10/01/2007
Tháng 10 Năm 2007

Ngày 31 tháng 10 năm 2007

 

Mùa Thu . Những hàng cây trút lá chờ Đông. Những con đường ngập lá vàng và những âm thanh xào xạc . Em không nghe mùa Thu. Lá Thu rơi xào xạc. Con nai vàng ngơ ngác. Đạp trên lá vàng khô.

Mùa Thu rất cổ điển của Lưu trọng Lư và màu vàng

 

những ngọn lá khô làm gợi tưởng đến cảm thức cô đơn của con người giữa sự chuyển mình lặng lẽ và cam chịu của Đất trời. Mùa Thu – những chiếc lá vàng lơ lửng giữa thinh không, như muốn níu kéo khoảnh khắc ngắn ngủi của một đời lá để rồi vĩnh viễn nằm dưới những gót chân nai ngơ ngác, những gót chân người cô đơn.

Cô đơn – cảm thức vong thân của những người trẻ tuổi đang hăm hở trên đường đi tìm một nửa kia của đời mình để hoàn tất trọn vẹn sứ mệnh của con người.

Cô Đơn – cũng đồng thời là cảm thức vừa đau đớn vừa hạnh phúc của những người mà tuổi hoa niên đã nằm vĩnh viễn trong quá khứ. Cái cảm thức vừa tìm lại được chính mình. Cái cảm thức về một Bản Ngã không còn nguyên vẹn vì những vết xước của bao mùa Thu cuộc đời. Những vết xước, có vết đã thành sẹo nhăn nheo, có vết vừa kéo da non, có vết vẫn còn hành hạ đau đớn mỗi khi trời đất giao mùa.

Từ đó , tôi nghiệm ra một điều. Khởi từ Cô-Đơn-cảm-thức-vong-thân thời chúng ta tóc còn xanh, mắt còn sáng, môi còn tươi cho đến khi chúng ta tìm lại được chính mình là con đường đời của mỗi người, là tiến trình hành hương tìm về nơi an nghỉ cuối cùng của đứa trẻ được nuôi lớn lên thành người già – chẳng phải trong mỗi người già đều có một đứa trẻ được nuôi lớn lên đó sao ?Tôi được nhắc nhở điều này nhờ đọc tập truyện của một tác giả tuổi vừa xấp xỉ 30, – Lúc này đây, lúc mùa thu cuộc đời – và cũng là mùa Thu của Đất Trời – lại vẫn là cảm thức cô đơn. Nhưng là Cô Đơn của tổng số những hợp tan tan hợp, những gặp gỡ những chia ly, những yêu thương những mất mát . . . Khép lại những hẹn hò một kiếp nhân sinh lại cũng là Cô-đơn .

Con người – kết tinh của Trời và Đất . Buổi mai là nắng. Buổi chiều là sương. Thế nên, tuổi già giọt lệ lóng lánh như sương.

( Trích : Cô Đơn )

 

 

Ngày 16 tháng 10 năm 2007

 

Cùng với thời tiết bốn mùa thay đổi, những tâm trạng người thay đổi theo, khi đậm ,lúc nhạt. Như buổi sáng đầu tiên của mùa thu , tôi nghĩ đến mùa thu cuộc đời mình, cuộc đời những người cùng một lứa cũng như tôi. Chớm thu thì trời chưa lạnh lắm, buổi sáng dậy sớm, pha xong ly cà phê đầu ngày, có thể mang ra ngồi trước hiên nhà, vừa nhấm nháp cà phê, vừa nhìn những chiếc lá đang từ từ thay màu giữa không gian thật im ắng không có đến cả tiếng xe chạy vọng về từ ngòai con lộ chính, im ắng đến độ có thể nghe được tiếng chiếc lá rơi xuống trên mặt sỏi xào xạc. Tôi lại nghĩ đến những người quen biết đã lần lượt theo nhau rơi rụng xuống đồng đất xứ người . Không biết tâm tư họ lúc ấy có “ rơi “ nhẹ nhàng như chiếc lá nửa xanh nửa vàng đầu mùa thu vừa rơi xuống trước mặt tôi hay không. Nhưng mùi cà phê thơm phức lại khiến tôi đâm sợ hãi ý nghĩ ấy, không dám nghĩ tiếp. Tôi nhận ra sự liên hệ giữa mùi cà phê đầu ngày và âm thanh chiếc lá rụng đầu thu. Một bên là mùi ngào ngạt của sự sống và bên kia là âm thanh của cái chết. Tuy từ những ngày còn mài đũng quần trên ghế trường trung học, tôi đã thuộc nằm lòng câu triết lý thời thượng không có cuộc sống nào đáng sống cả, lỡ sống thì phải sống cho hết đời thôi phát ra ở cửa miệng một nhân vật của Vũ Khắc Khoan, nhưng đến bây giờ sống gần hết một đời người – dù là đời một người lưu vong mệt mỏi buồn bã – tôi chưa bao giờ có ý định từ bỏ sự lầm lỡ ấy. Ngoại trừ mai đây khi nó lừng lững bước vào hiên nhà gõ cửa, thì tôi đành phải mở thôi.

 

Ngày 03 tháng 10 năm 2007

. . .Trong một căn chòi xơ xác cuối làng, 5 đứa bé nằm co quắp ôm nhau.Đứa lớn nhất mới 14 tuổi và đứa nhỏ nhất 14 tháng. Người cha đi biển đã mấy hôm không tin tức. Người mẹ , nghe tin bão , đã hóa điên , cứ lang thang suốt ngày suốt đêm trên bãi biển vừa gọi tên chồng vừa cười sằng sặc .

Đã bảo rằng “ Trời hành cơn lụt mỗi năm . . . “

 

20 năm trước, một người mẹ đã trở thành góa bụa vì một cơn bão cuốn đi mất người chồng, người cha trong gia đình. Bà ở vậy nuôi 2 đứa con gái, lo cho chúng có được tấm chồng chăm chỉ làm ăn . Nay, cùng với hai con gái phút chốc trở thành góa bụa như bà, đau lại nỗi đau từ 20 năm trước , bà kinh nghiệm rằng, nỗi đau 20 năm trước và nỗi đau 20 năm sau đều quá mức chịu đựng như nhau . Với bà, cuộc đời này quả thật bất công. Ông Trời này, quả thật không có mắt.

Người sống sót trở về thì như những cái xác không hồn. Anh thanh niên ngồi bệt xuống giữa bãi cát, mắt vẫn đăm đắm nhìn ra biển khơi, nơi anh vừa được cứu thoát sau nhiều ngày tưởng chết, ôm mặt khóc như một đứa trẻ. Nhiều bạn bè, thân nhân của anh không có được may mắn như anh nên đã không sống sót trở về. Anh đau lắm, vì bây giờ làng đánh cá chỉ còn lại được vài người đàn ông hiếm hoi, trong đó có anh.

Chuyện bão ở những làng ven biển chuyên sống bằng nghề chài lưới vốn không có gì lạ. Nhiều gia đình cha truyền con nối với nhiều thế hệ ngày đêm lênh đênh trên sông , trên biển , cho nên , cái lời nguyền rủa “ nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá “ cũng chẳng làm họ nao núng , nghĩ đến việc bỏ nghề , dù biết “ sinh nghề, tử nghiệp “ . 50 năm trước, 30 năm trước, 20 năm trước, 10 năm trước, bão đã từng gieo tang thương cho nhiều gia đình ngư dân trên miền Duyên Hải Việt Nam. Nhưng không phải vì thế mà người ta ( các giới chức chính quyền ) cứ để mặc cho những mất mát đau thương ấy tiếp tục tái diễn hàng năm , khi mà khoa học kỹ thuật ngày nay đã có thể tiên đóan một cách chính xác mọi thay đổi của thiên nhiên, khiến những “ cơn thịnh nộ “ khủng khiếp trong quá khứ như gió xóay ( tornado), sóng thần ( tsunami ) và bão cấp 8 ( hurricane ) nay đã không còn gây nên những thiệt hại về nhân mạng như xưa nữa.

Sống giữa thời đại bùng nổ về thông tin , về khả năng thần sầu của kỹ thuật. mà sao vẫn còn những thảm cảnh lẽ ra có thể tránh được.

 

( Trích : Cơn bão đầu mùa và một miền quê hương nghèo khó )