03/23/2008
Tháng 3 năm 2008

Ngày 25 tháng 3 năm 2008

*Thế giới có đầy dẫy những chứng cớ cụ thể cho nỗi sợ hãi đang cầm tù chính con người ấy. Sự kiện chính quyền Trung quốc với guồng máy đàn áp khổng lồ trong tay, một dân số hơn một tỷ người chiếm một phần tám dân số tòan cầu, đã biểu lộ sự sợ hãi của mình qua hành động đàn áp đẫm máu một dân tộc thật nhỏ bé là Tây Tạng , dù họ chỉ đòi…

 

hỏi những quyền sơ đẳng nhất của con người một cách ôn hòa. Hay sự kiện xảy ra vào cuối tháng 9 năm 2007 tại Miến Điện, nhà cầm quyền quân sự với lực lượng quân đội gần 400 ngàn binh lính đã thẳng tay xả súng bắn vào hàng ngàn sư sãi xuống đường biểu tình yêu cầu một chế độ dân chủ hơn cho người dân Miến Điện. Người dân Tây Tạng hay các vị sư sãi Miến Điện, về tương quan bạo lực, không thể nào là đối thủ tương xứng để cho những nhà cầm quyền độc tài sợ hãi. Thế nhưng, những phản ứng bạo lực để đối phó với những lực lượng hiền hòa chính là hậu quả của sự sợ hãi. Nếu không, họ đã chẳng liều lĩnh phạm phải những tội ác khó tha thứ. Một thí dụ khác nữa ở Việt Nam rất điển hình , là việc tập thơ Trần Dần- Thơ, dù đã được phép in và xuất bản sau khi bị cắt xén khỏang 4o trang, bỏ đi một số bài viết và bài thơ theo yêu cầu “ biên tập “ , dự trù cho phát hành ngày 21-02-2008 tại Hội Thơ Việt Nam lần thứ 6 tổ chức ở Văn Miếu (Hà Nội) nhưng vào giờ chót, bằng một “ lệnh miệng từ trên cao “, tập thơ đã không được phép xuất hiện ở Văn Miếu, và giấy phép phát hành cũng đã bị thu hồi. Trần Dần là một nhà thơ thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm , họat động vào những năm 1955 và 1956 ở miền Bắc, đòi hỏi văn nghệ sĩ phải được tự do sáng tác, không chịu sự chỉ đạo của đảng CS. Sau đó, ông và các bạn bè trong nhóm bị chính quyền CS trù dập trong suốt hơn 30 năm. Mãi đến năm 1994, ông mới được cho phép xuất bản tập thơ “ Cổng tỉnh “ , được truy tặng giải thưởng văn học của nhà nước năm 2007 ( Trần Dần qua đời ngày 17-01-1997 ). Nhà thơ Trần Dần đã chết hơn 10 năm , vậy mà “ ông nhà nước “, kẻ nắm đủ thứ quyền sinh sát trong tay, vẫn còn “ nỗi sợ “ ám ảnh họ từ hơn 30 năm nay , dù người bị sợ ấy chỉ có chữ, chỉ có thơ trong tay, những câu thơ nghe cứ rờn rợn cả người :

Càng chết tôi càng bất tử,

Eo ơi

Chết vẫn không yên

 

( Trần Dần – Xổ Bụi 1988)

 

Ông nhà nước “ sợ ” cũng chẳng có gì ngạc nhiên .

 

Ngày 15 tháng 3 năm 2008

Chiến tranh chấm dứt đã hơn 30 năm, nhưng những tranh chấp giữa người Việt với nhau vẫn chưa chấm dứt. Cuộc đối đầu triền miên không bao giờ dứt ấy, ít nhiều đã ảnh hưởng những thế hệ trẻ, sinh ra sau chiến tranh, tuy không tham dự trực tiếp cũng vẫn vô hình chung, chọn cho mình một phía để đứng, vì cha anh của họ đã từng đứng về phía ấy, đã từng đổ máu, hy sinh, và bên phía thua trận thì cũng đã từng bị tù đầy, lưu vong . Cái lằn ranh ngăn chia những người trẻ ấy lại càng vô hình hơn, nhưng không thể phủ nhận rằng nó không hiện hữu. Tất nhiên, một người trẻ hiện sinh sống ở Việt Nam, có cha hay anh là lính Cộng Hòa, tuy không dám công khai bênh vực cha anh mình mỗi khi nghe những lời phỉ báng, nhưng tận thâm tâm vẫn mang một nỗi hậm hực khó chịu, cho đến khi nỗi hậm hực khó chịu ấy có cơ hội và điều kiện để bùng nổ, phát tác dưới hình thức nào đó.

Sự ưu thắng của văn hóa miền Nam, tức bên thua trận, lại càng khơi sâu thêm mặc cảm tranh chấp giữa những người sống ở hai bên lằn ranh ý thức hệ ngày ấy. Bên thua, có thêm lý do để xoa dịu nỗi đau thất trận và cảm giác được ủi an những ngày cuối đời phải kéo dài kiếp sống lưu vong. Bên thắng, cái tự hào của người chiến thắng năm xưa hiên ngang bước trên đường phố tràn ngập cờ đỏ chào đón “ người giải phóng “ đã không còn được nguyên vẹn. Ít nhiều, lòng tự hào ấy đã bị tổn thương. Cả hai bên, người nào cũng đã gìa nua, tuổi tác. Và vì gìa nua tuổi tác, đầu óc không còn “ chỗ trống ‘ để tiếp nhận những ý tưởng mới, những ý kiến khó chấp nhận. Cái hệ quả hiển nhiên ấy, ngòai việc đẩy hai thế hệ già nua càng xa thêm lằn ranh khiến họ có thể đưa tay cho nhau nắm nếu điều kiện chín mùi, còn gây nên một khỏang cách “ khó chịu “ cho thế hệ con cháu những người đó. Tất nhiên, thế hệ trẻ không thể ghét bỏ nhau như cha anh mình, vì họ không có những lý do chính đáng để ghét bỏ lẫn nhau, nhưng đã chắc gì họ có thể bắt tay nhau như những người bạn thực sự.

Oan khiên ấy, sẽ còn tồn tại đến bao giờ ?

( Trích “ Khỏang cách oan khiên “ )