11/14/2014
Phila Tô: XÉ LÁ THƯ TÌNH

 

clip_image002

Cơm nước xong, theo lời đề nghị của nội tướng, gia đình tôi ngồi lại coi video “Lá Thư Chiến Trường” của trung tâm Asia. Vị nể tình vợ con nên tôi phải ngồi cho có mặt vậy thôi chứ khiếu văn nghệ của tôi thì tồi vô cùng, nhất là đối với những sáng tác về sau này đại loại như: “Tình anh ngọn nến, xin em đừng đến”, hoặc giả “dậy đi em đừng ngủ dây dưa, dậy đi em mà nấu canh chua”! Lời ca tiếng hát không hợp khẩu vị, quần áo ca sĩ thì nghèo nàn, xệ trên hở dưới thấy mờ mờ ảo ảo, dẫu có nhìn sát màn hình thì chỉ thêm nhức đầu, chẳng ích gì cho tuổi xế chiều.

Hơn nữa, không hiểu sao hồi này cứ sau bữa cơm tối là cô nàng “Nhãn” lại rủ tôi lên giường sớm, viện cớ với lý do “căng da bụng thì chùng da mắt”, da bụng căng ra thì sẽ kéo da ở mắt khép lại, nhưng bác sĩ lại nói rằng sau khi ăn xong, đường trong máu tăng cao làm ta buồn ngủ chứ không phải tại da bụng căng ra làm mi mắt kéo lại. Đang lơ mơ ngủ gật, tôi giật mình nghe tiếng con gọi:

_ Bố bố, dậy mà xem trên TV người ta đọc lá thư chiến trường của Thiếu Tá Huỳnh Văn Phú kìa, lời thơ tình tứ và cảm động quá! Có phải đó là thư của bác Phú TQLC/K19 “của nhà mình” không? Có phải bác ấy viết cho bác Phượng không? Nếu không phải bác Phượng thì sao bác Phú dám liều mạng đưa thư gửi người tình lên tizi?

Tuy chưa mở mắt ra được, nhưng nghe con hỏi là tôi biết tác giả lá thư tình đó là ai rồi. Trong chốn văn chương tình ái, chưa có ai trùng tên Phú họ Huỳnh nên tôi xác định ngay:

_ Còn ai vào đây nữa, chính là bác Phú K19/TQLC ..“của nhà mình” đấy.

Không hiểu con gái tôi học được ở đâu câu nói: “của nhà mình” thay vì “bạn của bố”. Không riêng bác Phú mà bất cứ bác nào cháu biết thì đều vơ vào “của nhà mình”, có lẽ ý cháu muốn..“thấy sang bắt quàng làm họ”. Bác Doan, bác Bàng, bác Chiến, bác Giáng, bác Miên, bác Khương, bác Hải, bác Lâm, bác Đức, bác Cống, bác Cảo v.v đều là “của nhà mình” cả. Tôi đã nhắc cháu nhiều lần rằng nói như vậy có thể làm các bác buồn, nhưng cháu lại lý sự: “gọi như vậy nghe thân tình hơn” chứ bố (?).

Thấy con biết kính mến bạn của bố khiến tôi vui vui bèn giải thích thêm:

_ Lá thư có thật đó con, bác Phú viết cho người yêu, còn người yêu là ai thì bố không nhớ hết, vì là lính đánh giặc từ Bến Hải đến mũi Cà Mâu, dừng quân đâu là có tình yêu đó. Độc thân vui tính biết thả ..thơ thì ắt có nhiều tình yêu, có nhiều thì sợ gì mà không dám kể.

Thấy bố mạnh miệng bênh vực cho bạn, con gái nháy mắt với mẹ ngồi bên:

_ Bố có dám kể cho mẹ và con nghe lá thư bố viết cho người yêu không?

_ Không nhớ hết những lá thư bố viết, và viết cho những ai, có lá thư bố viết cho những người tên Mai, Lan, Cúc, Trúc, Dung v.v.. thì bị trả lại với dòng chữ ghi trên bì thư “không thèm đọc”. Nhưng ngược lại, bố nhớ mãi một lần có lá thư của người yêu gửi cho bố, bố nhận được mà chưa kịp đọc thì lá thư đó bị xé nát..

Tôi thấy nhói bên hông, hình như có người nào nhéo ba sườn thì phải, rồi nghe tiếng ai thì thào bên tai: “xạo hoài”! Nhưng con gái thì lại muốn trêu tức mẹ nên hỏi bố tới tấp về người yêu ngày xưa ấy là ai? Yêu từ hồi nào, hiện nay bà ấy ở đâu? Canada hay Hoa Kỳ, hoặc còn kẹt lại ở Việt Nam? Đã có gì với nhau chưa? Ai lại dám xé thơ người yêu của bố, có phải mẹ con xé vì ghen không v.v..

Liếc sang mẹ con gái, thấy bà ấy đang ngó lên TV nên tôi nói nhỏ với con:

_ Coi chừng bố bị xé xác bây giờ! Đầu đuôi là thế này, Tết năm 1963, chỉ huy trưởng trường Võ Bị là Thiếu Tướng Trần Tử Oai cho phân nửa K19 có điểm cao đi phép tết, nhân dịp này, bố quen được cô em của người bạn học cùng Pétrus Ký. Đêm giao thừa, SVSQ Võ Bị cầm tay nữ sinh Gia Long dung giăng đi xem hoa và xin xâm ở Lăng Ông, xâm nói tình yêu “tiền hung hậu kiết”, nghĩa là trục trặc ban đầu, hồi sau kết quả. ..

_ Rồi sao nữa bố, bố nói nhanh nhanh một tý, kết quả thế nào?

_ Quen nhau từ năm 1963 và mới chỉ tay cầm tay, anh tiền tuyến em hậu phương thôi, chưa có gì với nhau hết. Trao đổi thư đi tin lại được vài năm thì “không phải tại anh mà cũng không phải tại em” mà tại vì chiến tranh nên tình yêu bị gián đoạn! Đến năm 1968, tức 5 năm sau thì bố gặp lại cô ấy, vào dịp Tết Mậu Thân, nhưng gặp lại nhau trong hoàn cảnh khá bất ngờ.

Con gái tôi giống tính mẹ, kê nhẹ vào họng bố một câu:

_ Lại chuyện tình éo le cải lương, hai người yêu xưa gặp nhau trên phố, em đã tay bế tay bồng dắt theo ông chồng gìa, còn anh bận lo giữ biên cương nên vẫn còn độc thân, nay gặp nhau, liếc mắt ngậm ngùi rồi đường ai nấy đi!

_ Không phải gặp nhau trên phố, cô ấy cũng chưa có chồng, mà là bố cho lính bao vây và bắn vào nhà của cô ấy.

Mắt con gái tròn xoe ngạc nhiên, còn mắt mẹ thì cứ giả vờ, lơ đãng nhìn lên TV xem người ta đọc những “lá thư chiến trường”. Thôi thì cũng đành xâm mình kể đầu đuôi chuyện tình yêu ngày xưa cho con gái nghe, đại khái là thế này:

Tết Mậu Thân 1968, Việt Cộng đánh và chiếm nhiều nơi ở Saigon Chợ Lớn, Đại Đội 1/TĐ2 Trâu Điên của tôi có nhiệm vụ giải tỏa khu vực rạp ciné Đông Nhì trên đường Lê Quang Định, Gò Vấp. Tin dân báo cho biết là có một toán VC chiếm căn nhà lầu cao và giam giữ một số đồng bào trong đó. Sau nhiều giờ hành quân bao vây lục soát, bắn vài phát dò tình hình rồi xung phong, khi chiếm được căn nhà thì VC đã tẩu thoát, nhưng còn một số đồng bào bị VC nhốt ở tầng dưới cùng đề làm con tin, và thật bất ngờ tôi nhận ra trong đó có cô người yêu xưa.

May mắn mọi người được bình an và không thiệt hại gì nhiều nên ai cũng vui vẻ, mang bánh tét, dưa hấu, kẹo, thuốc lá tặng cho lính, tình quân dân thắm thiết. Tôi được cô người yêu cũ trao tận tay gói thuốc lá Ruby Queen, và dĩ nhiên sau đó thì chuyện “tình cũ không rủ cũng tới”.

Cô ấy và tôi đều còn độc thân nên chuyện tái hồi dễ dàng, nhớ lời bài ca “Anh đi chiến dịch xa vời, lòng súng nhân đạo cứu người lầm than” nên tôi cầm đại tay cô ấy và ca nho nhỏ: “lòng súng nhân đạo cứu người mình yêu”.

Tình yêu giữa hai chúng tôi tuy gắn bó hơn ngày xưa nhưng tình vẫn chỉ là chuyện tình một năm dăm ba ngày phép, rủ nhau dạo phố Nguyễn Huệ, ăn bò khô uống nước mía Viễn Đông, rồi anh ra tiền tuyến em ở lại hậu phương, “chúng ta cách xa hoài”! Tình yêu vẫn chỉ là thư đi tin lại, yêu nhau trên giấy được hơn một năm.. cho tới một hôm…ngày 19/6/1969, TĐ2/TQLC đang hành quân vùng Hỏa Lựu, tỉnh Chương Thiện thì được lệnh dừng quân để nhận thư và tiếp tế từ hậu cứ mang tới, tôi cũng nhận được thư của người yêu.

Đang đi hành quân, đang leo núi băng rừng lội sình mà nhận được thư gia đình, nhất là thư của người yêu thì mừng và quý lắm, cứ như gặp được người thật. Tâm trạng mừng vui tùy người, có anh vồ vập đọc ngay, có thằng từ từ mà cởi, mà cởi .. mở sao cho cái bì thư không bị rách (?). Chàng khác thì cầm chắc trong tay cứ như “tay lại cầm tay” mắt len lén nhìn quanh xem có ai để ý không rồi từ từ đưa thư lên mũi hôn như để tìm mùi da, mùi nước hoa quen thuộc. Còn tôi thì lúc nào cũng hôn tên người gửi rồi gói kỹ lại để dành tới cuối ngày khi dừng quân nằm đong đưa trên võng, uống café, hút thuốc lá mới bóc thư tình.

Còn gì vui bằng khi đóng quân xong, leo lên võng, đặt thư tình lên ngực tưởng như hai ta cùng chung võng, vừa đu đưa vừa đọc thư, kéo một hơi thuốc lá, nhả khói vòng tròn thấy khuôn trăng người tình trong đó. Chuyện lính chiến trường khi dừng quân, nhận và đọc thư người yêu thấy lãng mạn và dễ thương làm sao! Người hậu phương nếu biết được tình cảm ấy chắc chẳng bao giờ nỡ cách xa, nỡ sang ngang, hay không bao giờ muốn chuyện tình “đôi ta lại vỡ đôi”.

Nhưng thực tế không đẹp như mong ước mà nhiều khi còn vỡ nát con tim, gặp nhiều đau thương sau khi đọc thư tình: “mình ơi, em vẫn thương mình, nhưng mẹ bắt em đi lấy chồng, em không muốn mất chữ hiếu!”. Cũng có khi chưa đọc thư hoặc vừa đọc thư em xong thì anh đã ra người thiên cổ

Ai đã từng đọc “Những Buổi Sáng Của Lựu” trong tập truyện “Mùa Xuân Âm Thầm” của nhà văn Huỳnh Văn Phú chắc khó tin đó là chuyện tình có thật, chuyện tình đẹp như tranh giữa Trung Úy TQLC Nguyễn Quốc Chính, K20/Võ Bị, và người tình tên Lựu, nhưng nửa đường gẫy gánh!

Đã lâu lắm rồi nhưng tôi còn nhớ rõ như mới xẩy ra, chiều ngày 29/12/1967, sau khi đóng quân xong, Chính và tôi nằm võng cạnh nhau bên bờ sông Cai Lậy, café, thuốc lá và tâm tình, Chính lấy thơ của Lựu ra đọc, họ mới trao nhẫn đính hôn trước khi đi hành quân chuyến này. Sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần, hôn hình vợ chưa cưới, Chính thở dài tâm sự:

_ Sao lần này đi hành quân, em thấy có cái gì lấn cấn và nhớ Lựu quá.

Chính là khóa đàn em và là đại đội phó của tôi, là một sĩ quan lý tưởng, tôi ngạc nhiên vì cử chỉ khác thường của thằng em nên chọc quê:

_ Chán! Chú mày mới đi dạm vợ thôi, mới xa người yêu có mấy tuần thôi mà đã rối lên, chắc là chú mày nhớ cái “lấn cấn” phải không?.

Sáng hôm sau, đại đội đổ bộ trực thăng xuống kinh Cái Thia (Cai Lậy), Chính là đại đội phó nên thường đi với trung đội đầu, nhưng nhớ lại tâm sự buồn của Chính chiều hôm trước nên tôi bảo Chính đi sau với trung đội súng nặng, nhưng Chính nhất định lên trực thăng nhẩy đầu với Th/Úy Huỳnh Vinh Quang (K22/VB). Trực thăng chở Chính và trung đội của Quang vừa đáp xuống ruộng lúa ven bờ kinh là bị VC trong bờ bắn ra rất mạnh, không còn cách nào hơn là phải xung phong thẳng vào mục tiêu và .. Nguyễn Quốc Chính đã tử trận ngay đợt đầu tiên, đạn xuyên màng tang!

Tử sinh ngoài chiến trường nhanh như chớp mắt, có những điềm báo trước khó tin nhưng có thật! Chiều tối, sau khi Chính chết, tôi ngồi trên nón sắt, hai tay ôm đầu gối bên miệng hố cá nhân mà khóc chú em. Có phải là dị đoan chăng khi Lựu có nốt ruồi dứơi khóe mắt mà dân gian thường gọi nốt ruồi này là “thương phu trích lệ”. Tôi cương quyết gạt bỏ cái tính mê tín dị đoan ngay. Chính hy sinh vì lòng dũng cảm của một lính chiến, vì tình huynh đệ của đồng môn Võ Bị, Chính tình nguyện nhẩy chuyến trực thăng đầu tiên là do muốn hướng dẫn, truyền kinh nghiệm cho một đàn em mới tra trường chứ không phải vì cái nốt ruồi…

Tôi đang mơ màng nghĩ đến Chính, thằng em thân thiết như ruột thịt mới “ra đi” sáng nay thì người em cận vệ của tôi, tên Đá, vừa đốt thuốc cho 2 bạn xong, quay ra thấy tôi buồn nên hắn đốt tiếp điếu thứ 3 cho “ông thầy”, hai cái đầu thầy trò chụm vào nhau để mồi thuốc, ánh lửa vừa đỏ lên thì một tiếng “chát”, tiếng súng xé toạc màn đêm, viên đạn trúng đầu Đá, em gục xuống, máu và óc thằng em văng đầy mặt tôi, tôi vội lăn xuống hố, chưa biết mình có bị thương hay không nhưng thằng em cận vệ Nguyễn Văn Đá thì nằm gục trên miệng hố. Đá quê Cát Lở, Vũng Tàu đi nhanh quá, chết nhanh như đạn đạo, em không còn để mang café, cơm xấy cho tôi nữa!

Lính trận kiêng không mồi thuốc lần thứ ba, không châm cùng một mồi lửa cho 3 người hút thuốc liên tiếp, họ cho đó là điềm xui, dị đoan cũng như dị đoan tin vào nốt ruồi “thương phu trích lệ”. Nhưng thực ra đó không phải là điềm xui, không nên tin đó là dị đoan, nguyên do chính là tên VC bắn tỉa, với cây CKC có ống nhắm, từ bìa rừng nó đã theo dõi mục tiêu. Khi đốm lửa đầu tiên lóe lên để đốt điếu thuốc lần thứ nhất thì nó lấy đường nhắm, khi mồi điếu thuốc lần thứ hai, đốm lửa đỏ vừa lóe lên thì ngón trỏ tên VC đặt vào cò súng CKC, khi ánh lửa từ điếu thuốc thứ ba vừa lóe sáng là nó ..bóp cò, rất chính xác, viên đạn chưa xuyên táo là may. Trong đêm tối, không thấy gì, trừ đốm lửa là thấy rõ, dù rất xa, đốm lửa lóe lên 3 lần là lãnh đạn của những tên bắn tỉa, không có dị đoan gì cả.

Nhớ lại kỷ niệm đau thương cũ, buổi sáng chú em bị bắn xuyên màng tang, buổi chiều tên đệ tử bị bắn nát óc, tôi lấy tay quẹt ngang mắt thì thấy con gái quay đi lau nước mắt, tôi vội trở lại câu chuyện lá thư tình của mình bị xé.

Khi nhận được thư, nhìn tên người gửi, tôi cầm lá thư dầy là biết có hình trong đó, vì thư trước người yêu đã hứa “sẽ bất ngờ đến thăm anh”. Tôi biết cuộc hành quân vùng Chương Thiện này là phải lội qua nhiều kinh rạch nên tôi bọc lá thư thật kỹ bằng nhiều lớp nylon, giằng dây thung bên ngoài, để thư lên túi áo trái cho khỏi ướt.

Khi nghe tôi nói để thư trên “túi áo trái” thì con gái mỉm cười:

_ Túi nào chẳng được mà bố lại tin dị đoan: “trai tay phải, gái tay trái”!

_ Không phải là tin dị đoan, mà vì trái tim nằm phía trái nên bố để thư của người yêu nằm phía túi áo trái đó cho…”.

Tuy là gái, nhưng cháu vẫn thường tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam và đang viết bài thuyết trình về tình yêu quê hương và gia đình của người lính VNCH nên cần những tài liệu sống, vì vậy nhân dịp này tôi kể lại chi tiết cụ thể của chính mình cho cháu nghe đầu đuôi.

TĐ2/TQLC chia làm 2 cánh để tiến vào mục tiêu, cánh A do TĐT Nguyễn Xuân Phúc, K.16 và Trần Văn Hợp K19. Cánh B do tôi và đại đội của Vũ Đoàn Dzoan. Khi cánh B đổ trực thăng xuống cánh đồng ruộng nước để tiến vào làng thì tôi phát giác có dấu vết khả nghi trên các bờ mương, đường mòn dẫn vào mục tiêu. Theo lý thuyết học tại quân trường thì không bao giờ đi trên các đường mòn, vì vậy tôi cho lệnh đại đội lội dưới ruộng mà đi, men theo các bụi dừa nước để tiến vào làng. Nào ngờ, thực tế lại khác, VC đã gài sẵn mìn dưới gốc dừa, dây cước giăng chìm dưới nước luôn, làm sao biết mà tránh, mìn nổ tung ngay giữa ban chỉ huy cánh B, cố vấn Mỹ bị cụt tay, cận vệ tử thương, tôi bị trọng thương rồi không biết gì nữa.

Khi tỉnh dậy tôi mới hay mình đang nằm tại hành lang khu cấp cứu bệnh viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ, trong tình trạng gẫy 1 chân và 2 tay, bể xương hàm, máu mũi và 2 lỗ tai chảy ra, tai nghe loáng thoáng các bác sĩ lựa thương sờ chân tôi rồi bàn với nhau: “phải cưa”! Vừa lúc đó thì bác sĩ TQLC Nguyễn Văn Hạnh đến nhận thương binh TQLC để chuyển thẳng ra phi trường về bệnh viện Lê Hữu Sanh tại Thị Nghè Sàigòn điều trị. Tôi thều thào nói với Hạnh: “đừng cưa” Hạnh mỉm cười vỗ vỗ an ủi rồi chích cho tôi thuốc ngủ, giảm đau v.v..

Nửa tỉnh nửa mê nằm trên giường bệnh, toàn thân bị bó bột, thoáng nghe tiếng ai nhỏ nhẹ bên tai, nhướng mắt lên, nhận ra người yêu, tay cô ấy đang cạy những vết máu và bùn đã khô còn dính lại trên đầu và mặt tôi. Thấy tôi mở mắt, cô ấy mỉn cười rồi thì thầm hỏi:

_ Anh đã nhận được thư và hình của em chưa?.

Lúc đó tôi mới sực nhớ đến lá thư trên túi áo trái, tôi vội hỏi Binh Nhất Xiêm, người em đi theo tôi, thì chú ấy lôi trong bọc nylon ra bộ đồ trận ẩm ướt hôi rình! Túi áo trái bị rách nát, lá thư và hình còn trong túi áo nhưng cũng bị rách! Trong bọc nylon gói thư, có một miểng kim loại lớn hơn đốt ngón tay út.

Tôi hiểu ngay điều may mắn kỳ diệu đã đến với tôi, lá thư chưa đọc được bọc trong nhiều lớp nylon, tấm hình và những tờ giấy “pelure” tuy mềm nhưng đủ sức giữ miểng kim loại ở lại trong túi áo, nếu không có lá thư làm “lá chắn” thì chắc chắn miểng kim loại đó đã bay thẳng vào tim! Tay run run cầm tấm hình bị xé rách và miểng đạn, tôi thều thào nói với người yêu:

_ Thư và hình của em bị đạn xé nát, nhưng chính hình em đã che chở cho anh, em đã cứu mạng anh, anh tặng em miểng đạn này để làm kỷ niệm “khi em sang sông”.

Vừa nghe tôi kể tới đó thì con gái lau nước mắt rồi cười ré lên:

_ Lãng mạn, lãng mạn! Khi em sang sông, anh tặng viên đạn đồng để làm kỷ niệm! Thế rồi cô ấy thấy tương lai của bố mờ mịt, bồ sẽ lê lết trên đôi nạng gỗ, sẽ làm khổ cô ấy nên cô ấy sang sông?

Nghe con cười và chọc quê bố, mẹ cháu cũng vui lây hát nho nhỏ:

_ Anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về làm .. không dang dở đời em!

Lúc này thì trên TV, lá thư tình của nhà văn Huỳnh Văn Phú đã sang trang, mẹ của con gái tôi toan đi ngủ thì con gái cầm tay mẹ kéo lại rồi quay qua điều tra bố thêm, cháu có vẻ như ghen thay cho mẹ.

_ Thế ngươi yêu ngày xưa ấy bây giờ ở đâu? Đã có chồng chưa, được mấy con? Chẳng hay cái… ấy hết hay còn, xuân sồn sồn nay được bao nhiêu và có bao giờ bố gặp lại bả không?

_ Thường xuyên, bà ta tuy có chồng có con nhưng vẫn còn đẹp, bố và bà ta vẫn thỉnh thoảng cùng nhau coi lại tấm hình và lá thư tình ngày xưa bị xé rách.

Con gái tôi ngạc nhiên tròn xoe đôi mắt:

_ Thôi nghe cha (bố), bố đừng có lạng quạng với bà ấy mà có ngày cả bố lẫn con bị bỏ đói hay phải ăn food-to-go. Nhưng mà bố này, bữa nào bố mượn lại bà ấy tấm hình đó đem về đây cho con xem bà ta có đẹp hơn mẹ con không mà bố dám liều mạng.

_ Nếu con muốn coi tấm hình đó thì hỏi mẹ, mẹ đang giữ.

Nghe tôi nói vậy bà già trầu mỉm cười, còn con gái thì phụng phịu:

_ Tưởng bố kể chuyện tình tiết éo le, hóa ra chuyện “huề vốn”, người trong hình bị xé là mẹ! Xé lá thư tình là do đạn xé chứ đâu phải bố. Chán bố quá!

clip_image003

 

Phila Tô

 

 

 

©T.Vấn 2014

.