06/27/2015
Ngộ Không: Tác Giả và Tác Phẩm – Kiệt Tấn (I)

clip_image002

 

 

Tiểu sử

Tên thật: Lê Tấn Kiệt, sinh năm 1940 tại Bạc Liêu. Hiện sống tại Bagnolet, Pháp.

Tác phẩm

Nụ Cười Tre Trúc, Thương Nàng Bấy Nhiêu, Nghe Mưa, Lớp Lớp Phù Sa, Biết Ðâu Tìm.

 

 

 

 

Viết Về Kiệt Tấn

 Hãy nằm im và lắng nghe

những vũng nước xanh lơ xôn xao trong đầu

Cổ Ngư

Tôi không nhớ rõ đã liên lạc với nhà văn Kiệt Tấn từ lúc nào, nhân chuyện gì. Hình như bắt đầu bằng điện thoại. Ông gọi cho tôi trước, hay ngược lại, cũng quên tuốt luốt! Chắc vì cái mốc khởi đầu ấy, với tôi, không phải là một sự kiện cực kỳ quan trọng, bắt người ta phải ghi nhớ, để sau đó một năm, năm năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, một trăm năm sau, lại lôi ra làm sinh nhật, tưởng niệm, dựng bia, đặt tượng, vỗ tay hay nhỏ lệ. Tôi kinh ngạc, rồi quen dần với cách nói chuyện qua điện thoại của ông, giọng miền Nam lề nhề, lâu lâu lại bị ngắt quãng rồi được tiếp tục bằng một tiếng toóc rất ư gợi cảm! Ông vừa gọi phone, vừa uống, vừa say. Và tôi ngồi ở đầu dây bên này, loay hoay tìm cách giải mã những điều ông đang nói. Nói chuyện điện thoại đâu đôi ba lần, rồi cũng được dịp gặp mặt. Nhìn dáng ông xách cái túi nhựa của siêu thị Tang Frères đứng xớ rớ chờ vợ đi chợ trong khu tam giác vàng Chinatown của quận 13 Paris hay hì hụi kéo một xe đầy sách lên cho Thư viện Diên Hồng, tôi không nghĩ đó là một Kiệt điên vì mê, cuồng vì yêu từ thời “Bến đò trao thơ”, “Đêm cỏ tuyết”, qua “Người em xóm học”, “Yêu em xứ tuyết” cho đến “Sáng dậy nghe em khóc”, một chàng playboy bảnh toỏng chạy quanh nhiều cuộc tình với những Hoa, Tuyết, Ánh, Diane, Louise, Danyèle, Hường… Tôi hình dung ra một Út Kiệt với bộ bà ba trắng lụa lèo thong dong giữa ruộng vườn bát ngát miền nam. Vĩnh Long, Bạc Liêu, Mỹ Tho, có phải là những nơi ấy không? Vậy mà ông đứng đó, cũng như tôi, với chiếc parka dày sụ, cổ quấn mấy vòng khăn quàng, rồi nón, rồi găng, giữa gió lạnh đất Pháp. Mấy chục năm sống nơi xứ người, từ thời du học cho đến ngày “xin nhận nơi này làm quê hương bất đắc dĩ”, với vóc đậm, mặt vuông, Kiệt Tấn vẫn giữ nguyên cho mình dáng vẻ chân chất của người đồng bằng sông Tiền sông Hậu, dường như lúc nào cũng sẵn sàng ngả ra mời: dzô một ly, rồi xuống sáu câu vọng cổ thiệt mùi. Vậy mà…
Thuở nhỏ, tôi có dịp sống khoảng bốn năm ở Thủ Đức. Cho đến bây giờ, tôi biết, đó vẫn là những tháng năm tôi được gần gũi nhất với thiên nhiên, dù cái khoảng thiên nhiên thời thơ bé đó chỉ gồm một vuông sân trước với ba tàng trứng cá, một hàng rào dâm bụt đơn đỏ hồng, một dãy dâm bụt kép đủ màu, vài cây sứ cùi, và một mảnh vườn sau đủ rộng để có chuồng gà chuồng vịt, ao thả rau muống và cá rô, một cây ổi, một cây mít, một cây chanh, một cây phượng, bụi xả, bụi chuối, mấy thân đu đủ khẳng khiu đeo nặng trái. Nhưng cho một đứa trẻ ở những năm đầu tiểu học, đó đã là khoảng sân chơi khổng lồ, với cả một microcosmos – vũ trụ vi mô – phất phới nhiều cánh bướm muôn màu, chuồn chuồn hổ, chuồn ớt, chuồn kim, chuồn voi, lúc nhúc nào dế than, dế lửa, dế cơm, dế trũi, cào cào, châu chấu, sè sành, bọ ngựa, bọ cam, bọ sít, ốc sên, ốc ma, sâu róm, kiến đen, kiến lửa, nòng nọc, thằn lằn, kỳ nhông, đôi khi lạc loài cả một trự cóc xù xì hay vệt nhái bén xanh mướt vút xuống ao. Cùng với những đứa bạn đồng lứa, chúng tôi chơi trong thiên nhiên, chơi cùng thiên nhiên. Thấm nước miếng vào trái đậu nổ, quơ gót chân trên đám lá mắc cỡ, xách thùng đổ nước đầy hang dế cơm, hay để một chàng kiến tướng đen trùi trũi banh ngàm đọ sức với gã kiến lửa có cái đầu to bằng hạt mè, bóng láng, đỏ lựng, nhìn phát nể! Thiên nhiên thơm mẻ cá rô chiên dòn rụm, hăng mùi lá chanh non mới hái hay nồng nàn khắp vườn ngày mít căng, da nứt. Thiên nhiên chiêm chiếp mở tròn con mắt nhìn đời sau cú khẻ mỏ quyết định của từng lứa gà, lứa vịt hay nhỏn nhẻn ngon lành cùng chiếc răng thỏ cắn ngập vào thân xanh càng cua tròn mướt… Đùng một cái, gia đình dọn về Sài Gòn, còn tôi ngơ ngác như đàn bò vào thành phố[1]. Khu Đakao. Cầu Bông, cầu Sắt với con kinh đen kịt bùn. Ngôi chợ ồn ào quà bánh. Căn nhà thiếu ánh sáng, không cửa sổ, chỉ có những khoảng trổ phiá trước phiá sau, vừa đủ để hứng khí trời, để thấy một khoảnh xanh trên cao và mái ngói đỏ xỉn màu rêu của nhà hàng xóm. Phiá trước cũng có sân. Tráng đặc xi-măng. Phiá trước cũng có cây. Thân bông giấy leo, gai tua tủa, cứng ngắc. Tôi mất thiên nhiên. Vùng vằng đi tìm. Con gà nhép, con vịt lụa nuôi trong lồng chúc mỏ vào ăn trong lòng bàn tay tôi, rồi cũng chết vì thiếu hơi mẹ. Con nhen mua ở Chợ Cũ, loài sóc nhỏ có vằn đen trắng dọc sống lưng, nâng lát chuối cắt bằng hai tay nhỏ xíu, rồi cũng chết trong lồng vì nhớ rừng. Thành phố, căn nhà cùng với nhựa đường, xi măng, gạch ngói chung quanh đã biến thành chiếc chuồng khổng lồ, nhốt tôi trong đó, rồi vô tình, tôi lại bắt chước người lớn, nhốt những con vật đáng thương vào chiếc lồng nhỏ hơn. Và chúng chết. Nhưng chỉ thêm vài năm sau nữa thôi, là đến 1975. Tháng tư. Cùng với những tan loạn, đau thương của người lớn, thêm một lần nữa, tôi mất: tuổi thơ.
Không thể nào tìm lại được tuổi thơ trong thời khốn khó, tôi cố vớt vát thiên nhiên bằng cách thỉnh thoảng chui vào sở thú, lang thang trong vườn Tao Đàn hay ngồi hàng giờ bên thành hồ ngôi chùa Tàu thờ Ngọc Hoàng ở gần nhà, nhìn vài đầu rùa nhấp nhô chìm nổi trên mặt nước sóng sánh những đốm nắng hiếm hoi lọt được qua mấy tàng cây vú sữa rậm lá. Tôi đi tìm lại cái microcosmos của mình qua bước chân phiêu lưu của chàng dế mèn trong truyện Tô Hoài. Tôi mơ về một thiên nhiên hoang dã còn vắng bóng người với “Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam. Rồi khi qua đến Pháp, tôi gặp Kiệt Tấn. Và tôi thấy mình gần với ông hơn so với Tô Hoài hay Sơn Nam. Ngồi trong métro, tôi chảy nước mắt khi đọc:
… Bên bờ giếng, tôi dành một khoảng đất nhỏ để chôn cất mấy con vật đã cùng tôi bầu bạn một thời: chim sáo, cá lia thia, dế than, trâu đất, cu cườm… Tôi không chơi đá cá đá dế. Cá và dế của mấy thằng lỏi trong xóm cho đá với nhau tới lúc trầy vi tróc vẩy, sứt càng gãy gọng ngất ngư hết mới chịu quăng ra. Tôi lượm về rán lấy nước muối và đất sét chập chộ cho tỉnh hồn. Mấy thương binh gượng sống ngắc ngoải thêm được ít bữa mới chịu nhắm mắt lìa đời. Tôi khóc lóc và đem đi chôn ở nghĩa địa riêng của mình bên kia bờ giếng. [2]
Thằng bé-tôi lúc sáu tuổi không có được cái tâm bồ tát như thằng bé Kiệt lúc sáu tuổi, và những con nhen, con gà nhép, con vịt lụa chết trong lồng bị vứt vào thùng rác, đổ đi. Mảnh sân thành phố đặc cứng xi măng, làm gì có đất để đào mà chôn với cất, mặc dù con vịt lụa tôi nuôi có khác gì lắm so với em vịt vàng của Út Kiệt:
… Lép kép! Lép kép! Con vịt con thò chiếc mỏ vàng nhỏ xinh xắn rỉa mấy hột cơm tôi vừa mớm ra cho nó ở miệng. Nó ngước lên nuốt mấy hột cơm, chiếc cổ nhỏ xíu ngửng lên trời ngửa ra sau, xong nó giương đôi mắt khù khờ ngó tôi kêu lép kép chờ đợi. Tôi đưa vịt con cạ cạ lông nhung mịn của nó lên má mình, lòng rạt rào sung sướng, thương quá là thương! Tôi sáu tuổi, con vịt con vừa nở được năm ngày. Nó đưa chiếc mỏ rỉa trong vành tai tôi nhột nhột khiến tôi rụt đầu ngoẻo cổ qua một bên. Vậy mà đã ghê. Vịt con thủ thỉ chuyện trò với tôi, lép kép! lép kép!… Chỉ có một mình tôi hiểu được em tôi muốn nói gì.
Tôi mở tay ra. Con vịt nhỏ nằm gọn lỏn trong hai bàn tay tôi, ngoan ngoãn, lép kép! lép kép! Toàn thân con vịt màu vàng, lông tơ mịn màng non nớt thơm tho, mỏ và chân hơi ửng màu cam, trên mỏ có chấm hai lỗ thở nhỏ xíu, mắt tròn vo đen lay láy, ngây thơ ngờ nghệch. Lép kép! Lép kép! Tôi lại mớm cho nó mấy hột cơm. Tôi dặn nó kêu nho nhỏ, sợ má nó nghe được chạy tới đòi lại…
Cái tình của tôi đối với những con vật nuôi chỉ dừng lại ở những giọt nước mắt tuổi thơ, ở cái bần thần suốt tuần, ở việc bỏ cơm một buổi, nhưng với Kiệt thì khác, cái đau xé lòng hơn nhiều:
… Chiếc xe cam nhông thứ hai lăn tới áng khuất, cụm lông vàng mịn không còn ngó thấy đâu nữa, tôi chỉ kịp nghe một tiếng chét thảm thương bên tai, thôi rồi! Chết em tôi rồi, tôi ngã quỵ xuống lề đường, đầu gối đập lên đá cục mà không cảm thấy đau đớn gì hết!… Đoàn xe tiếp tục lăn qua chậm chạp, từ từ, nhưng tiếng động cơ phát ra xầm xì không đè át được tiếng chét! chét! thảm thương nhỏ nhít của em tôi còn đang chấn động từng chập trong cùng tận ruột gan mình. Tôi gẫy quặp người tới trước, hai tay cấu lấy bụi cỏ lông gà, ghịt kéo để cố dằn tiếng nấc đang cướp mất hơi thở mình… Bụi cỏ trốc gốc, tôi lại té ngửa ra sau, một chân lọt xuống mương nước, tôi nấc tiếp liền mấy tiếng bứt ngang hô hấp, miệng không thể nào khép lại được nữa, tôi nhăn hàm răng xiết ăn ngó trời, lệ tuôn đầm đìa lai láng, trời mây trên cao tan loãng thành vũng nước mắt không còn hình thù gì nữa, tất cả mờ run mịt mùng, lung linh nhòe nhoẹt. Hết rồi! Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi! Em đã chết, bỏ tôi thiệt rồi!…
Em vịt vàng chết vào những ngày giáp Tết, nên chú bé Kiệt, dù giờ đây đã thành ông nội, ông ngoại, vẫn rưng rưng nhớ về mỗi khi xuân đến:
… Nơi tôi ở bây giờ, ngoại ô Paris, không có mai vàng. Chỉ có anh đào trổ một màu hường phơn phớt lợt mọc trên dốc đồi thoai thoải bên những cội lệ liễu xõa tóc dịu dàng.
Và năm nay đào lại nở!
Phải, năm nào mà đào lại chẳng nở. Đào lại nở, tôi lại nhớ em tôi, em vịt vàng nhỏ xinh xắn tội nghiệp. Mỗi năm, khi vừa chớm đông, từng bầy vịt hoang và ngỗng trời từ Bắc Âu vỗ cánh bay ngang Paris, rồi di chuyển về miền Nam để trốn lạnh, sang đến tận Châu Phi.
Khi ngó lên trùng trùng chấm đen lướt qua cao vút trên đầu, lần nào tôi cũng tự hỏi không biết có em vịt vàng nhỏ của tôi trong bầy chim hoang đó hay không, và lần nào tôi cũng thầm lo ngại không biết em tôi có được đủ ấm như một thuở xa xưa nào khi Tết gần đến, tôi đã từng ôm em úm trong lòng để mớm cơm cho em ăn và chuyện trò cùng em thủ thỉ. Nhưng tôi lại tự nhủ chắc là em không có mặt trong bầy vịt đang bay trên cao tít, bởi lẽ quê hương của em, quê hương của tôi, quê hương của anh em mình không phải ở đây. Tôi hình dung giờ này chắc em đang tung tăng bơi lội trong một vùng nước mặn ấm áp quanh năm trước mương lộ của nhà tụi mình ở Xóm Mới, miệt Hậu Giang phù sa mặn mòi, đồng ruộng phì nhiêu quấn quít sông ngòi đặc ngừ tôm cá…
Rồi cũng có dịp đến thăm nơi tôi ở bây giờ, ngoại ô Paris, không có mai vàng, chỉ có anh đào trổ một màu hường phơn phớt lợt. Căn appartement chênh vênh nơi từng mười lăm một cao ốc. Có cả em vịt vàng ở đó nữa. Nhưng chỉ là một mẫu vịt nhồi bông đứng cứng đơ tội nghiệp bên một hàng gáy sách. Nhà của một người viết văn có nhiều sách. Dĩ nhiên, sách xếp dài trên kệ, ngăn nắp. Nhưng bên cạnh, còn rất nhiều cây, lá xanh tươi, mướt bóng. Một chút không gian nhiệt đới? Một chút không gian đồng bằng sông Cửu Long? Ai mà chẳng thèm, cái một-chút-mà-thật-khó-tìm ở nơi chốn này, phải không? Trong khi người lớn bắt đầu ăn uống, bắt đầu nói chuyện văn chương, chuyện nắng mưa, chuyện trên trời dưới đất, thằng con hai tuổi rưỡi của tôi, đứa con nít duy nhất trong buổi gặp mặt, lẩn thẩn chơi một mình. Như con chó nhỏ đi đánh hơi từng góc kẹt căn phòng lạ, thằng bé lang thang chỗ này chỗ kia, cầm lên đặt xuống những con thú bắt gặp đây đó trên con đường khám phá. Lâu lâu, thằng bé chạy lại há mồm xin miếng cơm, rồi trở về góc của nó. Có lúc, khi xin cơm, nó cầm theo một con vật, giơ cao hỏi chúng tôi: “Con gì đây bố? Con gì đây mẹ?”. Tôi phải đe trước: “Con đừng làm hư mấy con thú nhe, coi chừng ông rầy!”, rồi mới trả lời nó, này là con trâu, kia là đàn heo, nọ là gà trống, gà mái, gà con. Ở cái tuổi nhỏ xíu của nó, thằng bé cũng đã thấy voi và hươu cao cổ trong sở thú, thấy vịt gà ngan ngỗng, bò dê lừa ngựa, heo cừu thỏ… chuột ở trang trại gần nhà, nhưng tại những nơi đó, nó chỉ được đứng xa xa để ngó qua chấn song chuồng, chứ làm gì được đưa tay sờ mó như ở nhà ông Kiệt! Tôi nhìn quanh, và chợt hiểu, người đàn ông ngồi trước mặt cũng đang rất thiếu thiên nhiên, đang rất thèm thiên nhiên. Ông đang bị nhốt trong một chiếc lồng chật hẹp, và có phải luôn vùng vằng muốn tìm cách thoát ra, bằng thật nhiều những chậu cây xanh lá, bằng thật nhiều những con thú ẩn hiện góc này xó nọ quanh nhà? Con trâu bằng đất nung phủ verni bóng loáng kia, có phải đã gợi lại một hình ảnh cũ:
… Nhà ông Đương có được cặp trâu cổ khoẻ mạnh, mình mẩy phình lớn đen xám, lông thưa đều cứng mướt, cặp sừng cong dài quớt ra hai bên cách nhau ngót một thước bề rộng, dọc trên thân sừng có nhiều ngấn dợn hũng. Dáng trâu bậm trợn hùng dũng như vậy mà cặp mắt trâu, trái lại, hiền lành ưu ái vô cùng, lông mi trên mí mắt mọc đan khít nhau càng tô điểm cho ánh nhìn của mắt trâu thêm dịu dàng. Theo truyền thuyết, trâu là hiện thân của một vị Bồ tát hạ thế để tế độ cho nhân gian có lúa gạo mà ăn. Cấy cầy vốn việc nông gia, ta đây trâu đó ai mà quản công. Bao giờ ngọn lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Đại để tánh trâu rất hiền lành chậm chạp, tuy nhiên thỉnh thoảng cũng có lúc trâu nổi máu hung hăng và cụng húc nhau ầm ĩ. Những lúc đó, không một ai can nổi, lạng quạng có thể bị sừng trâu vít lòi ruột như chơi. Vì vậy, chú Tám dặn hai đứa cháu mình một mẹo nhỏ là lúc nào đi chăn trâu cũng nên thủ sẵn trong người một khúc sừng trâu gãy. Khi nào trâu cụng nhau hăng quá thì liệng khúc sừng đó vào giữa hai đối thủ. Trâu nọ ngó trâu kia, thấy cặp sừng còn nguyên vẹn, tưởng đâu sừng gãy nằm dưới đất là của mình, bèn bỏ chạy. Cuộc đấu sức đọ sừng chấm dứt.
Xóm gà vịt lít nhít nọ, có phải đã gây hứng để ông nhớ về những hình ảnh sống động độc nhất vô nhị của một gã vịt cuồng dâm:
Cùng lứa với con Mẫu Hậu là con vịt xiêm đực, hỗn danh Đại Bàng, tên này cũng do ba tôi đặt. Con Đại Bàng mắc chứng cuồng dâm nên vịt xiêm, vịt ta, vịt lớn hay vịt nhỏ gì đều cũng bị nó đạp mái ráo trọi. Cả gà ngỗng cũng bị nó hiếp dâm luôn. Gà mái bị đã đành, gà trống cũng bị như thường. Gặp nhằm gà nòi đá độ, anh chàng bị phang cho mấy cựa đổ máu dạt ra, mà rồi cũng không tởn. Ngay cả con heo thiến má tôi nuôi trong chuồng cũng bị Đại Bàng đáp đại lên lưng mổ cắn trì kéo lỗ tai heo và vặn vẹo cái đuôi vịt, không biết ý gì. Bận khác, bà chủ nhà của tôi ra ngồi ở bãi cỏ khuất mà giải thủy, tưởng đã yên chí, ai dè Đại Bàng nằm vùng ở đó tự lúc nào bèn đưa mỏ cứng ướm thử cái bàn ngồi của bà chủ một phát. Bà la chói lói và chạy vô mắng vốn má tôi: bà bị con vịt phải gió của nhà tôi nó rỉa. Ba tôi che miệng cười khúc khích nói nhỏ với anh Hai tôi: Gặp tao, tao cũng rỉa nữa… huống hồ là con vịt!
Mãi về sau này, dung rủi lần nọ, khi đã tàn cuộc truy hoan trên mương lộ trước nhà, Đại Bàng còn hừng chí vỗ cánh phùng xòe bản Hành Dâm Khúc mà quên thu hồi báu kiếm. Xảy đâu có chàng cá lóc lội ngang nhác thấy, tưởng là mồi bở, trồi lên đớp mất. Thế là… tàn đời bạo chúa! Nhưng Bạo chúa không chịu băng hà, cho nên mới chết dân lành. Vì khi bị dâm hành mà đạp mái không được, Đại Bàng nổi điên vỗ cánh bay lên ngọn cây rượt theo mấy con quạ và chim tu hú mà cắn mà mổ. Rồi một chiều mưa gió nọ, Đại Bàng đã lướt gió tung mây vĩnh viễn ra đi, vịt cồ nhất khứ bất phục phản (hay là bạo chúa đã xuống tóc đi tu?) Kể từ đó, thanh bình mới thực sự được vãn hồi cho gà vịt heo ngỗng (và bà chủ nhà) trong Xóm Mới hiền hòa của tôi.
Un clin d’oeil, bất ngờ có thể gây bật cười với những tình huống ngộ nghĩnh, được kể lại bằng một giọng văn không kém phần dí dỏm. Loài vật như biết khóc, biết cười, biết thương, biết hận trong văn Kiệt Tấn. Đôi khi, chúng còn được ngòi bút Kiệt Tấn đẩy lên cùng với nhiều hành trạng lạ lùng, quái gở:
… Cái hiện tượng kỳ bí dị thường này cứ thỉnh thoảng lại thấy xảy ra ở đồng quê vào những đêm trăng rằm, ngoài ruộng vắng. Như thể cả lươn lẫn rắn đều say rượu trăng và bầy lươn vừa chếnh choáng vừa bị thôi miên lờ đờ tự động bò lên bờ lểnh nghểnh để tình nguyện nộp mình cho rắn nuốt. Cũng không rõ bằng cách nào mà cả hai lũ đều biết được nơi hẹn hò để lướt tới. Đầy cả một mương dài lúc nhúc toàn những rắn và lươn quấn lấy nhau vặn vẹo uốn éo, thân nhớt và vảy mun lấp loáng rờn rợn dưới trăng sáng. Cả hai loài bò sát đều ngất ngưởng truy hoan trong cuộc dạ yến kỳ quặc, trong cuộc tế lễ ma quái mà cả hai phe chịu tế lẫn phe nhận tế đều phải trả bằng mạng sống của mình. Rắn luôn luôn nuốt lươn khởi sự bằng đầu. Rắn nhỏ hơn lươn, chỉ nuốt được phân nửa rồi cả hai đều nghẹt thở mà chết. Rạng ngày, cả mương đầy nhóc những rắn và lươn dính chùm lẫn với nhau, tàn cuộc hoan mê, không còn một mống nào sống sót.
Đôi khi thay vì lươn là rắn, cuộc dạ yến chỉ có độc toàn là những rắn và rắn tham dự. Cả tập thể rắn bề ngoài mới ngó vô tưởng chừng như hỗn độn đó mà thiệt ra bên trong lúc nào cũng chỉ gồm rặt hai loại rắn khác nhau mà thôi. Và lúc nào lũ rắn nhỏ cũng nuốt trọng lũ rắn lớn hơn mình. Để rồi cả hai bầy đều chết tiệt không còn một mống. Như một cuộc hò hẹn cùng định mạng khắc nghiệt, trói buộc bất khả phân ly bởi tử thần tự kiếp nào, không có cách gì ngăn cản nổi. Một cuộc tự sát tập thể, điên rồ, thúc bách, bất cưỡng.
Đoạn văn khiến tôi nhớ ngay đến một khúc phim tài liệu của hãng Walt Disney được xem ở Hội Việt-Mỹ, hồi nhỏ. Một loài gậm nhấm đào hang dưới đất, những con lemmings, mỗi năm cứ đến mùa xuân, lại lũ lượt rùng rùng kéo nhau về những triền đá ven biển rồi chen chân nhảy xuống nước để… chết chìm! Chỉ những con chuột lạc bầy hay quá nhỏ, chưa đủ sức trẩy hội là còn sống sót, để tiếp tục gây dựng nòi giống, chuẩn bị cho một cuộc tự sát tập thể vào mùa xuân năm sau. Không người lớn nào trả lời nổi những câu hỏi “tại sao?” của tôi lúc đó. Khi lớn hơn một chút, tôi nghĩ, có lẽ chiến tranh cũng là một cách tự sát tập thể của loài người, để bớt nạn nhân mãn. Nhưng khác với con thú, con người xâu xé lẫn nhau, khoan khoái nhìn đồng loại đau đớn dãy chết, trước khi đến lượt chính mình ngã gục. Khác với con thú, con người văn minh ngày càng rời xa nguồn cội đơn sơ của thiên nhiên, để mắc kẹt giữa chính cái màng nhện rối rắm do mình đan dệt nên, và hối hận, than trách:
… Dưới nội cỏ bệnh viện hoa vàng rực chói mắt. Không phải hoa mai. Từng cụm nhiều nhánh từ dưới đất chỉa lên sai oằn bông vàng chi chít. Không thấy lá, hực hỡ chóa lòa. Từng bầy chim sà xuống, loại chim đuôi ngắn ngủn không phải chim sẻ, không phải chim sáo, cúi đầu mổ lia lịa, chạy lúp xúp trong cỏ, không thấy chưn, tưởng như loài chim đồ chơi cơ động, lăn trên hai bánh lẩn khuất, chạy tới chạy lui ngộ nghĩnh. Tôi thèm chạy trên cỏ. Lần nào ngó chim chạy trên bãi cỏ nắng tôi cũng thấy mình ngu. Trời ơi! Sao hạnh phúc dễ ợt như vậy mà tôi không với tới! Bao nhiêu lần tôi đến ngồi trong vườn Luxembourg suốt mùa xuân suốt mùa hè để chỉ nghĩ đến chuyện thất nghiệp. Kìa xem con chim bồ câu đang tắm rửa rỉa lông và kêu rù rù bên ống nước lủng có tia nước xịt ra nhỏ rức, nó đâu có phải làm đơn xin việc kèm theo phiếu lý lịch có dán hình thắt cà vạt hẳn hòi như tôi. Nọ xem con chim sẻ con đang chạy theo chim mẹ cánh xòe ra, mép vàng chưa mất dấu, hả miệng chờ mồi, và mẹ nó hết sức kiên nhẫn tận tụy. Tình thương của trời đất. Đời sống sờ sờ như vậy mà tôi tự ý ngoảnh mặt làm ngơ, giam mình trong ngục tù do mình dựng ra và do mình cai quản…
Và cũng chính từ những con thiêu thân nhỏ nhít, những cánh bướm đêm dật dờ, những dáng chim mỏng manh ấy, mà đôi khi con người ngộ ra được nhiều điều thú vị:
… Con chim se sẻ lại bay lên, lại sà xuống, lại cắn lại mổ lên mẩu bánh mì. Lần nào nhìn con chim se sẻ nhảy nhót, tôi cũng không khỏi bồi hồi. Con chim đẹp đẽ hết sức. Đẹp đẽ không phải vì nó có bộ lông rực rỡ. Bộ lông nó hết sức giản dị, nâu xám trộn lẫn, vậy thôi. Nhưng nó đẹp tại vì tôi ngó thấy nó đẹp. Biết nhìn, thì con chim nào lại không phải là một con chim đẹp, bông hoa nào lại không phải là một bông hoa đẹp, ngọn cỏ nào lại không phải là một ngọn cỏ đẹp? Mỗi vật trong trời đất là một đẹp đẽ, một chiêm ngưỡng, một kỳ công, một nhiệm mầu.
Con chim se sẻ lại mổ, lại ngó chừng, lại kêu chim chíp, lại mổ, lại ngó chừng, lại sợ, lại dáo dác. Nhìn con chim nhỏ thưởng thức mẩu bánh mì và ham sống, tôi xúc động sa nước mắt. Trời ơi! Cuộc sống đối với nó giản dị, đẹp đẽ và đáng sống biết chừng nào!
Bị bứt rời khỏi xứ sở, xa cách cả với thiên nhiên, sống lơ lửng ở tầng lầu mười lăm, một nơi tay chưa với tới trời mà chân đã không còn chạm đất, văn Kiệt Tấn chất đầy kỷ niệm, đầy hình bóng cũ, đầy mùi hương, đầy tiếng động. Từ mùi chanh ở một kỷ niệm gần, một không gian gần, vùng biển ấm miền Nam nước Pháp:
… Gió đưa hương chanh chín mùi luồn qua mành lưới đan khít gắn ở cửa sổ. Bên kia cửa sổ, vườn chanh đang khua lá giặt rửa dưới dòng trăng, rì rào suối nguyệt. Lẫn trong hương chanh, còn có mùi biển mặn mà từ lòng vịnh dưới thấp ùa lên. Cửa sổ bằng cây tôi quên cài móc đập vào khung cửa – là lúc dây đàn tôi đứt phựt? Cơn mơ Vọng Nguyệt một lần nữa lại trở về…
Thoáng chốc, mạch hồi tưởng của người viết đã dẫn người đọc vút ngược về quá khứ xa hơn, trên cùng một nơi chốn, Le Vieux Nice, để tự tình trong đêm bên người yêu cũ, rồi vèo một mạch, vượt cùng lúc cả không gian, thời gian, trở lại thuở thiếu thời với một mối tình vụng dại nơi bến đò. Miền Nam nước Pháp hay miền Nam nước Việt? Nắng rám, gió lộng, biển mở ra bát ngát, mùi trái chín, mùi thịt da… Ở đâu, cũng thấy tràn trề nỗi nhớ!
Bạc liêu là xứ quê mùa,
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều châu.
Cơn gió chiều ào ạt xoáy quanh hàng chân cầu bê tông cốt sắt, lượn uốn vi vu dưới gầm cầu rồi thốc vọng lên cơn gió mát mẻ lồng lộng. Chiều nào, hàng hàng nam thanh nữ tú cũng đưa nhau từng cặp ra Cầu quay hứng gió. Những cơn gió rám nắng đượm tẩm hương vị thịt da của Hậu giang lúa chín, đậm đà sức khỏe mặn mòi của muối biển Cà Mau. Nơi cuối điểm này của châu thổ sông Cửu Long, xứ sở trương rộng mũi phù sa hít thở không gian bát ngát của Thái bình dương mà ước mơ những chuyến viễn du có bầy cá nược mướt mun phóng mình lội đua với ghe lườn trong buổi chiều nắng quái.

Cầu quay bắc nhịp nối liền làng Vĩnh Châu vào tỉnh lỵ Bạc Liêu, một trong những kho lúa tràn trề của miền Hậu Giang với đồng ruộng cò bay thẳng cánh. Làng Vĩnh Châu dàn trải bãi bùn đen và cát mặn ra tận ranh giới của thủy triều đại dương, tạo thành biển nhãn. Gọi biển nhãn bởi lẽ hai tiếng rừng nhãn không đủ sức mô tả những hàng nhãn điệp trùng chiếm cứ nhiều diện tích mênh mông mút mắt dọc theo ven biển. Những gốc nhãn cổ thụ xen lẫn chồi non, muôn vạn vòm nhãn tỏa tròn trương xòe đọt nhãn mềm mại mướt tươi nhấp nhô trùng trùng đợt sóng xanh lục ùa nhau xô tràn ra biển cả như muốn lấn ngược dòng thủy triều để vượt khơi, nếu không có những chùm rễ tua tủa của rừng mắm ven biển cắm sào giữ lại. Những chùm nhãn nơi đây tích tụ tinh anh ngọt thơm luyện cất từ cát bùn và gió biển, một sự huyền nhiệm mà chỉ tay tạo hóa mới trổ tài làm nổi. Tới mùa nhãn chín, mùi nhãn thơm lừng lay dậy sực nức khứu quan trong đêm tối, khiến cho trọn cả một vùng lân cận bao la thao thức mất ngủ. Và mỗi năm, dòng họ nhãn lại tung ra một đòn tuyệt kỹ: Nhãn Chú Út. Những trái nhãn cuối cùng, kết thúc cuộc đời của cội nhãn sau hai mươi năm dâng hiến trái ngọt cho đời. Nhãn Chú Út lớn bằng trái chanh, hột nhỏ bằng hột đậu đỏ. Lớp vỏ vàng nhám bên ngoài lột đi, lớp da non mỏng trắng bên dưới bày lộ, bao bọc lấy cơm nhãn no đầy thanh khiết, cắn vào, vị ngọt lẫn hương thơm vương vấn cả một đời khó quên.
Ông yêu thiên nhiên. Và rất yêu mẹ của mình. Nên khi ông lồng hai tình yêu ấy vào cùng một khung cảnh, người đọc bắt gặp được một hình ảnh quen thuộc lắm, nhưng cũng tha thiết lắm:
… Buổi trưa, khi ngồi vá áo bên cửa sổ, bà ngó tôi cười móm trong vuông nắng, tự nhiên tôi có cảm giác đang nằm dưới một gốc tre già bên bờ ao, lá tre trên cao thoảng gió rì rào, giọt nắng trộn lẫn bóng lá tre nhảy nhót trên khuôn mặt tôi mát rượi, tôi thiu thỉu ngủ, giấc mơ thơ thới… Ôi! Chi xiết êm đềm “nụ cười tre trúc”! Cho dù má tôi không cười thành tiếng, tôi vẫn nghe có tiếng rì rào thanh thoát của tre trúc rộng lượng chở che. Tôi là con trâu nghé nằm trong bóng lá im buổi trưa hè nắng gắt…
Thiên nhiên luôn song hành bên cuộc đời người viết, từ ruộng vườn làng mạc quê hương, qua xứ tuyết khắc nghiệt Gia Nã Đại hay ầm ào tiếng sóng bên Bãi Thiên Thần đêm Địa Trung Hải. Đôi khi, trong phút xuất thần, hai đối tượng “Tôi” và “Thiên nhiên” đột ngột hội tụ, trùng chéo, tan nhập thành một:
… Cô đơn mãnh liệt tới mức tạo cho tôi một cảm giác đau đớn vật chất, như một mũi tên nhức nhối bắn phủng qua đầu. Cô đơn muốn ngất xỉu. Chung quanh chỉ có tuyết rơi và tuyết rơi. Thình lình tôi chợt thấy mình tan trong tuyết: Tôi và vũ trụ chỉ là một. Cảm giác gây sự ngây ngất mãnh liệt bàng hoàng. Cô đơn chợt tan biến…
Nhiều năm sau khi đọc văn Kiệt Tấn, tôi đã có dịp qua Tiền Giang đục lờ phù sa, xuôi xe ngang nhiều xóm thôn trù phú, toòng teng mắc võng giữa bóng lá lao xao, nghe tiếng eo óc của gà trưa gáy xen vào giữa bài vọng cổ. Tìm được ở đâu cái cảm xúc vừa yên bình, vừa cô quạnh ấy, ngoài miền Nam nước Việt? Vậy mà, tôi không được may mắn nghe hò, lần về quê ấy. Hay những câu hò điệu lý cũng đã rơi rụng hết cả trong dĩ vãng, vì không đủ sức đương cự nổi với truyền thanh, truyền hình, đầu máy karaoké của thời đại tân kỳ? Hình ảnh cũ, âm thanh xưa, chẳng lẽ chỉ còn thoi thóp trên những trang sách, những thước phim chở đầy hoài niệm?
… Trời đã sáng hẳn. Vừng kim ô chói rọi trên mặt nước lóa chóa, chim nhạn dập dìu trên nhánh nước mênh mông, gọi bầy lao nhao, cắn mổ kiếm mồi, tranh la xao xác. Những cánh trắng xòe ra chở nắng tươi tốt đảo vòng trong không khí ẩm mát, chốc chốc vụt chúi xuống, xớt một con cá vẩy bạc óng ánh rồi vút bay lên hớn hở rộn ràng. Ghe lớn ghe nhỏ từng đoàn túa ra dòng thủy lượng lợïn cợn phù sa, chở khẳm trong khoang hàng hóa, đồ ăn, vải vóc, trái cây, tuôn về chợ Phong Điền, chợ Cần Thơ, chợ Cái Răng cho mọi người từ thôn dã đến thị thành đua nhau mà sắm Tết. Chú Ba cảm thấy sướng lây, lơi tay khoan xới mái dầm để thưởng thức cái tiết xuân đang tỏa ra trên sông rộng, để ngắm nghía cái khí xuân đang bương bả trong những cánh tay vặn chèo thúc bách. Một chiếc tam bản vượt lên dưới sức khuấy động của cô gái trẻ sung mãn, nón lá mới tinh khôi ngã bóng tròn trên nách áo vã mồ hôi khiêu khích. Chiếc tam bản qua mặt chiếc ghe cà dom chở dưa hấu nặng khẳm, người đàn ông chống sào dài trên mui ghe hoát cười rộng miệng, đưa tay ngoắc ngoắc cô gái rồi buông tiếng hò hoa nguyệt:
Hò ơ ơ ớ…
(Chớ) Ngó lên Châu Đốc Vàm Nao
Thấy buồm em chạy như dao cắt (ờ ớ) lòng
Hò ơ ơ ớ…
Bữa nay loan phụng hiệp bầy
Hò chơi nhơn đạo (ờ ờ)
(Chớ) Hò chơi nhơn đạo sau vầy nhơn (ờ ớ) duyên (ơ ơ)…
Nhưng, tại sao tôi cứ phải đặt quá nhiều câu hỏi? Tại sao tôi cứ phải thắc mắc với những điều, những việc đã, đang và sẽ xảy ra, lớp này chồng lên lớp kia, xô đẩy, nhấn chìm, bôi xóa? Vũ trụ có sự tuần hoàn của những chu kỳ, nảy sinh-trưởng thành-tàn lụi, xuân-hạ-thu-đông, đêm-ngày, mới-cũ, thịnh-suy… Đã cứ là như thế, từ muôn đời, nghìn kiếp. Những con cào cào non vẫn tiếp tục bay nhảy tíu tít. Những con chim ngắn đuôi vẫn tiếp tục bay lên đáp xuống tìm mồi. Đời sống vẫn tiếp diễn và đang tiếp diễn, không hề ngừng nghỉ một giây phút nào. Đời sống vẫn luôn luôn sẵn đó, vốn nó sờ sờ như vậy, từ bao giờ, tự bao giờ… Thắc mắc làm gì, tại sao làm gì. Một lúc nào đó, hãy gạt bỏ hết mọi tất bật eo sèo của cuộc sống, nhắm mắt, tĩnh tâm, yên, để nghe: thiên nhiên quanh ta đang phập phồng sống-chết, trong cái lẽ tự nhiên, thường tình nhất của đất trời:
Khởi viết sau giao thừa – Bagnolet – Choisy-le-Roi – 01-03.2006

Kiệt Tấn, nụ cười tre trúc

Nguyễn Hưng Quốc

Có người nào đó, ngày xưa, từng quan niệm, một nhà văn một nhà thơ, về phương diện chủ quan, cần có ba điều kiện: tài, trí và tâm. Từ đó, nhiều người có khuynh hướng chia ra ba loại người cầm bút: một loại mạnh về tài, một loại mạnh về trí và một loại mạnh về tâm. Tôi nghi ngờ sự phân biệt rạch ròi ấy. Tôi nghĩ, thật ra, chỉ có hai. Bởi tài là yếu tố căn bản, chung nhất. Có cái tài thiên về trí, tức kỹ thuật. Có cái tài thiên về tâm, tức cảm xúc. Kiệt Tấn thuộc loại sau. Đọc Kiệt Tấn, trước khi thấy một tài năng, người ta gặp một tấm lòng. Tình yêu đối với cuộc đời, theo tôi, là yếu tố quan trọng nhất góp phần định hình nên phong cách văn học độc đáo của Kiệt Tấn. Hiếm có người nào có cách nhìn đời trìu mến và thiết tha như vậy. Không thể tìm thấy ở Kiệt Tấn, bất cứ một thái độ hờ hững hay dửng dưng nào.

Đưa đẩy ngòi bút Kiệt Tấn không phải là lí trí mà là trái tim lúc thì rạo rực, lúc thì ngây ngất, không lúc nào không xôn xao trước vẻ đẹp của trời đất của con người. Tình yêu trong văn Kiệt Tấn giống ánh trăng trong thơ Hàn Mặc Tử. Cả trời say nhuộm một màu trăng. Cho dù tác giả không tả vầng trăng, cho dù tác giả chỉ tả một con ngõ, một dòng sông hay một khu vườn với những cây lá đong đưa, những nụ hoa đang âm thầm nở và tỏa hương trong khuya khoắt, thì, người ta vẫn nhận ra, đâu đó, lấp lánh, cái ánh trăng kia đang lấp lánh. Không gian giày đặc toàn trăng cả. Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng. Cho nên, tuy đề tài Nụ cười tre trúc(*)­khá đa dạng, có truyện về mẹ, có truyện về quê hương, có truyện đậm đà màu sắc triết lý; thực sự là chuyện tình, chỉ có hai: Bến đò trao thơ Em điên xõa tóc, thế nhưng, đi vào Nụ cười tre trúc, người ta cứ ngỡ đi vào một tình yêu bát ngát.

Hãy để ý cách xưng hô trong truyện Kiệt Tuấn. Lạ lắm. Đặc biệt với những người phụ nữ, với người lớn tuổi: má. Với người trẻ trung: em. Nhắc đến một người đàn bà bán cà-rem trước cổng trường tiểu học thuở nào, Kiệt Tấn hạ bút: “Má tôi đó”. Với Kiệt Tấn, một người người đàn bà già nua, lam lũ và khốn khó trên quê hương đều là “má tôi”. Ông gọi họ bằng một cái tên chung: “những bà già quê hương” (tr 158). Và ông coi đó là những “Mối tình đầu” thật sự của mình (trang 158). Những người không phải là má thì đều là em. Vợ là em. Người tình là em. Một người con gái mất trí gặp gỡ tình cờ trong một bệnh viện tâm thần là em: “Em điên xõa tóc”. Ngay cả một người con gái hoàn toàn xa lạ, mãi mãi xa lạ, chỉ nhác thấy một lần duy nhất trong công viên cũng được Kiệt Tấn gọi vơ là em, hơn nữa, “em tôi”: “Từ phía sau lùm bông ngải vàng hực chợt một mái tóc nâu vàng óng ánh xuất hiện. Người con gái từ từ đi vào công viên, trên tay cầm trái táo xanh. Em tôi bước vào vườn cây lửng thửng tiến về phía trước và Ánh đang ngồi ôm nhau yên lặng” (tr.200). Dĩ nhiên người con gái ấy đi qua rồi đi xa hẳn. Vĩnh viễn. Như một áng mây. Trước cặp mắt nhà văn đang ngơ ngẩn ngơ.

Với người, là thế. Với vật cũng thế. Tất cả đều là em. Con vịt con là “em”. Khi con vịt bị xe cán chết, Kiệt Tấn, lúc ấy mới sáu tuổi, đã khóc nghẹn ngào: “Hết rồi! Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi! Em đã chết bỏ tôi thiệt rồi” (tr.46). Bao nhiêu năm sau, bềnh bồng trên đất khách, buồn tênh trong lưu vong, Kiệt Tấn vẫn nhớ mãi đứa em ấy: “Phải, năm nào mà đào chẳng nở! Đào lại nở, tôi lại nhớ em tôi, con vịt vàng nhỏ xinh xắn, tội nghiệp” (tr.49).

Người ta thấy gì qua những cách hô gọi như vậy? Thấy một điều. Rất rõ. Là, với Kiệt Tấn, mọi người mọi vật trên đời đều là đối tượng để yêu thương. Tất cả đều là ruột thịt, đều là thân tình. Kiệt Tấn là một tình nhân trước khi là một người cầm bút.

Trong tình yêu của Kiệt Tấn, phần nồng nàn nhất dành cho phụ nữ. Làm sao sống được mà không yêu. Không nhớ không thương một kẻ nào. Thơ của Xuân Diệu. Con người của Kiệt Tấn. Qua trang viết, cứ ngỡ Kiệt Tấn suốt đời là một khách tình si. Yêu sớm. Yêu nhiều. Yêu dễ dàng. Yêu cuồng nhiệt. “Muốn chết. Thèm chết. Thèm chết vì quá yêu một cô gái nào đó” (tr.211). Yêu và được yêu. Chưa đủ. Lúc nào cũng quay quắt muốn đi đến cái tận cùng, cái tuyệt đối của tình yêu. “Nghẹn ngào khi đi bên cạnh nàng mà còn tương tự người yêu, tương tư nàng, cùng lúc” (tr.93). Tình yêu trong văn Kiệt Tấn có nhiều cung bậc. Từ lặng lẽ đến xôn xao. Từ bâng khuâng đến say đắm. Có nhiều sắc độ. Lúc thì hiền lành, lúc thì trâng tráo. Lúc như cơn gió, lúc như cơn bão. Tình yêu nhuốm đầy tình dục. “Bộ phận đực là bộ phận đực, bộ phận cái là bộ phận cái, bộ phận đực cái dính nhau là lẽ tự nhiên, hết sức tự nhiên, sự tục tĩu chỉ có trong đầu” (tr.144). Nhiều người cho là Kiệt Tấn viết bạo. Thêm điều này nữa: bạo nhưng không bao giờ nhớp nhúa. Thiếu cái trong sáng của Thạch Lam, tình yêu trong truyện Kiệt Tấn lại gần hơn với sự thực, với cuộc đời.

Trong tình yêu của Kiệt Tấn, phần đằm thắm nhất dành cho mẹ. Nụ cười tre trúc, truyện ngắn đầu tiên trong tập, được dùng làm tựa cho cả tập, là truyện ngắn hay. Nó là truyện ngắn, nhưng thật ra, nó chỉ là trích đoạn từ bộ trường thiên tiểu thuyết Lớp lớp phù sa chưa xuất bản. Lấy một bài vọng cổ làm cái cớ, Kiệt Tấn thả ký ức mình trôi dạt miên mang về những quãng thời gian khác nhau, ở đâu, lúc nào cũng hiển hiện long lanh hình ảnh người mẹ tần tảo, lam lũ, chịu thương chịu khó, suốt đời lo cho chồng, cho con, rồi cho cháu.

Ở Kiệt Tấn, nếu tình yêu trai gái gắn liền với tình dục thì tình yêu mẹ lại gắn liền với quê hương. Đó là lý do tại sao Kiệt Tấn lại đặt tập truyện ngắn của mình là Nụ cười tre trúc. “Cho dù má tôi không cười thành tiếng, tôi vẫn nghe có tiếng rì rào thanh thoát của tre trúc rộng lượng chở che. Tôi là con trâu nghé nằm trong bóng im buổi trưa hè nắng gắt” (tr.15). Trong tình mẹ có tiếng đàn dịu dàng của trúc lẫn bóng mát yên ả của tre. Trong tình mẹ có hình ảnh của làng xóm, của đất nước. Mà không chỉ ở mẹ mình. Kiệt Tấn coi mọi bà mẹ đều là hiện thân của quê hương. “Có lẽ tại tôi nhìn thấy quê hương qua những bà mẹ đó, một quê hương vừa yêu dấu vừa ngậm ngùi… Những bà già đó tượng trưng cho quê hương. Không! Những bà già đó là quê hương. Những bà già có làn da nhăn nheo thơm tho mùi đất, có nụ cười rì rào tre trúc, có bàn chân nứt nẻ phù sa, có trái tim từ bi vô lượng, trái tim đó đã bơm máu vào rún tôi từ trong bụng mẹ, từ lúc tôi còn nhỏ xíu, lớn chưa bằng đầu ngón tay. (tr.152)

Không là đề tài chính của bất cứ truyện nào, song nhờ sự kết hợp trên, hình ảnh quê hương vẫn thấp thoáng, bàng bạc cùng khắp Nụ cười tre trúc. Trong quê hương Kiệt Tấn tập trung ngòi bút vào ba địa điểm: Bạc Liêu, Vĩnh Long và Sài Gòn. Hai hình tượng nổi bật nhất là sông rạch và đêm trăng. Vang vang trên sông rạch, vang vang dưới đêm trăng là những câu hò, những tiếng đàn, tiếng hát, những hẹn hò và những yêu đương. Kiệt Tấn không có chủ tâm viết loại truyện phong tục, một đề tài được nhiều nhà văn đồng hương của ông khai thác triệt để. Phong cảnh trong truyện của ông, do đó, thường ít đường nét. Không một làng quê, không một thành phố, thậm chí, không một dòng sông, một con rạch nào đầy đủ chi tiết để thành một bức tranh hoàn chỉnh. Tuy nhiên Kiệt Tấn lại thành công ở một phương diện khác: ông tạo được một không khí ở đó có những con người sống thật. Truyện của Kiệt Tấn là loại truyện tâm lý pha màu sắc triết lý.

Yêu phụ nữ, yêu mẹ, yêu quê hương, không phải là cái gì riêng của Kiệt Tấn. Kiệt Tấn chỉ đặc biệt ở mức độ: mọi tình cảm ấy, ở ông, đều nồng nàn đến đắm say. Và hơn ở phạm vi: từ những đối tượng cụ thể, tình yêu của Kiệt Tấn mở rộng ra, mênh mông, bao trùm cả cuộc đời. Kiệt Tấn là một nhà văn đầy nhân ái. Cách nhìn đời của ông trong trẻo, dịu dàng và nhất là, tha thiết vô hạn. Không biết thù hận, chưa bao giờ Kiệt Tấn cho phép ngòi bút của mình dừng lại tỉ mỉ ở những sự xấu xa. Nếu Kiệt Tấn có căm ghét điều gì thì điều đó chính là óc duy lí và đứa con đẻ của nó: sự cuồng tín. Căm ghét vì cả hai đều là nguyên nhân trực tiếp gây ra những lầm lạc và khổ não cho từng người: “Tôi muốn dùng trí thông minh để giải quyết đời sống. Thiệt lẩm cẩm! Một mình nó, trí thông minh không giải quyết được gì hết. Nó tạo ra vấn đề hơn là giải quyết” (tr.134). “Khi chứng đúng được hành động của mình, người ta dám trở thành bạo ngược, tàn sát không gớm tay: Tần Thủy Hoàng, Hitler, Staline, Dalatôla, Pol Pot, Việt Nam Xã Hội!”(tr.116). “Chân lý? Có chăng chân lý? Mẹ rượt! cũng vì ba cái vụ chân lý với lại… cẳng lý đó mà nhân loại ỉa dài dài” (tr.214).

Kiệt Tấn đề cao trực giác và tình cảm, đề cao cuộc sống hồn nhiên. “Ăn hủ tiếu là ăn hủ tiếu. Hết. Sống là sống. Hết. Không gì có thể giải thích được gì hết. Giải thích là sa vào mê cung. Rời khỏi mê cung này chỉ để dấn mình vào mê cung khác” (tr. 116) “Đi vào kinh pháp cũng như nghệ thuật, con đường trực giác và cảm xúc là con đường thẳng. Đi vào kinh pháp cũng như nghệ thuật, con đường trí tuệ và phân tích là con đường mê cung” (tr.184).

Truyện “Ngoài cửa kiếng” có lẽ được sáng tác với mục đích minh họa cho các luận điểm trên. Một người nào đó, vô hình và vô danh, từ ngoài khung cửa kính, ngó vào một căn nhà. Không nghe một âm thanh nào cả. Hoàn toàn. Bằn bặt. Chỉ thấy những hình người di động, múa may. Như xem một màn kịch câm. Người xem phân vân đặt ra hàng trăm nghi vấn và nghi vấn nào cũng là một lửng lơ, bế tắc. Không thể hiểu được những người trong căn nhà kia làm gì, nghĩ gì, cảm xúc ra sao. Chỉ đoán. Đoán mò. Quan hệ giữa con người với con người trong cuộc đời có lẽ cũng thế. Mỗi người bị ngăn biệt bằng một khung cửa kính. Để mỗi người là một bí ẩn vô tận trước người khác. Để mọi nỗ lực giải thích về nhau đều trở thành vu vơ và hàm hồ.

Tư tưởng Kiệt Tấn không mới. Người ta đã gặp những tư tưởng ấy đây đó, nhiều lần, nhiều nơi. Nhưng không nên đánh giá một nhà văn như một triết gia. Tư tưởng quan trọng nhất để đánh giá một triết gia là tính chất độc sáng. Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá tư tưởng một nhà văn là sự chân thành. Mà Kiệt Tấn thì tin vào tư tưởng của mình lắm. Nó trở thành một thứ triết lý chủ đạo chi phối toàn bộ sáng tác của ông. Đó là thứ triết lý mang đậm màu sắc Thiền. Đó cũng là thứ triết lý nhân đạo: “Mỗi người chúng ta đều đáng được chia xẻ nụ cười” (tr. 141). Và rất lạc quan: “Nếu biết sống, vẫn luôn luôn có một chút mặt trời đâu đó” (tr. 125).

Trong truyện Em điên xõa tóc, một lần Kiệt Tấn tâm sự về chuyện viết lách của mình: “Cả chục năm nay tôi bỏ viết. Tôi không đủ đam mê. Tôi không viết để chứng minh. Tôi viết khi cảm thấy có nhu cầu. Nếu không biết mà vẫn sống hạnh phúc, tôi sẽ không bao giờ viết, vì tôi khi đó đang ở trong trạng thái quân bình. Nếu viết, tôi đánh mất quân bình. Khi viết, tôi như người lên đồng, lúc cười lúc khóc, vật vã, hành xác” (tr.116).

Tôi tin Kiệt Tấn. Tôi ít tin nhà văn nào như tôi đã tin Kiệt Tấn. Ở những nhà văn khác, tôi thấy tài hoa. Ở Kiệt Tấn tôi vừa thấy tài hoa vừa thấy sự thành thật. Truyện nào của Kiệt Tấn tôi cũng có cảm giác là tự truyện. Chính Kiệt Tấn cũng công nhận trong lời giới thiệu in ở bìa sau tập Nụ cười tre trúc: “Nụ cười tre trúc, một chuỗi truyện ngắn, dù y chang chuyện thiệt hay thần thoại hoang đường, vẫn là tự truyện”. Trong Nụ cười tre trúc có tám truyện thì sáu truyện rõ ràng là tự truyện. Và đó là sáu truyện hay. Dường như ngòi bút của Kiệt Tấn chỉ tung hoành hết sức khi nhân vật xưng “tôi”. Lúc ấy, Kiệt Tấn tha hồ đi sâu, thật sâu vào mọi ngõ ngách thăm thẳm, tế vi của tâm hồn. Có lúc Kiệt Tấn đi quá xa. Thành lan man với những liên tưởng bất tận. Làm cho khuôn khổ của truyện ngắn cơ hồ bị rạn nứt. Truyện ngắn nghiêng gần tùy bút. Nụ cười tre trúc Vườn chanh miệt biển là những truyện ngắn pha lẫn tùy bút.

Có thể nói, những truyện ngắn hay nhất của Kiệt Tấn đều có tính chất tự truyện trong nội dung và tính chất tùy bút trong nghệ thuật.

Hai đặc điểm có lẽ là hai đặc điểm chung cho những nhà văn gốc miền Nam. Tính tình cởi mở, nhu cầu đối thoại lớn, hình như nhà văn miền Nam nào cũng có sở thích kể về mình. Nhân vật xưng: “tôi” trong tác phẩm của họ nhiều “chi xiết kể”. Khó có thể hình dung cuộc đời và con người của các nhà văn miền Trung, miền Bắc, nếu chỉ căn cứ vào truyện của họ. Rất dễ hình dung ra cuộc đời và con người của các nhà văn miền Nam qua những truyện họ viết, ngay cả những nhân vật không phải là họ. Đọc các nhà văn miền Trung, miền Bắc, người ta thường thấy một nỗ lực tự kiềm chế rất lớn. Để giấu đi một cái “tôi đáng ghét” (!). Đọc các nhà văn miền Nam, người ta thường thấy tác giả hiện ra lồ lộ trên từng dòng chữ. Để phơi bày đến từng chi tiết cái “tôi” tuệch toạc, xởi lởi, say sưa tâm sự. Tính chất lỏng lẻo, tản mạn mà người ta hay nói về các công trình khảo luận của các nhà văn miền Nam cũng xuất phát từ nguyên nhân này: nhà văn hiếm khi để tư tưởng bó mình trong một trật tự thuần túy duy lý. Mạch văn của họ, ngay khi viết nghiên cứu, vẫn bềnh bồng trên những ngọn triều cảm hứng và dạt dào.

Kiệt Tấn, cũng như phần lớn các nhà văn miền Nam khác, thích tham dự trực tiếp vào câu chuyện. Câu chuyện của Kiệt Tấn không phải chỉ có các nhân vật. Nhà văn không chịu là một khuất lánh hoàn toàn. Ông đi bên cạnh các nhân vật. Thỉnh thoảng ông lại lên tiếng, tán thưởng điều này, phản đối điều khác. Câu văn của các nhà văn miền Trung miền Bắc thường cố ý nén lại, bình thản đến lạnh lùng. Câu văn của Kiệt Tấn và nhiều nhà văn miền Nam khác phập phồng hơi thở của người viết ra nó, náo nức với những niềm vui của nhân vật, rưng rưng với những nỗi buồn của nhân vật. “Nhà có cả thảy bảy anh chị em, chết hai còn năm: hai Phát, ba Lợi, tư Trinh, năm Lộc và sáu Kiệt tức là tôi đó” (tr.11). “Bà vớt xác lá chà lên đám ghẻ của tôi (Bà con thử nghĩ!) tôi khóc hết nước mắt” (tr.12). “Nếu miền Bắc có lụt sông Hồng thì miền Nam có Tết Mậu Thân (1968), chắc ai cũng nhớ (tr.26)…

Hẳn nhiều người sẽ cho những cách nói: “Sáu Kiệt là tôi đó”, “Bà con thử nghĩ”, “chắc ai cũng nhớ”… là thừa thãi. Mà thừa thãi thật. Chúng không có lý do gì để tồn tại cả. Trừ lý do tâm lý: nhu cầu bộc bạch, tham dự của tác giả.

Nhu cầu bộc bạch, tham dự dẫn đến một đặc điểm khác về nghệ thuật; sự pha trộn giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Quan hệ giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là một quan hệ cực kỳ phức tạp. Lịch sử văn học của nước nào cũng diễn tiến giống nhau: thoạt đầu văn học được hình thành từ ngôn ngữ nói.Một thời gian, sau quá trình chau chuốt, tinh lọc, một số ngôn ngữ nói biến thành ngôn ngữ viết, chúng có sự sống riêng, chủ yếu là trên trang giấy. Rồi đến lúc nào đó, người ta chợt thảng thốt nhận thấy, loại ngôn ngữ viết ấy tuy đẹp đẽ thật, song lại là kiểu cách và sáo mòn quá, người ta lại quay về với thứ ngôn ngữ trần trụi, gân guốc của cuộc đời. Truyền thống văn chương miền Nam là truyền thống tôn vinh ngôn ngữ nói. Từ Nguyễn Đình Chiểu, người ta đã bắt gặp những cách nói chan chát từ trước vắng bặt trong thơ văn: “Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi cha ông nó”. “Vân Tiên ngó lại, rằng: Ừ!”…

 

Có nhiều người sa lầy trong ngôn ngữ nói: tác phẩm của họ thuần túy là những câu chuyện kể nặng chất dân gian. Một ít người nâng được ngôn ngữ nói lên thành ngôn ngữ văn học: từ vựng là ngôn ngữ nói nhưng kết cấu câu văn là ngôn ngữ viết với những yêu cầu gãy gọn, chặt chẽ và trong sáng. Kiệt Tấn thuộc vào số ít ỏi đã tạo được cho ngôn ngữ nói một sắc thái thẩm mỹ độc đáo.

Hồi đó tôi thỉnh thoảng tôi lén vít một cục vôi nhỏ trong ô trầu của má tôi gắn lên đầu cọng lạt dừa, đưa lên vách run run nhử mấy trự thằn lằn. Có con khờ khạo ngó thấy tưởng bở, đinh ninh là côn trùng nhào tới đáp liền. Cắn nhằm cục vôi tá hỏa, anh chàng lúc lắc cái đầu như múa lân rồi say mèm vôi nồng, rớt bịch xuống đất. Tôi tính lượm lên bắt chơi thì má tôi rầy:

–    Đừng con! Tội chết. Con thằn lằn nó hiền thấy mồ. Nó còn ăn bớt muỗi trong nhà sao con hại nó làm chi?” (tr.10)

Nhờ sử dụng nhiều ngôn ngữ nói, câu văn của Kiệt Tấn thường sinh động, khỏe khoắn:

Tôi mừng húm, cắn một miếng ngọt xớt rồi miếng thứ hai, và cứ thế lủm hết trái mận một mình ngon lành, không bẻ cho bà một miếng” (tr.21).

Câu văn của Kiệt Tấn nhiều động từ. Câu văn nhiều tính từ, trạng từ thường du dương mà nhẹ. Câu văn nhiều động từ thường cứng cáp và mạnh:

Anh tôi bèn lấy vòng dây làm bẫy túm được con cắc kè đem tuốt qua sân banh quăng bỏ” (tr.10). “Cá ông chỉ rửa sơ, không cạo nhớt, rồi để cá sống nhăn nguyên con như vậy mà đổ vào nước sôi đậy nắp lại, cá bóng còn nhảy soi sói trong nồi lụp bụp. Chặp sau, ông giở nắp ra vớt cho tới hết bọt rồi mới rót nước mắm ngon vào mà nêm nếm” (tr.41).

Cách dùng tính từ và trạng từ của Kiệt Tấn cũng lạ: luôn luôn có cái gì gay gắt, cực đoan. Như thơ Hồ Xuân Hương. Ông không mừng, ông “mừng húm”. Ông không khoái, ông “khoái chí tử”. Ông không quên, ông “quên tuốt luốt”. Ông không hôn, ông “hun chùn chụt”. Ông không rầu, ông “rầu thúi ruột”. Ông không sợ, ông “sợ xanh máu mặt”… Cứ thế. Rất nhiều trạng từ và tính từ ghép vừa gợi hình vừa biểu cảm. Móm phải là: “móm xọm”. Trống phải là “trống lổng”. Dài phải là “dài thòn”. Hẹp phải là “hẹp té”. Nhọn phải là “nhọn lễu”. Đen phải là “đen xì”. Mập phải là “mập ú”…

Mỗi câu văn của Kiệt Tấn luôn luôn có xu hướng muốn biến thành một hình ảnh. Người khác hẳn chỉ viết: “Nhiều buổi trưa nóng, tôi cởi trần ngồi thở dốc”. Kiệt Tấn thì phải viết: “Nhiều buổi trưa nóng, tôi cởi trần ngồi le lưỡi thở dốc”. Người khác hẳn chỉ viết: “Hai người sanh giặc với nhau, quên cả giặc Thổ đang rượt theo”. Kiệt Tấn thì phải viết tiếp: “… Rượt theo sát bên đít”. Người khác hẳn chỉ viết: “Má tôi muôn dặm tìm chồng”. Kiệt Tấn thì phải viết: “Má tôi muôn dặm tìm chồng rượt theo níu cổ ông lại”. Người khác hẳn chỉ viết: “Tối đêm đó tôi trằn trọc không ngủ được”. Kiệt Tấn thì phải viết: “Tối hôm đó tôi trằn trọc trắng dờ con mắt”. Nhiều. Thật nhiều những định ngữ giàu hình ảnh như thế trong câu văn Kiệt Tấn.

Một hiện tượng có vẻ nghịch lý là, bên cạnh chất mộc mạc ấy, Kiệt Tấn lại rất giàu chất thơ. Văn chương Kiệt Tấn vừa có cái sần sùi của cuộc sống lại vừa có cái lung linh của mộng ảo. Sự kết hợp ấy làm cho văn chương Kiệt Tấn có một khí hậu riêng, rất mực lạ lùng. Như ở trần mà như chơi vơi trong sương khói.

Khởi sự cầm bút, Kiệt Tấn là một nhà thơ. Tác phẩm đầu tay của ông là một tập thơ: “Điệp khúc tình yêu và trái phá” (1966). Sau gần hai mươi năm im lặng, cầm bút trở lại, Kiệt Tấn đổi tay: từ thơ ông chuyển qua văn. Thì cũng không lạ. Chuyện khá bình thường ở Việt Nam: một nhà thơ thỉnh thoảng viết văn và một nhà văn đôi lúc táy máy thử nghiệm ngòi bút của mình trong cái cõi bằng bằng trắc trắc bằng bằng. Điều độc đáo và thú vị của Kiệt Tấn là, từ thơ chuyển qua văn, ông đã giữ lại, trong văn, cái cách nhìn và cách cảm dạt dào chất thơ của một nhà thơ.

Kiệt Tấn thuộc khá nhiều thơ, hò, vè và vọng cổ. Ông thích dẫn vào giữa những câu văn của mình, một câu thơ, một lời ca. Văn xuôi Kiệt Tấn, nhờ vậy, xôn xao nhạc điệu. Hơi thở và hơi ca đẩy hơi văn bay bềnh lên, lênh đênh trôi về những chân trời xa khơi của tưởng tượng. Những chất thơ trong văn xuôi Kiệt Tấn không phải chỉ có thế. Nét đặc biệt nhất của Kiệt Tấn là ở chỗ khác, chỗ ông có thói quen sử dụng nhiều biện pháp tu từ chỉ thường gặp trong thơ, vốn đặc trưng của ngôn ngữ thơ. Ở đây, tôi chưa nói đến vấn đề hay hay dở. Chỉ nhấn mạnh một điều: ít có nhà văn nào sử dụng, trong văn xuôi, nhiều hình thức ẩn dụ và hoán dụ như Kiệt Tấn trong Nụ cười tre trúc. Hình thức ẩn dụ: “Vườn chanh đang khua lá giặt rửa dưới dòng trăng” (tr.170); “Ánh trăng xanh xao ngủ trên võng chanh giăng ở đầu ngọn đong đưa”. (tr.174); “Cơn gió hắt hiu luồn tay chải gỡ lào xào giữa tóc chanh rối lá” (tr.181); “một con quạ mặc áo sa ten tuyền óng ánh đi đủng đỉnh trên bãi cỏ úa” (tr.212); “Rồi Paris xuống tóc qui y trong ngôi chùa Đông Tạ” (tr.249);… Hình thức hoán dụ: “Cánh đen vỗ mạnh bay lên cây” (tr.212); “Tôi đưa tay bắt nải chuối mắn kịch cợm của người đàn ông cao lớn” (tr.234)…

Nhiều câu văn của Kiệt Tấn nghe như thơ, thơ Hàn Mặc Tử: “Ánh trăng trần truồng” (tr.181); thơ của những người theo thuyết Tương giao giữa màu sắc, hương vị và âm thanh (Correspondances): “Hương chanh chín mùi”(tr.170); “Ánh trăng bùi ngọt” (tr.92)…

Giọng văn của Kiệt Tấn, như vậy là một thứ hợp chất giữa khẩu ngữ và thi tính.

Một đặc điểm khác cũng khá phổ biến trong “Nụ cười tre trúc”: Sự dí dỏm. Từ cách dùng chữ đến cách mô tả, cách kể chuyện của Kiệt Tấn dường như lúc nào cũng thấp thoáng một nụ cười tinh nghịch. Tinh nghịch một cách nhẹ nhàng và có duyên. Mà hình như đây cũng là đặc điểm chung của nhiều nhà văn miền Nam khác. Các nhà văn miền Nam, ít nhất trên trang sách, thường xuề xòa, dễ tính và vui tính. Bình Nguyên Lộc, Vương Hồng Sển, Hồ Hữu Tường… rồi Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Nguyễn Đức Lập, Nguyễn Tấn Hưng, Võ Kỳ Điền. Sơn Nam không vui tính nhưng cũng dễ tính và xuề xòa. Chỉ có hai người cầm bút miền Nam thực sự nghiêm trang và trịnh trọng: cặp vợ chồng Đông Hồ và Mọng Tuyết. Nhưng cả hai đều bị ảnh hưởng nặng nề của văn phong miền Bắc. Khi nghiêm trang và trịnh trọng họ phải giả giọng.

Ở trên, tôi cố gắng nhận diện những đặc trưng nổi bật nhất trong phong cách văn học của Kiệt Tấn. Cũng không giải thích được bao nhiêu. Ở Kiệt Tấn có một cái gì khác, cao hơn, vượt ra ngoài những nhận định có tham vọng khái quát ấy. Mọi tài năng nhưng thực sự thường đa dạng. Khả năng để đa dạng hóa có lẽ xuất phát từ sự nhạy cảm. Ưu điểm lớn nhất của Nụ cười tre trúc, nghĩ cho cùng, không phải ở ngôn ngữ hay thơ, cũng không phải ở phong cách pha ít nhiều tự truyện hay ít nhiều tùy bút, mà thực chất là ở khả năng khám phá nhạy bén và tinh tế những tâm lý phức tạp của con người.

Trong lãnh vực này, ít người đi xa và đi sâu hơn Kiệt Tấn. Kiệt Tấn như một nhà thám hiểm đại dương, ngòi bút ông không ngừng phát hiện từng sự thật mong manh, khuất giấu trong đáy cùng tối thẳm của lòng người. Nếu Nguyễn Mộng Giác là người nhạy bén trong việc khám phá và mô tả những trạng thái tâm lý bình thường trong đời sống hằng ngày như niềm vui, nỗi buồn, sự giận hờn, sự thương nhớ… thì Kiệt Tấn lại là người cực kỳ nhạy bén trong việc khám phá và mô tả những trạng thái tâm lý bất bình thường của con người. Không ai, trong nền văn học hải ngoại hiện nay, có thể viết về một cơn điên, một giấc mơ dữ, một tình yêu cuồng nhiệt… hay hơn Kiệt Tấn.

Văn chương của người gốc miền Nam từ trước tới nay thường tập trung khai thác nhiều ở các đề tài: phong tục, lịch sử, thế sự và luân lý. Nụ cười tre trúc mở ra một thế giới khác, thế giới truyện tâm lý và triết lý.

Nghe nói Kiệt Tấn đang hoàn thành bộ trường thiên tiểu thuyết Lớp lớp phù sa. Một số đoạn trích trong đó được đưa vào tập Nụ cười tre trúc. Những đoạn trích ấy đều hay, đặc biệt, Vườn chanh miệt biển, rất hay. Nhưng giá trị của cả bộ trường thiên tiểu thuyết ấy sẽ ra sao? Dĩ nhiên là phải chờ đến lúc tác giả cho ra mắt. Riêng tôi, vừa chờ vừa thất thỏm. Có thể, khác với Nụ cười tre trúc, lần này Kiệt Tấn sẽ thất bại. Kinh nghiệm: những nhà văn có giọng văn pha nhiều chất tùy bút ít khi thành công trọn vẹn trong truyện dài. Tôi nghĩ đến Nguyễn Tuân, đến Mai Thảo và Đến Võ Phiến. Truyện dài của họ hay thì đành là hay so với vô số những cây bút khác. Nhưng với họ, cái hay ấy tôi có cảm giác có cái gì không trọn vẹn. Như truyện ngắn của họ. Như tùy bút của họ. Như chiều cao của họ đòi hỏi nó phải ngang tầm. Mong là Kiệt Tấn sẽ gặp may mắn./.

Kiệt Tấn: Rằng Quen Mất Nết Đi Rồi!

Trần Nghi Hoàng

I.

Cái thời tôi còn chủ trương tạp chí Văn Uyển. Văn Uyển ra một năm 4 số, theo… mùa. Trên tạp chí thì ghi là Xuân, Hạ, Thu, Đông, chả cần ngày tháng… Nên tôi muốn Văn Uyển xuất hiện giờ nào trong ba tháng của mùa đó năm đó, cũng an toàn, chưa có quý độc giả hay quý văn hữu cộng tác nào tỏ lời phiền trách.
Một trong 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông của Văn Uyển năm 1992, có bài Thạch Các, một tay viết phê bình văn học rất sắc bén… mà nhân hậu của Văn Uyển, viết về Kiệt Tấn. Và sau đó, tôi và Kiệt Tấn có giao thiệp qua điện thoại. Từ California nói chuyện với một quận ngoại ô của Paris Pháp quốc. Kiệt Tấn cứ nằng nặc bài viết ký tên Thạch Các là của tôi. Tôi phải đưa tay thề thốt Thạch Các là một ông giáo hồi trước 1975, có xương da máu thịt ràng ràng, rất giỏi về ngữ pháp Việt Nam… Xin ông Kiệt Tấn đừng có lấy công của người mà giao cho tôi, tội nghiệp!
Tôi đọc hầu hết của Kiệt Tấn. Dư luận về Kiệt Tấn trong văn đàn quả không phải ít! Nhưng tựu trung, những nhà phê bình đều nói, đại khái, Kiệt Tấn là một nhà văn nhân bản tuy có hơi bị nặng về tình dục; tự do mà yêu thiên nhiên; mê đắm và duyên dáng… Thậm chí xấu đẹp tùy người đối diện…
Lúc chưa đối diện với Kiệt Tấn (tạn mặt đá vàng), tôi thấy Kiệt Tấn như sau:
Kiệt Tấn từng viết:
“Nếu có người xả mình binh vực những nhân vật không cần ai binh vực hết (như Thượng đế, như lãnh tụ, như chủ tịch, như tổng thống) thì tôi, tôi binh đĩ.”
Trong bức thư gửi cho Lộc (Lê Tấn Lộc, anh ruột của Lê Tấn Kiệt tức Kiệt Tấn) có in trong Nghe mưa [1] , Kiệt Tấn viết:
“Em vừa vạch da cây vịnh bốn câu ba vần trong ‘Đêm cỏ tuyết’ là quần hùng nhốn nháo. Có thân hữu đề nghị bôi chữ cỏ. Em nói: Tao đã cạo chữ kia để thay bằng chữ cỏ, bây giờ mầy biểu tao cạo chữ cỏ thì biết thay bằng chữ gì bây giờ? Chẳng lẽ để cho em bé đoi luôn? Lại có thân hữu khác đưa ra nhận xét: Truyện mầy viết sao chỗ nào cũng thấy đưa ra đĩ điếm. Đáp: Tao ở gần xóm đĩ từ nhỏ tới lớn, không viết về đĩ thì biết viết về cái gì bây giờ? Hỏi: Sao truyện của mầy đầy ắp tình dục? Đáp: Tình dục nuôi nấng tao từ tấm bé cho tới lúc lưng dài vai rộng thì tao viết về tình dục là một lẽ đương nhiên…” (trang 246-247)
Thực ra, có phải Kiệt Tấn chỉ chuyên viết về tình dục không? Và Kiệt Tấn là một nhà “Đĩ Quyền” chuyên bênh vực đĩ?
Thưa, theo tôi thấy thì không hẳn vậy. Thấy vậy mà chưa chắc vậy đâu nghe!
Kiệt Tấn viết về tình dục, đúng. Mà viết hay hết sẩy nữa! Nhưng điểm cần lưu ý là, thái độ của Kiệt Tấn đối với tình dục, đối với việc rờ rẩm sờ mó và mần tình nó hết sức… trong sáng mà mê đắm… Như một đứa bé đòi mẹ viên kẹo hay cái bánh… Thử đọc một đoạn thư của Louise, Nữ Chúa Tàu Ma hay người tình xứ tuyết Ca Ná Đà của Kiệt Tấn viết cho cho Kiệt Tấn:
“Tức cười khi hình dung một ngày nào đó Bambino của em bắt buộc trở thành một đấng lang quân, dù là của em hay của ai khác. Thú thiệt em không hình dung nổi. Anh để ý mà coi. Khi gặp em, anh làm điều gì trước tiên? Anh luồn tay vào áo em… Mà khổ một cái là em cũng không đủ can đảm theo như bản tính mình để từ chối điều gì với anh được hết. Si tình là như vậy chăng? Nếu vậy thì em đã si tình anh mất rồi! Em chấp nhận. Em chấp nhận hết những gì anh muốn. Em có cảm tưởng nếu em gỡ tay anh ra thì biết đâu chừng anh sẽ lăn ra… nằm vạ! Anh muốn em. Vậy thôi. Rất dễ thương… ” (Sđd, trang 57)
Không ai nói về Kiệt Tấn tình dục có thể đúng bằng những… người đàn bà con gái trong đời Kiệt Tấn! Và tôi nhận ra, Kiệt Tấn không chỉ “binh đĩ”, mà đối với phái đẹp, với tất cả những vị nữ lưu, Kiệt Tấn luôn dùng một ngôn ngữ văn chương gượng nhẹ, âu yếm, tôn xưng và nhất định đứng về phần… khép nép (giả dạng quân ta, hả cha nội?).
Thử đọc một đoạn Kiệt Tấn “tả” chuyện người yêu xứ tuyết, nàng Louise tình cờ tới một dạ tiệc và bắt quả túm Kiệt Tấn ta đang ôm trong tay nàng Danyèle mà Kiệt Tấn tặng cho cái hỗn danh là “tấm nệm xốp”:
“Sau khi di tản từ góc này sang góc khác mà vẫn không trốn lánh được, tôi quyết định ra trình diện. Ôm tấm nệm xốp khư khư trong vòng tay học trò, tôi lăn lăn trong điệu luân vũ trong bóng mờ từ từ tiến ra pháp trường hồi chánh. Lả lướt hồi chánh.
Và rồi chuyện gì phải xảy ra bèn xảy ra. Louise bước tới túm lấy cổ áo veston của dâm tặc, giận run, nghẹn lời. Và dâm tặc đã lưu lại một vết nhơ muôn đời không rửa sạch trong lịch sử tình ái: Dâm tặc từ từ rút hai cánh tay tỉnh bơ ra khỏi áo, để lại cái veston tòn teng trên tay Nữ Chúa! Mạnh Lệ Quân thoát hài! Tôi cũng không dè trong người mình lại ẩn tàng một tiềm năng tồi bại tới mức như vậy. Thiệt là cẩu trệ. Tuyệt cùng cẩu trệ! Tôi cũng không khỏi ngạc nhiên sao nàng lại không cầm chai rượu xáng lên đầu tôi một cái phun máu ngay lúc đó.”
Kiệt Tấn không “gồng mình” khi viết văn. Ông viết về Kiệt Tấn hay viết về bất cứ gì cũng bằng giọng văn… thành thật một cách vô tội vạ như vậy. “Tôi cẩu trệ, tôi tồi bại. Vậy đó. Rồi sao?” Hai chữ “rồi sao?” không phải để thách thức. Mà là một câu hỏi cho thấy cái tình huống huề vốn của vấn đề! Tôi từng đọc nhiều đoạn văn tả cảnh đánh ghen. Nói rõ hơn là tả công cuộc đánh ghen của những bậc nữ lưu. Nhưng chưa ai tả một công cuộc đánh ghen mà mình là nhân vật chính, lại… vui và hấp dẫn như Kiệt Tấn. Không có níu tóc quào mặt. Không có xé quần xé áo tình địch. Không có “con đĩ ngựa này con đĩ chó kia…” giữa hai người phụ nữ. Mà chỉ thấy hành vi “cẩu trệ và tồi tệ” của thằng cha làm ra chuyện!!!
Kiệt Tấn yêu “đầm Ca Ná Đà” thì như vậy. Chứ Kiệt Tấn mười bảy tuổi yêu nữ sinh tỉnh nhỏ thì sao? Kiệt Tấn đưa Hoa (người yêu của Kiệt Tấn trong “Bến đò trao thơ”) đi xem hát bóng (tức xi-nê-ma) tuồng Việt Nam có cái tựa ly kỳ khó hiểu: Lý chơn tâm, Anh hùng cỡi củi! Tôi nhỏ hơn Kiệt Tấn nên chưa biết được có cái tuồng này (than ôi!). Trong rạp hát, dĩ nhiên chàng Kiệt Tấn ta còn tâm trí đâu để mà xem xi-nê-ma… Xin mời đọc:
“Tôi không thiết gì tới tuồng tích. Bàn tay tôi lúc đầu nắm lấy bàn tay nàng trong bóng tối, từ từ buông ra dọ dẫm. Sa-ten mát rượi. Hoa rùng mình chụp lấy tay tôi giữ lại cứng ngắt. Nắm siết. Chặt chẽ. Rồi yếu dần, buông lỏng, thở dài… Tôi cũng thở dài mà ngực nghẹn tức…” (Kiệt Tấn, Nụ Cười Tre Trúc, Văn Nghệ xuất bản 1987. Trang 91)
Thủ phạm thở dài mà nạn nhân cũng thở dài. Trời đất! Lý Chơn Tâm xẹp lép trong màn ảnh đang cỡi củi bay chập chờn trên mây, chứ chàng Kiệt Tấn nhà ta thì đã bay lên chín tầng mây mà chỉ cần có một… cây củi nhỏ xíu (nếu so với bó củi của Lý Chơn Tâm!!!)
Đó chỉ mới là sự vụ mở đầu! Đừng nóng, từ từ mà đọc thêm đoạn sau đây:
“Trước khi ra về, chúng tôi ra ngồi quán nước cạnh bờ sông giải khát hứng mát (và chờ cho Hoàng Tử Lưng Gù hạ hoả)… Đêm khuya thức dậy ngó trời, thấy sao phía Bắc đã dời phía Nam… Hai câu ca dao còn lởn vởn trong đầu, tôi vói bàn tay mặt ơ thờ cầm cái ly đá chanh ẩm hơi nước đọng bên vách ly đưa lên định… bỗng giật mình vì ly nước chợt vuột khỏi bàn tay nắm của mình, như bàn tay có thoa mỡ, trơn mướt! Ly đá chanh tuột xuống va trên mặt bàn khua một tiếng rè đục như sắp bể… Không ai hiểu. Tôi cũng không hiểu, ngay lúc đó. Tôi đổi ly sang tay trái, đưa lên uống bình thường. Ngẫm nghĩ. Chợt hiểu! Và cũng chợt bồi hồi xúc động thương người yêu bé bỏng của mình hết sức! …” (Kiệt Tấn, Nụ Cười Tre Trúc, Văn Nghệ xuất bản 1987. Trang 91)
Kiệt tấn hiểu chuyện gì vậy cà? Những chuyện mà hầu như những nhà văn đều… tránh viết ra, hoặc nếu viết ra theo kiểu… hiện đại của phái “cách mạng tình dục” gì đó bây giờ, thì vô duyên và thô tục, thì Kiệt Tấn đã viết được bằng những đoạn văn thơ mộng dễ thương. Nhất là, sau sự vụ đi xi-nê-ma tối đó về, chàng Kiệt leo lên chiếc giường trong phòng trọ học:
“… Lưng đau như dần. Tôi lăn sấp người lại úp mặt trong lòng bàn tay, rên ư ử. Thoang thoảng một dư hương rất lạ, chưa từng biết, ngây ngất trong lòng bàn tay. Gì như thể… như thể… Đúng rồi! Hương Trinh Nữ! Hương của Hoa…” (Kiệt Tấn, Nụ cười tre trúc, trang 94 [2] )
Cách nay gần hai mươi năm, khi đọc truyện này, tôi đã phone cho Thạch Các:
“Ông tìm đọc Kiệt Tấn đi.”
Theo nhận xét của tôi, Kiệt Tấn không “sáng tác” truyện… tình. Kiệt Tấn chỉ kể lại những mối tình của ông với những người đàn bà con gái trong đời ông. Kiệt Tấn yêu đĩ, yêu nữ sinh, yêu đàn bà, yêu con gái, yêu vũ nữ, yêu ca ve, yêu gái quê… đều “bằng như nhau”. Kiệt Tấn không… phân biệt giai cấp trong tình yêu lẫn tình dục của ông.
Đó là Kiệt Tấn qua “văn bản” mà tôi bắt gặp gần mười lăm năm trước… Cho đến khi…
II.
Năm 2002 thì phải, là lần đầu tôi gặp mặt Kiệt Tấn. Đó là buổi ra mắt thơ của PTNN tại Washington DC. Vợ chồng tôi và vợ chồng anh chị PTNN & QĐ khá quen thân. Trong buổi ra mắt thơ của chị PTNN, Kiệt Tấn và tôi là hai trong bốn diễn giả nói về “tác phẩm và tác giả”…
Người nói trước tiên là Kiệt Tấn, rồi đến tôi.
Lúc Kiệt Tấn nói, có lẽ vì buổi sáng chàng chưa đủ độ rượu, cũng có thể vì cái giọng lè nhè không “ăn micro” nên hơi bị khó nghe! Đã vậy, Kiệt Tấn còn soạn một bài khá dài (tuy rất có duyên và tinh tế) lên nói… Phía dưới, có dăm bảy người không biết Kiệt Tấn là ai. Và chắc cũng “đáp tàu” lỡ chuyến đến với buổi ra mắt sách sao đó nên dễ bề nóng ruột… bèn la inh ỏi đòi đuổi Kiệt Tấn xuống. Chàng Kiệt Tấn thản nhiên khoát tay xuống mấy quý vị đó rồi phán một câu xanh rờn:
“Nhằm nhò gì mấy cái lẻ tẻ!”
Rồi tiếp tục nói hết bài của Kiệt Tấn viết về tác giả PTNN.
Sau đó, tôi và Kiệt Tấn cũng có ngồi với nhau qua dăm ba bữa rượu lai rai. Nhưng là ngồi chung với nhiều người ngoài giới… “giang hồ”. Vả, Kiệt Tấn không ở Washington DC lâu mà đã “lưu diễn” qua California liền sau đó. Nên tôi và Kiệt Tấn chỉ kịp “nhận” nhau, cũng có nói chuyện qua lại, nhưng chưa có một bữa rượu tới bến để “biết” nhau.
Còn nhớ, cả Kiệt Tấn lẫn QĐ sau đó đều kể cho tôi nghe một câu chuyện như sau:
“Một lần, QĐ rụt rè hỏi Kiệt Tấn:
“Anh Kiệt Tấn à, tôi nghe nhiều người nói là anh… điên! Mà anh có điên thiệt không vậy?
Kiệt Tấn trợn mắt trả lời:
“Điên thiệt quá đi chứ cha! Tui điên có ‘bằng cấp’ mà!”
Hai năm sau, Kiệt Tấn lại từ Pháp bay qua Washington DC dự đám cưới của con gái anh chi PTNN & QĐ. Tôi quên nói, chị PTNN và Kiệt Tấn rất thân nhau, đã quen biết từ thời ở Việt Nam. Tôi được anh chị PTNN & QĐ nhờ lo phần tiếp tân và chiêu đãi quần hào văn nghệ sĩ. Do đó, hàn xá bèn biến thành biệt viện cho quần hào tạm trú mà bày đại tiểu yến, cũng như dưỡng quân sau khi đã liên hồi đánh đấm! Những danh tài như Nguyễn Xuân Thiệp, Phan Xuân Sinh, Nguyễn Trọng Khôi, Lâm Chương… bèn mỗi ông được nhà tôi, Hoàng Thị Bích Ti phát cho hai tấm chăn, một cái gối… Có vị sẽ hỏi tại sao tới hai tấm chăn, bộ thời khoảng đó là mùa Đông, lạnh lắm hả? Xin thưa, lúc đó chưa tới mùa Đông. Nhưng mỗi danh tài được phát hai tấm chăn là vì một tấm để lót trên sàn nằm và một tấm để đắp!
Thế là, không tiệc lớn ở nhà anh chị PTNN & QĐ thì tiệc nhỏ ở nhà tôi. Nhiều lần, Kiệt Tấn thấy bọn tôi vui quá, bèn bôn đào không chịu ở nhà PTNN & QĐ, mà lánh nạn qua nhà tôi để… tha hồ uống rượu và có bạn để đấu hót.
Trong một bữa rượu, Nguyễn Trọng Khôi giả giọng ông Tông Tông Trần Văn Hương, đọc bài nói chuyện của Tông Tông cựu nhà giáo trong một trường trung học, như sau:
“Kính thưa Ban Giám Học, kính thưa quý thầy, quý cô cùng các em học sinh thân ái! Tôi xin lưu ý Ban Giám Học rằng là, tôi nhận thấy các em nữ sinh của trường mình mặc quần áo hơi quá mỏng. Tôi xin lập lại là quá mỏỏỏỏng! Làm cho quý thầy và các em nam sinh trường ta đi đứng có phần hơi bị… khó khăn!”
Cả nhà tất nhiên lăn ra cười! Riêng Kiệt Tấn, sau đó, cứ ngồi lẩm bẩm câu: “đi đứng có phần hơi bị… khó khăn” mà thấm ý cười tủm tỉm hoài!
Lúc vừa gặp lại Kiệt Tấn tại nhà anh chị PTNN & QĐ, tôi nói:
“Ông Kiệt Tấn, cái bài ‘Sục cặc trước bàn thờ’ của ông trên talawas, nhà tôi, Ti khen hay lắm. Tôi có đăng lại trên báo LP. Sau đó, liền bị mất hai trang quảng cáo, ông ạ!”
Kiệt Tấn nhìn Ti gật gù:
“Lạ thiệt! Lạ thiệt! Cô là vị nữ lưu đầu tiên mà chắc cũng là cuối cùng khen cái bài mắc dịch đó! Viết bài đó, tôi bị mấy bà, mấy cô càm ràm đay nghiến quá trời!”
Tôi lại nói với Kiệt Tấn:
“Còn phần tôi thì tâm đắc nhất hai câu của ông. Dĩ nhiên tôi cũng thích thú cả bài.”
Kiệt Tấn hỏi:
“Hai câu nào?
Tôi cười, đọc:
“Ở hải ngoại lẫn trong nước, các bà các cô đều vọc lồn mình mà la làng hết ráo… (rồi) Đụ là đụ! Đâu có cần gì phải quăng cái lồn lông lên không trung mà đặt câu hỏi nhớn (không dè nó rớt xuống trúng u đầu có cục).”
Chú thích thêm của Trần Nghi Hoàng:
Kiệt Tấn vốn rất trang trọng và trân quý chuyện tình dục. Đối với Kiệt Tấn, tình dục và tình yêu đều rất đẹp như nhau. Kiệt Tấn không “chịu” được khi một số các nhà văn gần đây cứ mang chuyện tình dục ra mà viết một cách “thiếu nghệ thuật”, tục tiũ. Đa số trong các nhà văn ấy lại là các cô, các bà! Do đó, ông viết “Sục cặc trước bàn thờ”. Một bài viết tục và dữ dằn hết cỡ để phản bác, theo nguyên tắc “lấy độc công độc”. Đoạn cuối bài, Kiệt Tấn có tuyên bố sẽ sẵn sàng “lý luận” tiếp, nếu có ai đó lên tiếng khó chịu về bài này. Cho đến hôm nay, Nov 26 – 2006, tôi chưa thấy có phản ứng nào một cách chính thức về bài viết này!
“Sục cặc trước bàn thờ” là bài viết của Kiệt Tấn nhân đọc mấy bài tung hô các nhà văn nữ hiện đại đòi quyền “khoe lồn và các thứ” qua các văn bản của các nhà đòi “Lồn Quyền” và không đòi gì hết sau:

  • “Tình dục và các nhà văn nữ di dân Việt Nam” của Thế Uyên. Hợp Lưu số 81, 2005. (Bài này tôi chưa đọc, nhưng nguyên cái tựa có ba chữ ‘nhà văn nữ’ đã không thấy ổn! Trên thế giới này, kể cả từ xưa cho đến hôm nay, dường như chỉ có Việt Nam ta mới ’đẻ’ ra ba chữ ’nhà văn nữ’!)
  • “Nhận diện một số nhà văn Việt đầu thế kỷ 21” của Nguyễn Văn Lục, Hợp Lưu số 81, 2005. (Bài này tôi cũng chưa đọc luôn! Vốn dĩ, tôi rất ít khi nếu không muốn nói là chả bao giờ bỏ công đi đọc những cái vụ “nhận diện”… này nọ. Bởi, xấu đẹp tùy người đối diện. Mỗi người sẽ có một “đường lối” nhận diện khác nhau!)
  • “Trò chuyện với hoa thủy tiên” của Nguyễn Huy Thiệp, Văn Học số 223, 2006. (Bài này thì tôi có đọc, đọc kỹ và đã có mấy bài “góp ý cò ý kiến”.)
  • “Có thật đa số các nhà văn đều vô học, các nhà thơ đều lưu manh” của Trần Mạnh Hảo, Văn Học số 223, 2005. Bài này tôi cũng có đọc, và cũng đã có bài “góp ý cò ý kiến”.)
  • “Khi nhà văn cưới nhà thơ” của Ngọc Anh, Văn Học số 223, 2005. Bài này tôi chưa đọc.

Hết chú thích.
Trong một bữa rượu ở nhà tôi, có mặt đầy đủ quần hào và thêm một vị nữ lưu vốn là nhà văn, xin tạm gọi là L. Cô nhà văn L này hay bị tôi và Nguyễn Trọng Khôi, người luôn tự nhận là Điền Bá Khôi… (nhưng xem ra lại rất đứng đắn đàng hoàng, chưa từng thấy dở trò… nài hoa ép liễu bất cứ ai!) cáp độ, tức là gán ép (chơi cho vui) với Phan Xuân Sinh. Thấy có bóng hồng trong bữa rượu, Kiệt Tấn ta bèn mặt mày sáng rỡ. Cái dáng lừ đừ biến mất hết năm chục phần trăm. Kiệt Tấn vừa ngồi bên kia bàn uống tì tì, vừa lom lom ngắm nghía nhà văn L. Câu chuyện trong bàn chắc chắn là đang diễn ra tưng bừng hào hứng. Hốt nhiên, Kiệt Tấn từ tốn đứng dậy khỏi ghế, đủng đỉnh bước qua phía bên kia bàn, tiến trước nhà văn L. rồi ôm cô này và hôn một phát! (Hôn ở đâu xin quý vị cứ tự do tưởng tượng, như vậy mới ly kỳ… hấp dẫn!) . Cô nhà văn L. tỏ ra là một cao thủ trong những trường hợp bất ngờ và thậm chí bất an (ninh) như vậy, cô cười cười nói:
“Anh Kiệt Tấn hôn L., không sợ anh Phan Xuân Sinh ghen sao?”
Phan Xuân Sinh cũng tỏ ra là một tay hào hoa phong (cá) độ:
“Ai “hun” cứ “hun”. Tôi yêu tôi cứ yêu.”
Kiệt Tấn đã về đến cái ghế của mình. Vừa ngồi xuống ghế, Kiệt Tấn vừa làu bàu:
“Ai yêu cứ yêu. Tui thích “hun” thì cứ “hun” hà!”
Quả là kỳ phùng địch thủ. Bên nửa cân, người tám lạng, phong vũ ma chiết trùng trùng nhưng không khí vẫn rất ồn ào vui vẻ!
Bữa rượu cuối cùng sau tiệc cưới. Một bữa rượu khuya ở nhà anh chị PTNN & QĐ. Gần 3 giờ sáng. Đã vài anh hùng hảo hán rớt đài, nằm đâu đó hay la liệt nơi phòng khách mà an giấc điệp. Trong bàn còn anh Nguyễn Xuân Thiệp, Kiệt Tấn, Độc Cô Cầu Thắng, QĐ (ra vô on & off), anh Tòng, Hoàng Thị Bích Ti và tôi. Chẳng biết câu chuyện lan man thế nào, mà hai ông bạn lớn (tuổi) Kiệt Tấn và Nguyễn Xuân Thiệp lại đi vào đề tài tình yêu! Trời đất!
Tôi nghe loáng thoáng Nguyễn Xuân Thiệp nói:
“Tôi cho rằng, tình yêu đích thực nó tồn tại mãi với thời gian, dù rằng hai người xa xôi cách trở. Chỉ cần gặp lại, hôn lên trán người yêu một cái, là tôi thấy đã quá đủ. Quá hạnh phúc rồi!”
Giọng Kiệt Tấn đã đến giai đoạn lè nhè, lè nhè ở mức không thể lè nhè hơn:
“Ông nói sao tôi hổng biết! Chứ với tôi, yêu là phải sờ mó, phải nắn bóp, phải… đủ thứ. Tức là phải có mần tình thì nó mới “trọn vẹn cái chữ yêu” ông ơi!”
Thế là hai ông bạn lớn (tuổi) của tôi cứ tiếp tục tranh luận về hai quan điểm “yêu” rất khác nhau như vậy tà tà. Cuộc tranh luận xem ra hết sức lăng lệ nhưng vẫn hoà bình và đầy tình thân ái. Đến nỗi, có lúc hai ông rót rượu cho nhau, ôm nhau thắm thiết (xin có hình đính kèm làm bằng, để tránh lời ong tiếng ve cho rằng là Trần Nghi Hoàng tôi bịa chuyện!).
Tuy nhiên, chẳng bữa rượu nào mà kéo dài mãi… phải không? Có điều, cho đến lúc tàn cuộc rượu, đâu chừng khoảng 5, 6 giờ sáng (vì tôi nghe vẳng từ lùm cây ở sân sau nhà anh chị PTNN & QĐ có tiếng chim ríu rít), tôi không biết hai ông bạn lớn (tuổi) của tôi, Nguyễn Xuân Thiệp và Kiệt Tấn đã dắt nhau đi đến cái chỗ kết luận chung cuộc ra sao. Điều này vẫn còn là một bí mật cho đến ngày hôm nay. Quý vị nào thắc mắc, xin cảm phiền tìm hỏi thẳng hai đương sự để tận tường thoả mãn.
Với tôi, từ tiếp cận Kiệt Tấn qua văn bản, tôi đã tiếp cận Kiệt Tấn tạn mặt đá vàng! Kiệt Tấn đáng yêu ngay ở tiềm năng tồi bại tới mức như vậy của ông ta. Kiệt Tấn có khả năng tồi bại một cách cực kỳ… trong sáng và vô (số) tội!

Phỏng vấn Kiệt Tấn

Phan Thị Trọng Tuyến, Đặng Mai Lan thực hiện

clip_image003
Nhà văn Kiệt Tấn

Truyện ngắn đầu tay anh viết lúc nào, trong bối cảnh nào?
Truyện ngắn đầu tay của tôi? Thiệt tình mà nói, tôi cũng không nhớ rõ. Bởi lẽ tôi đã viết lai rai từ thuở còn học trung học và đại học. Hình như truyện ngắn đầu tay tôi viết về Diane, người em xóm học, khi tôi từ Paris trở về Québec năm 1961, không còn nhớ rõ tựa, đăng trên nội san Đất Lạnh số 1 của nhóm sinh viên Việt du học tại Québec chủ trương. Đất Lạnh ra có mỗi một số thì toà soạn đóng cửa đình bản vì cụt vốn, các mầm non đại văn hào đều bị bắt buộc nghỉ dài hạn không ăn lương.
Trước khi nói về văn chương, xin lạc đề một chút: hình như anh hơi kì thị chủng tộc? Anh đã chẳng mê toàn mấy cô đầm, hết đầm Âu đến đầm Mĩ. Hay là đầm dễ mê Kiệt Tấn hơn Mít?
Nói kì thị chủng tộc thì hơi quá đáng…
Hay là vì dạo đó có lẽ thiếu con gái Việt Nam đi du học? Hay là việc “giao du” trai gái Việt Nam có nhiều khó khăn, trở ngại (thí dụ: không thể có sex nếu không cưới nhau)? Con gái Việt Nam khó “thương” hơn? Anh nói sơ về khoảng thời gian du học ở Québec…
Thời buổi đó ở Québec chỉ có mỗi một cô sinh viên người Việt, lại lớn tuổi hơn tôi và chỉ có những là xương. Đành chịu thua. Sức người có hạn!
Mấy cô đầm mới ngó vô thấy lạ, bồ bịch rồi thì cũng quen lần. Lên giường, lúc lâm trận mịt mờ thì cô gái nào cũng chỉ là một cô gái thôi. Chỉ có chia động từ thì khác… Còn rên rỉ thì cũng y chang như nhau… Còn chuyện viết lách. À!… Để tôi động não ráng nhớ lại coi. Nếu không lầm thì “Trước mặt” là truyện tình đầu tay của tôi được lên mặt báo, nhưng báo nào thì tôi không còn nhớ rõ. Đó là sự nối tiếp của cuộc đời tình ái lăng nhăng của tôi. Truyện kể tôi đến nhà đón một cô vũ nữ bồ bịch đi chơi. Trong lúc ngồi chờ cô em trang điểm, tôi hồi tưởng lại những cuộc tình đã qua ba trật bốn vuột của mình mà ngán ngẩm. Những Hoa, những Tuyết, rồi Diane, Louise, Danyèle, những Nguyên, Hường, Nhung… đều lần lượt giã biệt. Buồn ơi! Ta xin chào mi. Truyện kết thúc bằng những câu hỏi miên man không dứt: Cô em sẽ phụ tôi, tôi sẽ bỏ nàng, tôi và nàng sẽ yêu nhau dai dẳng, nàng sẽ có con với tôi, tôi sẽ cưới nàng, nàng sẽ bỏ tôi bất thần để đi lấy chồng? Hoàng hôn lần lữa năm hầu hết, hờ hững ai xui thiếp phụ chàng… Tôi không còn dấu vết nào của truyện “Trước mặt”.
Thời đó đưa vũ nữ bồ bịch đi chơi có “dễ dàng” không? Vì giới nghiêm, thiết quân luật, vợ nhà… vân vân.
Đưa vũ nữ bồ bịch đi chơi có “dễ dàng” hay không là tuỳ ở tài nghệ và tâm tánh của mỗi người. Giới giang hồ có câu “chịu chơi thì đừng có run”. Nhắc giới nghiêm, tôi nhớ một lần đó, còi giới nghiêm vừa hụ, tôi lật đật nhảy lên xe bốn bánh phóng ào ào từ quán nhậu ở Chợ Đũi về Hàng Xanh, quẹo cua lỡ trớn lạc tay lái ủi sập bót cảnh sát ở gần nhà, may nhờ chỗ công chức quen mặt nên sếp bót thông cảm …
Khi trở về Việt Nam, anh làm việc ở đâu? Làm công chức cao cấp có chán không?
Tôi làm chuyên viên ở Bộ Kinh tế. Tánh tình, tóc tai, áo quần dị hợm nên bị đì làm chuyên viên dài dài. Cho đến mười năm sau, đùng một cái, được đề cử lên làm Giám đốc Định chuẩn. Nghề đó không ai giành, không do bè cánh hay piston đẩy lên chi hết. Khi làm giám đốc một cơ quan tự trị gồm toàn những người trẻ do mình tuyển dụng, tôi rất phấn khởi…
Truyện của Kiệt Tấn đa số đều đưa vấn đề tình dục vào? Tại sao?
Câu trả lời thật ra khá đơn giản: Cuộc tình nào của tôi cũng tay chưn rối beng, thịt da bát ngát, đồi núi chập chùng, cỏ non mút mắt. Khi hồi tưởng và viết lại thì nó y chang như vậy thôi, cũng đất trời choáng váng, thịt da bấn loạn, đâu có mất công gì phải đưa với đón tình dục vào truyện hoặc hư cấu làm chi cho nó nhức cái đầu, mệt thằng nhỏ (Cười cười). Xin cô Hai thông cảm.
Có lần, khi nói về tình dục, tôi đã minh định: “Tôi viết về tình dục với mục đích cho độc giả thấy tình dục là một điều tự nhiên và đẹp đẽ”. Lần khác, khi viết về tôi, Nguyễn Hưng Quốc đã nhận xét: “Nhiều người cho là Kiệt Tấn viết bạo. Thêm điều này nữa: Bạo nhưng không bao giờ nhớp nhúa. Thiếu cái trong sáng của Thạch Lam, tình yêu trong truyện Kiệt Tấn lại gần hơn với sự thực, với cuộc đời” (Tuyển tập Kiệt Tấn, trang 476).
Anh có thể đưa ra một vài đoạn văn tiêu biểu của anh khi viết về tình dục?
Khi đọc những truyện tình hôi hổi tình dục của tôi trong Tuyển tập, ở trang 17, Đoàn Nhã Văn đã phân tích và để ý được điểm này: “Một trong những điểm đặc thù ở chữ nghĩa của Kiệt Tấn, trong vùng cấm địa này, là đặt nhiều cặp tính từ đằng sau một câu nói để nhấn mạnh điều diễn tả. Cặp chữ này nối liền cặp chữ kia tạo nên những đợt sóng dập dồn trong dòng suy nghĩ người đọc. Vì thế, người đọc thấy mình tham gia đủ đầy qua những vùng chữ nghĩa mang hơi hướm đàn bà:
Tuyết vừa ngồi xuống là tôi đi thẳng vào nỗi ám ảnh của mình. Bàn tay tôi sục sạo tìm kiếm đoá hoa thầm kín của nàng. Mềm mại, ấm áp, trơn mượt, nhung êm. Mê mẩn, sung sướng, hạnh phúc. (TNBN, “Đêm cỏ tuyết”, tr. 56).
Chân tay hai đứa quấn quýt chằng chịt rối beng, tưởng không thể tháo rời được nữa. Rên rỉ, năn nỉ, xô ra, quấn vào, cuồng nhiệt, mê tơi, cực điểm, chết ngất…  (TNBN, “Người em Xóm Học”, tr. 105)”.
Cái gì anh cũng ngó, cũng mó, cũng sờ, cũng nếm tuốt tuột. Ừ, dê dễ sợ: anh cầm cái bông bưởi, anh hửi cái bông hồng, anh bồng cái bông cúc, anh hít cái bông mai, anh liếm luôn bông lys… Chẳng còn chi là đoá hoa thành thị/ núi rừng/vương giả! Chẳng lẽ với đàn bà anh luôn “phàm tục” như vậy sao? Chuyện tình của anh chóng vánh đi đến… đỉnh cao xác thịt, phải chăng anh cố ý bỏ quên phần… trái tim? Trái tim thì rất khó sờ mó! Bởi cách một lớp thịt mỡ!
(Đưa hai tay lên trời) Ối! Tôi chỉ sờ nếm cái gì mà đàn bà có thôi, chớ tôi đâu có sờ mó cái gì đàn bà không có đâu mà cô Hai cự nự? (Giở Tuyển tập ra) Ở trang 492, Thuỵ Khuê đã nhận xét: “Đứng trước vẻ đẹp của người đàn bà, Kiệt Tấn trở thành thi sĩ. Văn ông không hề gợi dục, khi viết dường như có chất thơ đâu đó lãng đãng bước vào. Nhục cảm của thi nhân bỗng nhiên trong sạch lắm: Hương nắng còn đọng trên da lụa, tay khua tưởng đánh thức mặt trời, dục lên sóng biển và điệu tây ban cầm sẽ phả ra từ khung cửa sổ khuất kín của nàng. Dấu cỏ mất còn đó? Dấu bầm bên vú trái còn đó. Lời thề yêu em suốt đời còn đó. Tôi nựng nịu gò tình. Hôn lên ẩm ướt. Yêu. Yêu.” (TNBN, “Người em Xóm Học”, trang 113)
Đó! Cái cung cách yêu đương và thưởng thức đàn bà của tôi là như vậy đó. Viết về tình dục kiểu đó cô Hai có bị dị ứng không?
Dạ dị ứng thì không dị ứng, chỉ thấy hơi sấm chớp… giùm mấy nàng. Toàn là những người nữ tội nghiệp hết sức. Thôi xin hỏi tiếp câu sau. Rất nhiều ca dao trong truyện Kiệt Tấn. Tại sao?
Tôi được cái may mắn là từ thuở lọt lòng, tôi sống ở nhà quê và xóm bình dân. Lối xóm ai ru con cũng đều biết ầu ơ ví dầu vài ba câu ca dao. Má tôi cũng biết ầu ơ… Ví dầu ví dẩu ví dâu, ví qua ví lại ví trâu vô chuồng. Hoặc: Má ơi đừng đánh con đau, để con hát bội làm đào má coi. Rồi lớn lên, khi đi học, nhờ học giỏi, tôi được lãnh thưởng mấy quyển sưu tầm tạp lục ca dao, tôi đọc thấy sướng ran, bèn đọc đi đọc lại nên thuộc lòng hồi nào không hay. Khi cầm bút lên viết thì nó cứ rỉ rả tuôn ra vậy thôi chứ chẳng có bí quyết gì hết ráo. Hơn nữa, khi viết về miền Nam ruộng đồng mút mắt, sông nước tư bề, khi viết về những người bình dân sống nơi miền đất này mà không có hò hát, không có ca dao, tôi nghĩ là một thiếu sót lớn. Hò hát và ca dao tạo được bầu không khí quê mùa cho truyện viết, cũng hợp tình hợp cảnh lắm chớ. Nên lắm! Ngoài ra, khi còn đi học, đôi khi tôi còn dùng ca dao để chim gái, như dụ dỗ cô Hoa trong “Bến đò trao thơ” khiến cho cô xiêu lòng mà trao duyên cùng tướng cướp: “Hãy thề với anh hết miễu qua chùa, Ai cho anh uống thuốc bùa anh mê?” Rụng rún chưa em Hai?
Dạ rụng là cái chắc, nhất là mấy em nào tưởng ca dao là thơ anh… làm thiệt. Tiêu tùng mấy hồi cả một đời huê! Bây giờ xin nói chuyện liên hệ… với nhóm Sáng Tạo (Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền…) như thế nào?
Nhóm Sáng Tạo à? Để coi… Nói gần nói xa không qua nói thiệt. Tôi nghĩ sở dĩ nhiều người tưởng rằng tôi có liên hệ nhiều với nhóm Sáng Tạo là vì Sáng Tạo đã đứng tên xuất bản Điệp khúc tình yêu và trái phá, tập thơ đầu tay của tôi năm 1966. Thiệt ra, khi tôi về nước khoảng cuối năm 1963 thì tờ Sáng Tạo đã đình bản. Tôi cùng nhiệm sở với Cung Tiến nên nhân một dịp đi chơi chung, Cung Tiến có ghé ngang Thị Nghè giới thiệu tôi với Mai Thảo và Anh Ngọc ca sĩ khi đó đang lai rai ba sợi.
Giao tình Kiệt Tấn với các vị ấy ra sao?
Rủi thay, Chưa gặp anh, em đã có bầu! Mới gặp nhau lần đầu mà tôi và Mai Thảo đã chạm súng lẻ tẻ (Cười cười).
Anh còn nhớ lí do cuộc chạm súng đó không? Sau này bác Mai Thảo mỗi lần sang Pháp có gặp lại anh không? Và rồi sao nữa hả anh Kiệt Tấn?
Cũng chẳng có trăng sao gì hết. No stars where! Nói tiếp. Sau khi tờ Sáng Tạo đình bản thì Mai Thảo quay sang làm tờ Nghệ Thuật, toà soạn toạ lạc tại đường Phạm Ngũ Lão, máy in cũ mèm chạy sầm sập như trời đổ mưa. Viên Linh làm thư ký toà soạn, Anh Ngọc thủ quỹ. Ca sĩ nhà ta thủ rất kỹ nên tôi chẳng bao giờ được trả nhuận bút. Tới toà soạn chơi thỉnh thoảng gặp Thanh Nam, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Tạ Tỵ, Phan Lạc Phúc, Cung Trầm Tưởng và nhiều tay khác nữa. Bài thơ đầu tiên của tôi đăng báo Nghệ Thuật hình như là bài “Biết bao giờ” tặng Lộc và Diane. Trong những bài kế tiếp, có nhiều anh ngợi khen bài thơ “Dòng sông và con thuyền 20 tuổi” của tôi. Trong nhóm, có lẽ tôi còn lỏi nhứt thời đó.
Còn chuyện bắn nhau?
Mai Thảo khi đó tiếng tăm lẫy lừng trong giới văn nghệ, “rằng nghe nổi tiếng cầm đồ”. Mai Thảo ra cái vẻ đàn anh văn nghệ, còn tôi thì chẳng có viết lách gì. Văn nghệ văn gừng không mắc mớ gì tới tôi hết. Do đó mà có chạm súng lẻ tẻ. Sau này, thỉnh thoảng Mai Thảo sang Paris chơi, có gặp tôi vài lần. Một bận, tôi rủ Mai Thảo và một số bạn bè: Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Nguyễn Cầm, Nguyễn Hưng Quốc… về nhà nhậu nhẹt. Lần này thì chạm súng lớn hơn với Mai Thảo về chuyện ăn uống. Cứ cái giọng kênh kênh “Bắc kì là nhất” thì làm sao mà chịu đời cho thấu? Còn Thái Tuấn, hồi ở Sài Gòn ngày trước chỉ gặp nhau có một lần: bữa đó tôi xỉn quá xỉn nên bật ngửa cười hả hả trong buổi nhạc thính phòng tổ chức tại nhà một ông Bộ trưởng chịu chơi. Sang Pháp, thường lui tới với nhau vì hợp tính. Thái Tuấn tặng tranh miễn phí là tôi chíp ngay. Thích lắm.
Có còn cuộc “chạm súng” nào khác nữa không?
Thì thỉnh thoảng đi ăn nhậu với nhau cho vui vậy thôi. Tôi vốn không thích bàn cãi hay tranh luận văn nghệ. Tôi chủ trương “Viết không có chủ trương”, và viết từ bên trái sang phải, từ trên xuống dưới là ăn chắc. Thời viết cho tờ Nghệ Thuật, thỉnh thoảng tôi xách một chai Johnnie đi bộ tới toà soạn, rồi kéo nhau đi nhậu. Thế là xong.
Trước đây anh đọc tác giả Việt Nam nào. Anh thích ai? Tại sao? Anh có đọc tác giả hiện nay trong nước không?
Tôi đã có dịp trình bày ý kiến mình về văn chương Việt trong bài “Thơ văn quê nhà trong trí nhớ” đăng trên Văn Học số 203 & 204 năm 2002. Nhắc lại, khởi đầu tôi đọc và học thuộc lòng Quốc văn giáo khoa thư, kế tiếp là quyển tiểu thuyết đầu tiên Đồng quê của Phi Vân, theo sau là các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn cùng với các tiểu thuyết nẩy lửa của Vũ Trọng Phụng, trinh thám của Thế Lữ, Phạm Cao Củng… Vài truyện ngắn và tuỳ bút của Võ Phiến, Mai Thảo, truyện tình của Nguyễn Đình Toàn, biên khảo và truyện phong tục miền Nam của Sơn Nam. Thơ thì đầu tiên là Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính, theo tiếp là các nhà thơ tiền chiến. Rồi thì chiến tranh Pháp Việt bộc phát, kết thúc bằng trận Điện Biên Phủ, đình chiến và chia cắt đất nước năm 1954. Thời kỳ từ 1954 đến 1975, chiến tranh Mỹ-Quốc-Cộng phừng phực đổ lửa, đất nước loạn cào cào, tôi đọc sách lung tung nhưng phần lớn thì ham chơi hơn là ham đọc và viết. Thời kỳ này, tôi thích Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Tạ Ký, Dương Nghiễm Mậu, Thế Uyên, Nhã Ca và còn những ai nữa, nhưng quanh đi quẩn lại thì vẫn là những người làm thơ, phần lớn.
Cũng nên nhắc lại là tôi thuộc thế hệ 40 nên lãnh đủ cuộc chiến tranh đằng đẵng 30 năm Pháp-Mỹ-Quốc-Cộng từ 1945 đến 1975. Thiệt là chó chết! (Lắc đầu).
Anh thích Nguyễn Bính và trích dẫn ông thi sĩ này khá nhiều, nhưng thơ anh không có tí ti âm hưởng của ông ấy.
Tôi khám phá Nguyễn Bính lúc 13, 14 tuổi gì đó. Thuở tôi bắt đầu biết si tình đàn bà con gái… và âm thầm đau khổ y hịch như sư phụ mình vậy. Tôi không hề có tham vọng làm một Nguyễn Bính thứ hai. Bởi lẽ đó là cách tự sát tốt nhất.
Hiện nay anh còn giữ được liên lạc với ai? Những suy nghĩ của Kiệt Tấn về văn học trong và ngoài nước? Và về những bạn văn của anh?
Để đáp câu này, tôi lại dựa vào bài viết “Thơ văn quê nhà trong trí nhớ” đã nhắc lại khi nãy. Nhưng lặp lại những ý kiến đó thì dài dòng lắm. Nếu tò mò muốn biết thì xin tìm đọc bài đó.
Anh nghĩ sao về tương lai (có vẻ đìu hiu) của văn học Việt Nam ngoài nước?
Khi nói về văn học ngoài nước, tôi tự ý giới hạn trong phần sáng tác bằng Việt ngữ. Theo tôi nghĩ, môi trường sống dài hạn của các sáng tác bằng tiếng Việt phải là nơi mà mọi người đều đọc được tiếng Việt, nói được tiếng Việt và viết được tiếng Việt. Vì có như vậy mới có người thưởng ngoạn, phê bình và bàn cãi. Một điều rõ boong [1] : Môi trường đó phải là đất nước Việt Nam. Ngoài nước, các sáng tác hải ngoại bằng Việt ngữ chỉ sống ngắc ngoải như người bị bệnh nan y, sống vất vưởng như một lũ cô hồn. Bởi lẽ ấy, tôi mong là một ngày nào đó, một ngày đẹp trời, các sáng tác hải ngoại sẽ được hồi hương, chấm dứt kiếp sống lưu đày, và được in lại trong nước. Chuyện này không mắc mớ gì tới cộng sản cộng siếc gì hết. Chế độ nào rồi cũng phải có ngày chấm dứt. Còn sờ sờ đó cái màn cộng sản Nga sập tiệm, phần cộng sản Tàu thì giờ đây còn tư bản hơn cả Mỹ. Chớ cộng sản mà cứ “kéo dài xa tít tận chân trời” thì bỏ mẹ người ta hết sao? Nếu sau này chẳng may không có cơ hội nào được in lại trong nước thì tất cả những sáng tác Việt ngữ có giá trị tại hải ngoại sẽ trở thành những mối tình ôm xuống tuyền đài chưa tan ráo trọi!
Biết đâu được sẽ có những giọt nước mắt Mị Nương bất ngờ? Nói chuyện gần gần cho dễ kiểm chứng, thưa anh. Ai cũng thở than cho tương lai của văn thi sĩ hải ngoại, anh thấy đúng không? Anh xủ cho một quẻ coi.
Thì thôi, thể theo lời yêu cầu của cô Hai, tui cũng làm gan đứng ra làm thầy rùa, rờ mu rùa mà xủ cho một quẻ, nếu không trúng thì thế nào cũng trật, mất mát gì đâu mà sợ! Theo tôi, biến cố lịch sử tháng Tư 75 đã làm phát sinh hiện tượng văn học hải ngoại. Và như mọi hiện tượng trong trời đất, nền văn học hải ngoại đã sống như một hiện tượng, rồi giờ đây mãn hơi đang thoi thóp như một hiện tượng, để rồi sẽ biến đi như một hiện tượng. Một điều rõ rệt, trong lãnh vực sáng tác bằng Việt Ngữ tại hải ngoại, số lượng người viết càng ngày càng ít đi, số lượng người đọc cũng càng ngày càng ít đi. Tuy nhiên bù lại, nhờ có mạng lưới nên hiện nay người viết tại hải ngoại đã mở rộng lượng người đọc của mình về địa bàn trong nước. Nhưng (lại nhưng!), ngày nào tại hải ngoại hết còn ai sáng tác “ra hồn” nữa thì cũng đành ngủm củ tỏi mà thôi! Bó giò! Xin kiếu gia chủ ta thăng!
Khoan! Khoan thăng đã thưa anh Kiệt Tấn. Anh có bi quan quá đáng không, bởi vì như anh đã nói, nhờ mạng lưới truyền thông, sáng tác, sách vở đôi bên trong và ngoài nước hầu như không còn biên giới nữa, và chuyện giao lưu, du lịch đôi bên cũng mở rộng: thì đến một ngày nào đó, khi chế độ độc tài nhiều ngăn cấm răn đe này cáo chung, khi đó việc phổ biến, in ấn, trao đổi… kể cả tương lai văn học trong ngoài lúc bấy giờ không còn là vấn đề nữa. Nhưng (lại nhưng!) đó là chuyện… tương lai. Anh chưa trả lời mục các bạn văn của anh.
Cô Hai đã trót la “Khoan! Khoan!” rồi thì phải xuống vọng cổ để tui đây / Tây đui còn phựt đèn màu chớ! Thì thôi, khoan khoan ngồi đó chớ ra. Như đã nói hồi đầu, tôi không thích bàn cãi hoặc tranh luận chuyện văn chương. Tôi chỉ chú trọng phần sáng tác. Tôi thấy phe ta cứ cãi gì mà cãi nhau như giặc, cãi như mổ bò. Có cầm bút lên mà sáng tác hay không thì bảo? Cũng bởi lẽ không thích tranh cãi văn nghệ nên không có luôn trao đổi văn-gừng, do đó làm sao mà có được bạn văn-dênh? Bạn nhậu thì có, cái đó thì không. Bạn cầm bút, nếu có gặp nhau thì cũng rủ đi nhậu. Nhưng rủi thay, cũng có người thích uống nước dừa, uống sữa đậu nành, hột é lười ươi hoặc sương sa hột lựu. Mấy cha nội này thuộc phe “trà đá chanh đường”. Thì mấy chả rán mà chịu cho quen! Làm gì mà cứ nằng nặc chê rượu như mèo chê mỡ: “Em chã! Em chã!”, nghe sốt cả ruột.
Cách dựng truyện của anh như thế nào? Hình như anh luôn luôn chủ trương “nói hết, nói thiệt ‘chăm phần chăm’”?
Hầu hết những truyện tôi viết đều là tự truyện, nên “Có sao nói dzậy người ơi! Xin người đừng gian dối đời nhau! “. Tuy nhiên, tôi không phải là một người đêm đêm kể chuyện đời xưa cho con nít nghe hay một ký giả chiến trường viết bài tường trình cho một tai nạn tình ái kèm theo ảnh chụp. Về cách dựng truyện, trước khi viết, tôi hồi tưởng lại cuộc tình của mình, sau đó tôi sắp xếp các sự kiện, các chi tiết để cho chúng xuất hiện theo một thứ tự nào đó mà tôi thấy là “hết xẩy”. Tôi thường đảo lộn trật tự, cắt đổi thời gian, hoán chuyển không gian. Khi viết, tôi cố gắng tôn trọng sự thật tới mức có thể được. Thứ nữa, thêm một điều quan trọng: Độc giả chỉ muốn đọc một truyện hay chứ không nhất thiết phải là truyện thật một trăm phần trăm. Họ cóc cần, có thể nói thẳng ra như vậy. Thế nhưng nếu hư cấu quá trớn, truyện viết thấy “xạo” rõ ràng thì độc giả cũng chịu đời không thấu. Xem xong nàng khẽ thở dài, người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?
Khi viết anh quan tâm điều gì nhất? Chủ đề? Hình thức? Anh hạ bút viết thẳng một lèo hay đứt rồi lại nối, cần một chỗ yên tĩnh, nghe nhạc, uống rượu, hút thuốc lá?
Có những truyện tôi viết suôn sẻ, có truyện viết xong tôi xé hết, viết lại từ đầu. Tôi viết chậm, có thể nói là rất chậm, sau đó là đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại, có khi thời gian sửa còn nhiều hơn cả thời gian viết. Không hiếm những lần tôi sửa tới sửa lui sửa xuôi sửa ngược một câu cho chán chê rồi cuối cùng trở lại giữ câu đầu tiên viết ra. Khùng thiệt! Tuỳ cảm hứng, có khi tôi viết cho tôi, nhưng phần lớn là tôi viết cho người đọc. Khi sửa chữa bản văn, tôi đặt mình vào địa vị người đọc, tôi sửa tới sửa lui, đọc đi đọc lại nhiều bận rồi tự hỏi: Liệu đọc như vầy đã sướng chưa? Cái cảm giác chung chung mà tôi đón nhận được ở những người đọc truyện của tôi là “đã”. Đọc thấy đã (sướng ran!). Như đã đời! Như nuốt vô thấy đã. Nhậu biết đã. Gãi đúng chỗ ngứa, đã quá đã! Nhứt gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu. Đã ơi là đã! Tui nói thiệt đó cô Hai. Cô cứ thử đi thì biết.
Hầu hết những người phê bình sáng tác của tôi đều đi tới cùng một nhận xét chung chung: Kiệt Tấn sống thật, viết thật. Kiệt Tấn sống hết mình, viết hết mình. Và Thuỵ Khuê đã chung kết nhận định: “Cung cách đặc biệt dấn vào văn chương như thế, mấy khi chúng ta gặp được.” (Tuyển tập, tr. 499)
Bên cạnh cái cảm giác đãcười. Khi theo dõi truyện của tôi, bỗng phát bật lên cười một tiếng. Có nàng cho biết đã bị đấng ông chồng yêu dấu chất vấn: “Bộ khùng tới nơi rồi hả? Sao khi không phát cười khơi khơi một mình vậy?”. Dẫu cho truyện tôi viết có kết cuộc không khá, kết cuộc không có hậu, kết cuộc buồn hiu buồn hắt đi nữa thì vẫn cười hoặc mỉm cười lai rai suốt khi đọc truyện. Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ!
Những nhà phê bình đều cùng nhau đi tới chung nhận xét: Kiệt Tấn dí dỏm, hóm hỉnh, tinh nghịch. Rất tiếc chưa có ai viết một bài đặc biệt có dẫn chứng về điểm này cho vui nhà vui cửa. Theo chỗ tôi nghĩ, trong đời sống, nụ cười giải toả được rất nhiều chuyện rắc rối, loạn tâm, nhức đầu, táo bón. Tôi rất nghi ngờ, dị ứng và sợ run sự nghiêm chỉnh. Một điều hiển nhiên: bộ mặt đạo đức giả bao giờ cũng phết lên mình một lớp sơn nghiêm chỉnh. Ai không đồng ý điểm này xin hãy thay bộ đồ lớn, thắt cà vạt đen, giơ cao tay lên và đứng dậy bước lên bục gỗ lớn tiếng phản đối… một cách nghiêm chỉnh! Một cách nghiêm chỉnh, please! S’il vous plaît! Yakitori! Phần tôi, tôi xin được phép bận xà lỏn rằn, ngồi tại chỗ, giơ cao tay lên và đứng dậy… dết toa lô, dô toa lết. Sorry! Désolé! Hara kiri!
Khi dựng và viết truyện, anh chú trọng phần nào nhứt? Phần đầu, phần giữa hay phần cuối?
Khi thực hiện Tuyển tập Kiệt Tấn, tôi bắt buộc phải đọc lại hầu hết các truyện mà tôi đã viết ra. Nhứt là với những truyện đã được tuyển chọn, tôi phải dò tới dò lui để sửa chữa từng chữ một, hoặc để bổ túc hay cắt bỏ một vài chỗ, một vài đoạn mà mình không ưng ý. Trong lúc đọc lại các truyện viết của mình, tôi không khỏi ngạc nhiên khi nhận thấy phần lớn cách dựng truyện với nhiều đề tài khác nhau của tôi, dù không cố tình, cũng có điểm giống nhau chung chung. Đó là cách thức vào truyện và phong cách ra khỏi truyện. Mở đầu, bằng một hình ảnh loá choá, tôi thường ném độc giả thẳng vào cuộc tình hay câu chuyện sắp được kể, đâu khoảng giữa chừng, khiến cho độc giả hoang mang không biết chuyện gì đã xảy ra trước đó, để rồi tò mò theo dõi, chờ đợi được giải thích, sự lôi cuốn đã được tạo nên. Rồi câu truyện được kể ra, không nhứt thiết theo thứ tự thời gian. Tôi sử dụng rất nhiều hình ảnh, rất nhiều sự kiện, rất nhiều chất sống thực, rất nhiều trải nghiệm, nói tóm rất cụ thể. Phần kết thúc, tôi thường đưa độc giả ra khỏi truyện bằng một xúc động. Cái cảm giác mà tôi muốn để lại cho người đọc là một nỗi bâng khuâng, man mác, có khi là một chút ngậm ngùi, tiếc nuối, có khi là một hoang mang, nghi vấn. Truyện tôi viết hiếm khi có kết thúc vui, một happy ending. Ý thì vậy nhưng không biết là tôi có tạo được xúc động mong muốn hay không, ngòi bút tôi có dẫn dắt độc giả vào những vùng cảm giác đó được hay không. Một đôi lần, có người cho biết là sau khi đọc xong truyện tôi viết đã ngùi ngùi sa nước mắt. Còn tôi thì khi viết, tôi đã nhiều lần khóc nghẹn ngào, đành phải buông bút ôm mặt khóc ngất. Hoài niệm thương động. Ôi! Những hoài niệm thương động! (Cúi mặt, bùi ngùi)… Theo cảm quan của tôi, sau khi đọc xong bất cứ một truyện nào đó, điều đáng kể là một chút cảm giác khó quên, một chút ám ảnh khôn nguôi, một chút không khí lạ lùng, một chút ấn tượng nhớ hoài còn sót lại ở người đọc. Truyện viết được như vậy mới có thể gọi là thành công, là “đạt“. Bởi lẽ đó nên khi cầm bút, tôi viết theo cảm quan của tôi, tôi viết theo tính khí của tôi chớ tôi không viết theo một chủ trương nào hết, cho dù chủ trương đó mới toanh hay cũ mèm.

Anh viết rất ít về tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của chính đàn bà? Bà nào cũng đồi núi chập chùng, cỏ hoa tưng bừng rậm rạp, động hang thăm thẳm nhưng nhịp đập trái tim và sóng gió tâm hồn họ ra sao ít ai biết? Chỉ thấy họ rất dễ thương, nhiều tình cảm, chất phác, mộc mạc, nhất là… dễ tin. Nhưng đó cũng chỉ là cảnh trí bên ngoài. Anh có thấy vậy không? Thật sự anh nghĩ sao về họ?
Đàn bà… Lại đàn bà! (Gật gù, đầy vẻ cảm khái)
Nghĩ sao về đàn bà?“, cô Hai hỏi chi khó vậy? Có câu nào dễ hơn không? Chẳng hạn đàn ông gặp đàn bà nơi thanh vắng thì làm cái gì? Hoặc: Thấy người đàn bà mặc áo hở ngực rộng có đôi vú lớn thì Kiệt Tấn ngó cái gì trước? Ôi thôi! Thiếu gì những câu hỏi dễ ợt, sao cô Hai không chịu hỏi? Lại đi hỏi “nghĩ sao về đàn bà?”. Là giết đời nhau đấy biết không? Nhưng giờ đây cô Hai đã trót quăng câu hỏi nhớn lên không trung rồi thì tui cũng phải cố gắng động não để giả nhời sao cho lọt lỗ tai cô Hai: Trước nhứt, tôi đến với đàn bà không bằng trí tuệ, cho nên hỏi tôi nghĩ sao về đàn bà thì tôi đành quăng khăn lên đài chịu thua. Tôi đến với đàn bà bằng đam mê, bằng rung động, bằng linh tính và bằng năm giác quan trời cho: Thấy, nghe, sờ, ngửi, nếm. Y chang như loài thú vậy. Có đi thực tế mới hiểu được lòng dân. Bằng không thì chỉ nói khơi khơi về đàn bà, hư cấu khơi khơi về đàn bà mà chưa hề đụng tới một sợi lông, một sợi tóc nào của nàng hết. Như thầy tu chính cống mà lại đi thuyết pháp về đàn bà thì nhứt định phải hỏng bét là cái chắc!
Sờ nếm nghe thấyđàn bà? Vẫn rất là cụ thể! Vẫn rất là thể xác. Anh xác nhận đến với đàn bà không bằng trí tuệ, mà bằng đam mê, bằng rung động, bằng linh tính và bằng năm giác quan trời cho: Thấy, nghe, sờ, ngửi, nếm. Y chang như loài thú vậy.
Vì sao? Vì theo tôi, chỉ có cách đó mới thực sự xâm nhập được đối tượng và thực sự thấm nhập được tâm trạng người nữ …
Thấm nhập được bên trong bằng sờ bên ngoài: nghe ra cũng rất là… tụng ca thân xác; rồi thì sao ạ? Người đàn bà nào cũng chỉ duy nhất lồ lộ, dày dày một thể xác? Mà về thể xác ấy, độc giả cũng không nghe thấy anh hỏi như ai kia cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?“. Những người nữ của anh hình như là những con búp bê tội nghiệp, yếu đuối và… nạn nhân. Bộ anh không có ý nghĩ nào về đàn bà siêu hơn một chút?
(Ngần ngừ). Thiệt khó mà diễn tả được rốt ráo những gì tôi nghĩ về đàn bà. Mà nghĩ lại, thiệt tình có bao giờ tôi nghiêm chỉnh bóp trán nghĩ ngợi về đàn bà đâu! Tôi chỉ biết ham sống. Tôi chỉ biết si tình và đam mê đàn bà. Nhưng sự ràng buộc mật thiết giữa tôi với đàn bà nó kỳ lạ lắm. Nó vượt ngoài lý luận, ngoài phân tích. Tôi không diễn tả nổi!
Anh thú nhận là không nghiêm chỉnh suy nghĩ về họ, nhưng nếu chẳng diễn tả nổi thì anh cứ thử nói đại coi. Tuy nói vậy chứ anh hãy thận trọng, nhiều nhà nữ quyền đang dòm chừng anh đó. Coi như đây là câu hỏi thách thức: về đàn bà, dường như anh chỉ biết yêu cái thể xác, còn về cái tinh anh? Có ai thấy anh viết về nỗi đau, ước mơ hay nhu cầu, hoài bão, khó khăn của họ trong đời sống? Và nếu đàn bà mặt mũi xấu xí, ngực lép, mông teo hoặc quá dữ dằn, quá trí thức, hoặc đòi được yêu toàn diện thì anh… tính sao?
(Cười cười): Nói đại? Chết bỏ! Lại mấy bà nữ quyền! Mấy bà dòm chừng thì có dòm chừng thiệt đó, nhưng “ngó thấy” thì chưa chắc đã ngó thấy được cái gì. Các bà nữ quyền có cái quyền của người nữ, thì cứ tha hồ phất cờ khởi nghĩa đòi cái quyền của mình. Tôi không có quyền gì hết ráo, bởi lẽ đó muốn giành quyền với tôi cũng khó lắm thay! Lạ lắm: khi đàn ông chúng tôi mó tới các bà là các bà la toáng cả lên: nào là đồ lợn lòi, chỉ biết ham muốn hành dục với đàn bà, thứ đồ mắc dịch! Nhưng thử tưởng tượng, một ngày đẹp trời nào đó, nhờ ánh sáng Phúc Âm chiếu rọi, bọn lợn lòi chúng tôi hết còn ham muốn mó tới các bà nữa thì chừng đó các bà chỉ còn nước rút khăn mù soa ra mà lau lệ thương tiếc cho thời đại vàng son đã mất. Rồi đây các cô gái già biết đổ đâu cho hết! Đổ xuống sông sấu chê, đổ xuống biển cá mập lắc đầu! A, vẫn còn câu hỏi thách thức: Về đàn bà, dường như anh chỉ biết “yêu” có cái thể xác? Với tôi, cái thể xác của người nữ là để ôm ấp, thưởng thức và chung vui. Còn cái “tinh anh” là để chiêm ngưỡng, trân quý và duy trì liên hệ. Nếu cứ đem cái tinh anh ra mà “blablaba” thì cũng chỉ là bói mò, tán hươu tán vượn để kiếm điểm với các nàng (hầu kiếm chút cháo?)… Trong truyện tôi, qua các cuộc đối thoại và hành xử của các nhân vật nam nữ, người ta cũng có thể đoán biết được cái “tâm tình” và cái “tinh anh” của các nàng. Bởi lẽ nếu đem cái linh hồn ra mà cắt xẻ cho “banh xà rông” thì còn chi là nghệ thuật? Còn hỏi tôi tính sao với mấy bà “xấu xí, ngực lép, mông teo”? Nói gần nói xa chi cho mệt. Mẫu người đó tôi không có cơ hội xáp vô nên chưa hề bị đòi yêu trí thức, hoặc “yêu toàn diện”. Vì vậy tôi chưa biết “giả nhời sao cho phải lẽ”. Phải hỏi lại thằng bé. Thằng nhớn tuy hết sức xuề xoà nhưng ngược lại thằng bé vô cùng khó tính. Nhiều khi “trên” bảo mà “dưới” nó cứ nhứt định không nghe. Cứ gục mặt “Em chã! Em chã!” Thiệt là kẹt! “Giờ thì cũng yêu mà yêu… yếu xìu!
Hình như anh dùng những luận điểm luận cứ rất chung chung, y như lúc phòng trào nữ quyền phát triển trong những năm 70 thế kỉ 20. Khi các nhà nữ quyền… phất cờ ở phương Tây, các ông Tây cũng phản pháo bằng từng ấy lời phê (vu cáo). Nói như thế là giản tiện hoá vấn đề.
Nếu các bà nữ quyền cứ nằng nặc “Em chã! Em chã!” hoài thì sẽ có ngày: đi đâu mà chẳng lấy chồng? Người ta lấy hết, chổng mông mà gào. Mở ngoặc, một giai thoại: bữa nọ một cô gái già từ lâu sống một mình, lén gọi điện thoại đến bót cảnh sát nhờ ông cò tới bắt hai cha con thằng ăn trộm đang trốn dưới gầm giường của mình. Cô dặn thêm: “Ông nhớ chỉ bắt thằng cha già thôi nghe, còn thằng nhỏ để lại cho tui”. Đóng ngoặc.
Trở lại tiết mục “đàn bà”. Hồi đầu, Nguyễn Hưng Quốc đã nói lai rai về ba cái tình dục của Kiệt Tấn rồi. Giờ xin để cho kép Đoàn Nhã Văn lên tiếng giùm tôi. (Lật lật Tuyển tập). Đây nè, trang 16: “Với ông (Kiệt Tấn), đàn bà là cả một thế giới bí mật. Con gái cũng vậy. Càng nhỏ tuổi càng bí mật. Nhưng khi lớn lên, các nàng lại tăng thêm bí mật một cách khác (EOBDT, tr. 40). Càng bí mật, ông càng nhứt mực tôn thờ. Ông đến với họ như một thứ tôn giáo của riêng ông, mà ở đó đã mở ra những đắm đuối, say mê, cởi mở, hạnh phúc, hừng hực, dập dồn, xốn xang, xao xuyến, thèm thuồng, quyến luyến v.v… Và ông bơi lội trong vùng không gian này thoả thích. Thiếu họ, ông mất quân bình, như một bình điện hết hơi, nằm cú rũ, phế thải.” Ổng nói tôi tôn thờ và ghiền đàn bà như vậy đó, chịu chưa?
Trở lại chuyện này, tôi xin trích dẫn tiếp theo: “Ông viết về họ là muốn cho họ sống lâu dài trong lòng độc giả bằng một sự trân trọng của mình. Ông minh định một điều: ‘Tôi không thể yêu một người đàn bà không có thân thể. Thứ đến, tôi không tách rời nhục cảm ra khỏi tình yêu chớ tôi không nhìn đàn bà với con mắt thuần nhục cảm (EOBDT, tr. 70)’.” Sao? Vừa lòng chưa cô Hai?
Dạ thưa chưa. Ai dám đòi anh tách rời nhục cảm ra khỏi tình yêu bao giờ đâu! Dĩ nhiên, yêu ai cũng vậy, yêu tôi, tôi cám ơn vì tôi sẽ… cất hết vô túi!! Yêu kiểu đó thì ai (ông nào) lại không ham! Yêu nhiều ở đây là nhiều người (cùng một lúc – như hai bà đầm đụng độ thời anh ở Canada! Thiệt anh đúng là… đào hoa nước Việt. Nôm na thì là… anh chắc cầm tinh con… dê!
Ạ! Ạ… Thì ra cô Hai vẫn chưa chịu tin mấy qua là người lớn tuổi. Nhưng không tin lời đàn ông nói thì chẳng lẽ lại không tin lời đàn bà luôn sao? (Lật lật Tuyển tập). Thì đây nè, trang 491-492 đào Thuỵ Khuê viết: “Tôi không chắc thứ tình Kiệt Tấn đối với đàn bà chỉ là tình yêu, mà còn đa mang, pha trộn giữa yêu thương, đam mê, ham muốn và che chở. Qua cái vỏ ngoài có vẻ sống sượng, trần truồng của ngôn ngữ, bên trong ấp ủ một tình yêu dịu dàng, êm ái. Tiếng Pháp có chữ tendresse, tôi không tìm được chữ tương tự trong tiếng Việt, để chỉ cái tình yêu của Kiệt Tấn đối với đàn bà: Âu yếm đã đành, mà thắm thiết cũng chưa gói tròn hết nghĩa. Kiệt hay Kiệt Tấn ngó đàn bà trong trạng thái nguyên thuỷ (không quần áo), với con mắt một hoạ sĩ trước vệ nữ khoả thân: Ông trân trân nhìn cái đẹp. Sự thèm muốn trước cái đẹp thể xác là điều tất đến như đói thì ăn, khát thì uống, không có gì xấu xa, không có gì cần phải che đậy, thật thà và hiện hữu như những nhu cầu chính yếu của con người.” Qua lời phân tích của Thuỵ Khuê và Đoàn Nhã Văn, tôi cũng không dè tôi yêu, tôi mê, tôi ghiền đàn bà tới mức kỳ cục như vậy nữa. Giờ đây, sau phần trình bày, tôi để cho cô Hai tự nghiền ngẫm mà suy ra “cái nghĩ” của tôi về đàn bà. Thôi, tạm ngưng trình diễn cái tiết mục đàn bà ở đây. Đã câu giờ nhiều quá rồi. Cô Hai hỏi giùm cho câu khác.
Dạ, thì đành phải hỏi câu khác tuy vẫn còn ấm ức. Và vì ấm ức nên xin hỏi thêm: Đặc biệt đối với người đàn bà của Kiệt Tấn: Ánh, người yêu nữ sinh. Anh hãy nói đôi chút về người ấy.
Suỵt! Suỵt!… Cô Hai hỏi chi mà kẹt tôi quá vậy? Bộ tính làm khó dễ đàn anh văn nghệ đó hả? (Xuống nhỏ giọng). Mà tui có lỡ thành thật khai báo gì về nàng rồi thì cô Hai cũng đừng có méc lại với bả nghe. Cô Hai hứa với tui đi.
Thì xin hứa. Mai mốt báo tới, anh giấu chị ấy. Dễ ợt!
(Sau khi ngẫm nghĩ hồi lâu). Ánh, bà xã tôi, là mối tình duy nhứt mà kết cuộc có hậu. Còn những mối tình kia, những Hoa những Tuyết những Diane những Louise, những Danyèle những Nguyên những Hường… đều đi trớt quớt hết. Mà giả như những mối tình lăng nhăng này kết thúc bằng “hai mái đầu xanh chung một túp lều lý tưởng” thì có thể giờ này tôi đã trở thành ông chủ bến đò bụng phệ, hoặc đã mở tiệm cà phê, mở quán bán hủ tiếu, bán bia ôm, bán nước dừa, mở tiệm cắt may hoặc trở thành mục sư, mở nhà chứa lén hay là cái chi chi nữa đó, tôi cũng không rõ.
Không rõ vì rất có cơ may anh sẽ là tất cả các thành tựu nói trên: chủ đò kiêm chủ quán bia ôm & cà phê kiêm chủ tiệm hủ tíu & tiệm may, chủ chứa vân vân? Vì sao đây là cuộc tình có hậu? Chị Ánh có những đường nét, cá tính nào đã khiến anh dừng bước giang hồ trái tim đa mê?
Ngoài những mối tình đầu với những bà-già-quê-hương, thiệt ra Ánh mới thực sự là mối tình đầu của tôi chớ không phải là Hoa. Tôi chíp Ánh từ thuở tôi còn học lớp đệ tứ, 15 tuổi. Còn tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba… Sau khi đậu xong tú tài 2, lúc 18 tuổi, tôi mới tỏ tình với Ánh và được nàng mở rộng vòng tay đón nhận… kẻ bạc tình. Tôi bạc tình Hoa. Lúc ấy Ánh có mái tóc đẹp và đôi mắt to đen, nhưng gầy lắm. Tôi thường hát tán tỉnh “Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy…“. Có lẽ thời đó tôi còn thích gặm xương. Chớ nếu như thời đó mà tôi mê mấy cô vú bự như bây giờ thì chắc chắn là mộng sẽ không thành.
A, ra là vậy… Mối tình đầu cũng là tình cuối (?… Dấu chấm hỏi này lơ lửng vì nghe đâu dạo này anh hay bay về Việt Nam, những Hoa, những Tuyết, Hường… bây giờ nhiều, trẻ đẹp, và lắm cô cũng rất cần được thương yêu, che chở!) Biết đâu anh sẽ có dịp… tái bản những cuộc tình trong một hoàn cảnh hậu hiện đại, hậu chiến, hậu hoà bình… Tha hồ mà “sờ mó chiêm nghiệm sự thật… Chết, lạc đề rồi! Xin trở lại cuộc tình có hậu. Kể ra thì anh đã thầm yêu trộm nhớ Ánh suốt ba năm liền. Nhưng sau khi kết tình với Ánh rồi thì thấy coi bộ anh… tỉnh bơ như chưa bao giờ… cưới vợ? Ra đường anh hãy còn ngon, về nhà anh đã lội non mấy lần!
Thì tôi vẫn tiếp tục… bạc tình (Dụi dụi mũi). Cùng lúc bắt bồ với Ánh, tôi lại cặp với Tuyết bán quán. Tình với Ánh thuộc loại tình phẳng lì, platonique, ngược lại tình của tôi với Tuyết thuộc loại tình áp rún đổ mồ hôi hột, tình lăn lộn trên bãi cỏ, tình ôm nhau ra rít trong nhà đêm đêm. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, có thể đó cũng là một điều may mắn cho Ánh. Sau này, thỉnh thoảng tôi có nói với Ánh: “Em nên cám ơn cô Tuyết, vì Tuyết đã dang thân ra đỡ đạn giùm em, Tuyết đã chịu trận sự ham muốn tình dục của anh ở thời mới lớn. Nếu không có Tuyết, anh sẽ trút hết dục tình lên em thì chắc là em đã bỏ chạy có cờ”. Và Ánh đã gật đầu tán đồng.
Xin lỗi lại hỏi anh lần nữa chuyện đời tư: hình như chị không đọc truyện của anh hoặc chị không ghen với những gì có thể đem lại hứng cho anh tiếp tục viết?
Ánh vốn thuộc nòi chung thuỷ, còn tôi thì vốn có máu không được chung tình gì cho lắm. Dĩ nhiên là làm khổ nàng ngất ngư. Chết đứng chết ngồi nhiều phen. Tình yêu của Ánh rất sâu đậm, đằm thắm, chịu đựng và bền bỉ, thương chàng phải luỵ cùng chàng. Còn nhớ lúc tôi vào bệnh viện tâm thần lần thứ hai ngót ba tháng, trưa nào Ánh cũng tất bật phóng xe vèo vèo vào bệnh viện để được lên giường nằm song song bên cạnh mà thoi thóp với tôi cho đủ cặp uyên ương. Các cô y tá thỉnh thoảng ghé mắt vào buồng không khỏi ngạc nhiên, không biết ai là người thăm nuôi, ai là con bịnh thiệt.
Hồi ở Việt Nam, khi ra đường Ánh thường vái trời cho đừng bắt gặp đấng lang quân chung tình của mình đang cặp kè với một yêu nữ, bởi lẽ thịt da ai cũng là người, lẽ nào hồng rụng thắm rời chẳng đau? Bận nọ, một bà chị dâu điệp viên của tôi báo cáo với Ánh là tôi có bồ và rủ nàng đi bắt ghen. Ánh sợ xanh mặt, khoát tay lắc đầu lia lịa. Thà chết sướng hơn!
Thảo hèn nào, bây giờ thì bạn đọc sẽ không còn thắc mắc sao chị Ánh để yên cho anh viết những truyện tình nhăng nhện của anh. Viết thiệt kỹ, viết tận tường, đầy đủ hết, không thiếu một món nào, như thể làm báo cáo cho chị…
Có lẽ nên hỏi bà xã tôi thì hơn. Nhưng theo chỗ tôi nghĩ, những chuyện tình của tôi, tôi đã kể cho Ánh nghe hết rồi, nàng đã biết hết từ khuya. Có khác chăng là giờ đây tôi viết ra trên giấy trắng mực đen như một tờ tự thú. Mà tôi thì có tật không quen nói dóc, viết dóc. Vả lại cũng chớ nên lo lắng cho nàng lắm. Vì “Bụt chùa nhà không thiêng“, bởi lẽ đó nên ít khi nàng ghé mắt vào sách của tôi mà khán binh thư.
Có lẽ chị lí luận: chuyện đã qua, ma nữ đã lặn hết, chỉ còn lại chàng Kiệt! Trở lại câu hỏi về bạn bè. Anh cho biết những người bạn tâm đắc là ai? Đề tài những cuộc nhậu: Cuộc đời? Văn chương?
Như đã nói, tôi vốn không có bạn văn nghệ văn gừng. Cũng không thích bàn chuyện văn chương. Hồi ở Việt Nam trước 75, tôi cũng chẳng viết lách được bao nhiêu, phần lớn là lách nhiều hơn là viết. Đi nhậu nhẹt và trai gái vui hơn. Cái gì khiến tôi suy nghĩ về cuộc đời? Thì cái đó chính là cuộc đời chớ chẳng có cái gì khác hơn! Với tôi, người ta sinh ra ở đời là để sống, mọi thứ khác chỉ là bày đặt. Còn văn chương hay nghệ thuật? Tôi chẳng dành cho nó một vị trí đặc biệt nào cao hơn hoặc thấp hơn trong đời sống. Nó chỉ là một sinh hoạt cũng như mọi sinh hoạt khác của con người, vậy thôi. Với tôi, đời sống bao trùm văn chương nghệ thuật chớ không phải văn chương nghệ thuật bao trùm đời sống. Bởi vậy khi nghe ai đó đánh trống dọng chuông ì xèo quanh văn chương nghệ thuật và đặt nó lên bàn thờ mà quỳ mọp, tôi rất lấy làm khó chịu. Vừa phải thôi chớ! Nhờ anh tí! Việc gì mà phải nghiêm trang và long trọng đến thế?
Vậy theo anh, cái gì quan trọng trong đời sống?
Từ lâu, tôi đã đi tới ý nghĩ sau đây: “Trong đời sống cái gì cũng quan trọng. Nhưng nghĩ cho cùng, cũng chẳng có cái gì quan trọng“. Tôi xin nói rõ, ý nghĩ của tôi có hai mệnh đề chớ không phải chỉ vỏn vẹn có một mệnh đề là “trong đời sống chẳng có cái gì quan trọng”. Có bí hiểm lắm không?
Trong thời chiến tranh, anh viết Điệp khúc tình yêu và trái phá với tâm trạng như thế nào?
Trong thời chiến tranh Mỹ-Quốc-Cộng (1954-1975), ngay tại Sài Gòn, đảo chánh chỉnh lý liên miên, xuống đường và hít lựu đạn cay như ăn cơm bữa, chính khách xôi thịt thì trơ mặt mo ra mà giành ăn. Tôi viết Điệp khúc tình yêu và trái phá trong tâm trạng phẫn nộ. Phẫn nộ! Phải, phẫn nộ.
Bây giờ nhìn lại Điệp khúc tình yêu và trái phá, anh nghĩ gì? Hình ảnh Kiệt Tấn ngày đó khác với bây giờ như thế nào, ở chỗ nào?
Điệp khúc tình yêu và trái phá xuất hiện vào thời điểm chiến tranh khốc liệt, trong môi trường lửa đạn dai dẳng ở Việt Nam. Thời đó đã qua, tôi không muốn khơi lại nữa. Về hình ảnh tác giả khác nhau như thế nào à? Dễ ợt! Điểm nổi bật nhứt: Kiệt Tấn bây giờ già hơn khi xưa rất nhiều, đó là cái chắc! Còn nghĩ gì? Tôi cố gắng không nghĩ tới, hay không muốn để ý tới chiến tranh. Như vậy tốt hơn. Tốt cho sức khoẻ, đỡ nhức đầu mà cũng chẳng làm được gì hết ráo.
Còn chiến tranh à? Thì từ thuở còn lông lá sù sụ ở trong hang động có đốt lửa ấm cho tới thế kỷ 21 ngày hôm nay rụng gần hết lông và ở trong nhà có gắn máy lạnh này, con người có ngớt đánh nhau bao giờ đâu? Chỉ có vũ khí thì càng lúc càng tinh vi, chớ còn lòng người thì trước sau vẫn vậy, vẫn tham lam, vẫn gây hấn, vẫn xuẩn ngốc. Trên mặt đất này chưa thấy có loài nào tìm cách giết và tiêu diệt đồng loại kỹ như con người. Vậy mà là “đỉnh cao trí tuệ” đấy! Đừng có giỡn mặt tử thần! Mẹ rượt! Bởi lẽ đó, lúc cuộc chiến Việt Nam sắp kết thúc, trong vài năm cuối cùng còn lại, tôi đã lấy một quyết định sáng suốt: bỏ làm thơ tình yêu và trái phá, quay sang làm thơ bia ôm và trái cóc. Vui hơn là cái chắc!
Bia ôm đã có từ dạo ấy rồi ư? Không phải nó xuất hiện sau tháng Tư 1975?
Hình như vào 1970, 1971 gì đó. Sau “giải phóng”, khoảng 75 đến 85 làm gì có bia để mà tu và làm gì có em để mà ôm? Hoặc giả có bia thì phải uống lén, có em thì ôm lén, có “xúc cát” thì cũng phải “xúc cát” lén. Cả thịt heo, nếu có cũng phải ăn lén! Tới lúc “đổi mới” (lấy cũ) năm 1989 thì mấy em mới lai rai được phép hành nghề trở lại. Và bây giờ thì không chỉ phải có bia ôm mà thôi. Bây giờ cái gì cũng đều “ôm” hết ráo!
Bây giờ nhìn lại, anh nhớ tiếc điều gì của thời đó? Cái đau khổ rất Romantique (Anh trai thời loạn)? Tuổi thanh niên?
Nhìn lại, tôi chẳng thấy tiếc nuối một điều gì hết, ngay cả tuổi trẻ của mình. Thời buổi gì mà bầm vập như vậy, nhưng đó là lẽ trời, biết làm sao mà cãi bây giờ? Chẳng lẽ hát tuồng “con kiến mà kiện củ khoai”? Còn nhớ những gì? Cái đó còn tuỳ. Nhưng nói ra sợ vợ nhà cho ăn đòn. Đối với tôi chẳng có anh hùng và chẳng bao giờ tôi chiêm ngưỡng anh hùng hết ráo. Toàn là phỉnh gạt và ba xạo. Cái ba xạo chết người.
Hỏi tôi về đau khổ? Cái đau khổ nào cũng đều đau (đau lắm!) và cũng đều khổ (khổ lắm!) Anh, trai thời loạn (hề!); Héros romantique! Người hùng lãng mạn! Mấy em gái hậu phương nghe tới tên người ắt phải rụng rún. Đã làm anh hùng mà còn đèo thêm lãng mạn nữa thì chỉ có nước chầu Diêm Vương sớm!
Anh theo dõi và biết rất rõ về tình hình chính trị thế giới và cả Việt Nam, anh vẫn nói tình dục là hơi thở của đời sống“, nhưng còn chính trị? Chính trị có là hơi thở của đời sống?
Nói rằng tui “biết rất rõ về tình hình chính trị thế giới và cả VN” thì tội nghiệp tui lắm cô Hai. Vô tình cô đã xô tui vào “vũng lầy của chúng ta”, tui sẽ phản đối trước Liên Hiệp Quốc tới cùng.
Tình dục là hơi thở của đời sống“. Ờ! Gì chớ cái đó thì quả nhiên tôi có nói. Một điều rất rõ rệt, sờ sờ trước mắt: Tình dục ban cho ta hơi thở đầu tiên và tình dục cũng cho phép ta ban hơi thở kế tiếp, và vân vân, cứ thế mà làm. Sự tiến hoá đã xui khiến đất trời bày ra âm dương, đực cái, nam nữ, đàn ông đàn bà, lấy tình dục làm phương thức sinh sản. Nếu bây giờ đột nhiên tình dục biến mất trên mặt đất này thì sẽ có rất nhiều loài tắt thở, trong đó có phe ta: Loài người.
Còn chính trị? Theo tôi nghĩ, chính trị phát xuất từ nhu cầu sống xúm xít của con người. Xúm xít rồi thì chia phe, chia nhóm, chia bè, chia đảng: Chính trị phát sinh. Có tình dục thì đời sống có cơ tiếp tục. Có chính trị thì đời sống có cơ tiêu diệt. Bằng cớ: Thế chiến thứ nhứt, thế chiến thứ hai. Chưa hết. Năm 1962, Nga Mỹ kình chống, Kennedy và Khrouchtchev chơi trò chính trị thượng tầng và dùng vũ khí nguyên tử để thấu cáy nhau, thiếu chút nữa đã đẩy loài người vào con đường huỷ diệt tập thể, đưa tới cơ hoạ tuyệt chủng, và muôn loài khác cũng bị vạ lây. Vì vậy, nói rằng “Chính trị là hơi thở của đời sống” tôi nghi ngờ lắm, và quyết cự nự cho tới cùng. Chính trị từ xưa tới nay, theo tôi, là một tai hoạ chẳng đặng đừng đặc thù của loài người.
Chính trị có lẽ còn là cách thức tổ chức đời sống sao cho hài hoà sung sướng, khỏi tranh chấp, chiến tranh v.v… nhưng không lẽ chúng ta lại đi định nghĩa chính trị ở đây? Câu hỏi là sống đời thi sĩ cách nào trong một hoàn cảnh chính trị đảo điên, ngoài tác phẩm (Tình yêu và trái phá) một công dân thi sĩ (đã) có thể làm gì khác?
Tôi không biết thế nào là một công dân thi sĩ. Theo tôi, công dân và thi sĩ là hai ý niệm tách biệt nhau. Đã là công dân thì phải thi hành bổn phận công dân. Tới tuổi quân dịch thì đi lính đánh giặc. Dĩ nhiên cũng có thể trốn quân dịch hoặc đào ngũ, nhưng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn sự chọn lựa của mình.
Còn thi sĩ? Muốn đáng được gọi là thi sĩ thì phải làm thơ cho ra hồn. Thi sĩ chẳng có đặc ân hay đặc quyền gì trong chiến tranh hết ráo. A lê hấp! Cũng nón sắt, ba lô, giày đinh và ắc ê như mọi người. Lạng quạng là hít đất, là phạt dã chiến. Tuy nhiên, cũng có thể vừa đánh giặc vừa làm thơ, có sao đâu. Nhưng coi chừng, nếu rủi ro trúng nhằm số con rận hay lơ mơ không biết ẩn núp là sẽ bị bể gáo như chơi. Nếu may mắn còn sống sót thì lấy bút lấy giấy ra mà mần thơ tiếp tục. Như Quang Dũng thời kháng chiến Pháp-Việt chẳng hạn: Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến, Quạnh vắng chiều sông lạnh bến Tề (…) Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành (…) Hoặc gần đây hơn, Tô Thuỳ Yên trong cuộc chiến Mỹ-Việt: Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc, Trong vết thương người bạn nín rên. Người chết mấy ngày chưa lấy xác, Thây sình mặt nát lạch mương tanh… Hoặc một Lâm Hảo Dũng giận điên người: Mai ôm đầu mộ dăm thằng chết, Hát lại bài ca hận chiến trường. Lúc điên muốn bắn dăm ba phát, Cho đã tay cò lãng việc quân. Muốn làm thơ chiến tranh thì phải có kinh nghiệm chiến trường, như vậy thơ mới đạt. Lỡ có gục ngã ngoài trận mạc thì đành thôi chứ biết làm sao bây giờ? Chết bỏ! Trời kêu ai nấy dạ. Chết bỏ! Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?
Nghĩa là một con người là con người sống trong xã hội, vừa làm công dân vừa làm thi sĩ, hay bác sĩ kiêm nhạc sĩ, chẳng có gì tách rời hay loại trừ! Cũng như… đàn bà con gái không phải chỉ có cái thể xác… Về điểm này, xin phép trở lại vấn đề tình dục với Kiệt Tấn. Vì nói gì thì nói, thấy Kiệt Tấn vẫn cứ còn lẩn quẩn bên bóng dáng, bên nhục thể, bên núi non, thung lũng của người đàn bà và nhất là chỉ để diễn tả cái đê mê của mình. Nhưng còn trong thâm tâm anh, anh nghĩ gì? Có bao giờ anh hỏi: còn ẻm, ẻm đam mê và sung sướng thoả mãn ra sao? Thoả mãn, đam mê ấy có xứng đôi vừa lứa với cái đê mê chết giấc của mình không?
Em Ba đã trót hỏi khó qua quá thì qua sẽ trả lời dễ ợt. Nói đến thoả mãn thể xác thì đành phải nói thẳng? Dĩ nhiên tôi không nói theo kiểu “Xúc cát trước bàn thờ”. Làm vậy kỳ chết!
Dạ, cám ơn, anh lịch sự với mấy em…
Em Ba thắc mắc tại sao tôi không đả động đến cái thoả mãn của người nữ trong truyện của tôi? Đọc kỹ lại đi, tại tôi chỉ nói loáng thoáng, nói tế nhị, bởi lẽ tôi tôn trọng người nữ…
Ô, I don’ t agree with you, cái này là dường như hơi… nguỵ biện! Anh mải lo nghe ngóng cái Tôi của mình…
Thiệt mà cô Hai, khi vầy cuộc, người nữ biểu lộ cảm giác của mình hơn người nam rất nhiều: môi lệch lạc, miệng rên rỉ, đầu vật vã, tay cào cấu, mắt mở hờ, tuy có mở thiệt đó mà… đã hết thấy đường! Không lẽ tôi đem hết mấy món này vào trong truyện và cho các nàng la toáng lên: “Sướng quá! Đã quá! Khoái quá! Chết em rồi? Ối làng nước ôi!”. Thì còn chi là nghệ thuật? Khi đó em bé hậu phương chắc chỉ còn nước độn thổ và không quên xỉ vả tôi là đồ thô bỉ trước khi lặn xuống dưới mặt đất.
Ha ha, xin ngắt lời anh Kiệt Tấn, anh có nhớ cái màn diễn tả xuất thần trong quán ăn của Meg Ryan trong phim Quand Harry rencontre Sally chưa? Dạ, thôi, không sao, xin anh nói tiếp, hấp dẫn quá… bí quyết của nhà văn Kiệt Tấn đây rồi…
Cô Hai hỏi tôi chớ cái khoái cảm của các nàng có xứng với cái đê mê của tôi hay không? Xứng làm sao được mà xứng! Nếu đem ra mà so sánh thì cái tột đỉnh (đôi khi rất nhiều đỉnh) của mấy em nó chập chùng như Hi Mã Lạp Sơn, còn cái đê mê của tôi (và của bọn đàn ông nói chung) thì ôi thôi, nó giống như núi Bà Đen hay là cái núi Sam núi Sập lè tè bên xứ ta vậy đó! Khi viết, tôi đâu có nhằm mục đích tả chân tả cẳng những giây phút tơi bời hoa lá đó làm gì. Nếu thiệt sự tôi muốn viết dâm thư? Ạ, cái đó thì khác! Bảo đảm báo Playboy sẽ không dám đăng. Vả lại, chỉ những người nữ đã có trải nghiệm cái tột khoái, cái orgasme, mới hiểu được tôi muốn nói gì. Còn những người nữ không may mắn, cứ bị bất mãn kinh niên về tình dục thì khi đọc truyện của tôi, sẽ cảm thấy khó chịu, ấm ức và tức anh ách. Bởi lẽ họ tưởng tôi là “con yêu râu xanh” chuyên môn tấn công và giày vò người tình của mình. Đối với họ, trong truyện, người đàn bà là nạn nhân, chỉ có thể cảm thấy đớn đau chứ không thể nào khoái lạc được – y chang như họ vậy, bất mãn kinh niên (Đàn bà mà biết khoái lạc à? Đồ nói dóc!) Bèn bất bình, bèn tức khí! Và vớ lấy ngọn cờ nữ quyền mà phất loạn xị…
Xin ngắt lời anh, và lập lại: lí luận này của anh (féministes = mal baisées: mấy bà (làm) nữ quyền (là vì) không được thoả mãn tình dục) nghe xưa quá rồi! Có những …
Tôi không có ý chụp mũ là các bà nữ quyền đều bị bất mãn tình dục, nôm na tiếng Tây là mal baisées. Tôi chỉ muốn nói các nàng bất mãn tình dục kinh niên khó thể có cảm tình với bọn đực rựa (vô tích sự!). Xin nói tiếp ý khi nãy. Các bà vừa phất cờ nữ quyền vừa la toáng lên “Ối làng nước ơi! Cái thằng Kiệt Tấn nó hiếp dâm con bồ của nó!”, hoặc hợp ca thống thiết bài Nữ quyền hành khúc: “Thằng Kiệt Tấn macho nó giành độc quyền, nó chửi, nó cấm nữ phái viết về tình dục!” Thiệt là ỳ xèo! Oan ơi ông địa! Về tấm lòng của tôi đối với đàn bà, tôi lại lôi kép Đoàn Nhã Văn ra làm chứng (Lật Tuyển tập). Đây nè, trang 15, ông kép viết: “Mỗi người một vẻ, mỗi kẻ một đam mê, và mỗi nàng một cháy bỏng khác nhau. Tất cả những nhân vật đó góp phần làm nên văn phong vui tươi, sinh động của Kiệt Tấn trong vùng tình cảm đầy ướt át này. Tuy vậy, chỉ cần để ý một chút, ta sẽ thấy ngay ông viết về những người đàn bà với một tấm lòng, một đam mê và đằng sau đó là chiêm ngưỡng, là trân quý”.
A, sau khi đọc bài viết bà Khuyên kết án anh khinh thường phụ nữ. Mà hai đứa chúng tôi nghĩ khác: bài nói trên chỉ là phản ứng anh muốn trả lời những bài viết về sex tả chân quá sức văn chương đẹp đẽ nhưng vô cảm và vô cùng giả tạo hoặc coi vậy mà hổng phải vậy cũng như anh điểm mặt những tên đàn ông “voyeur” (khoái dòm trộm) khiêu khích đàn bà viết về tình dục cho họ được rửa mắt và thoả mãn lòng tò mò bệnh hoạn? Có đúng như vậy không? Theo như anh giãi bày, là oan ơi ông địa, vậy anh trả lời thế nào cho “hiểu lầm” này?
Khi viết về tình dục, tôi đặt nghệ thuật lên hàng đầu. Thiệt tình mà nói, viết gì cũng dễ, nhưng viết cho hay mới thiệt là khó. Viết về tình dục mà viết cho hay, quả thiệt là thiên nan vạn nan! Nói “hay” là có chủ quan trong đó rồi, dĩ nhiên. Vì vậy người viết phải tự lựa chọn một bút pháp riêng cho mình. Phải cẩn thận và tôn trọng người đọc. Không được cẩu thả, ném bừa bất kỳ rác rến tạp nhạp nào vào mặt độc giả. Ngay cả viết dâm thư thứ thiệt, cũng phải viết cho có nghệ thuật. Trừ phi viết với mục đích nhục mạ, buộc tội và làm cho người ta nhợn tình dục thì đó là chuyện khác. Người ta cứ tưởng bở: Gì chớ viết tình dục thì dễ ợt! Cứ việc cầm bút lên mà kể lể ê hề ba cái chuyện nằm sấp nằm ngửa, chổng mông, gậm củ cải… của mình ra. Thế là văn chương! Thế là nghệ thuật! Dễ ợt! Nói vậy thì mấy em sến biết đọc biết viết chỉ việc cầm bút lên mà kể lại tuốt tuột các cuộc hành dâm của mình là có thể ở truồng dồng dổng mà đi vào văn học sử như chơi! Xin nhắc lại: viết về tình dục mà viết cho hay thiệt là vô cùng khó khăn. Bởi lẽ quanh đi quẩn lại, diễn viên chỉ có hai người nam và nữ. Chỉ có ngần ấy bộ phận, chỉ có ngần ấy động tác, chỉ có ngần ấy cảm giác và rất ít đối thoại, ngoại trừ rên rỉ và thở ào ào. Loay hoay chỉ có vậy thôi. Trừ phi viết dâm tưởng và viết hoại dâm thì tha hồ! Nhưng chính vì vậy mà viết tình dục một cách nghệ thuật đòi hỏi một sự điêu luyện và một bản lĩnh rất cao ở người viết. Chỉ cần sai chạy một chữ là hỏng bét…
Hát nữa đi Hương, hát điệu nhạc… tình nghe Hương…
Trở lại cái vụ mal baisées. Tôi nghĩ có lẽ phải chờ một dịp may chó dắt, được rớt đúng vào vòng tay một tướng cướp điệu nghệ, khi trải nghiệm được cái “tột khoái”, người nữ bất mãn tình dục sẽ bớt táo bón và bớt hằn học với bọn đàn ông (lợn lòi) chúng tôi. Nhắc lại lần nữa: viết về tình dục một cách nghệ thuật không phải dễ. Cũng bởi lẽ đó mà sau khi đọc những trích đoạn tình dục của các ngòi bút nữ trên Hợp Lưu (số 81/2005) tôi cảm thấy “nhợn” nên có phản ứng nóng. Dĩ nhiên, không có gì chứng minh rằng tôi đúng hay một ai đúng hết. Ở đây chỉ có vấn đề cảm nhận và thưởng ngoạn, và điều này vốn rất khác biệt nhau ở từng người một. Nhưng viết về tình dục như chèo xuồng tát nước, như đốn cây bửa củi, như phóng uế chùi đít. Viết để ơi ới nước nhiều nước ít, hay nó chảy re re. Viết để so sánh cu nhỏ cu lớn, cu ngắn cu dài . Viết để chấm điểm coi thằng nào chơi sướng thằng nào chơi dở, một ngày ta hạ được mấy thằng . Nhiều cảnh hành dâm và bạo dâm để lộ tính cách hư cấu quá trớn. Thú thiệt cái lối viết đó, cái chuyện làm đó, hồi mới lớn và tập tễnh đi chơi bời ba bốn chục năm về trước ở Gò Vấp, Ngã Ba Chú Ía, Cầu Hàng, tôi đã thấy mấy chị em ta làm rồi và có ghi chép sổ sách hẳn hòi. Đâu đợi gì phải học cao hiểu rộng, có bằng phó tiến sĩ hay Ph. D. mới làm nổi cái loại thống kê dương vật đó. Tôi có cảm tưởng các ngòi bút nữ viết tình dục của phe ta chưa hề đọc (nhiều) văn chương gợi dục (érotique) và ngay cả dâm thư (porno). Viết sần sùi kiểu đó, các nàng chỉ cần bỏ năm ba đồng và bước ra sạp báo vỉa hè là có ngay. Và hơn nữa, bài viết còn ly kỳ hấp dẫn hơn thập bội, đôi khi còn có cả phụ đề hình màu cho dễ hiểu. Than ôi! Văn chương (?) tình dục của phe nữ ta mà như thế đó ư? Theo chủ quan của tôi, nghệ thuật nó chẳng nghệ thuật, mới nó chẳng mới, nhưng om sòm thì nó lại rất là om sòm. Vì thế, tôi bị dị ứng sau khi đọc các trích đoạn trên Hợp Lưu. Dị ứng vì thấy cách viết về tình dục kiểu như vậy vô tình đã bôi nhọ và hạ bệ hình ảnh người đàn bà, nói riêng người đàn bà Việt Nam, trong đó có bà Khuyên . Bởi lẽ ấy bèn xâm mình viết bài “Xúc cát trước bàn thờ” để đả kích loại viết đó cũng như để binh vực người đàn bà nói chung. Trước khi cầm bút lên, tôi biết chắc chắn bài viết của mình sẽ bị hiểu lầm và cá nhân mình sẽ bị các bà nữ quyền bề hội đồng.
Quả nhiên! Vừa mới xáp vô bài “Xúc cát”, bà Khuyên đọc ba chớp ba nháng, hiểu chưa chắc đã hiểu được một chút gì, mà lại còn đổ quạu, te te thảo liền cái kiến nghị, cái pétition, đưa lên mạng lưới xin chữ ký khắp nơi để chụp mũ tôi “khinh thường phụ nữ”! Chẳng biết bà đã xin được chữ ký của Monica Lewinsky và Hilary Clinton chưa? Luôn tiện, xúi bà đưa luôn Bill Clinton vào liên danh tranh cử của Kiệt Tấn cho đỡ khỏi phải mất công thảo một kiến nghị thứ hai. Bà Khuyên kiến nghị để kiện tôi trước toà án nữ quyền? Nghe đâu đây tiếng hò hét như ong vỡ: “Thiến dái nó! Thiến dái nó! ” Than ôi, trời đã hại Sa Vệ! Chắc phen này Hạng Võ phải biệt Ngu Cơ, xuống sáu câu vọng cổ thiệt mùi rồi gạt nước mắt hiên ngang vác chiếu ra hầu Toà án Quốc tế La Haye. Sạt nghiệp văn chương là cái chắc! Thôi nàng ở lại nuôi con một mình! Và hãy lấy chồng (người) khác mà làm ăn lương thiện!
Cám ơn anh Kiệt Tấn!

Nghĩ về Kiệt Tấn

Nguyễn Mộng Giác

Trong suốt thời gian phụ trách bài vở cho tạp chí Văn học nghệ thuật (bộ mới) và Văn học, tôi được cái may mắn đọc trước nhiều bản thảo của các văn hữu từ khắp nơi gửi về, sau đó theo dõi ảnh hưởng của tác phẩm ấy lên trên bạn đọc.

Hồi còn ở Việt Nam trước 1975, tôi dạy học ở tỉnh lẻ nên ít có cơ hội được gặp gỡ, tiếp xúc với giới cầm bút. Tôi có được nghe nói tới tập thơ “Điệp khúc tình yêu và trái phá” của Kiệt Tấn xuất bản năm 1966, nhưng chưa được đọc. Hình như từ lúc cho xuất bản tác phẩm đầu tay cho đến 1975, Kiệt Tấn bận chuyện học hành, bận sống cho hết cung bậc của yêu hờn giận ghét nhiều hơn là viết về những điều mình sống. Những kinh nghiệm, xúc cảm, suy tưởng trong thời gian ấy được ấp ủ, tích lũy như một thứ rượu quý, để đến một lúc nào đó, không thể dừng được nữa. Kiệt Tấn để mặc cho xúc cảm tuôn trào nơi đầu ngọn bút. Truyện “Em điên xõa tóc” Kiệt Tấn gửi cho Văn học Nghệ thuật là kết quả của những kinh nghiệm đã chín mọng, những xúc động đã ngút ngàn, những suy tưởng đã viên mãn… Những cái “đã” ấy tất nhiên phải thành nghệ thuật. Quả đúng như thế, “Em điên xõa tóc” được in ra và phổ biến khắp nơi, liền được mọi người đón nhận nồng nhiệt. Đây là một trong những truyện ngắn hiếm hoi, có giá trị nhân bản phổ quát mà Văn Học Và Văn Học Nghệ Thuật được hân hạnh giới thiệu với bạn đọc.

Từ đó đến nay, Kiệt Tấn liên tục đem nhiều kinh ngạc chjo những người theo dõi sát sinh hoạt văn chương ở hải ngoại. Anh lần lượt viết lại những cuộc tình Á-Âu lẫn những mối tình đầu của đời anh, từ Đêm cỏ tuyết, Người em xóm học, đến Yêu em xứ tuyết, truyện nào cũng thơ mộng tuyệt vời và nhục cảm ngùn ngụt. Anh viết bạo, viết hết tất cả sắc diện của tình yêu, anh đi suốt những gì mà những người viết khác chỉ dám đi một nửa, rồi bẻn lẽn dừng lại ở chỗ tự cho là ranh giới. Nhờ thế, nhiều truyện tình của Kiệt Tấn có cái chất sống cuồng nhiệt của tác phẩm D. H. Lawrence trong đó tình yêu có đầy đủ cả những đóa hoa e ấp trao nhau, những nụ hôn ngượng ngập, lẫn những tham lam cuống quít và những “hơi thở rướn cong”[1][1].

Nhưng Kiệt Tấn không chịu dừng lại ở đó. Trong cuộc phiêu lưu đi tìm cái ta riêng trong cái chung của nhân loại, đi tìm cái đặc thù tiêu biểu, Kiệt Tấn làm kinh ngạc người đọc ở cả những lãnh vực khác. Và trong loại đề tài nào, Kiệt Tấn cũng viết được những truyện ngắn xuất sắc. Một số trích đoạn đã được đăng tải trong tập trường thiên Lớp lớp phù sa của anh, cùng với Nụ cười tre trúc, Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi, Năm nay đào lại nở cho chúng ta thấy một Kiệt Tấn khác hẳn Kiệt Tấn trong những chuyện tình. Tình yêu quê hương của anh cũng hôi hổi y như tình yêu trai gái. Sức sống cuồng nhiệt, sự nhạy cảm của Kiệt Tấn, trải qua thăng trầm của lịch sử, đương nhiên dẫn anh tới những suy tưởng bao quát về cuộc đời, về con người. Kỷ niệm đẹp của một quê hương đã mất, lưu niệm của những ngày tháng tàn phai, cuộc sống lưu vong, đã đẩy đưa Kiệt Tấn viết Vườn chanh miệt biển, một thứ tùy bút pha lẫn bút ký và tự truyện, mà theo tôi, đánh dấu thành công viên mãn nhất của Kiệt Tấn trong loại sáng tác suy tưởng.

Mỗi người cầm bút thường chỉ có sở trường về một loại đề tài, một loại khung cảnh sống hoặc một loại nhân vật. Rất ít có người dám xông xáo vào nhiều lãnh vực, vì thấy trước sự thất bại. Trường hợp Kiệt Tấn khác hẳn. Anh viết về đủ đề tài, nhân vật, khung cảnh, thay đổi, từ một cô gái quê cho tới một cô tình nhân bụi đời ở kinh đô ánh sáng, từ những kinh rạch bán khai chằng chịt ở quê hương cho tới cảnh đô hội nơi đất khách… ở đâu Kiệt Tấn cũng xông xáo thông thạo như một “thổ công”. Vì sao vậy?

Theo tôi, câu trả lời khá đơn giản: Kiệt Tấn đã sống hết mình, và viết hết mình. Khi sự chân thành đã đến độ giống như tự khỏa thân trước cuộc đời, thì cái Tâm Thành đó cộng với Tài Ba phải thành Nghệ Thuật. Kiệt Tấn đã thực hiện được lời của Dostoievsky khi văn hào Nga này nói: “Tôi đã viết hết những điều mà thiên hạ chỉ dám nói có một nửa”.

Thực hiện được điều đó, không dễ. Phải có một lòng yêu người nồng nhiệt, và một sự can đảm lớn lao./.

Đọc Kiệt Tấn, nghĩ tới Milan Kundera

Nguyễn Xuân Hoàng

Tôi đọc thơ của Kiệt Tấn từ những năm 60 ở Sài Gòn, và mãi đến nhiều năm sau — thập niên 80 — tôi mới đọc truyện của ông ở Mỹ. Từ những bài thơ trong tập Điệp Khúc Tình Yêu và Trái Phá (do Sáng Tạo in năm 1966) đến tập truyện Nụ Cười Tre Trúc (do nxb Văn Nghệ in năm 1987), Kiệt Tấn sau 21 năm đã chuyển một bước đi khá ngoạn mục.[1]

Nếu những bài thơ của Kiệt Tấn khi vừa chào đời cho tôi ấn tượng ông có vẻ như không phải là người miền Nam, thì truyện của Kiệt Tấn cho thấy ngay ông là nhà văn “miệt vườn” Nam Bộ, tài hoa như Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Lê Xuyên, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Trường An… Tất nhiên là Kiệt Tấn mang một sắc thái cá biệt, rất riêng và rất độc đáo, không giống Sơn Nam cũng không giống Lê Xuyên. Ông không những viết rất có duyên, mà hơn thế, ông là người kể chuyện “phăng phăng la tu líp” cứ thế mà đi tới không sợ gì những cấm kị (?) trong thế giới chữ nghĩa mà một số (nhiều?) tác giả khác còn dè dặt… Kiệt Tấn viết như nói, lôi kéo người đọc, người nghe đi vào thế giới của ông, cái thế giới đầy da thịt và hơi thở gấp gáp, thế giới của “yêu ma tinh quái”, của “Đừng anh! Đừng anh! Thôi! Thôi anh! Thôi anh! Đừng!”. Thế giới của “Chết em! Anh! Chết em rồi! Hết nổi rồi anh!” Thế giới của những lời nói ngược! Cái cố ý làm văn chương không có trong những trang chữ của ông, nhưng khi xếp trang sách của Kiệt Tấn lại, người đọc luôn luôn mỉm một nụ cười và biết rằng mình vừa đọc xong một truyện ngắn đặc biệt.

Viết cùng thời với Kiệt Tấn — cũng giống như ông, năm 1966 là năm nhà xuất bản Thời Mới của Võ Phiến in tập truyện ngắn đầu tay của tôi. Tuy vậy, chúng tôi dù ở cùng thành phố, nghe biết tên nhau mà ít có cơ hội đi lại với nhau. Kiệt Tấn nhắc lại hồi đó ông có đến toà soạn tờ Nghệ Thuật ở đường Phạm Ngũ Lão, tại đây thỉnh thoảng ông có gặp Thanh Nam, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Tạ Tỵ, Phan Lạc Phúc, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo và… nhưng ông nói: “Văn nghệ văn gừng không mắc mớ gì tới tôi hết”. Kiệt Tấn nói ông không thích bàn cãi hay tranh luận văn nghệ. “Tôi chủ trương ‘Viết không có chủ trương’, và viết từ bên trái sang phải, từ trên xuống dưới là ăn chắc”. Ông kể lại thời viết cho tờ Nghệ Thuật: “Thỉnh thoảng tôi xách một chai Johnny Đi Bộ tới toà soạn, rồi kéo nhau đi nhậu. Thế là xong”. Kiệt Tấn thú nhận là ông không có bạn văn nghệ, không thích bàn chuyện văn chương, “đi nhậu nhẹt và trai gái vui hơn”. Với ông, người ta sinh ra ở đời là để sống, mọi thứ khác chỉ là bày đặt. “Còn văn chương nghệ thuật?” Ông chẳng dành cho nó một vị trí đặc biệt nào cao hơn hoặc thấp hơn trong đời sống. Nó chỉ là một sinh hoạt như mọi sinh hoạt của con người. Vậy thôi. Với ông, đời sống bao trùm văn chương nghệ thuật chớ không phải văn chương nghệ thuật bao trùm đời sống. Ông nói từ lâu ông đã đi tới ý nghĩ sau đây: “Trong đời sống, cái gì cũng quan trọng. Nhưng nghĩ cho cùng, cũng chẳng có gì là quan trọng”. Nhớ Milan Kundera trong tác phẩm Đời Nhẹ Khôn Kham:

Mọi thứ chợt đến chợt đi trong đời sống, không hề có dấu hiệu báo trước, như người diễn viên diễn xuất một mình. Và đời sống có đáng giá gì không nếu buổi tập diễn đầu tiên cho đời sống lại chính là đời sống? Đó là lý do sao đời sống bao giờ cũng chỉ là bức phác hoạ. Không, “phác hoạ” cũng không đúng, bởi phác hoạ còn cho thấy đại cương sự vật, cho thấy nền tảng của bức tranh, trong khi bức phác hoạ đời sống hoàn toàn trống trơn, nó là một đại cương vô hình tượng. Einmal ist keinmal... Câu phương ngôn Đức nói cái gì xảy ra chỉ một lần tốt hơn đừng bao giờ sống.[2]

Trong Sự Bất Tử:

Trong hoàn cảnh đó chúng ta có thể quyết định được một lần duy nhất, không lập lại… chúng ta không bao giờ có thể xác định được trong các quyết định của chúng ta cái nào đúng cái nào sai. Chúng ta không còn có cuộc đời thứ hai, thứ ba, thứ tư… để có khả năng đối chiếu các quyết định đã đưa ra… Các nhân vật tiểu thuyết của tôi đó là những khả năng riêng của tôi mà tôi không thực hiện được…[4]

Trả lời phỏng vấn của Christian Salmon trên tạp san văn học The Paris Review năm 1983, khi người phỏng vấn nhắc lại rằng trong Đời Nhẹ Khôn Kham, Milan Kundera từng nói: “Tiểu thuyết không phải là lời tự thú của tác giả, nó là cuộc chiêm nghiệm đời sống con người trong cái bẫy thế giới này đang dần dà biến thành. Nhưng ý nghĩa của “bẫy” là gì?” Milan Kundera nói:

Đời sống là cái bẫy chúng ta vẫn luôn biết: chúng ta sinh ra đời không phải vì chúng ta yêu cầu, bị nhốt trong thân xác không phải do chúng ta lựa chọn, và cuối cùng chết.[3]

Milan Kundera nói rõ tiểu thuyết của ông không phải là tiểu thuyết tâm lý. Nhưng cái gì nằm bên kia cái gọi là tiểu thuyết tâm lý? Milan Kundera nói rõ hơn vậy thì phương cách phi-tâm lí dùng để thấu hiểu bản ngã là phương cách gì? “Thấu hiểu bản ngã trong tiểu thuyết tôi có nghĩa là thấu triệt cái cốt lõi của bài toán hiện sinh. Thấu triệt cái ám mã hiện sinh.”[3]

Thử đọc một đoạn trong Đời Nhẹ Khôn Kham của Milan Kundera

Mỗi lần trải qua một kinh nghiệm yêu đương, ký ức anh chỉ ghi giữ con đường dốc đứng và chật hẹp của cuộc chinh phục dục tình: câu nói tấn công đầu tiên, cái ve vuốt đầu tiên, lời nói suồng sã gợi dục đầu tiên giữa hai người, những đòi hỏi dâm đãng anh ép cô ưng chịu và những đòi hỏi cô nhất định không cho…[3]

Trong Sự Bất Tử:

Đối với Laura yêu một người có nghĩa là dâng tặng cơ thể mình cho người đó, như nàng đã tặng cho người chị chiếc đàn piano trắng; đem đặt cơ thể mình giữa nhà người đó: em đây, năm mươi bảy ký của em đây, thịt da em, xương cốt em đây, chúng là để cho anh, em để chúng lại nhà anh…[4]

Đọc Kiệt Tấn, người ta thấy la liệt dục tình, ông viết về nó nhẹ nhàng như chơi, như một người kể chuyện đời mình, một thứ tự truyện. Ông tuyên bố khi trả lời phỏng vấn: “Hầu hết những truyện tôi viết đều là tự truyện”. Và như là tự truyện, Kiệt Tấn cho biết “tôi cố gắng tôn trọng sự thật tới mức có thể được”. Cái tôi trong truyện của Kiệt Tấn chính là cái tôi ngoài đời của tác giả. Thử mở tập truyện Thương Nàng Bấy Nhiêu (nxb Người Việt, California, 1988) của ông ra xem. Sách có tất cả 7 truyện, không có truyện nào mang tên Thương Nàng Bấy Nhiêu. Cái tên đó coi như là tên chung cho cả tập truyện. Cái tôi trong “Lệ Dung Sang Tề”, “Chuông Ngân Chạnh Nhớ Người Yêu Đầu”, “Đêm Cỏ Tuyết”, “Người Em Xóm Học”, “Sáng Dậy Nghe Em Khóc”, “Những Đoá Hạnh Phúc Không Ngờ”, không ai khác hơn là tác giả. Kiệt, Kiệt Tấn. Ông viết về những người đàn bà (?) của ông — những Lệ Dung, Tuyết, Diane, Hường… với những “đụng chạm xác thịt nồng nàn, dục tính, đam mê cuồng nhiệt…” Lật dở một trang (195) trong truyện “Sáng Dậy Nghe Em Khóc” của Thương Nàng Bấy Nhiêu sẽ thấy Kiệt Tấn viết thật đến như thế nào. Ngay ở trang kế tiếp, ông cho thấy nhân vật nữ cấu lấy lưng ông và lầm thầm đứt quãng “chết em, Kiệt… anh Kiệt thôi anh, Kiệt!.. Đừng anh! Kiệt, anh Kiệt!…”. Đọc sang một đoạn trong Đêm Cỏ Tuyết (Thương Nàng Bấy Nhiêu, tr.56):

Tuyết vừa ngồi xuống là tôi đi thẳng vào nỗi ám ảnh của mình. Bàn tay tôi sục sạo tìm kiếm đoá hoa thầm kín của nàng. Mềm mại, ấm áp, trơn mướt, nhung êm. Mê mẩn, sung sướng, hạnh phúc. Cứ gọi là hạnh phúc, dù tôi chẳng có định nghĩa nào về hạnh phúc. Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với đoá hoa thầm kín của đàn bà thân mật, chi tiết và trọn vẹn đến như vậy. Cả người tôi cháy thành một khối cảm giác đê mê. Tôi đã biến mất.

… Yêu? Gọi thế nào cũng được, có đặt tên cho tình cảm hay không thì nó cũng vậy thôi. Riêng tôi, tôi không quan niệm tình yêu mà không có tình dục. Tôi thường ngạo các cô tình nhân khi các nàng từ chối tình dục: “Em yêu anh bằng linh hồn còn xác thịt em để cho người khác? Nếu vậy hãy cho phần thứ hai, anh trả lại em tình yêu”.

Tôi ở đây không phải là một nhân vật hư cấu. Tôi chính là tác giả. Là Kiệt, là Kiệt Tấn, phát biểu đó có quá đáng không?

Tuy vậy, có một ngoại lệ, truyện “Cho Thiếp Theo Cùng”, trong đó cái tôi không phải là tác giả, mà chính là “bà Kiệt” của ông. Kiệt Tấn để cho “bà Kiệt” vẽ chân dung ông, bằng ngôn ngữ của chính ông. Nếu ở những truyện khác, Kiệt Tấn là người tự hoạ chân dung mình, nói lên cảm xúc của mình, nhìn người phụ nữ bằng đôi mắt của mình, yêu thương, ôm ấp, dày vò, sờ soạng… bằng tất cả giác quan của mình thì với “Cho Thiếp Theo Cùng”, Kiệt Tấn cầm tay “bà Kiệt” vẽ mắt mũi chân tay đầu óc suy nghĩ của ông, luồn lách trong tận cùng tim gan ruột già ruột non của ông, đem ông ra pháp trường. Một hình thức phản hồi tuyệt vời, một lời tự thú trước bình minh của Kiệt Tấn. Toàn bộ những “tội lỗi” của ông trước mắt “phu nhân”, tôi nghĩ đã được, sẽ được “bà Kiệt” xoá bỏ tha thứ không một hình phạt nào phải ghi sổ. Cuốn sổ bình sanh của ông không ghi công, nhưng chắc cũng không ghi tội. Kiệt Tấn với cuốn Thương Nàng Bấy Nhiêu là một phạm nhân hoàn toàn được quan toà tha bổng. “Trưa hôm qua, thêm một lần nữa, đấng lang quân yêu dấu của tôi lại làm cho tôi mất mặt bầu cua: Chàng la tôi trước mặt mọi người!” Đó mới chỉ là mở đầu. Kiệt Tấn còn để cho bà vợ miêu tả ông là người có “tiếng cười vô duyên”, gọi ông là “đực rựa” yêu dấu, có lúc “ốm teo, xếp ve, ngơ ngác”, “nói ra nghe kỳ chứ những lúc chàng điên điên, khùng khùng tôi mới cảm thấy chàng thuộc về tôi. Lúc nào chàng ngoắc ngoải ngồi dậy được là tôi lại sợ mất chàng.” Nhưng rồi, chứng nào tật nấy, bà Kiệt bắt gặp ông nay chở cô này mai chở cô kia. Chưa đủ, khi bà lấy khẩu cung, ông khai hết không thiếu chi tiết nào đến nỗi bà chỉ khóc và “không muốn nghe nữa”. Rồi cô Nhung Bắc Kỳ, cô Louise Gia Nã Đại,… Tự mình hoạ mình chưa đủ, Kiệt Tấn để cho “bà Kiệt Tấn” vẽ chân dung ông từ một góc nhìn khác. Một Kiệt Tấn được nhìn từ nhiều góc. Ở góc nào thì ông cũng dành cho người đàn bà một chỗ đứng đặc biệt “tay chưn rối beng, thịt da bát ngát, đồi núi chập chùng, cỏ hoa tưng bừng rậm rạp, động hang thăm thẳm”…

Nhắc Milan Kundera khi nói về Kiệt Tấn, tôi hoàn toàn không có ý so sánh, kết hợp, phân tích… Đơn giản là vì trong khi đọc Kiệt Tấn tôi nhớ Milan Kundera, nhân vật của hai ông “tôi” của Kiệt Tấn và Tomas của Milan Kundera; Diane, Hường, Tuyết… của Kiệt Tấn và Teresa, Sabina… của Milan Kundera, có một số điểm tương đồng trong chuyện làm tình, nhưng rất khác nhau trong suy nghĩ (tất nhiên!). Đọc truyện của hai ông, người ta không thấy gì thô tục, bẩn thỉu… chỉ là — như cách nói của Thụy Khuê:

Qua cái vỏ ngoài có vẻ sống sượng, trần truồng của ngôn ngữ, bên trong ấp ủ một tình yêu dịu dàng, êm ái… Kiệt Tấn ngó đàn bà trong trạng thái nguyên thủy (không quần áo), với con mắt của một hoạ sĩ trước vệ nữ khoả thân… Sự thèm muốn trước cái đep thể xác là điều tất đến như đói thì ăn, khát thì uống, không có gì xấu xa, không có gì cần phải che đậy, thật thà và hiện hữu như những nhu cầu chính yếu của con người.

“Viết về tình dục, tôi đặt nghệ thuật lên hàng đầu.” Kiệt Tấn phát biểu như vậy, và ông tiếp: “… viết về tình dục một cách nghệ thuật đòi hỏi một sự điêu luyện và một bản lĩnh rất cao ở người viết. Chỉ cần sai chạy một chữ là hỏng bét…”

Tôi chia sẻ ý này của Kiệt Tấn.

 

 

Ngộ Không