10/23/2015
Ngộ Không: Giấc mộng con

clip_image002

Dẫn nhập:

(Trích Giấc mộng con, của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

đăng lần đầu trên Ðông Pháp thời báo, Sài Gòn, 1927)

Chỗ cụ Nguyễn Trãi ở rất là thâm nghiêm. Mình mới tới cửa, xưng danh, anh gác cửa không cho vào, nói là: Cụ ít khi có tiếp khách. Sau phải bảo anh rằng:
– Tôi là người nước nhà ở hạ giới, tôi là Hiếu, không mấy khi lên tới đây. Bác cứ vào bẩm giúp, chắc thế nào Cụ cũng tiếp tôi.
Anh ta vào, một lát trở ra, quả nhiên là Cụ cho gọi, anh nói rằng Cụ đang ngồi đợi. Mình thấy Cụ bắt hai tay ra đằng sau, đương đi bách bộ, vẻ mặt coi thật là buồn rầu mà như ý trầm tư lắm, mình đến giáp trước mặt Cụ, cúi đầu chắp tay chào.
– Anh Hiếu, tôi đương buồn, anh đến chơi cũng hay.
Cụ sai lấy bàn ghế và rượu ra uống. Mình từ tạ không dám ngồi. Cụ nói:
– Ở trên này không như dưới hạ giới, ai đã lên tới đây thời coi nhau là tiên cả với cửa đóng, đầu non, đường lối cũ, nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi. Huống chi tôi với anh là anh em trong một nhà thời anh đừng nệ.
Cụ cầm ve rượu rót cho mình và nói rằng:
– Cái này, tôi cũng không uống được mấy, nhưng buồn quá thì mượn nó để tiêu sầu. Anh say sưa nghĩ cũng hư đời, hư thời hư vậy, say thời cứ say thì cứ uống.
Uống một hai chén rượu, không thấy Cụ nói chuyện gì, sắc mặt Cụ thì chỉ thấy cứ như thể buồn rầu nghĩ ngợi.
– Bẩm như Cụ, công nghiệp như thế mà cái cảnh ngộ về sau không ra sao; người nước ta sau này đọc sử đến chỗ đó, ai cũng phải lấy làm buồn.
– Cái cảm giác của người đọc sử thế nào thời tôi không biết, còn như tôi mà buồn, không phải là buồn về sự dĩ vãng của tôi, mà chỉ buồn về vận hội sau này của nước nhà. Ðời không có hào kiệt chẳng thà nước đừng có giang sơn. Tôi thường khi ngồi hầu chuyện đức Thái tổ mà cùng nói đến lúc nào, chỉ tiếc rằng cái thân con người ta không mỗi lúc mà được tái sinh ở trần thế!

Mắt cụ Nguyễn chắc như chực sa lệ.
– Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, mà bắc nam cũng khác… (Bình Ngô Ðại Cáo).

Nói đến đây, thấy Cụ như muốn sa nước mắt. Mình cũng vừa buồn vừa thẹn, không biết dám nói lại ra làm sao! Năm 1927 việc đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi nước còn vô cùng mờ mịt, Cụ trên cõi tiên trông xuống thiếu điều khóc ròng…

(Giấc Mộng Con – Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu)

***

Khi không Cụ ngâm khe khẽ:

Chiếc thuyền lơ lửng bên sông

Biết đem tâm sự ngỏ cùng ai hay

Chắc chi thiên hạ đời nay

Mà đem non nước làm rày chiêm bao?

(Tự thuật – Nguyễn Trãi)

Chưa kịp hiểu tôn ý dậy gi, chưa chín một nồi kê thì Cụ nắm tay mình bay xuống hạ giới. Trên đường bay, gió thổi ù ù nghe ong cả tai, rúc vào mây mà bay, mình gợi chuyện bằng vào nuốt câu bớt chữ với cái năm 1406, tương truyền rằng khi ấy cụ 26 tuổi đang làm quan nhà Hồ, gặp người Thị Lộ mới 16 tuổi. Cụ thấy xinh đẹp, liền ứng khẩu: “Ả ở đâu mà bán chiếu gon, chẳng hay chiếu bán hết hay còn“ có thật hay chăng? Cụ buồn hơn vui và cho hay chỉ là chuyện nhảm nhí mà người sau buôn chuyện như…mình đấy thôi.

Vừa lúc hai chân chạm đất, nhòm nháo nhác chỉ thấy núi và mây, mình đang ngơ ngác thì Cụ bảo: “Anh quanh năm luống những lo văn ế, thân thế xem thua chú hát trèo nên như phường trèo chẳng biết quái gì cả”. Cụ khật khừ nơi đây là đất Bằng Tường ở bên Tàu. Cụ dắt mình men theo con suối vào khe núi, đảo mắt nhìn quanh chỉ thấy mươi đống gạch vụn còn vương vãi qua một vũng tang thương nước lộn trời. Thẫn thờ như gà rù giữa buổi đồng vắng, cụ thở hắt ra là Cụ đã tiễn đưa thân phụ Nguyễn Phi Khanh tới nơi chốn này: Đây là ải Nam Quan. Mình ớ ra hỏi cụ vậy chứ ải Nam Quan qua báo chùa, báo chợ bây giờ ở nơi nao? Cụ nói cách đây khoảng hai mươi cây số về phía Đồng Đăng.

Mình hong hanh nhớ ra cả trăm năm trước, ông Tsai Tin Lang bị đắm thuyền ở biển An Nam, ông trở về quê bằng đường bộ qua ngả Quảng Tây. Từ Hà Nội lên Đồng Đăng tới ải Nam Quan gặp núi đá hiểm trở, vực thẳm tối tăm, ông ngước lên núi hỏi người dẫn đường trên ấy có gì? Và được trả lời trước có cột đồng Mã Viện nay không còn nữa. Thế là mình đánh vật với chữ nghĩa với Cụ rằng qua Chiếu thư của Minh Thái Tổ:

“Giao Chỉ dưới thời Hậu Hán có người đàn bà tên Trắc làm lọan. Vua Quang Vũ sai Mã Viện sang bình định, bèn xây Đồng Trụ ở huyện Uyên (Đồng Đăng)…”. Thấy Cụ im như thóc ngâm, mình lại lúi cúi niệm thêm với Chiếu thư trả lời của Trần Thuận Tông:

“Xét cho kỹ thời Hán Vũ thứ 19 sai Mã Viện đến Giao Chỉ đánh dẹp người con gái họ Trưng lập Đồng Trụ. Tính đến nay đã hơn 1.350 năm, dưới một nghìn năm gò lũng đã biến đổi, ai mà biết được Đồng Trụ ở đâu?”.

Ý đồ mình hỏi Cụ là thế đó. Cụ ngẩng mặt lên trời nhìn mây bay và từ tốn rằng với Đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt thì các sử gia mình cứ chắc như đinh đóng cột chỉ có…một cái trụ đồng thôi và rối ren rủ nhau đi tìm. Qua Thủy Kinh Chú đề cập đến truyền thống dựng cột thì Mã Văn Uyên (bút hiệu của Mã Viện) có dựng những kim tiêu để đánh dấu biên giới phía nam của nhà Hán. Du Ích Kỳ góp thêm vào là Mã Văn Uyên cho dựng cột đồng ở bắc ngạn Lâm Ấp (đất của Chiêm Thành, vùng Đồng Hới) và cho định cư những người thuộc Mã tộc. Sau cùng, sách Tùy thư hé lộ tướng Tàu Lưu Phương đi chinh phạt quân Chiêm Thành đã tiến quân ngang qua những cột đồng Mã Viện, và tiếp tục tiến về phía Nam đến tận kinh đô vương quốc Lâm Ấp. Theo An Nam chí lược của Lê Tắc là sử gia ta đời Trần đề cập đến di tích này, thì thuở trước ở vùng hang động Cổ Sâm thuộc Khâm Châu (gần Đồng Đăng) có những cột đồng do Mã Viện dựng lên.

Thế là mình không biết làm gì là làm thinh và lẽo đẽo đi với Cụ về phía Đồng Đăng. Vừa lững thững đi, chỉ khoảng không gian trước mặt, Cụ vừa nói chuyện với mình như nói chuyện với một người bạn vong niên lâu ngày không gặp. Cụ vừa rì rầm là thằng tướng Tây tên Negrier, trong Ủy ban phân định biên giới Pháp-Thanh giật sập ải Nam Quan năm 1884 để xây cổng mới ở một địa điểm khác, sâu vào phía nam, sát với biên giới Việt Tàu hơn. Tới ải mới gần thác Bản Giốc, Cụ nói cửa ải này được thằng Tây dựng năm 1886. Tiếp theo ngón tay chỉ Cụ hỏi mình dẫy nhà xây theo kiểu Tây, cao hai tầng và hỏi mình trông có giống nhà thương Grall ở Sài Gòn không. Mình trả lời vừa vào Sài Gòn năm 1927, chưa có…cơ hội đau ốm bao giờ để vào nhà thương nên…không biết.

***

Mình và Cụ rủ nhau vào đồn biên phòng làm thủ tục qua bên kia biên giới để…nhập quan nước mình. Thì mới vỡ nhẽ ra rằng, chỉ có người mang hộ chiếu VN mới được đi qua mà thôi, hộ chiếu ở thiên đình phải xin visa ở Hà Nội. Mình nảy sinh ra ý mượn thông hành mấy gã cửu vạn đang đứng gần đấy, thế là cả hai mất 30 đô để làm thủ tục qua bên kia biên giới. Qua khỏi đồn biên phòng chừng hơn 100 thước gặp cổng Tàu. Trên cổng khắc ba chữ tàu to tướng. Cụ dịch cho hay là 3 chữ trên là…Hữu Nghị Quan.

Trên đường đi gặp chợ trời biên giới. Những gã cửu vạn, vác hàng tất tả với những chiếc xe thồ hàng hóa ngập đầy. Hàng hóa ở đây là bình thủy, máy móc điện tử và thuốc bắc. Những dàn DVD mở lớn ca hát vang trời. Ðĩa lậu ở đâu mà nhiều thế, gía cả rẻ như bèo. Hàng hóa bát nháo, thật gỉa khó lường. Mình xúi Cụ mua một cái để nghe nhạc họ Trịnh “Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay, ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi…Bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam” thì cụ lươn khươn là trên trời không có…điện.

Thấy cả hai có vẻ ngây ngô như ở trên trời rớt xuống giữa phố thị đông người, một bà lão bán nước chè tươi cất tiếng mời: “Xin mời cụ và bác vào xơi nước”. Thấy họ nói chuyện vui vẻ, mình kéo chiếc ghế đẩu mời Cụ ngồi còn mình thì ngồi bẹt xuống chiếc chiếu cạnh mấy gã cửu vạn. Gã ngồi cạnh mời: “Bác làm thử một điếu!”. Thấy hay hay, mình cầm cái điếu cày, có vẻ chưa hề hút thuốc này bao giờ, gã cửu vạn lên tiếng: “Vê nhỏ thôi, hút thử mà to như thế thì bật ngửa đấy!”. Mà bật ngửa thật! Vừa hít một khói như muốn nổ tung lồng ngực và điên đảo quay cuồng. Mình nhoài ra chiếu không biết gì nữa.

Cụ chắc là ra mấy cửa hàng bán những loại thuốc bắc bổ dương, bổ thận mới về. Một gã cửu vạn hỏi: “Sao cụ đã trả thù dân tộc chưa?”, Cụ hỏi lại: “Trả thù dân tộc là nghĩa lý gì?”. Thấy mấy anh cửu vạn ăn nói thô lỗ qúa, mình rủ Cụ đi vãn cảnh, vừa quay lưng, gã cửu vạn khác trêu trọc: “Tao đố con Hồng rủ được ông cụ về ngủ một đêm”. Cụ nghe thấy, lẩm bẩm: “Chuyện này trên trời không có đây!”. Nhân tiện mình hỏi Cụ trên trời có gì thống khoái chăng? Cụ cho hay là mình lên chơi thì quá đã, nhưng ở lâu thì chán lắm vì chỉ có tiên ông tiên bà bay suốt ngày trên trời. Nên chả vui như ở dưới trần ai một cõi này.

***

Mặt Cụ lẫn đẫn trông thấy, nhưng Cụ vẫn phải gọi một gã cửu vạn lái xe thồ chở hàng hóa, chở luôn cả hai tới Đồng Đăng. Theo bước chân phù lãng nhân trong cõi ngu lạc trường, mình tới huyện lỵ chả thấy phố Kỳ Lừa như trong ca dao “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa”. Bèn ngu ngơ hỏi? Cụ mắng cho rát mặt với cái mũi trước mắt còn không nhìn thấy nữa là. Là dựa vào bia đá “Thế Tồn Bi Ký” đời Lê Huyền Tông có ghi “Việt Nam hầu thiệt, trấn bắc ải quan, thạch bích hoàn vũ, Uyên quận giới phiên, Đồng Đăng linh ấp”. Ấy thế mà các nhà biên khảo, biên chép ta nào ai có hay biết: Trấn bắc ải quan đây là Ải Nam Quan, có từ đời nhà Nguyên còn được gọi là ải Pha Lũy Dịch…Nhưng ấy là chuyện sau.

Chuyện sau thì đâu hãy còn đó nhưng mình chả thấy…cái bia đá đâu?

Cụ rấm rẳn là cứ nhắm mắt theo ca dao lịch sử có đổ thóc giống ra mà ăn. Như câu “Lên non truốt một bộ sào, xuống thuyền Bá Vọng, qua ao Ngũ Hồ hoặc giả như “Võng Động Đình mẹ ru con ngủ, chiếu Tiền Đường thức đủ năm canh”. Từ đó nhiều nhà học giả, học thật nhận vơ gốc gác người mình gốc Tàu từ Động Đình Hồ xuống. Cụ chép miệng rằng Tàu có võng đâu mà ru con mà chỉ ta có. Cụ cười tủm, lần đâu tiên mình thấy Cụ cười mà rằng Cao Bá Quát có bài Tức sự mở đầu bằng hai câu: “Nhãn khan cao điểu độc phàn lung – Tự ỷ thằng sàng bất ngữ trung”. Trong đầu mình rối tinh với Hán-Nôm quái quỉ gì lạ vậy với…thằng sàng? Cụ thấy mặt mình nghệt ra bèn nói: “Anh gánh văn lên bán chợ trời sao dốt thế!”. Rồi Cụ đủng đỉnh cái văn thơ của Siêu của Quát “vô Tiền Hán” cũng không biết tiếng Tàu gọi “cái võng” là cái giống gì nên ông cuồng chữ Cao Chu Thần mới nhét bừa vào thơ hai chữ thần tình “thằng sàng” là…cái giường võng.

Xe thồ chở “hai hàng hóa” qua thành Bắc Ninh gần tới Đông Anh. Gã cửu vạn chỉ ba bức tường gạch vuông vức nhô lên khỏi giữa đồng không mông quạnh khoảng một thước. Và gã nói khơi khơi là khu đất này nằm gần một vùng ao đầm nhiều ốc, lại có làng tên Vọng Nhân nghĩa là “người ốc”. Nên dân làng “người ốc” gọi cái thành cũ kỹ kia là…”thành ốc”. Cụ hứ một cái là chỉ chỉ ăn ốc nói mò vì đó là…thành Cổ Loa. Mình u ơ vì ba bức tường chả cuộn hình xoắn ốc gì sất cả. Với tình riêng nỗi cảnh, nỗi khách bâng khuâng, chẳng thể cầm lòng… nên mình nồng nã với Cụ:

“…Theo Đại Việt sử ký toàn thư, An Dương Vương họ Thục tên húy là Phán, người Ba Thục đánh vua Hùng lúc vua…“đang say rượu” nên thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê nay là thành Cổ Loa. Thành cuốn tròn như loa ốc nên được gọi là Loa Thành. Sau bị Triệu Đà diệt…”.

Chưa kịp hợm chữ tiếp Cụ đã nheo mắt dùi mài kinh sử với Sử ký của Tư Mã Thiên, chương Nam Việt Úy Đà liệt truyện viết về Triệu Đà với nước Nam Việt thì An Dương Vương ở Quảng Tây lập nước Tây Âu Lạc với thành 9 vòng ở đồng bằng Tây Giang. Tư Mã Thiên đã khẳng định nhiều lần nước Tây Âu Lạc của người Âu Lạc. Vì vậy theo Cụ thì An Dương Vương chưa hẳn đã có mặt ở trên đất nước ta để kéo thêm…Triệu Đà vào để thành chuyện giẻ rách. Sử quan Ngô Thì Sĩ có cẩn án trong Việt Sử Tiêu Án là sử quan Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đều nhầm lãn vì rằng Triệu Đà chỉ mới ngừng chân ở Quảng Đông, Quảng Tây, chưa đặt chân đến đồng bằng sông Hồng. Mà nước Nam Việt ấy ở bên Tầu, miền Nam Hải, Quế Lâm. Do vậy, trong sử Nam ta chẳng bao giờ có quốc hiệu là Nam Việt với một ông vua gốc Tầu tên…Triệu Đà.

Cụ se sắt thêm khi người Tàu sang xâm chiếm nước ta, họ xây 3 vòng thành vuông vức này để phòng thủ cho chính họ với ta. Đất này tiếng người Mường cổ gọi là “Klu” là địa danh cổ. Người Việt mình đọc trại đi “Klu” là…”cổ”, là:…Cổ Loa.

***

Vào tới Hà Nội, qua Băc Môn có dấu vết hai vết đạn đại pháo từ tầu chiến của thằng Tây bắn. Cụ vẩn vơ rằng Gia Long rời đô vào Huế, thu hẹp Hòang Thành lại, chỉ giữ cửa Diệu Đức tức cửa Bắc Môn này vì hai vết đạn kia. Năm 1812 đổi tên Thăng Long là Bắc Thành. Sau Gia Long mất thì xẩy ra vụ con nuôi của Lê Văn Duyệt nổi lọan ở Đông Phố, Minh Mạng cho thu hẹp Bắc Thành lại một lần nữa, vì thành nằm…“trong” khu vực Hồng “Hà” nên đặt tên là…Hà Nội. Cụ điềm đạm tiếp các cụ ta gọi tên địa danh theo phương hướng như Bắc Ninh, Nam Định, Sơn Tây, Đông Triều, nghe đến tên là biết địa danh ấy nằm ở hướng nào của kinh đô thì cớ sao “Hà Đông” nằm ở phía…tây. Chuyện là có một mảnh đất nọ cách Thăng Long khỏang bốn cây số về phía tây, Minh Mạng ngồi ở kinh đô với “Nam giáp địa dư, bắc giáp địa chí” nên ra chiếu chỉ đổi tên là…Hà Đông.

Mình rủ Cụ tới thăm ông Tàu già bán lạc rang, cô đơn lạc lõng, quanh năm suốt tháng âm thầm, ngồi dựa lưng vào cái tháp vuông nhỏ để tránh gió. Mình mời cụ sơi lạc rang húng lìu thơm mùi húng ngon lắm, cụ ngần ngừ cả một lúc rồi lắc đầu và nói cụ không có…răng. Cả hai nhìn xa xa tòa Đốc Lý của Tây, như người khách lạ với cái buồn viễn xứ, như sợ bị bỏ quên, nên cứ đúng ngọ hướng về bên kia sông Hồng hú lên một hồi dài vang dội ra tới tận ngoại thành…xa vắng. Lát sau có cái xe điện cổ lỗ sĩ kéo chuông “kính coong”… “kính coong” chạy qua. Cụ thả hồn theo bánh xe điện cùng một cõi đi về…xa vời:

Thằng Tây nghĩ nó cũng tài

Chế ra đèn điện thắp hoài năm canh.

Thằng Tây nghĩ nó cũng sành

Chế ra tàu điện chạy quanh phố phường.

Tiếp cụ nói bây giờ mình vào Huế xem nhà Nguyễn xây thành Huế như thế nào. Móc cái I-Phone, Cụ gọi thuê bao một chiếc “xe con” và xuôi Nam. Qua sông Hồng, mình chỉ cầu Long Biên để khoe mẽ kỹ thuật phương Tây. Cụ gật đầu tắp lự là địa danh Long Biên xuất hiện lần đầu tiên trong thời Bắc thuộc lần thứ hai. Trị sở Giao Châu bỏ thành Mê Linh thuộc tỉnh Phúc Yên rời về thành Long Biên tọa lạc ở huyện Yên Phong (thị xã Bắc Ninh). Đời Lý Nam Đế (544-548), dân Giao Châu thoát ách nô lệ Tàu. Lý Nam Đế tự là Lý Bí đặt quốc hiệu là Vạn Xuân và đóng đô ở Long Biên. Vua cho xây chùa Khai Quốc tại đây, sau vì lụt lội, dời về Tây Hồ và đổi tên là chùa Trấn Quốc. Năm 766, đế đô Long Biên được rời về huyện Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Vì vậy có thể nói Long Biên là cố đô đầu tiên của nước ta. Sau bị đô hộ lần nữa, ngay ở Tống Bình người Tàu xây thành Đại La.

Mình muốn tam sao thất bản với Cụ là sử thi khi Lý Bý là người Việt gốc Tàu, lúc là người Thái Bình ở đất Bố Hải Khẩu của sứ quân Trần Lãm với Đinh Bộ Lĩnh. Nhà Đinh dẹp loạn 12 sứ quân, được nhà Tống phong chức Giao Chỉ Quận Vương, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, tiếp đến nhà Lý dựng thành Thăng Long trên đất thành Đại La. Nhưng mình chả dám óc ách vì sợ Cụ mách đức Thái tổ cấm cửa không cho lên trời nữa thì rõ khổ.

***

“Xe con” qua sông Mã tới Thanh Hóa vào tới miền Trung.

Chỉ hướng trước mặt, lắng đọng trong không gian tĩnh mịch một thời qúa vãng. Cụ như lạc đường vào lịch sử với đời Trần, Thanh Hóa gọi là xứ Thanh. Đó là Ái Châu ngày xưa. Minh Mạng đổi xứ Thanh thành tỉnh Thanh Hóa. Nhiều người cho rằng quá nửa nhân kiệt đất nước ta là người Thanh Hóa cũng không quá đáng. Như người sáng lập ra Tiền Lê là Lê Hoàn rồi tới Đinh Bộ Lĩnh. Sau là Lê Lợi, Trịnh Kiểm, Nguyễn Kim, Đào Duy Từ…

Vào tới địa phận Quảng Bình, Cụ râm ran qua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành bắt được Chế Củ. Chế Củ dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ô Ma để xin tha. Bố Chính đây chính là Quảng Bình. Qua vùng đồng bằng mình lõ mắt đi tìm sông Gianh chia cắt Nam Bắc đâu đây? Làm như đi guốc vào bụng mình, Cụ cho hay phân chia đất của Trịnh – Nguyễn là thung lũng sông Gianh chứ không phải sông Gianh (1). Ranh giới từ sông Gianh trở ra đến đèo Ngang tức Bắc Bố Chính thuộc Đàng Ngoài. Từ sông Gianh trở vào tới sông Nhật Lệ tức Nam Bố Chính thuộc Đàng Trong. Theo Việt sử xứ đàng trong, Đào Duy Từ xin chúa Sãi đánh Bắc Bố Chính để rời ranh giới từ sông Nhật Lệ, vượt qua sông Gianh và lấy Đèo Ngang làm ranh giới mới. Xe qua cửa Nhật Lệ gặp Đồng Hới, Cụ miên man Đào Duy Từ khởi công xây Lũy Đồng Hới, dân tình gọi là “Lũy Thầy” vì xem ông như bậc thầy. Lũy bằng đất, dài 12 cây số, cao 6 thước, voi ngựa đi lại được trên mặt thành.

Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, thấy Cổng Trời tên chữ là Cổng An Nam, do Minh Mạng xây năm 1833. Cụ dừng chân đứng lại, trời, non, nước, một mảnh tình riêng, ta với ta với nhớ nước đau lòng con quốc quốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Nhưng mình chả thấy con cuốc nào? Đất sinh cỏ già sinh tật, mình lại có tật ôm rơm rặm bụng là chả hiểu cụ vua Minh Mạng xây cái Cổng An Nam làm khỉ mốc gì? Vì chiến tranh Nam Bắc đã chấm dứt từ lâu, hay vua ta vẫn còn kỳ thị Nam Bắc chăng?

Làm như có thần giao cách cảm hay sao ấy, Cụ nói với mình rằng: “Nghe hơi nồi chõ anh lo vì công việc báo An Nam, đã trót đa mang cứ phải làm vậy chứ báo An Nam có đăng giai thoại này không?”. Chuyện là khi biết Đào Duy Từ lẻn vào Nam, Trịnh Tráng cho người mang lễ vật đến tặng Đào Duy Từ để chiêu dụ. Nhà chúa “làm” câu ca dao nhắn gửi “Nụ tầm xuân nở ra canh biếc, em có chồng anh tiếc lắm thay”. Tiếp đến là câu “Bây giờ em đã có chồng, như chim vào lồng, như cá cắn câu” mà các nhà biên khảo, biên chép đổ vấy cho họ Đào. Nhưng đúng ra họ Đào Duy Từ mượn bài thơ Tiết phụ ngâm với tích Trường Tịch và Lý Sư Đạo cùng một hoàn cảnh, tâm trạng giống mình để thoái thác. Trương Tịch trả lời Lý Sư Đạo có câu: “Quân tri thiếp hữu phu” (em có chồng, chàng đã biết) và: “Hận bất tương phùng vị giả thi” (phải chi gặp gỡ lúc chưa chồng).

Chả là cũng sính giai thoại, ca dao, ca trù, ngồi không ngứa miệng, mình đá lưỡi là ăn thịt trâu không tỏi, ăn gỏi không lá mơ thì giai thoại này trăm tội từ ông Hứa Hoành mà ra. Ông nhà văn này nhai văn nhá chữ trong sách Chuyện xưa tích cũ của ông Sơn Nam mà có. Thế nhưng nhiễu sự là trong bài viết Ông Đào Duy Từ thì ông nhà văn miệt vườn đã đắp chữ vá câu để ông Đào Duy Từ hì hục…đắp Lũy Thầy ở mãi tận…Quảng Trị.

***

Thế là mình và Cụ theo chân ông nhà văn miệt vườn vào Quảng Trị. Vượt qua sông Bến Hải là tới Ái Tử. Như đợi dịp này từ lâu, Cụ xuôi dòng sử Việt rằng gần thị trấn Đông Hà, tức con sông ở phía đông, đối với Tây Trì, tức cái ao ở phía tây là sông Cam Lộ. Qua nhà cổ học Claudius Mandrolle Cam Lộ không phải là nước ngọt mà là phiên âm hai chữ “Cà lơ”, “Kha lu” tiếng người Lào sinh sống ở Quảng Trị. Phía bắc sông Cam Lộ có Bến Hói, nghĩa là sông con, có bến thuyền bè đi lại mà thằng Tây gọi trại đi là…“Bến Hải”. Thêm chuyện thằng Tây hỏi tên đất vùng gì mà nóng quá thể, chữ Tây chữ u nghe không ra, người bản địa trả lời nóng vì gió Lào. Thế nên thằng Tây gọi vùng đất ấy là…Gio Linh (2). Mình góp chuyện ai biết cơm sống về nồi hay cơm sống về vung là thế đấy. Cụ gật đầu tiếp…Quảng Trị là đất châu Ô, còn Quảng Đức (Thừa Thiên) là châu Rí (3) là quà cưới của Chế Mân lấy Công Chúa Huyền Trân. Đời Trần Anh Tông đổi hai Châu Ô, Châu Rí là Thuận Châu và Hóa Châu. Sau ghép hai chữ ThuậnHóa thành một là Thuận Hóa.

Cụ tẩm tướt với giấc mộng đầu hôm cuối bãi với nhà Nguyễn khởi nghiệp.

Tất cả bằng vào chuyện khi thấy Lê Trang Tông không có con, Trịnh Kiểm nhân cơ hội muốn truất phế nhà Lê để xưng vương, song còn e ngại lòng dân Bắc Hà nên nhờ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ Trạng quay mặt vào bảo người nhà như một lời đáp gián tiếp: “Năm ngoái mất mùa, thóc giống không tốt, đi tìm giống cũ mà gieo mạ.”  Rồi Nguyễn Bỉnh Khiêm sai tiểu đồng ra quét sân chùa, dâng hương mà nói: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản.”  Hiểu ý, Trịnh Kiểm phải cho người đi đón Lê Duy Bang ở Thanh Hoá về để lập lên làm vua.  Sau đó, còn nhiều lần các chúa Trịnh cũng tính tiếm ngôi vua nhưng nhớ lời dặn, lại thôi, nhất là câu: “Lê tồn, Trịnh tại.  Lê bại, Trịnh vong”.

Quả như thế, vì khi Lê Chiêu Thống mất ngôi, nhà Trịnh cũng suy vong theo.

Khúc quanh của lịch sử cùng thời thế tạo anh hùng từ khi thay bố vợ Nguyễn Kim nắm binh quyền, Trịnh Kiểm sợ em vợ là Nguyễn Hoàng tranh giành quyền bính, nên Trịnh Kiểm tìm cách ám hại. Nguyễn Hoàng sợ hãi, tìm đến cụ Trạng. Cụ Trạng Trình không trả lời ngay, chỉ chống gậy ra sân ngắm hòn non bộ, nhìn đàn kiến đang “leo núi” với thế sự thăng trầm quân mặc vấn và bâng quơ: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (4). Nguyễn Hoàng hiểu ý bèn xin vào trấn thủ Thuận Hóa. Trịnh Kiểm nghĩ Thuận Hóa là chốn biên cương, cùng đường tuyệt lộ, đất cằn người thưa nên đồng ý cho đi…

Năm 1558, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào đất Thuận Hóa lập Dinh ở làng Ái Tử thuộc Quảng Trị. Năm 1626, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên dời Dinh vào Thừa Thiên. Trước khi vào Thừa Thiên thăm Huế, Cụ và mình tạt vào Gio Linh tỉnh Quảng Trị thăm chùa Long Phúc thờ chúa Nguyễn Hoàng. Ngỡ đi ngay, Cụ bảo mình ngồi lại quán nước bên đàng để cụ ngắm thành cổ Quảng Trị mà Minh Mạnh xây sau khi thống nhất đất nước. Đột nhiên, Cụ moi cái điều cầy ra thông điếu. Mình bật ngửa ra là chả hiểu Cụ “thủ” cái điều cày ở chợ trời biên giới từ hồi nào không hay. Cả hai điếu động quan, điếu hạ thủy, mình như người cưỡi khói theo mây đẩy đưa hương tàn khói lạnh với Cụ, với lịch sử là cuộc tái diễn không ngừng cùng Mùa hè đỏ lửa. Cũng ở nơi này năm 72, lại thêm một cuộc chiến trang Nam Bắc để thành Quảng Trị trở thành một phế tích. Lại thêm một lần mình lọ mọ là cụ vua Minh Mạng dựng thành Quảng Trị làm khỉ khô gì để hai miên Nam Bắc giành giật nhau, để đánh nhau? Để khúc đường từ Quảng Trị vào Huế thở thành Đại lộ Kinh Hòang.

***

Thế nhưng mình chả dại mồm dại miệng nhét răng hỏi, lớ ngớ Cụ mắng cho rỗ mặt như những hố bom B52 trải thảm lỗ chỗ vùng phi quân sự Quảng Trị. Không hay biết mình đang trong cõi mụ mị, Cụ bắn một bi thuốc lào ròn tanh tách trở về năm 1802: Nguyễn Ánh cử phái đoàn đi sứ gồm Trịnh Hoài Đức, Đặng Trần Thường, Trương Tấn Bửu qua Tàu xin đổi tên nước, phong vương và lãnh ấn chỉ. Nguyễn Ánh muốn đổi tên nước là Nam Việt, nhưng vua Gia Khánh nhà Thanh không ưng vì Nam Việt là tên cũ từ Triệu Đà nhà Hán thuộc Trung Hoa. Vì là nhà Thanh gốc Mãn Châu nên buộc đổi ngược lại là Việt Nam.

Nhấp ngụm nước chè xanh, Cụ chiêu hồn qúa khứ trước đó như một bí ẩn, mà các sử gia, sử học đã nhẩy qua vũng lầy của lịch sử vì sợ bị lạnh cẳng: Ấy là từ đời nhà Trần, Hồ Tôn Thốc, tác giả bộ Việt Sử cương mục khi soạn bộ Thế chí thuộc đã đặt tên là “Việt Nam thế chí ”. Đời Lê Trung Hưng, Lê Qúy Đôn trong bộ Vân đài loại ngữ cũng có câu: “Nay xét tục ngữ Việt Nam….”. Ngoài ra, bia đá thế kỷ thứ 17, có khắc “Việt Nam triệu quốc, Kinh Bắc định vương, Yên Phương Mỹ huyện, Mẫu xá danh hương” hoặc “Việt Nam cảnh giới, Bắc nhất vi tiên, Từ Sơn mỹ hỉ, Hữu thị miếu triều”. Qua đời Lê-Mạc, trong thi tập Trình tiên sinh quốc ngữ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, mở đầu có câu “Việt Nam khởi tổ xây nền”, cụ Trạng đã tiên tri từ trước nước ta sau này có tên là: Việt Nam.

Cụ quay quả là nhờ Ngô Thời Nhiệm, Quang Trung được Càn Long phong vương hiệu “An Nam quốc vương”. Khi phái đoàn đi sứ Trịnh Hoài Đức đề cập đến vương hiệu Gia Long, vua Thanh bắt bẻ với tên Càn Long đời thứ tư nhà Thanh vì khi quân lấy chữ Long, với tên Gia Khánh đời thứ năm vì kỵ húy lấy chữ Gia. Trịnh Hoài Đức diễn giải từ câu “bắc hữu Thăng Long, nam hữu Gia Định”, Gia Long nghiã là thống nhất hai miền từ Gia Định đến Thăng Long. Gia Khánh thuận vì nghe cũng…. thuận tai. Vậy mà từ năm 1802 đến 1804, hai năm sau Nguyễn Du từ Huế ra Thăng Long mới lãnh được ấn chỉ ở ải Nam Quan. Số là sứ thần Tàu ra điều kiện đến Thăng Long thì được, và không chịu tới Huế vì phải…đi bộ xa quá. Nhưng trong cái rủi có cái may, may là nhờ vậy Nguyễn Du mới mang về cho Gia Long “Bộ ấm Giáp Tý 1804” quà tặng của vua Thanh. May hơn nữa với long là rồng. Gia Long cho khắc con dấu con rồng bằng vàng ròng tên “Quốc tỷ Đại Nam thu thiên vinh mệnh” thì được sử gia Trần Huy Liệu mang về Bắc bộ phủ ở Ba Đình.

1803 Gia Long lập kinh đô Huế. Chữ Huế (5) từ chữ Hóa trong địa danh Thuận Hóa, nhưng vì kỵ húy ông Nguyễn Nạp Hóa là con của ông tổ nhà Nguyễn là Nguyễn Bặc nên đọc tránh đi là Huế. Theo nguồn khác thì chữ Hóa, người Chàm đọc trại ra ra là…Huế. Nào có khác gì như “Làng Cò” ở Thừa Thiên, người Huế đọc chệch đi là…Lăng Cô.

Cứ theo Cụ sắm nắm thì đúng ra Gia Long và đại thần Nguyễn Văn Yến chỉ khảo sát đât đai Huế vào năm 1803. Mãi đến năm 1805, Gia Long mới khởi sự xây dựng (6) và hoàn tất năm1818. Minh Mạng tu bổ thêm từ năm 1818 đến năm 1832. Thành Huế với tam cung lục điện theo kiểu Tàu. Tường thành theo kiểu thành lũy Vauban của Tây với pháo tháo, lỗ súng thần công. Một năm sau, năm 1818, qua Voyage from France to Cochi-China của người Pháp là Captain Rey, năm 1819, ông viết: “Kinh thành Huế là một pháo đài, hơn cả pháo đài William và Saint George ở Madrass do người Anh xây dựng”.

Đặc trưng kinh đô nhà Nguyễn là nơi chốn gặp nhau giữa Đông và Tây như ở Đại Nội, Cửu Đỉnh đồng mỗi cái tượng trưng một đời chúa, do được lò đúc làng Thọ Dực đúc. Họa tiết, hoa văn với núi sông cây cỏ, mây nước, sấm sét, muông thú và cả…tầu bè khí giới nữa. Và tác phẩm Cửu Đỉnh này thì tác giả là ông Jao Da Cruz người…Bồ Đào Nha.

Ngồi chưa nóng chỗ Cụ đã giục bác tài lái xe vào Huế. Khi không mình quay đầu lại nhìn về phương Bắc, nhìn con đường xưa lối cũ với u uẩn dấu xe ngựa cũ hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương… Mình nhét vào miệng câu đọng chữ thừa với Cụ như thế này đây: Năm 1832 Minh Mạng thứ 12, đổi tên Thăng Long là Hà Nội. Ấy vậy mà cớ sự gì kinh đô nhà Nguyễn không đổi tên hoặc đặt tên riêng với hai âm như Thăng Long, Hà Nội, Sài Gòn, hay Hội An, v…v…mà chỉ trần sư cụ một chữ cụt ngủn: Huế.

Ngừng một chút, Cụ trầm ngâm và cắt lưỡi mình như sau: Chuyện này thì Cụ cũng bí ngô bí khoai. Mà phải hỏi…Bà Trời. Ngỡ đùa hóa thật, Cụ dẫn tới chùa Thiên Mụ. Số là sau khi vào đến Thuận Hóa, Chúa Tiên đang trắng mắt như con tinh vì không biết “Tả thanh long, hữu bạch hổ” ẩn mình ở xó xỉnh nào. Ngay buổi tối hôm ấy, nhà Chúa nằm mơ thấy một bà lão tóc bạc phơ, hiện về và dậy rằng: Đất này có thế “Nhất hổ trục quần dương – Tiên vi tướng, hậu vi vương” nếu muốn mạng đế vương được truyền tử tôn đời đời kế thế thì phải dựng chùa thờ…Bà Trời.

Thò đầu vào trong mới hay Bà Trời vừa vào Nam. Thế là cả hai lại theo bà với “Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi không ngừng, Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam, tôi đi chung cuộc mừng và mong sẽ quên chuyện non nước mình…”. Mình đang trơ mắt ếch vì không “liên hệ” được với Bà Giời trong cõi nhân gian phù thế này. Thì Cụ khủng khỉnh là vào Sài Gòn sáng nắng chiều mưa cũng chả sao, nhưng Cụ chỉ sợ “Sinh Bắc tử Nam” thôi. Mình phải “động viên” Cụ là đất nước mình thống nhất thanh bình từ khuya rồi và Cụ nên theo ông nhạc sĩ họ Trịnh đi không ngừng để đừng…quên chuyện non nước mình.

***

Trên xe, lòm ngõm chuyện non nước minh, Cụ ngược về với Hồ Hán Thương đánh chiếm được phủ Thăng Bình của Chiêm Thành. Với của người phúc ta, Gia Long đổi tên Thăng Bình là Quảng Nam với nghĩa “Quảng” là rộng rãi và “Nam” là nhà Nguyễn đã phát triển đất đai về phía nam. Cụ vẽo vọt thêm ấy là chưa kể Gia Long xây Tử cấm thành cũng quay đầu về phía nam theo địa lý phong thủy, theo kinh dịch: “Thánh nhân nam diện nhi thánh thiên hạ”. Tạm hiểu là vua quay đầu về phía nam để cai trị thiên hạ.

Vào Hội An, dựa theo bản đồ của Alexandre de Rhodes, ghi chú là Hai Phố. Cụ thông sử như thông điếu rằng từ hai khu phố Hoa, Nhật trở thành Hội An, “Hội” từ tụ hội, “An” ở an bình để bỗng dưng có tên Hội An. Thêm giai thoại có thằng Tây, khi tới khu phố cổ Hội An lớ ngớ hỏi: Faifo? Ý hỏi là: Phải phố không? Thế nhưng qua Cuộc hành trình từ Pháp đến Việt Nam năm 1819, Captain Rey viết : “Vịnh Tourane đã được ghi lại trong chuyến Hải trình đến Trung Hoa năm 1972 của Lord Macartney. Nay tôi vẽ lại chính xác hơn và thêm một đường bờ biển từ sông Fai-Fo đến đảo Tiger gần Hué. Fai-Fo là thành phố có con đường thật dài. Dân số khoảng 60.000 người, trong đó 1/3 là người Trung Hoa.”. Vì vậy câu nói “Phải phố không?” chỉ là…giai thoại. Vì tên Fai-Fo có từ thời Gia Long.

Cụ đẽo đọt thêm Hồ Hán Thương đánh chiếm được phủ Thăng Bình, quân dân Chiêm Thành chạy về thành Đồ Bàn (Phan Rang). Tiếp Cụ lỗm bỗm đến Nguyễn Hoàng tiến chiếm Đồ Bàn. Ăn cây táo rào cây sung, Gia Long đổi tên Đồ Bàn là Bình Định với nghĩa “bình định” được đất đai của hai miền Nam Bắc từ năm 1802.

***

Chót chét thì cái “xe con” thổ tả cũng ậm ạch vào đến miền Nam.

Cùng một thoáng mây bay, Cụ lại nhuốm mùi nho phong mực tàu giấy bản qua sử thi bằng vào năm 1631, Nguyễn Phúc Nguyên gả quận chúa Ngọc Vạn cho Miên vương Chey Chetta II. Miên vương tặng nhà Chúa đất Mỏ Xoài (tên Miên là Mô-xúi, tên Việt sau là Bà Rịa) làm quà cưới, Chúa Sãi cho tội đồ lưu xứ vào đây khai khẩn đất hoang. Tiếp đến những lớp di dân khác từ Thừa Thiên, họ khai phá Đồng Nai (vì cánh đồng có nhiều nai) và Đông Phố. Năm 1658, nhà Nguyễn lấn chiếm miền đất phía đông lập nên Đông phố (tức Dinh trấn biên). Với Trịnh Hoài Đức địa danh này phiên âm từ tiếng Miên là “Giản Phố” rồi sau chép sai thành Đông Phố (người Minh Hương gọi là Cù lao phố).

Thời chúa Nguyễn Phúc Lan, quan lại nhà Minh chống nhà Thanh bị thất bại, họ mang 3000 quân và 50 chiến thuyền sang tị nạn. Chúa Hiền Vương cho họ vào Đồng Nai-Đông Phố để khai thác đất đai, buôn bán để đóng thuế. Tại Đông Phố họ lập môt chợ củi rất lớn tên Sài Thị, người Tàu kêu Sài Thị là Tai Gon. Vì “sài” là củi nên cư dân ở đây gọi tên dân giã là Bến Củi. Đồng thời Lê Văn Duyệt lập lên thành Phiên An ở Dinh trấn biên (7), Nguyễn Hữu Cảnh đổi tên thành Phiên An là thành Gia Định. Đầu đuôi suôi ngược với trước kia, người Miên lập thành Prei Nokor chạy dài từ Phú Lâm tới Chợ Quán và bọc qua Thị Nghè và cầu Bông, ngày trước gọi là cầu Miên. Tất cả vùng này xưa gọi chung là Bến Nghé, vì là khu sình lầy nên trâu, nghé tụ về đây, lúc ấy lèo tèo chỉ có năm, ba xóm chài và buôn bán trên sông. Sau Minh Mạng vì tránh hậu hoạn giặc Lê Văn Khôi nên đập phá đi, thu nhỏ lại trong phạm vi khu đất cao ấy và dân chúng gọi là Đồn Đất.

Nhà Tây Sơn đánh nhau với nhà Nguyễn ở Cù Lao Phố, vì vậy người Minh Hương kéo nhau về Phiên An lánh nạn và lập nên phố chợ Đề Ngạn. Hai chữ Đề Ngạn, giọng Quảng Đông phát âm là “Thầy Gòn”. Gia Long đổi tên Sài Thị là Sài Côn. Thành Gia Định sau khi bị thu hẹp lại, khu “Đồn Đất” phát triển mạnh nhờ lập chợ búa, nhờ thuyền bè qua lại ở Bến Ngé (8). Và vì gần thành Gia Định nên được gọi là chợ Bến Thành (9). Chợ này ngày xưa kia nằm ở khu phố Chợ Cũ bây giờ chứ không phải chợ Bến Thành ngày nay.

Cụ chao chát chuyện xưa tích cũ với chuyện vào thời Tự Đức quan quân kéo tới đập phá đền thờ quan Trạng “An Nam lý học hữu Trình truyền”. Hỏi ra mới hay Tự Đức tức giận vì câu sấm “Gia Long tam đại – Vĩnh Lạc vi vương”. Diễn nghĩa là chả truyền tử tôn đời đời kế thế như Bà Trời dậy mà theo cụ Trạng Trình chỉ có 3 đời: Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Vì Tự Đức không phải giòng giống nhà Nguyễn, mà là con của Quận Quế người Vĩnh Lạc. Mình cứ ngay đơ thưa chả hay biết giai thoại trên, Cụ lụm khụm: “Nói chuyện với anh có văn có ích, có văn chơi thì chả có ích gì thà nói chuyện chơi với đầu gối sướng hơn”. và Cụ rù rì kể câu sấm Trạng Trình “Phụ nguyên chính thống hẳn hoi – Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê”. Ý nói chính thống nhà Nguyễn Gia Long là Hòang tử Nguyễn Hữu Cảnh nhờ trợ giúp của người Tây qua Bá Đa Lộc để diệt nhà Tây Sơn. Nhưng rồi chủ quyền nhà Nguyễn cũng sẽ mất vào tay thằng Tây. Vì chữ “dê” diễn Nôm theo chữ Hán là “dương”. Dương đây chỉ người Tây phương như dương lịch”, hay “tây lịch”.

Khi người Tây từ Vũng Tầu (10) đổ bộ lên đánh thành Đồn Đất, thành bị phá bỏ để lập lên nhà thương Grall cho quân đội viễn chinh. Năm 1928 chợ Đề Ngạn bị cháy, người Tàu xây cất chợ mới là chợ Bình Tây. Vì chợ mới lớn được gọi là…Chợ Lớn. Chúng bắt đầu làm đường trải rộng ra với phố xá, nối nhà thương Grall với chợ Đề Ngạn bằng vào đường Trần Hưng Đạo. Năm 1861, có thể vì tên địa danh từ “Sài Côn” với “Thầy Gòn”, người Tây đặt tên là “Thành phố Sài Gòn”. 1954, Bảo Đại đặt tên là “Đô thành Sài Gòn-Chợ Lớn”.

***

Cả hai thong dong trên con đường nhân gian trước mặt …Ấy là đại lộ Nguyễn Huệ mà xưa kia là cái rạch nối liền từ nhà thương Grall tới sông Sài Gòn. Tới bến bãi, nhìn tượng Trần Hưng Đạo chỉ kiếm xuống sông Sài Gòn. Nhìn lên bầu trời với những đám mây thấp mầu xám chì. Cụ lắc đầu, nói với mình khe khẽ: “Cứ theo anh văn vận nước nhà đương buổi mới, như trăng mới mọc tớ còn chơi . Hay là ta xuống miền Tây chơi thăm Mạc Cửu đi”. Mình chả hiểu mắc mớ gì Cụ mang Mạc Cửu vào đây. Thế nhưng vẫn phải bám như cua cắp theo Cụ. “Xe con” chạy nhùng nhằng xuống Mỹ Tho, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu…(xem Chú thích 2). Bỗng dưng Cụ vỗ vai bác tài nói quẹo trái qua Cà Mau. Mình cứ ngỡ đến Cà Mau thế nào cũng có mục chỗ ăn ngon, món ăn ngon, có người biết ăn ngon thì…ngon lành. Thế nhưng không, Cụ nói bác tài lái xe xuống tận…Mũi Cà Mau và ngừng ở xóm…Xóm Mới. Nói dối phải tội chứ, chứ trong đầu củ sắn mình bật ra cái ý nghĩ chạy trời không khỏi nắng thì cứ theo Cụ cũng không ngoài… “Chuyện này trên trời không có đây!”.

Hóa ra Cụ rủ ghé ngồi quán tôm khô của kiệu ngay bãi bờ và kêu một xị “Nước mắt quê hương”. Cụ lại như cũ với cái này, cụ cũng không uống được mấy, nhưng buồn quá thì mượn nó để tiêu sầu. Cụ gật gừ với mình là đất say đất cũng lăn quay, trời say trời cũng đỏ gay, ai cười? thì cứ uống. Áng chiều nhờ nhờ, Cụ héo hắt bắt qua xị thứ hai. Cứ đà này, Cụ chẳng những nát lòng vì chuyền nào đó, mượn tiên tửu để tiêu sầu chi đây!

Đột nhiên cụ móc trong túi ra tờ giấy bảo mình đọc. Ừ thì mình đọc:

“…Gần đây vào năm 2006, một sĩ phu Bắc Hà thổ cư ở Thăng Long cổ thành bây giờ đã tìm thấy một tấm đồ thị có tên là Việt Nam địa dư đồ lưu trữ ở Anh Quốc, do Xa Khâu Từ Diên Húc đời Thanh sọan. Trong bản đồ có ghi: “Việt Nam quốc tòan đồ thuật lược”, hiểu theo nghĩa là ghi chú tóm tắt và đánh dấu đất đai của ta thời ấy, như “Nguyễn Quang Trung phụ tử cư” là thổ ngơi của cha con Nguyễn Quang Trung. Tới “Thử Việt vương Nguyễn Phúc Ánh diệt chi tọa độ thử” là Nguyễn Phúc Ánh diệt họ rồi lấy đó làm kinh đô. Ngay chỗ này ghi “Việt Nam kiến quốc đô” tức đóng đô của Việt Nam. Vùng bể thuộc Việt Nam có hai hàng chữ và dấu rất sắc sảo là “Tiểu Trường Sa hải khẩu”“Đại Trường Sa hải khẩu” công nhận hai đảo này của ta vì với bản đỗ cổ thì Tiểu Trường Sa chỉ Hòang Sa và Đại Trường Sa chỉ quần đảo Trường Sa hiện nay…”

Đọc xong, ngửng lên thấy Cụ hắt hiu như muốn sa nước mắt. Mình cũng vừa buồn vừa thẹn, không biết dám nói lại ra làm sao với Hoàng Sa, Trường Sa! Lúc ấy Cụ uống như đã say, càng hiện vẻ lâm ly cảm khái, mà từ đây Cụ uống lại càng nhiều. Trời đất mới vào thu, gà gà đắm vào bóng chiều. Mình nguyên uống được nhiều, nhưng ngồi hầu Cụ thời dầu Cụ có nhắc, cũng chỉ uống cầm chừng mà thôi, đến lúc mặt đỏ cay đỏ cợi . Lúc ấy bất giác cũng uống những hớp rượu thật to, như không uống thời không qua được cái thời khắc. Đến tơm tởm chiều tối, Cụ ngần ngừ một lát, tối chưa lọ mặt người, chỉ cái cột đèn mờ nhân ảnh bên kia đường, Cụ chậm rãi như nói với chính mình và Cụ đờ đẫn cười: “Cái cột đèn nếu có chân, nó cũng muốn đi nữa là!”.

Làm như không có mình ngồi bên cạnh, Cụ bâng quơ, bâng khuâng: “Cái hạc bay lên mãi tận trời, trời đất từ nay xa cách mãi”. Rồi cụ thong thả…thả bộ qua bên kia đường. Trời mỏng dần như sắp tối, nhưng lại tối sáng, tối đến xắt ra từng miếng một. Ngỡ Cụ bay về trời thật với trời đất từ nay xa cách mãi, hóa ra Cụ lững thững bước xuống ghe con, rồi lồm cồm leo lên ghe lớn. Buổi tối bắt đầu, nóng như luộc, mình nhòm rõ mồn một tay này kẹp nách xị “nước mắt quê hương”. Tay kia, Cụ cầm cái điếu cày…

Còn lại một mình trong bóng tốI dài ngoằng ngoẵng, dưới ánh đèn hột vịt lộn, lòng mình cứ dàn dạt thắt lại như sóng biển ngoài kia nghe ong cả tai với việc trần ai, ai tỉnh ai lo, say túy lúy nhỏ to đều bất kể. Cũng đến lúc phải nhúc nhắc thôi, rúc vào bóng tối đường chiều, mình cắm cúi lọng đọng gậm vần nhả chữ bài Vịnh bức dư đồ rách.

Nọ bức dư đồ thử đứng coi

Sông sông núi núi khéo bia cười

Biết bao lúc mới công vờn vẽ

Sao đến bây giờ rách tả tơi

Ấy trước ông cha mua để lại

Mà sao con cháu lấy làm chơi

Thôi thôi có trách chi đàn trẻ

Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi

Thạch trúc gia

Xuân Phân, Qúy Tỵ Niên

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 

Nguồn: Trần Gia Phụng, Phan Khoang, Nguyễn Đình Vượng, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Nguyễn Duy Chính, Võ Phiến, Hoàng Ngọc Liên.

Chú thích 1:

1- Tên gọi địa phương đúng ra là sông Ranh.

2 – Gio Linh và Quảng Bình hợp lại từ ba châu Ma Linh, Bố Chính, Địa Lý. Ma Linh là Gio

Linh phía bắc Quảng Trị. Bố Chính phía bắc Quảng Bình, Địa Lý là Quảng Bình.

3 – Châu Ri goi là châu Lý vì chữ Hán không có vân “r” nên đổi ra “l”.

4 – Có bản khác viết là “Hoành Sơn nhất đái – Khả dĩ dung thân”.

5 – Địa danh Huế đã có từ đời Lê, trong Thập giáp cô hồn quốc ngữ văn Lê Thánh Tông có

viết: “Hương kỳ nam, vảy đồi mồi, búi an túc, bì hồ tiêu, than Lào, thóc Huế…”.

6 – Năm 1805 với 30,000 dân công. và năm1818 với 80,000 dân công.

7 – Phiên Trấn: Trấn, biên là từ ngữ đi với “dinh” chỉ vùng biên giới, như Dinh Trấn Biên.

8 – Bến Nghé nằm bên con rạch cùng tên (người Pháp gọi là Arroyo Chinoise) là chi nhánh

của sông Sài Gòn. Sông này gặp sông Đồng Nai ở Nhà Bè. Bến Nghé là bến mà người

Cao Miên trước kia gọi là Kompong Krabey với Kompong là bến và Kompong là trâu.

9 – Bến Thành xưa ở phố Chợ Cũ bây giờ). Con hào để thuyền bè từ sông Sài Gòn vào

thành Đồn Đất được lấp đi thàng đại lộ Nguyễn Huệ ngày nay.

10 – Vũng Tầu vào đời Minh Mạng có 3 làng: Thắng Nhứt, Tháng Nhì, Thắng Tam. Người

Pháp cho đậu ba tầu ở đây để lo về điện tín. Dân chúng nhân đó gọi là Vũng Tầu. Tiếp

đến là Ô-Cấp, do chữ “au Cap Saint Jacques”.

Chú thích 2:

Những địa danh Mỹ Tho, Trà Vinh,…Bắc Liêu, Cà Mau gốc tích Mã Lai hoặc Cao Miên như:

Mỹ Tho do chữ Me Sa có nghĩa là Bà Trăng.

Trà Vinh do chữ Pratrapeang có nghĩa là hồ của Phật thánh.

Sóc Trăng do chữ Strok Treang có nghĩa là xứ hay kho tàng.

Bắc Liêu do chữ Po Loenh là cây ca dao.

Cà Mau do chữ Tuk Khmau tức là nước đen.

 

 

©T.Vấn 2015