, bèn đem binh vây đánh. Vương hỏi các tướng rằng: Có ai làm được như người Kỷ A Tín chịu chết thay cho vua Hán Cao Tổ không? Bấy giờ có Lê Lai xin mặc thay áo ngự bào, ra trận. Quân Minh tưởng là thật, xúm nhau lại bắt sống Lê Lai dẫn về thành Đông Quan…“giết chết”.

Trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú kể: Lúc mới khởi binh, bị tướng Minh vây ngặt, vua hỏi các tướng, bàn xem [có ai] đổi áo đánh lừa giặc, như việc Kỷ Tín ngày xưa. Ông xin đi. Bèn mặc áo bào, đem quân đánh đến đuối sức, và… “bị bắt”.

Một điều đáng ngạc nhiên là các sử quan các đời về sau đều chép truyện Lê Lai liều mình cứu chúa, trong khi nhóm sử quan đời Lê không ghi chép truyện này. Sự thực ra sao? Chắc chỉ có Nguyễn Trãi, một người trong đại cuộc, mới có câu trả lời đúng nhất. Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi được chính Lê Lợi đề tựa, kể rằng: Thế giặc đang lớn mạnh, vua vời các tướng lại nói: Ai có thể mặc áo bào thay ta đem quân đi đánh thành Tây Đô? Lê Lai nhận. Nguyễn Trãi cho biết là Lê Lai bị quân Minh… ‘’bắt sống’’ và bị tra tấn dã man.

Riêng Đại Việt sử ký toàn thư chép : Giết Tư mã Lê Lai, tịch thu gia sản, vì Lai cậy có công đánh giặc, nói ra những lời ngạo mạn nên bị giết.

Rõ ràng Lê Lợi hạ lệnh giết Lê Lai năm 1427. Chi tiết quan trọng này không thấy các sử quan đưa vào sử thi. Hoàn cảnh của Nguyễn Trãi không cho phép ông viết lúc Lê Lợi còn sống. Ngô Sĩ Liên, một sử thần nhà Lê, chép lại cho hậu thế một sự kiện lịch sử và đã giữ đúng tác phong của một sử gia nghiêm túc. Không hiểu tại sao các sử quan đời sau lại quên chi tiết này? Ngô Sĩ Liên nhận xét về Lê Lợi như sau: Vua dấy nghĩa binh đánh giặc Minh, 10 năm mà thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, định luật lệ, mở khoa thi, lập phủ huyện, mở học hiệu. Có thể gọi là có mưu lớn sáng nghiệp. Song đa nghi hay giết quần thần tôi trung, đó là chỗ kém…”.

Cùm nụm cùm nựu xong, sử quan thấy cụ Phan tảng lờ như không hay. Cụ lúi húi thò tay vào cái ba lô, lôi ra hai cái ly có chân và chai rượu mầu đỏ tên Bordeaux. Cụ rót mỗi người một ly. Sử quan nhấp một ngụm thấy chua như nước đái mèo. Thầm nghĩ thảo nào có giai thoại cụ uống rượu như uống thuốc độc rất ư khả tín.

Bỗng thấy cụ tặc lưỡi đến tách một cái, bày tỏ khí vị:

– Ấy đấy, dậu đổ bìm leo thì cứ như theo An Nam truyện của Vương Thế Trinh, một danh thần nhà Minh chép: Viên thổ quan Lê Lợi vốn là bề tôi của cố vương Trần Quý Khoát nhà Trần làm phản. Rồi bó thân xin hàng thiên triều, được ban chức Tuần kiếm. Nhưng vẫn ôm lòng phản trắc, nay tiếm xưng là Bình Định Vương…. Sử kiện Lê Lợi làm bề tôi nhà Minh trong Minh thực lục cũng có chép, nhưng sử thần Ngô Sĩ Liên muốn giấu việc này nên cố tình lược bỏ đi trong Đại Việt sử ký toàn thư.

Tiếp đến Tang thương ngũ lục của Phạm Đình Hổ đời Lê Cảnh Hưng kể rằng:

Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đến tìm Lê Lợi để mưu đồ đại sự. Lần đầu gặp ngày giỗ, Nguyễn Trãi thấy Lê Lợi là hào trưởng miền núi, mắt trắng như con tinh, môi thâm sì da quất bì, Lê Lợi “pha (pha: xẻ, thái, chặt) thịt lợn, thỉnh thoảng lại nhón một miếng bỏ vô miệng nhai ngồm ngoàm”. Nguyễn Trãi đã bỏ đi, vì cho là người tầm thường. Còn người anh họ của ông là Trần Nguyên Hãn thì cho rằng diện mạo Lê Lợi giống Câu Tiễn (hàm ý rằng đó là người vô ơn).

Nguyễn Trãi thất vọng bỏ về. Lần thứ nhì trở lại, gặp Lê Lợi thức khuya nghiền ngẫm binh thư, ông mới vào ra mắt. Ừ, nếu như Lê Lợi không giết Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lê Lai và một số công thần khác. Thế nên có nhăm bài viết cho rằng Lê Lợi không phải là người nông dân áo vải, mà là người dân tộc, tức người miền núi…núi Lam Sơn.

***

Sử quan đợi cụ cung tường chỉ thấy bấy nhiêu. Tiếp đến, cụ miệng bập bập điếu thuốc:

– Dào! Tiên sinh cứ bới bèo tìm bọ là chẳng ai bằng! Theo bản chức thì chết là hết chuyện.

Sử quan tháo động:

– Xin các hạ xá cho, chữ nghĩa tại hạ chưa đong đầy lọ mực, lâu lâu lại nhai văn nhá chữ buồn ta, con giun nào biết đâu là cao sâu, ai mà so bì được với các hạ.

Cụ Phan háy mắt cười tủm:

– Lạ chửa kìa, tiên sinh già rồi cứ như trẻ con ấy. Thử hỏi rằng bản chức với tiên sinh âm dương cách trở gặp nhau, ngòai ba cái chuyện nhai văn nhá chữ nào khác gì Ngồi buồn đốt một nhúm rơm, khói lên nghi ngút chẳng thơm tí nào.

Sử quan giơ sấp mực tầu giấy bản lên nắc nỏm:

– Thì tại hạ đang đốt rơm đây…

Thay vì đốt rơm, sử quan…đốt điếu Phillips Morris thở ra khói:

– Chẳng dấu gì các hạ, ngược về thời kỳ Bắc thuộc với Hai Bà, mà trong dạ tại hạ mang trăm mối sầu u vương vấn hổ thẹn…Chuyện là:

“….Hai Bà Trưng quê ở huyện Mê Linh đất Phong Châu, con gái của Lạc tướng, chị là Trưng Trắc, em là Trưng Nhị, bấy giờ thái thú Tô Định mang quân sang đô hộ nước ta và…”giết “ chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách. Hai Bà dấy binh chiếm lấy 65 thành trì ở…”Lĩnh Nam (*) để trả thù chồng khiến Tô Định phải bỏ chạy. Hai Bà lên làm vua, đóng đô tại Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Hai năm sau, nhà Hán sai Mã Viện với binh hùng tướng mạnh, vây hãm Hai Bà tại hồ Lãng Bạc, Hai Bà chống không nổi, phải lui về Cẩm Khê sau cùng lên núi Thường Sơn rồi hóa. Trong sử ta chép rằng: Hai Bà cùng nhẩy xuống sông Hát Giang tự vẫn.

Chuyện bà mất, qua Hậu Hán Thư viết: Minh niên, chính nguyệt, trảm Trưng Trắc, Trưng Nhị, truyền thủ Lạc Dương. Dịch nghiã như sau “Năm sau, tháng giêng, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, gửi đầu về Lạc Dương”.

Sử Khâm Định Việt sử thông giám cương mục triều Nguyễn có ghi: Trưng Vương và em gái chống với quân Hán bị binh lính bỏ trốn, lại thế cô, cả hai thất trận chết. Hiểu theo nghiã là không phải Hai Bà trầm mình ở sông Hát Giang mà chết ở trận địa.

Sách Thủy kinh chú của người Trung Hoa viết về ông Thi thì ông chẳng hề bị Tô Định giết mà còn sát cánh với bà, sau khi bị Mã Viện tấn công: Thi và Trưng Trắc chạy về Cẩm Khê, 3 năm sau cả hai vợ chồng bị bắt. Và 8 tháng sau bị hành hình. Vậy sao sử quan nước nhà lại mượn tay Tô Định…”khai tử ông Thi”. Họ lập luận rằng vì người Việt cổ theo chế độ mẫu hệ. Các sử quan sau này là nhà Nho để ông Thi còn sống mà bà Trưng Trắc làm vua thì ngược lẽ với…thánh hiền Khổng Mạnh. Nhà Nho không làm như vậy…

***

Riêng về cái tên Thi Sách thì Phạm Việp trong Hậu Hán thư viết theo dạng chữ Nho không có dấu: Châu diên lạc tướng tử danh thi sách mê linh lạc tướng nữ danh trưng trắc vi thê trắc vi nhân hữu đảm dũng tương thi khởi tặc mã viện tương binh thảo trắc thi tẩu nhập cấm khê.

Chữ Nho không có dấu mà chỉ nhấn câu. Nếu nhấn ở chữ “Sách” (hoặc đánh dấu phẩy và viết hoa theo chữ Quốc Ngữ): Châu Diên Lạc tướng tử danh Thi Sách, Mê Linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê…. Câu này diễn Nôm là: “Con trai Lạc tướng huyện Châu Diên tên Thi Sách, có vợ là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh tên Trưng Trắc…”

Sau Thái Tử Hiền, con vua Cao Tông nhà Đường, ông đã chú thích để sửa lại như sau: Vì “sách” ở đây nghiã là “lấy” và “thê” là “vợ”. Nên phải nhấn ở chữ “Thi”: Châu Diên Lạc tướng tử danh Thi sách Mê Linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê. Diễn nghiã là: “Con trai Lạc tướng huyện Châu Diên tên “Thi”, “lấy” vợ là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh tên Trưng Trắc…”.

Khi không, cụ Phan cau mày với thế sự du du hề một cuộc bể dâu:

– Hóa ra ông Thi mang tên Thi Sách đã được truyền đời qua bao nhiêu thế hệ.

Xong, cụ nhăn mặt với nhân kiếp phù sinh hề, một thóang bạch câu:

– Và bà Trưng Trắc vẫn là quả phụ bất đắc dĩ. Cua ốc mùi bùn là thế đấy, thưa tiên sinh.

***

Bỗng dưng khi không cụ nhắc đến…cua ốc, sử quan nhớ lại hình ảnh An Dương Vương mang Mỵ Châu bỏ chạy khỏi thành Cổ Loa hình trôn ốc. Thế là sử quan rong ruổi ngược về với thời kỳ Bắc thuộc thêm một lần nữa với An Dương Vương và Triệu Đà 500 trước. Với tình riêng nỗi cảnh, nỗi khách bâng khuâng, chẳng thể cầm lòng… Sử quan nồng nã với cụ Phan:

“…Theo Đại Việt sử ký toàn thư, An Dương Vương họ Thục tên húy là Phán, người Ba Thục đánh vua Hùng lúc vua…“đang say rượu” nên thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê nay là thành Cổ Loa. Thành cuốn tròn như loa ốc nên được gọi là Loa Thành. 50 năm sau Triệu Đà mang quân sang xâm lấn nhưng bị nỏ thần bắn nên bỏ chạy. Đà sai con là Trọng Thủy vào hầu làm túc vệ rồi cầu hôn con gái vua là Mỵ Châu. Trọng Thủy dụ dỗ Mỵ Châu bẻ gẫy nỏ thần, thế là Triệu Đà đánh thắng được Thục Phán…”

Cụ Phan ngừng lại, moi thêm một điếu thuốc lá và nhướng mắt nấu sử sôi kinh:

– Nhờ tiên sinh mang đoạn cương mục của Ngô Sĩ Liên vào văn bài dùm: Về điều ghi Thục Phán người Ba Thục thuộc Tứ Xuyên. Từ đất Thục tới Văn Lang phải qua Vân Nam cả hai ba nghàn dặm, việc ấy đáng ngờ lắm…. Đáng ngờ hơn nữa là theo Tư Mã Thiên: Thục vương thôn tính Tây Giang phía tây Nam Việt dựng lên nước Tây Âu Lạc. Sau bị Triệu Đà thôn tính. Nó không phải là vùng đất phía tây đồng bằng sông Hồng, thưa tiên sinh.

Loay hoay trong cõi người ta, sử quan cũng với tay làm một hơi. Cả hai điếu động quan, điếu hạ thủy nên cả thư phòng đụn khói thuốc lá. Cụ Phan như người cưỡi khói theo mây:

clip_image006

– Gần đây bản chức bay về Đông Anh, Hà Nội xem tận mắt họ đào xới mới thấy nền móng còn lại của “3” vòng thành như bất cứ cổ thành với giao thông hào nào khác. Không hề có việc các vòng thành cuộn hình xoắn ốc. Thành này nằm gần một vùng ao đầm lắm ốc, lại có một vùng có tên là Vọng Nhân nghĩa là “người ốc”. Nên dân gian gọi nôm là thành ốc chăng? Bản chức chỉ ăn ốc nói mò vậy thôi, thưa tiên sinh. Ấy là chưa kể theo Ngô Sĩ Liên thì An Dương Vương chưa hẳn đã có mặt ở trên đất nước ta, thưa tiên sinh…

Sử quan như lạc đường vào lịch sử, cụ Phan từ tốn trích câu tầm cú:

– Sử ký của Tư Mã Thiên, chương Nam Việt Úy Đà liệt truyện viết nước Thục của An Dương Vương ở Quảng Tây. Rồi thành lập nước Tây Âu Lạc với thành Cổ Loa “9” vòng ở đồng bằng Tây Giang. Tư Mã Thiên khẳng định nhiều lần: Nước Tây Âu Lạc của người Âu Lạc.

Cụ se sắt thêm khi người Tàu sang xâm chiếm nước ta, ta xây thành ở Trấn Kinh Bắc chống họ. Thì họ xây 3 vòng thành, vòng trong cùng hình chữ nhật để phòng thủ cho chính họ chống lại với ta. Đất này tiếng người Mường cổ gọi là “Klu” là địa danh cổ. Người Việt mình đọc trại đi “Klu” là…”cổ”, là:…Cổ Loa.

***

Sử quan nghe cụ giải bày lóng chóng quá thể, thiên bất đáo địa bất chi với Tượng Quận, Nam Việt nên quay quả trở lại 50 năm thời Triệu Đà cùng thế sự quân mạc vấn:

“…Theo Ngô Sĩ Liên. Họ Triệu tên húy là Đà, người Nam Hải, đóng đô ở Phiên Ngung, Quảng Châu. Vua chiếm lấy…“Tượng Quận”, lập lên nước…“Nam Việt”.

Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đều cho rằng Triệu Đà xâm lược nước Âu Lạc của tộc Việt rồi sát nhập vào nước Nam Việt. Trong sử, họ xếp vào “kỷ nhà Triệu” như một triều đại trong lịch sử Đại Việt. Đây là một sự nhầm lẫn, đến thế kỷ 18, Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án mới bác bỏ sai lầm này. Ông khẳng định: Triệu Đà…thực chưa làm vua nước ta vì..nước Việt ở miền Nam Hải, Quận Tượng” …không ở vị trí nước Việt ngày nay.

Thêm một sử liệu với Nam Việt của Triệu Đà ở Quảng Tây với chỉ dụ của vua Gia Khánh nhà Thanh: Trẫm đã duyệt kỹ biểu văn thỉnh phong của Nguyễn Phúc Ánh việc xin phong tên nước là “Nam Việt” không thể chấp nhận được. Địa danh “Nam Việt” bao hàm rất lớn, khảo sử xưa hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây đều nằm trong đó. Nguyễn Phúc Ánh là tiểu di nơi biên giới, lãnh thổ bằng đất Giao Chỉ xưa là cùng, làm sao lại được xưng là Nam Việt cho được. Rõ ràng tự thị muốn đòi thêm đất, nên lệnh truyền cho các quan Quảng Đông, Quảng Tây lưu tâm phòng bị biên giới, quan ải không được trễ nải, lơ là…”.

Như chẳng vừa ý, cụ Phan lẫm đẫm với sử quan:

– Hết Nam Hải đến Quận Tượng, chữ nghĩa tiên sinh cứ rối rít cả lên ai mà thông hanh cho đặng. Hay là để bản chức mạn phép luận ngữ như thế này đây:

“…Thư tịch Trung Hoa chẳng thể giải mã những sử kiện từ thời Đường Ngu, tức 2600 năm trước TCN nên sự hiểu biết của sử gia Trung Hoa bị hạn chế. Sau này, kể cả Tư Mã Thiên, phần nhiều mang dòng máu Hán tộc nên viết không chính xác những nước gọi man di chung quanh. Vì vậy nguồn thư tịch Trung Hoa chẳng thể là khuôn vàng thước ngọc cho các sử quan “man di” ta lấy đó để…dựng sử “tiểu di” của mình. Ấy vậy mà cho đến nay, vẫn còn nhăm học giả, biên khảo chưa thoát được sự “cầm tù” của thư tịch Tầu…

Chẳng qua là từ thời sơ khai Nghiêu – Thuấn nước Trung Hoa nằm trên sông Dương Tử, vì không có đồ chí, địa dư đồ nên ngay lúc này đây với khảo cổ hiện đại họ cũng chưa xác định kinh đô Nghiêu -Thuấn ở đâu? Huống chi đất Giao Chỉ. Riêng Giao Chỉ chỉ là cái tên với khái niệm mơ hồ. Rất mơ hồ hiểu theo nghĩa là tên gọi nhưng chẳng thấy đất đai. Địa danh Nam Giao đẻ ra Giao Chỉ. Vì “Giao” từ hai chữ Nam “Giao” với chữ “chỉ” có bộ phụ mang nghĩa là khu vực. Giao Chỉ được hiểu là vùng đất ở về phía nam của địa danh Nam Giao của họ.

Rõ ra tên Giao Chỉ là một vùng đất rất lớn, nằm dưới sông Dương Tử, có núi Ngũ Lĩnh, có sông Tương chẩy vào Động Đình Hồ. Vào đời Chu bao gồm luôn tên nước Sở thời Xuân Thu chiến quốc. Đời Tần Thủy Hoàng gọi Giao Chỉ là…”Tượng Quận”. Đời Hán thì Giao Chỉ mới thành địa danh cố định là bắc bộ Việt Nam, châu thổ sông Hồng, thưa tiên sinh.

Nay mạo muội xin vấn tôn ý chứ với một ngàn năm trước một trăm năm sau thì thành Tây Giai của nhà Hồ hay kinh đô Nam Kinh của nhà Mạc ở đâu? Bản chức chắc mẩm tiên sinh cũng quá mù sa mưa. Ngay như thiên niên kỷ này với ải Nam Quan, các nhà học giả, biên khảo cũng chẳng hay nó nằm ở mảnh đất đầu thừa đuôi thẹo nào? Thôi thì bản chức dựa vào biên bản phân giới của Công ước Thiên Tân giữa người Pháp và Lý Hồng Chương: Vì “La Porte de Chine” hay “Cổng Tầu” nằm trong một khe núi cạn nên cần phải rời tới một khỏang đất rộng rãi hơn. Thế nên ải Nam Quan cũ nằm trong đất Tầu thuộc tô giới Bằng Tường cách Đồng Đăng 20 cây số đã bị tướng Negrier trong ủy ban phân định biên giới Pháp-Hoa, giật sập từ năm 1884 để xây cổng mới ở một địa điểm khác. Cổng mới, người Tầu gọi là Đại Nam Quan. Ải cách quận lỵ Đồng Đăng 4 cây số và cách cái cột mốc số 18 về phía nam đúng…100 thước.

Ải mới này được người trong nước ngày nay hồ hởi gọi là…”Hữu Nghị Quan”.

Ấy đấy, chuyện đồ thư, đồ bản với sử Tầu, sử Việt cứ lẫn lộn về địa đanh, nơi chốn là thế đó. Gần đây bản chức mới có thêm sử liệu mới cho biết năm 1980 người ta đã tìm thấy ngôi mộ của Triệu Muội ở Quảng Châu. Triệu Muội là vua thứ hai nhà Triệu nước Nam Việt. Tức Triệu Văn Vương, con trai của Trọng Thủy, tức cháu nội Triệu Đà. Vì vậy theo ngu ý thì Âu Lạc ngay bên cạnh nước Nam Việt ở bên Tầu, nên An Dương Vương, Triệu Đà là người nước ngoài. Chẳng thể mang vào quốc sử được. Ấy là chưa kể theo sử triều Nguyễn thì An Dương Vương, Triệu Đà thuộc về ngoại sử. Chính sử chỉ tính từ thời Hùng Vương, thưa tiên sinh.

***

Sử quan nghe cụ kiến giải không thông tuệ cho mấy nên tự hỏi há lại có cái lý ấy sao? Vì thời Hùng Vương chỉ được mang vào ngoại sử trong Đại Việt sử ký toàn thư. Thế nên ông chỉ cho cụ Phan phần thời dựng nước Việt Nam mà ông vừa sao bản xong chưa ráo mực…

“…Đại Việt sử ký toàn thư xuất hiện vào đời vua Lê Thánh Tôn, là bộ sử đầu tiên đưa truyền thuyết Âu Cơ-Lạc Long Quân và họ Hồng Bàng vào sử thi. Chuyện tích vua Hùng cùng những truyền tích khác như Phủ Đổng Thiên Vương, Sơn Tinh Thủy Tinh…được Ngô Sĩ Liên vay mượn từ những sách thuật u linh hoang đường như Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái. Sách thuật lại những chuyện thần thoại ở bên Tầu, ở khu vực phía Nam rặng núi Ngũ Lĩnh được gọi là Lĩnh Nam (*), phía nam nước Sở thời Xuân Thu chiến quốc.

Tuy nhiên Ngô Sĩ Liên có chép lời bàn ở cuối chương về thời Hồng Bàng bày tỏ mối ngờ vực về truyền thuyết Âu Cơ: Cái thuyết nói 50 con theo mẹ về núi, biết đâu không phải là thế. Còn Phủ Đổng Thiên Vương, Sơn Tinh Thủy Tinh, ông cho là: Rất là quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách. Hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi. Ngô Sĩ Liên đã tiên liệu khi mang truyền tich vào cổ sử gây nỗi hoài nghi với người sau nên đã dặn dò kỹ càng tận tín thư bất như vô thư với: Nước ta thiếu sử sách biên khảo, mà đều do truyền văn. Sao chép có phần quái đản, phiền tạp, chỉ làm lọan mắt.

Với họ Hồng Bàng, sử nhà Nguyễn ta chép lại y như trong sử nhà Lê 300 năm trước với câu đính kèm: Nhưng hẵng cứ chép lại để truyền nghi. Riêng chuyện bà Âu Cơ đẻ ra 100 trứng, vua Tự Đức phê trong Ngự chế vịnh sử tổng luân cuốn 5 trang 49: Kinh thi có câu tắc bách tư nam, đó là lời chúc tụng cho nhiều con trai đấy thôi. Xét đến sự thực cũng chưa đến số ấy. Huống chi lại nói đến trăm trứng! Nếu quả vậy thì khác gì chim muông, sao khác gì lòai người được.

Còn địa giới nước Văn Lang, vua Tự Đức cũng đã tỏ dấu nghi ngờ: Chẳng qua sử cũ chép quá phô trương đó thôi. Địa giới nước ta từ đời Trần về trước, phía đông giáp biển, phía tây giáp Vân Nam, phía bắc giáp Quảng Tây, phía nam giáp Chiêm Thành. Đại để nhiều sự việc trong Việt sử thất truyền đã lâu, không còn dựa vào đâu mà khảo đính được. Sử đời Lê lại chép quá xa, nào là hư truyền nước Văn Lang phía bắc giáp Động Đình Hồ của nước Sở thì còn xa lắm, Nào biết những ranh rới tới đâu! Chẳng cũng xa sự thực lắm ru.. .”

Đọc đến đây cụ Phan ho khan và ậm ừ:

– Sau tới Việt Nam sử lược, sử thần Trần Trọng Kim cũng dùng thẳng tài liệu của Ngô Sĩ Liên nhưng đặt thêm dấu hỏi (?) với năm khởi đầu 2879 TCN? Mãi đến cuối thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã điều chỉnh về niên đại để vua Hùng thứ nhất khởi đầu “sự nghiệp” vào khoảng năm 688 và kết thúc vào năm 208 TCN. Thế nhưng có nhiều người “ấm ức” không đồng ý, trong đó có Trần Trọng Kim. Bởi lẽ làm như vậy số năm văn hiến của ông sẽ bị rút xuống còn 3000 năm, thay vì…4000 năm. Trăm dâu đổ đầu tằm cũng tại ông sử thần này: Chẳng là năm 1919, ông đưa đời Hồng Bàng và 4000 năm văn hiến vào sách giáo khoa khiến huyền sử trở thành chính sử, rồi thẩm nhập lâu ngày nên không đổi được nữa.

Với tay cầm bao thuốc lá, cụ đụng dao đụng thớt:

– Ngô Sĩ Liên viết sử nhưng không có đầy đủ sử tài để mà viết, nhất là gần 13 thế kỷ sau thời vua Hùng. Vâng lệnh vua sọan bộ quốc sử, cụ có lời tâm huyết là cụ Không dám rong ruổi ngàn năm để làm chuyện chắp vá. Nhưng cụ đã thêm thắt 18 đời vua Hồng Bàng Việt Nam, rập y khuôn 20 đời vua nhà Hạ, triều đại…“Hồng Bàng” ở bên Tầu. Tất cả chỉ là sử liệu để diễn sử, dựng sử và cụ cẩn trọng đưa vào phần ngọai kỷ, không đưa vào phần chính sử là vậy.

Bỏ bao thuốc vào túi, cụ thêm bát thêm đũa:

– Nhưng có tìm tòi, mới thấy cái khó khăn của người xưa, khi tài liệu duy nhất để tra cứu lại nằm ở…bên Tầu. 5000 năm trước, chưa có chữ, không có nước nào có tín sử. Địa bàn núi Ngũ Lĩnh mà ta gọi là Lĩnh Nam ở phía nam sông Dương Tử, mà 5000 năm trước chưa có tên. Địa bàn…có thật đấy trong Lĩnh Nam dật sử, Lĩnh Nam chích quái là hai quyển dã sử đầu tiên của nước ta. Nhưng không có nghĩa là câu chuyện sẩy ra đúng in như vậy. Vô chi bất mộ, đã không xác nhận được địa bàn tộc Việt, lại tranh cãi, tỷ như ai là chủ nhân trống đồng, văn minh lúa nước, tiếng Việt, tiếng Tầu. Và chỉ loanh quanh giữa các thức giả người Việt với nhau, những tấm lòng son cô quạnh giữa hoang phế miếu đường.

Thật sự những người đọc sách quan tâm đến lịch sử không nhiều. Nhưng nhiều người trong số ấy cho là thời Hồng Bàng là chuyện khó tin. Vậy mà có một số bài viết công phu, dài hơi huyền thoại hóa thêm truyền thuyết đã sẵn mờ nhân ảnh. Những về nguồn”, “di sản văn hóa”, “gìn giữ bản sắc dân tộc”, “4000 năm văn hiến… được lập đi lập lại qua các tiểu phẩm, tác phẩm hiếm khi nêu rõ nguồn gì? Di sản ấy là gì? Bản sắc gì? Văn hiến tính từ hồi nào…? Cứ như thế nước chẩy qua cầu, huyền sử lặng lẽ trôi về bờ mê bến ngộ, thưa tiên sinh.

Làm mấy hơi xong, cụ dụi dụi điếu thuốc, hững hờ nhìn ra ngoài song cửa…

***

Nửa vách đèn tàn, luận cổ đàm kim, sớm đào tối mận đã lâu…Lại thấy cụ là kỳ nhân dị tướng thật đấy nhưng thượng thông thiên văn, hạ thức địa lý, trung trí nhân sự quá đỗi. Chợt nhớ lại hồi chập tối cụ dậy rằng cụ ở trên thiên đàng, suốt ngày bay tới bay lui…Thế nên sử quan lớ ngớ hỏi: Làm sao tại hạ lên thiên đàng được như các hạ để bay tới cả nghìn năm trước, trăm năm sau….. Cụ cười miệng nở hoa: Muốn lên thiền đàng phải…chết trước đã.

Cụ vừa lắc lắc ly rượu vang còn nửa đốt ngón tay, vừa nhìn chai rượu Bordeaux còn non nửa. Cụ lắng đọng với sử quan như một cơn gió thoảng:

– Bản chức trộm nghĩ rằng một trăm năm sau, một nghìn năm nữa với sử thi. Khơi lại đống tro tàn nào có khác gì uống vang cũ, vì sẽ làm ly rượu nhạt nhẽo thêm. Cũng như hãy để những gì thuộc về quá khứ lãng quên trong quá khứ. Đừng đốt lò hương cũ, đừng khơi lại, chỉ chuốc thêm dư vị không lấy gì làm ngọt ngào. Hãy uống ly vang đang cầm trong tay, tức là hãy sống cho hiện tại. Đừng bận tâm ngoảnh mặt nhìn ngày hôm qua. Đừng cố kiễng chân nhìn về những ngày sắp tới, vì làm thế chỉ khiến ly rượu này đây nguội dần, mất ngon…

Luận ngữ xong, cụ ngửa cổ uống hết ly vang. Tiện tay, cụ bỏ chai rượu vào cái ba lô…

Sử quan ngồi thừ ra ở án thư và lặng lờ nhìn ra ngoài song cửa, tiết trời êm dịu, hình bóng u nhã, móc đọng trên hoa, hương bay nhè nhẹ, trăng chiếu vào hiên, trúc thưa gió lọt…Chợt gió lọt qua khe nên đèn phụt tắt, sử quan lui cui châm thêm dầu. Thư phòng sáng tỏ lại, đẩy cụ Phan ra khỏi bóng tối của lịch sử và cụ…thăng. Và chỉ còn cánh cửa he hé mở kêu kẽo kẹt…

***

Ngày tứ tuần đại khánh của vua đã tới. Sau những năm tháng tửu lạc vong bần cũng ốm o gầy mòn nên vua ta cũng ngại ngùng với sinh ký tử quy. Vua cho triệu sử quan tới phán:

– Quả nhân chỉ có một điều mong ước là đọc được bộ sử nước nhà trước khi nhắm mắt theo tiên vương. Hiền khanh thu vén trong mười quyển được chăng?

Sử quan nghĩ đến xấp tạp sử mươi trang vừa mới hoàn tất đây vua còn ngập ngụa chưa buồn ngó tới. Nói gì đến bộ sử Đại Nam chính biên liệt truyện nhà Nguyễn 87 quyển! Còn cổ sử, cứ theo Đại Việt tòan thư thì bà Khương Nguyên giẫm chân lên vết chân người khổng lồ đẻ ra…ông khỉ. Ông khỉ từ cây leo xuống dựng lên nhà Chu. Từ đấy Ngô Sĩ Liên mới đào xới cổ sử nước nhà từ Động Đình Hồ, từ cá bò lên bờ hóa rồng, vì vậy mới có con rồng cháu tiên.

Sử quan thấy vậy cũng tạm đủ, nên đáp:

– Dạ được, hạ thần xin bệ hạ một năm.

Sử liệu mốc meo nằm yên bấy lâu trong tàng kinh các được lục sọan, tra cứu. Sử quan làm việc tất bật ngày đêm để tóm lược trên giấy khô mực cạn. Nhưng rồi cũng xong, bộ sử mười quyển được khệ nệ khiêng vào triều. Vua thấy vậy, lắc đầu lờ phờ, lào phào:

– Nay quả nhân đã sức yếu, hiền khanh thu gọn lại một quyển được không?

Sử quan mệt mỏi tâu:

– Xin bệ hạ cho thần…mười năm.

Sau mười năm, sử quan nay đã là sử thần. Lão thần đã thành cổ kính, đi phải chống gậy, tay run lẩy bẩy mang quyển sử vào trình.

Cũng đúng lúc vua đang hấp hối, phều phào:

– Quả nhân sắp về với tiên đế…Quả nhân ân hận…vì không biết lịch sử nước nhà! Vậy hiền khanh hãy tóm tắt bằng…một câu…Một câu thôi.

Với khuôn mặt nhầu nát như cái bị rách, lão thần rệu rã bên tai vua…

Vua gật gật đầu, đôi môi khô héo, bỗng nở một nụ cười mãn nguyện rồi băng hà, mang theo câu nói của sử thần về với tiên cảnh…

***

Xuân tàn hạ tắt, sau mấy thu sương rơi lá rụng, sử thần trở về chốn cũ. Thấy tử cấm thành nhà Nguyễn hiệu kỳ nâu xẫm, cung cấm, đình đài, hồ sơn, phật điện, quân cơ, chỉ thiếu vắng tiếng chuông Thiên Mụ. Ngoài cửa Thượng Tứ vẫn còn trạm canh, bốn phương tám mặt, chim kêu hoa nở, gió thoảng hương chiều. Lộ trấn, quán xá, phạm điếm, bến chợ, sông thôn dâng khói nước, vẫn chẳng có gì thay đổi, nhất nhất vẫn như xưa…Việc đời biến cải, thời gian đổi dời, cảnh thu ly khiến cảm hồi khôn xiết, sử thần lại gặp non xưa, tựa vào đá, ngủ trước hoa và…đánh một giấc hoàng lương trong cõi mộng.

Cõi mộng sử thi với một ngàn năm trước, một trăm năm sau…

 

Thạch trúc gia trang

Đông tận, Tân Mão 2011

Ngộ Không Phi Ngọc Hùng

 

Nguồn:

Vui buồn của người chép sử – Ng. Ph. Vĩnh Quyền

Từ chính sử đến dã sử – Nguyễn Đức Cung

Đi tìm một mảnh khuyết sử qua Khâm Định Annam sử lược – Nguyễn Duy Chính

Một thời kỳ khuyết sử – Nguyễn Phan Quang

Ai giết Lê Lai ? – Nguyễn Dư

Tiểu sử Lê Lợi: Một vài chi tiết khác với Đại Việt sử ký toàn thư – Hồ Bạch Thảo

Về bài thơ Tự thán và Đề kiếm của Nguyễn Trãi – Viên Linh

Từ Phan Liêu, Đặng Dung đến Nguyễn Trãi – Nguyễn Xuân Phước

Về tiểu thuyết lịch sử – Nam Dao

Đọc ‘’Đất Trơi’’ của Nam Dao – Trần Quang Vũ

Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam – Trương Thái Du

Có đúng thành Cổ Loa hình xoắn ốc? – Hà Văn Thùy

Thành Cổ Loa có mấy vòng? – Đỗ Văn Ninh

Danh nhân đất Việt: Lê Văn Hưu – Nhiều tác giả

Lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Châu – Nguyễn Duy Chính

18 đời vua Hùng Vương : Một ý niệm liên tục – Nguyên Nguyên

Từ huyền sử đến sự thật – Trần Thị Vĩnh Tường

 

***

Việt Điện U Minh Tập – Lý Tế Xuyên

Lĩnh Nam Chích Quái – Trần Thế Pháp

Đại Việt Sử Ký TòanTthư – Ngô Sĩ Liên

Khâm Định Việt Sử Thông Giiám Cương Mục

Việt Nam Sử Luợc – Trần Trọng Kim

An Nam Chí Lược – Lê Trắc

 

 

 

 

©T.Vấn 2014