11/24/2014
Ngộ Không: Con chuồn chuồn ngô cắn rốn

clip_image002

Tương tư hoa gạo quê nhà

Tự dưng áo đỏ làm ta giật mình

Một ngày cuối tuần trời hom hom, đất đơ đơ, ông bắc ghế ngồi ở vườn, sau tách cà phê tới bình trà. Giữa trà và cà phê là khói thuốc lá. Bất giác nhìn lên khỏang không, mây đùn lên ngang ngang một mầu xám chì tẻ ngắt, đất trời trùng hẳn xuống, gió thổi mây xoắn tít. Gió như bước chân mùa thu khẽ tới, hoa lá cụm lại thủ thỉ lời chia tay với nỗi nhớ nhung. Lòng ông cũng xoắn xúyt những nỗi lao xao khó hiểu mà ông chẳng biết diễn tả ra sao, ông chỉ biết đang bơi trong một ngày trống vắng. Vậy thôi.

Bất chợt đảo mắt qua hàng rào bên kia, ông bắt gặp bà hàng xóm sửa soạn tưới cây, bà đặt lên giàn bầu cái máy hát xách tay. Giọng khào khào Khánh Ly vọng trong khoảng không nháo nhác chuỗi nhạc Phan văn Hưng: “Nghe tiếng…chim cười, ăn…bát cơm tươi”. Quái lạ. Ông dài người ra vì chả hiểu…“cơm tươi” với…“chim cười” là giuộc gì thì bỗng điện thọai te te như dế kêu. Bên kia đầu dây tiếng bà bác nhà quê đặc đang cười khanh khách. Ấy là bà bác Bắc kỳ hai nút mới theo con cháu vào Nam, bà đang óc ách điện thọai đường dài cho ông. Giọng bà ròn tan: Này thằng…phò, con nhà Nụ nó viết thư hỏi thăm mày còn nhớ con chuồn chuồn ngô cắn rốn không hở.

Lai… “phò” nữa. Cái đầu ông cứ rối tinh…Nói có bóng có đèn với cái tên Nụ. Qua lời bà bác khơi dậy, đánh thức một mảng ký ức của cái tuổi ấu thời còn rơi rớt lại trong ông. Ngay bây giờ đây đang nhấp nhổm ơi ới rủ nhau hiện về…với con bé mò cua bắt tép ngày nào. Đã từ lâu nằm tịt trong ký ức, nay đang ngọ nguậy như con rạm con cáy.

Nói cho ngay, ông đang mầy mò trở về nơi cất giữ tuổi thơ….

Ông đong đưa với những ngày tháng qua mau và còn ai trồng khoai đất này: “” đây là chính ông của những ngày còn bé ti, bé tẻo tèo teo:

“…nó không nhớ mấy tuổi, bu nó buôn bán xa nên gửi nó cho bà bác. Thế nhưng nếu có hồi tưởng lại qua một, hai dấu ấn sâu đậm nhất ở quê ngọai, rõ ra vẫn là cái Nụ bé lũn chũn tắm mưa với nó ở cái sân gạch vô. Là cái Nụ đuổi nó, chạy tới bể nước mưa thì nó vồ ếch một cái bạch, trán u to bằng quả nhót để nhớ đời. Nếu trời không mưa rủ nhau tắm truồng, hai đứa chạy chân trần đuổi bắt chuồn chuồn ngòai vườn. Bất chợt bắt gặp chú chuồn chuồn kim chúm chím đỏ chúi đầu trên cụm hoa mười giờ. Chẳng khó khăn lắm, chú bị nó nhón gọn cái đuôi. Vậy mà đưa cho cái Nụ, cái Nụ lại ngúng nguẩy: Chuồn chuồn..ớt..ớt…cơ. Lát sau cả hai lẵng nhẵng chạy về hiên nhà, bà bác trẻ đang phơi nắng bắt chấy rận. Bà mắng yêu: Gớm hai đứa phải gió này lại giận nhau rồi phỏng. Đang vui vẻ vậy đấy, hốt nhiên bà nhỏm đậy, cất tiếng như hát “Cha năm đời mười đời bố cụ nhà mày nhá, mày lấy thuổng mày đào, mày lấy dao mày cạo, mày bỏ thỏm vào nồi, mày đun sôi sùng sục, mày múc ra mâm, mày ăn ngấm ngầm, mày khen khoai nhà bà ngọt nhá”. Bà đứng hai tay chống nạnh, mặt phừng phừng. Rồi cũng đột nhiên bà quên ngay chuyện trộm đào khoai vườn nhà bà, nuốt vội câu chửi giữa chừng vào họng. Bà chùi tay vào áo, rồi như mọi bữa, bà dắt hai đứa xuống chái bếp nướng khoai. Vừa ăn hai đứa vừa nhấp nhổm nhóng mắt về phía cuối rặng duối. Gần là một mảng nước ao bèo. Xa hơn nữa là cái gò đất thấp tũn. Bà lại dặn hờ: Cha bố hai đứa mày, lớn lên rồi hẵng hay…Này, bà cấm chỉ ra bờ ao ấy nhá.

Ông thừ người ra đắm chìm với một mảng dĩ vãng nhấp nhô…Quê ngọai thấp thóang qua tre trúc, ruộng đồng, mảnh vườn, bờ ao, khói bếp ngoằn ngòeo trên mái rạ. Thế nhưng đậm đà nhất vẫn là củ khoai lang, bắp ngô nướng ngai ngái mùi khói rơm…

“…chén xong mấy củ khoai no kềnh bụng, cả hai ù té chạy như ma đuổi qua gò mả làng. Ngay bên kia ngõ. Để…ỉa đồng. Xong, cái Nụ lấy lá chùi đít, vớ ngay cái lá han có lông, lè lưỡi kêu ngứa. Còn nó dòm xuống có tiếng vo ve, ngồi lâu sợ muỗi cắn đít. Nó chỉ chực chạy về nhà, gác chân như chó đái dắt lên cái bờ bệ gạch đánh chịn, cọ đi cọ lại, chả như cái lá han ngưa ngứa, mà râm rỉ tê tê sướng khóai củ tỉ…”

Ông bập bập điếu thuốc thở ra vì một ngày bị thầy cái Nụ bắt gặp. Ông ấy là hàng xóm gừng, giềng bà bác, nhà cửa tuyềnh tòang với nghề họan lợn. Đi đâu đầu cũng quấn khăn mỏ rìu, quần sắn ngang ống chân, tay cầm cái cuốc, quang gánh đôi thúng. Trong đó có con dao nghề, cuộc giây gai, cái bình vôi để dịt vết thương. Còn cái cuốc để hốt phân trâu, phân bò, ngay cả phân người ông cũng chẳng tha.

“…một lần bất ngờ thầy cái Nụ thấy hai đứa đang ngồi bó gối chồm hổm, chống tay như con gọng vó. Vừa châu đầu chằm chằm dòm nhau, vừa cong đít rặn bở hơi tai. Thầy cái Nụ cầm cán cuốc dứ dứ: Tiên sư chúng mày, có về không thì bảo. Tao phang cho mỗi đứa một gậy bây giờ. Thế là hai đứa vén quần chạy te tái…” .

Lúc này nghĩ lại ông cứ tiếc hùi hụi cái thú “thứ nhất quận công, thứ nhì ỉa đồng” và cái trò “đánh chịn”. Phúc bẩy mươi đời, cho đến tuổi này ông không bị trĩ rọm, trĩ lươn là phúc bẩy mươi đời. Ngày rộng tháng dài, ông lại đẩy đưa qua chuyện cụ Hòang Cầm trong những ngày còn nhỏ như ông. Cụ yêu thầm một người con gái tên Vinh, hơn cụ tám tuổi. Cụ rình cô ị ngòai đồng và bị cô ta bắt gặp. Cô giả bộ như lúi cúi tìm cái gì ấy và nói: Chị tìm cái lá… để sau này cụ có bài thơ Lá diêu bông. Ngay lúc này đây, ông đang lan man với một bài viết mà ‘Nó” là ông với những ngày còn nhóc tì ở quê ngọai. Chả lẽ lại mang cái tựa đề: “Lá han”. Nghe vừa ngưa ngứa, vừa kêu loang choang như han rỉ đồng, han rỉ thiếc. Nên ông cứ lẩn thẩn phân vân…

Được thể ông lẩn mẩn sang chuyện quê nhà, không ra gò mả thì tắm ao làng…Theo như bà bác rầm rì thì cái ao rộng lắm, nước trong veo, mặt nước dập dờn bèo tây, bèo ta, rau rót, rau muống. Ban ngày là nơi tắm táp, kín nước về ăn, đêm hôm là nơi trai gái tình tự… Ao là còn là nơi nuôi cá, dân làng vớt cá con ở sông mang về thả vào ao làng, cá li ti bằng đầu tăm, thế mà họ quen mắt biết con nào là đực hay cái, cá chép hay cá mè, đòng đong, cân cấn thì chả ai nuôi. Cứ vào cuối năm là tát ao bằng gầu chia cá cho cả làng. Cận tết, cũng bờ ao ấy, họ mổ trâu, mổ lợn bên cái cầu ao. Giờ ông nhớ lại, năm nào cũng vậy, chả bao giờ thiếu vắng thầy cái Nụ với con dao bầu nhọn hoắt. Ít lâu sau nghe lóang thoáng Việt Minh về đến mấy làng dưới chân núi. Lính ở đồn Tây trên núi Đèo được dịp thổi kèn tò te tí te đổ xuống càn quét. Từ đấy thầy cái Nụ lúc ẩn lúc hiện như ma chơi. Hồi nhớ đến cái ao, ông tậm tịt tiếp:

“…vì thầy cái Nụ ít khi có nhà, hai đứa lân la ra ao làng nhiều hơn. Khi không tư dưng nó biết bơi, lội xuống ao là cứ nổi lềnh bềnh, còn cái Nụ thì dát nước.Thế là nó nhón con chuồn chuồn ngô, bắt cái Nụ cởi trần ra…Nhìn con chuồn chuồn mà hai con mắt lồi ra to gần bằng hạt đậu, hàm răng nhe ra như răng cải mả, mặt mũi cái Nụ xanh lè. Đến khi nó đè ngửa cái Nụ ra, vạch áo, tụt quần, rồi dí con chuồn chuồn cho ngọam cái rốn, cái Nụ hét tóang lên như cha chết mẹ chết. Chả hiểu có phải vì con chuồn chuồn cắn rốn không, ít lâu sau cái Nụ biết bơi thật, lại lổm ngổm bơi chó nữa mới tài, cho đến bây giờ nó nghĩ chẳng ra. Chỉ có giời mới hiểu…”.

 

Cho đến bây giờ ông không rõ cớ sự gì, ông và cái Nụ ngày đó cứ dính chặt vào những con chuồn chuồn khi vui thì đậu khi buồn thì bay ấy. Sau mấy cái tết, hai đứa lớn lên vài tuổi, ông được cắp sách đi học trường làng, học nát xương lòi tỉ. Còn cái Nụ bị bắt ở nhà nấu bếp thổi cơm và “mò cua bắt tép” như ông đã…”hòai cố nhân” lúc nãy. Ấy là chưa kể cái Nụ còn mót khoai mót lúa, rồi thì theo nghề nhà đi hốt cứt trâu bò về ủ phân, cái Nụ làm tuốt tuột. Rõ ra là rau nào sâu ấy, ba đời úp mặt vào đít bò, đít trâu vẫn chẳng thấy chán. Ấy là nghề tổ của làng, còn nghiệp ngão gì nữa, trông đến rạm mặt, không ngòai là trông đít trâu làm thước ngắm, đi sớm về khuya như…trâu bò. Hít thêm một hơi thuốc, cho đến lúc này, ông hiểu mang máng là dân làng đông như nêm cối, nên phải bán mặt cho đất, bám lưng cho trời, năng nhặt chặt bị, vào tháng ba, ngày tám ăn đong ăn vay. Sống không nhúc nhắc như cái Nụ có mà toi. Ông nghĩ vậy…

Ông đẩy đưa vẩn vơ tiếp với một nhớ hai quên…

“…vào những ngày nghỉ, nó chộn rộn theo cái Nụ đi xúc cua. Cái Nụ ranh như ma, khè đưa chiếc rổ xảo xuống dưới một đám bèo, rung mạnh đám bèo rồi gạt chúng qua một bện. Những chú cua đang ẩn náu trong đám bèo, giật mình rơi xuống rổ…Hoặc giả buổi sáng thấy trời hâm hâm, cái Nụ dẩu mồm nói với nó: Tao đóan oi thế này, chiều cũng chột giời. Sao cái Nụ hóng giời mà biết, nó cũng chịu. Ngay sau đấy cái Nụ bổ nháo đi rang cám thật thơm, trộn thật nhuyễn cho vào cái ống bơ nhỏ bằng thiếc. Đến trưa, mang theo mấy chiếc vó làm bằng vải màn, khẽ đặt chiếc vó xuống, ném vào đó một viên cám nhỏ, đặt hết năm, sáu cái vó vải màn là lúc quay lại để cất vó. Nó phụ nhặt sạch cánh bèo, rom rác lẫn với tôm tép lên. Lớ ngớ thế nào đạp đổ bốn cái que vó bị cái Nụ mắng: Mày rõ đỏang. Nhìn tay cái Nụ còn dính bùn nhúm nhóm tôm bỏ vào cái chảo rang, ngóay một cái là xong, đĩa tồm đỏ au ngon nhừ. Nó bụng bảo dạ: Thế này mà ăn vào thi tháo dạ thì bỏ bố. Nên nó đành bấm bụng nhịn ngó lơ…”

Đốt thêm một điếu thuôc, nhìn khói huyền bay lên cây, cái đầu ông lại nhắng nhít rối mù lên…Chả là ngày ấy cái Nụ sớm khoe hương sắc, mắt to tròn như hai hòn bi ve, răng ngô nếp, da bánh mật, thân mình tròn lẳn như con cá trắm, đẹp nước đái chan canh. Ấy là mấy bà kháo nhau vậy. Đái đẻ thì cái lúc còn bé, ông vẫn vểnh cu đái vào bát cho mấy bà uống để tránh hậu sản, nước đái bọt nổi phềnh như bong bóng mưa rào. Nào mấy bà có chan canh đổ mẻ để nói mẽ, húp sùm sụp như uống nước chè tươi ấy thôi. Cùng lớn lên theo cái Nụ, nào đâu ông có phải thằng sứt môi lòi rốn gì cho cam, chân cẳng dài như cây sào, học năm nào lên lớp năm ấy. Vậy mà ông vẫn bị cái Nụ nỏ mồm chê ỏng chê eo: Mày rõ tồ. Đứa nào cám hấp mới lấy phải mày.

Một buổi ông đang rình gà ấp bóng. Chuyện là trứng của gà thì bà bác ông nẫng đem bán ngòai chợ từ hồi nảo hồi nào. Chị gà sợ nước, có quẳng xuống ao chị cũng vẫn quen thói về ổ ấp ủ mong nở gà con. Tồ như ông cũng biết đấy là…không tưởng. Để rồi ngay lúc ấy ông nghe lóm đựợc chuyện ”không tưởng” của người lớn. Chuyện là bà bác ông rỗi hơi, vuốt quết trầu bám mép hỏi lỡm u cái Nụ bền hiên hè: Ừ nhẩy….Con bé nhà bà trông hay đáo để, tôi đặt cọc đấy nhá. Cũng phải nhúc nhắc thôi bà ấy ạ…U cái Nụ têm một miếng trầu, miệng táo tác: Ối dào, cái con ranh con nhà tôi ý à. Trông vậy, chả báu gì sất. Cháu bà vớ được có mà…hốc. Rồi hai bà cười khục khục với nhau.

“…theo thời gian hai đứa lớn phổng phao quá đỗi, cuối hè nó ngu ngơ ra bờ ao xem cái Nụ giặt giũ. Bỗng cả hai thấy có hai con chuồn chuồn ớt đang…”cõng” nhau, bấu đuôi vào nhau mà hớp nắng, bốn cánh mỏng xanh thẳng căng như múa vờn. Cái Nụ ngẩng đầu lên sai nó: Mày có giỏi bắt cho tao đi. Nó nhắm chừng cành sung nhô ra ngòai mặt nước để nhòai người ra tóm anh chị chuồn chuồn đang dính vào nhau. Đang loay hoay không biết cách nào để leo lên vì thân cây sung quả xanh non dầy như rận bám dái trâu. Vừa lúc ở đầu cầu ao, cái Nụ chổng mông ngồi chồm hổm. Mới dợm đứng lên để đập cái chiếu dài ngoằng thì dẵm phải con cóc cụ da sần sùi. Cái Nụ hét lên một tiếng và ngã xuống ao nghe cái “tõm” như…sung rụng. Như ếch vồ hoa mướp, được thể nó cắm đầu ào xuống để đú đỡn như cái ngày…con chuồn chuồn ngô cắn rốn trước kia. Rồi thì hai đứa ướt như chuột lột, và nó thấy cồm cộm trong áo đẫm nước dính da phồng ra hai quả ổi, qủa bòng như chọc vào mắt nó. Nó đang lòi tói mắt ra nom dòm thì cái Nụ quay đi, buông thõng một câu chẳng đâu và đâu: Thằng nỡm. Thế thôi…”

Thế là được thể ông thả hồn theo mây khói: Sau đấy cả hai lóp ngóp leo lên bờ, đuổi nhau ven ao chạy như giặc. Trời sui đất khiến ngã đè lên nhau, lăn qua lăn lại, đến độ cái cúc áo cái Nụ tuột ra. Lần đầu tiên trong đời, ông mới thấy một mảng thịt trắng nhỡn, rõ ra trắng hếu, lại cứng như mo nang. Lúc ấy ông mới xốn xang thế nào là nhễ nhại. Mãi về sau này ông mới học được chữ nghĩa ướt át ấy khi ông lấy vợ.

“…hai đứa vẫn hồn nhiên vần nhau một hồi, người ngợm cái Nụ nhếch nhác, tong tả, cười rúch rích như chuột cắn lúa trong đêm. Vừa lúc nó ôm eo ếch cái Nụ tính kéo xuống nước để dìm…cho sặc gạch. Số nó ruồi, thầy u cái Nụ lù lù vác xác đến. Thầy cái Nụ không còn quần sắn ngang ống chân, đầu quấn khăn mỏ rìu nữa mà nó còn nhớ như in là quần nâu, áo nâu, bụng dắt khẩu súng lục cán gỗ. Chẳng nói chẳng rằng, mắt đỏ ngầu như mới đánh chén ở đâu về. Ông ấy giằng cái Nụ ra, nắm ngược tóc kéo về. Còn u cái Nụ vả nó một cái vêu mặt, má phồng lên như cái bánh đa, kéo nó về nhà bà bác nó. Và u cái Nụ chao chát như băm bổ vào mặt bà bác nó: Thằng quỷ ranh láo cốc nhà bà nứt mắt mà đã gớm. Mươi ngày sau nó được tống tiễn xuống cảng Phòng. Năm 54, nó đeo tầu há mồm vào Nam với thầy bu nó và biệt tăm biệt tích cái Nụ từ dạo ấy…”

***

Âm vọng từ sáng đến giờ vẫn còn tịt tịt trong ông với nỗi chết không rời qua giọng bà bác như đâm thủng vào tai ông: Này thằng…phò, con nhà Nụ nó viết thư hỏi thăm mày còn nhớ dạo ấy…. Tiếp đến, giọng bà bác lừng khừng: Mấy tháng sau bu nó bắt gặp nó đang nhai rau ráu sung non ngòai bờ ao. Lẽ nào?. Bu nó tụt quần nó ngang rốn. Cái rốn hơi sưng sưng như quả sung già. Bu nó hốc miệng ngó sững, chả lẽ sung mọc từ lỗ nẻ chui ra... Bỗng bà bác ông chửi té tát: Mẹ cha con chết tiệt này, dạo này người ngợm nó cứ nhẫy ra. Ấy vậy mà cái thứ lúa ngắn ngày ấy, số khổ như chó. Và bà câm như thóc ngâm, gặng hỏi, bà nhấm nhẳng: Nhào! Số nó khổ vì dạo đó mày còn bé nên không biết đấy thôi, bố nó mất sớm, sống cùng với mẹ và bố ghẻ. Gặp cái nhà ông bố ghẻ thiến chó, thiến lợn chẳng ra gì mới đổ nợ . Bà ngẫm ngợi một nhát và tiếp: Về thì biết..Nó đang đợi mày đấy. Lúc ấy, ông nghe không ra vì đang lóng chóng là bằng cái tuổi ấy, ông là thằng ăn xó mó niêu vì trước sau chỉ là…”chuyện tình” trẻ con, ngớ ngẩn quê mùa. Liêu xiêu thêm một chút nữa thì lẽ nào thêm một chị gà bị quẳng xuống ao để thành chuyện…gà ấp bóng? Mà quái lạ trứng ở đâu ra. Rồi ông thở ra, ho khan.

Nhìn xuôi xả qua hàng rào bên kia…Ông ngộ ra với người mình xa xứ ai nấy cũng khuân cố hương theo qua giàn mướp, giàn bí. Bà hàng xóm đang đi vào với bộ quần áo hoa cà, bóng bà qua nắng hanh, như ẩn như hiện. Ẩn hiện đếm trên đầu ngón tay, cái Nụ thuở nào giờ này cũng ngang ngang tuổi bà này thì phải. Ông như rúc vào mây, nôn nả với những dĩ vãng xa quệt vào nhau. Cũng khá lâu, mặc dù là buổi sáng, ông thấy bầu trời nhá nhem, thoắt đổi thành mầu hoa mướp, hoa bí mênh mang, rười rượi, trễ tràng. Ông đang nhuốm mùi hoa xưa cũ, hoa mướp hương mầu gì, ông cũng chỉ mài mại nhớ thế thôi. Cũng như hoa gạo, đã từ lâu, ông nghĩ là mầu trắng. Nhìn thửa vườn rau bà hàng xóm đã nhàm mắt, thế nhưng hôm nay ông thấy bồi hồi khôn tả. Ông quay quắt nỗi nhớ nhà trong khói thuốc với bát canh cua rau tập tàng vườn nhà, bát tép rang khế với chiếc nồi đất còn vương tàn rơm cùng một hình bóng với nước chẩy qua cầu…

Lững thững bước vào phòng khách, ghé kệ đồ cổ. Ông bâng quơ cầm con chuồn chuồn bằng thiếc mạ đồng xanh đã cũ sì, cũ mốc mà ông đã thửa nó ngay tự dạo mới chân ướt chân ráo tới đây. Cớ sự gì ông mua nó, ông cũng chẳng nhớ nữa. Để rồi trong chuyến về thăm quê nhà vào khỏang giữa năm, trong đám hành lý bừa bộn của ông có con chuồn chuồn ngô làm quà cho cái Nụ ngày xưa cùng một thóang đi về…

***

Xe qua Hải Dương, lên núi Đèo, nhìn trên đỉnh núi, dấu tích bức tường đá đồn lính Tây thuở trước vẫn còn đấy. Ngay cả chiếc thập tự giá mầu trắng đúc bằng bê tông, cao cả chục thước. Nhưng nay nhìn kỹ ông không hình dung được đồn lính Tây ngày ấy ra sao. Qua mớ ký ức lấp lửng, ông đóan chừng xe đổ dốc quẹo phải, ông sẽ gặp lại con sông và cái cầu Cống ngày nào. Rồi quẹo trái ở ngã ba gốc cây gạo, dọc theo con đường mòn là về đến làng Trạo Hà quê ngọai ông. Xe vừa xuống dưới chân núi ông đã nhìn thấy cây gạo bên sông, cây gạo cổ thụ thô ráp còn đó, vẫn um tùm xum xuê như một tảng mây trời. Vậy mà giờ này vào tháng năm, cây gạo vẫn chửa ra hoa. Gần đây qua sách báo, ông học được rằng giữa tháng ba và tháng năm, hoa nở rõ ra một mầu đỏ bầm, vãi bông trắng xóa. Nói cho đúng ra họ hàng hang hốc của cây này là cây bông gòn. Đất quê với cây đa cây đề đầy ma quái thì cây gạo cũng quái chẳng kém, vì nó được làm…quan tài cho dân cùng đinh trong thôn làng,

Ngay ngã ba có một quán nước, ông nói với bác tài ghé đây để hỏi thăm nhà…người xưa. Xuống xe, trước khi bước vào quán, ông nhìn xuống cây gạo bên sông. Cũng theo bà bác hay ông chú kể lại thì dân làng cứa vỏ cây lấy nhựa để dịn vết thương, nay những vết cắt ấy còn sần sùi loang lổ dưới gốc cây. Ông cũng đang có một vết sẹo. Vì ông đang ngẩn ngơ với con sông xưa kia có bên đục, bên trong, bên bồi, bên lở. Sông cứ miệt mài lở bên này bồi bên kia. Ông đang lắng nghe hồn sông vọng lên đang kể chuyện, rằng muốn đổi dòng phải đợi ba trăm năm. Ngay như dòng sông Gianh vơi chiều dầy của lịch sử cũng bằng những năm tháng ấy. Sông rộng quá, sông chẩy từ thuở khai thiên lập địa, đã chứng kiến, đã chuyên chở bao số phận của người, của đất trời. Nước vẫn miên man trôi qua, và tiếp tục trôi đi. Thế nhưng ông vẫn đứng đấy dọ dẫm tìm kiếm. Ông thẫn thờ có cái cảm giác ở giữa dòng có một giải phân cách tự nghìn xưa, chập chờn và lẩn khuất và còn lại chỉ là cây gạo hoa đỏ bên sông.

Ông như cây gạo mang vết sẹo lặng ngắm một cuộc đổi đời…

Thẩn thơ bước vào quán, quán làng nhàng cũng đầy đủ bánh kẹo như các hàng quán khác bên đường và chẳng thiếu bia hơi. Đảo mắt một vòng, ông bắt gặp một bà tướng tá đỏng đảnh mà ông nhẩm chừng là chủ quán. Xắm nắm đứng bên cạnh là một cô gái ở cái tuổi lỡ xuân thì nhưng trông cũng ngọt nước đáo để. Cô ta một tay áp cái cell phôn sát tai, luôn miệng chí cha chí chát, tay kia vung vẩy vào khỏang không như phân bua này kia. Ông vừa mở mồm nhe răng hỏi thăm đường tới nhà …“bà Nụ”.

Thế là ông tối tăm mắt mũi lại với bà: Ối giời ơi thằng phò đấy à! Làng nước ơi, cháu bà cả Sứt về đây này. Rồi tiếp: Tiên sư cha mày! Biệt tăm biệt tích, tao tưởng mày chết dí ở bên Tây rồi chứ. Sau những tiếng reo như xé lụa vào trưa hè, bà vồn vã hỏi han như tát nước vào mặt: Hà, hà, thằng phò dạo này già giặn gớm rồi đấy nhỉ?. Bà xuống giọng gần gũi: Vợ con đến đâu rồi hở? Làm ăn ở bên ấy có căng không?.

Bà nhổm dậy đập đập vào vai ông: Thế mày có…“hốc” không?.

Còn ông, ông nháo nhác ra thấy rõ vì chả hiểu “phò” là cái mẹ mốc gì và cứ ngỡ là “hốc” là…”ăn”. Mà hốc gì cơ chứ, dòm quanh quẩn chẳng thấy hương khói nồi bún ốc, bún riêu đâu cả. Lúc này, cô con gái quần áo “si-đa” như hiểu “liên hệ” giữa ông Việt kiều và bà mẹ. Cái điện thọai vẫn không chịu…“cách ly” với cái tai, cô mở miệng nói chõ vào: Mẹ cháu hỏi ông đi đường có…hốc hác không. Quay sang bà Nụ, cô miệng chúm chím : Mẹ cháu ai cũng phò, tao phò, mày phò, nó phò”. Bà vồ đét lên đùi một cái và đốp cô con : Ơ…Mả mẹ cái con phò này hóng chuyện hay nhể. Này, tao đưa thằng phò này về thăm thằng phò già bố mày. Liệu hồn mà về sớm lo cơm nước nhá. Nhá….

Bà le te dẫn ông qua bên kia con hương lộ để vê làng, con đường mòn mà bà bác vẫn dẫn ông đi lễ nhà thờ. Ông bồi hồi hồi tưởng lại tiếng chuông của ông bõ nhà xứ mà từ tấm bé ông chưa hề thấy mặt. Cứ tầm tầm sáng bõ kéo chuông báo hiệu bổn đạo đi lễ. Mùa đông dưới mưa phùn gió bấc, ông nắm tay bà bác men ven ruộng, vừa đi vừa ngủ gật, lại tối trời như hũ nút nên hụt chân ngã lạch bạch. Ấy vậy mà đánh vật với quả chuông chưa bao giờ bõ sai giờ, đã bao nhiêu năm tháng như vậy. Như trưa bõ kéo hồi chuông nguyện. Tối bõ kéo hồi chuông tắt lửa đọc kinh trước khi đi ngủ. Ông ngán ngẩm nhất hồi chuông này vì phải ngồi xếp bằng dưới chiếu và lại díu mắt ngủ gà ngủ gật nữa. Thế nhưng ám ảnh ông nhất là hồi chuông báo tử của bõ. Tiếng chuông quê mùa vụng dại cứ vang vọng điểm một hồi dài với ba tiếng một. Rồi bỏ lửng. Buông rơi. Từng tiếng. Từng tiếng một. Tiếng “coong” dài ra. Rồi buông rơi rớt xuống. Rớt xuống tan lõang để rồi mất hút. Tan lõang như tiếng sáo diều bảng lảng trong một ngày tàn.

Tiếng chuông cầu hồn của ông bõ cứ nhập vào ông mãi. Mãi cho đến lúc này…

Ông quay quắt nhìn quanh để tìm lại cảnh cũ. Xa xa thấp thóang là làng ông, làng phình ra, đồng co lại. Làng cũ của ông đây sao?. Ông ngẫn ngẫn với những nhà cao tầng mọc như mấy cái hộp diêm dựng đứng. Không có cổng tre làng, cũng chẳng còn cây đa rợp bóng, chõng nước chè xanh. Cây đa, hàng nước đầu làng đã chìm sâu trong quá vãng. Giờ lạc lõng là quán bia hơi bên hương lộ vừa rồi. Quán bia hơi. Đầu ông cứ chao đảo với cô con gái của bà, có dáng dấp mờ nhân ảnh như đã gặp ở đâu đây.

Bà quay sang ông, ăn nói có hơi bã bã môt chút và bà báng bổ phân trần: Ở cái đất này tao cứ thô mà quất, có đéo gì mà phải giữ kẽ, họ hàng hang hốc cho tới hàng xóm láng tỏi, già trẻ, trên dưới, tao cứ gọi bằng phò hết.

Vừa đi, bà vừa lõ mồm kể chuyện…”đời cô Lựu” cho ông nghe:

Nói đến chuyện thằng phò già nhà tao nhiều chuyện thối lắm mày ạ. Hồi tao 13, 14 tuổi, ngực mông tao…hơi bị hòanh tráng như mày biết đấy. Rồi tao bị thằng phò già đè ngửa ra…cưỡi ngựa xem hoa. Chín tháng mười ngày tao phọt ra cái con phò gái người ngợm gầy như con cá mắm mà mày gặp hồi nãy ấy. Thằng phò già nhà tao lại là thương binh gộc từ thời chống Pháp chống Mỹ, hồi lão ấy là phục viên, chân tươi chân héo với ba cọc tem phiếu ít ỏi chẳng bõ nhét răng Tao phải bương bả đi khuya về sớm như thờn bơn. Trong khi lão ngày cứ nhòm ba cái huân chương mà no phỏng. Thấy cảnh nhà túng quẩn, tao khuân cái của nợ dũng sĩ hạng nhất bằng vàng ra chợ bán.

Bà cười hềnh hệch:

Bữa ấy tao mới sáng mắt ra, thì ra tấm huân chương ấy mạ vàng, không bõ nhét răng. Đám phe phẩy ngòai chợ bảo tao mang về đem treo chuồng gà cho cáo nó sợ .

Tiếp đến là phe phẩy:

Ở bền đấy, mày có nghe câu vè này không?.

Rồi bà đọc vanh vách như thần chú:

Tiền là tiên là Phật, là sức bật của lò xo, là thước đo của lòng người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của bà già, là cha của hy vọng, là ô lọng của quan chức, là cán cân của công lý. Ôi tiền hết ý. Hơi một tí cũng tiền.

Nghe cũng hay hay, ông hỏi:

Đời bà cũng “linh tinh” nhỉ.

Bà cười tóet:

Linh tinh mẹ gì, năm 13, 14 tuổi tao đã có mối tình đầu, mày muốn biết là ai không?.

Không đợi ông trả lời, bỗng bà đổi…”khâu chuyện”:

Ấy đấy, cái con phò gái nhà tao lớn tổ chảng ra đấy vẫn chửa có thằng mả mẹ nào ra hồn để góp gạo thổi cơm chung.

Bà quay sang ông:

Ở bên mày, có thằng phò nào sạch sẽ mày làm mối cho nó một quả. Tiêu chuẩn tao phải kiếu trước là đừng có…phò phạch.

Ông lại được phen ớ ra, bèn hỏi :

Phò phạch là sao?.

Thế là bà láo nhào như chào mào ăn dom:

Thằng phò chết tiệt này chạy trời không khỏi nắng đúng là cơm nhà quà vợ.

Và bà cười tít:

Là cơm nhà, ra đường lại khợp…phở tiếp chứ sao.

***

Vào đến làng, ông men từng bước trên lối đi giống như con ngõ hẹp. Nhà cửa san sát, không có chút bóng xanh của hàng duối hay hàng rào dâm bụt. Cũng những con đường làng khúc khủyu này, nghe kể lại, ngày mới dựng làng lập đình xưa kia lầy lội ngập móng chân trâu, đầy lá tre khô. Sau được lát bằng gạch vồ sát khít khịt, những viên gạch nghiêng ken sít đều tăm tắp. Ấy là tiền nộp cheo cả trăm viên cho làng vào buổi nên vợ nên chồng của những lứa đôi mới lấy nhau. Đời này qua đời khác, năm này qua năm khác, những đọan đường lát gạch cứ dài thêm mãi. Dài như những tình duyên nối tiếp của trai gái trong làng, nối tiếp cho dòng giống sinh tồn. Nay được trải bê tông thô kệch, đã đè lấp, xóa tan quá khứ mơ hồ dòng họ của những thằng Đực, cái Mận. Hay tổ tiên của những anh nhiêu, anh khóa võng lọng vinh quy bái tổ qua con đường sống trâu thuở xưa ấy, những người muôn năm cũ đã đi vào một thời vắng bóng.

Ở một con ngõ quanh co khác, còn lại là những bức tường bệch bạc từ nhiều chục năm qua. Chẳng hề sơn phết lại, lớp vôi khô queo như muốn bở ra từng lớp gạch đỏ, gột hết cát bụi như đưa ông về thuở ban sơ. Chính những hoang tàn nhỏ nhoi ấy là sợi dây liên hệ mỏng manh với thời gian xa cách. Đứng trên thẻo đất này, rơi rớt lại những hàng dậu sơ sài, bao quanh là bờ cây duối còi cọc. Những mái nhà lợp rạ xác xơ, vách bùn tàn tạ, u buồn, dường như vẫn nằm mơ ngủ cả trăm năm..

Rẽ qua một khúc quặt khác, những căn nhà mà lúc nãy thóang xa như mấy hộp diêm nhấp nhô. Bây giờ đứng ngay đây, đập vào mắt ông như mấy cái hộp “các-tông” sau khi dọn nhà bị vất đi, nằm chồng chất lên nhau, cái vuông, cái chữ nhật lỏng chỏng với cái cao, cái thấp. Những mái chẩy chọc ngang trời là cái cột “ăng ten” như đài ‘ra đa”. Những mái bằng treo quần áo hàng hàng lớp lớp như cờ đuôi nheo. Ngán ngẩm hơn nữa là qua ao làng, ao bị cơi nới lấn làm nhà hết hai phần ba, nay là ao tù nước xanh rêu nhớp nhúa, nặng mùi thum thủm, đám bèo tây, bèo ta cũng xác xơ, bè rau muống, rau rút lơ thơ. Cái ao như nhỏ bé lại, chả có đứa trẻ nào tắm táp, ngụp lặn nữạ. Thêm một lần, ông để hồn lang thang tìm những dấu ấn qua những con chuồn chuồn của cái thuở ấu thời, bay cao thì nắng, bay thấp thì mưa. Nhưng rặt chẳng thấy đâu.

Dòm cái sì líp, sú chiêng phất phơ trên mái bằng. Bà lơn tơn hỏi thăm gia đạo ông:

Chuyện đéo gì chả là chuyện, tao nghe hơi nồi chõ chuyện vợ mày bỏ mày tếch lên bàn thờ ngồi để mày ăn mặn nằm chay. Cơm no ấm cật cũng giậm giật như nhau cả, tao biết mày kỳ tình ngủ thế mẹ nào được? Mày vừa ngả lưng, bên mày nhà vách bột. Nghe hàng xóm chúng nó vừa thở phì phò hùynh hụych thịt nhau ở bên kia, có mà bố cái lủng lẳng của mày cũng phải tỉnh giấc ngo ngoe….

Dậu đổ bìm leo, bà bắt qua chuyện thuyền sắp ra của biển của bà:

Thằng bói mù ngòai chợ dậy tao, tao phải sống cảnh sinh ly tử biệt mới nên người. Phải đi xa, phải lấy chồng xa mới nên nghiệp ngão. Mà biết lấy ai, gặp thứ phò phạch nữa thì tao thà bật cái lò sưởi sấy cái bướm cho khô còn sướng hơn. Mà bên mày có lạnh lắm không?

Bà đỏng đảnh tiếp:

Dễ thường mày cứ nằm chay mãi chẳc? Mà thôi tao đéo thèm trò chuyện với mày nữa, mà chả trò chuyện thì mồm nó mốc mày ơi. Thằng phò này chẳng hiểu mẹ gì sất, chuyện với nhà mày tức…“lờ” anh ách, khê cả bứớm tao!

.

***

Về đến nhà, bà cun cút đi vào, bỏ lửng ông giữa vườn. Ông nhìn vào căn chái với gầu sòng, nong, nia, sàng, sẩy. Đôi quang gánh hót phân của thầy cái Nụ vẫn còn treo trên vách. Tất cả đã mốc meo như những món đồ cổ. Cạnh là bếp, cối giã cua, cối xay bột, vại cà chum tương cũng y phận. Ba viên gạch tượng hình cho ba ông đầu rau vẫn yên vị và cũng chẳng thể thiếu cái chạn bát tre đứng trên bốn bát ăn cơm có nước.

Bỗng có tiếng bà gọi ơ ới:

Vào đây gặp thằng chồng phò già của tao.

Lần mò lên nhà ngang, chẳng kịp nhìn cái bàn thờ đầy bụi bặm thì ông chố mắt ra thấy…Ông thấy…một cụ già, nằm co ro, lưng uốn cong như con tôm càng, mặt ngỏanh vào bức vách. Bà Nụ cầm cái gậy chống trời của cụ khua khua cụ dậy như thể để chào khách. Cụ nặng nhọc trở mình ra ngoai. Khuôn mặt cụ như vô hồn đến phẳng lỳ. Cụ như đang dóng tai lên nghe ngóng âm vọng của thời gian. Tưởng rằng đã tan lõang vào khỏang không lâu lắm rồi. Tưởng như không bao giờ gặp lại. Bỏ lửng. Buông rơi. Ấy là tiếng chuông báo tử của ông bõ nhà xứ. Lạy Chúa tôi…Thằng phò già chồng bà là…

Là…ông họan lợn, bố ghẻ của cái Nụ năm xửa năm xưa…

***

Về đến nhà trong một ngày cuối tuần, nắng khơi khơi, mây khan khan. Vẫn như mọi lần ông bắc ghế ngồi ở vườn và cũng chẳng thể thiếu bao thuốc lá, tách cà phê và bình trà. Bất giác đảo qua hàng rào, ông lại bắt gặp bà hàng xóm lướt mướt móc cái máy trên dàn bí. Dòng nhạc Giọt mưa trên đá bồng bềnh giữa khỏang không trống trải: Người tự trăm năm về khơi tình động – Người tự trăm năm về khơi tình động -Ta chạy vòng vòng ta chạy mòn hơi – Nào có hay đời cạn, nào có hay cạn đời.

Ông hí hóay đặt bút xuống bằng vào một truyện tình như…cụ Hòang Cầm.

Tất cả cảm hứng, ông vay mượn hai câu thơ tương tư hoa gạo quê nhà, tự dưng áo đỏ làm ta giật mình của ai đó. Là người di tản buồn, ông gửi gấm những khắc khỏai qua dòng sông Bến Hải với cầu Hiền Lương, chẳng lẽ phải mất ba trăm năm sau sông mới đổi dòng. Ông dựa dẫm hình ảnh cây gạo bên sông cùng những vết cắt sần sùi u lên như cái sẹo còn đó. Ông chẳng biết cây gạo quê nhà khi nào rộ hoa…trắng hay đỏ.

Để trong ông có thêm một vết thương mới…

Mang về lại con chuồn chuồn thiếc mạ đồng to bằng ngón tay trỏ, ông đặt nó trên bàn. Ông lật ngửa nó chổng bốn vó tênh hênh lên trời. Với cuộc đổi đời, ông cứ nhập nhằng con chuồn chuồn ngô với con chuồn chuồn ớt. Mà nếu chữ nghĩa ông có vặn vẹo con chuồn chuồn ớt lột xác thành con chuồn chuồn kim mầu đỏ cũng chẳng sao. Bí ngô bí khoai một lúc, cái đầu ông cứ loay hoay thế này thế kia với sông xưa rày đã lên đồng, chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai, và âm ỉ cùng tiếng ai gọi đò.

Buồn tình vắng gió chiều hôm, bốc cái điện thọai ông gọi viễn liên cho bà bác nhà quê đặc đang ở Sài Gòn để kể chuyện người tự trăm năm về khơi tình động. Giọng bà khào khào: Mày…mày…nói gì nhẩy. Rồi bà lắp bắp: Mày…mày…về thăm….

Bà chẳng buồn tìm hiểu thâm căn cố đế những gửi gấm trời trăng mây nước của riêng ông hay ngẫm chuyện nhân sinh qua ông bõ nhà xứ với hồi chuông báo tử cùng cây gạo bên sông với con chuồn chuồn ngô…cắn rốn.

Bà chửi tóang lên :

– Mày ngu như lợn. Thằng phò…

Trúc gia trang

Xuân sinh, Kỷ Sửu

Phi Ngọc Hùng

Tb: Về “phò”, bài viết được dựa vào một tác giả

khuyết danh ở Đông Âu và phò là tiếng lóng

miền Bắc để chỉ những cô gái thả rong làm cái

nghề bắt đàn ông con trai phải thở phì…phò.

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2014