04/06/2016
Ngộ Không :Tác Giả và Tác Phẩm – Lê Đạt (II)

lê đạt

Những phút cuối với Lê Đạt

Dương Tường

Nhà thơ Lê Đạt (tên thật là Đào Công Đạt) sinh năm 1929, vừa qua đời tại Hà Nội rạng sáng ngày 21.4.2008. Là một trong những trụ cột của Nhân văn-Giai phẩm, tháng 7.1958 ông bị kỉ luật “khai trừ 3 năm, vẫn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, quyền xuất bản cũng đình chỉ trong kỳ hạn đó” theo lời ghi của Trần Dần ngày 07.7.1958, và cùng với Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Tử Phác và Hoàng Châu Ký, ngày 12.8.1958 ông bắt đầu chuyến đi “thực tế” mà thực chất là lao động cải tạo tại Nông trường Chí Linh, Hải Dương. Hình phạt 3 năm đã kéo dài 30 năm, cho đến năm 1988, khi ông được phục hồi tư cách hội viên Hội Nhà văn và quyền xuất bản. Sau tác phẩm Bài thơ trên ghế đá (1955), gần 4 thập kỉ sau ông đã cho công bố các tác phẩm: Bóng chữ (1994), Hèn đại nhân(1994), Ngó lời (1997), U75 từ tình (2007), và nhiều bài viết trên báo chí trong và ngoài nước. Tháng 2.2007, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

Vĩnh biệt một nhà thơ lớn và một trí thức từng góp phần quan trọng trong sự phát triển của đời sống tinh thần Việt Nam hơn nửa thế kỉ qua, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số bài viết về nhà thơ Lê Đạt. Những bài gần đây nhất của Lê Đạt trên talawas:

Đầu dây đằng kia, giọng nữ đứt đoạn, thỉnh thoảng nấc lên: “Cháu Liên, con bố Đạt đây, chú… Bố cháu đang ở khoa hồi sức cấp cứu… Bệnh viện Việt-Đức… Bố cháu ở Tây Nguyên về lúc 8 giờ tối, vẫn bình thường, còn ngồi xem tivi một lúc rồi xuống nhà lấy nước… thế là ngã sấp mặt trên những bậc cuối… Đưa vào đây mê man bất tỉnh… Theo các bác sĩ… nguy cơ tử vong… là lớn…” Tôi nhìn đồng hồ: 0g45 ngày 21/4. Lục tìm sổ điện thoại. Gọi khẩn cấp cho Việt Phương. Anh ấy nhiều quan hệ trong ngành y, may có thể nhờ giúp huy động tối đa khả năng cấp cứu đặc hiệu nhất. Rồi lao đến Bệnh viện Việt-Đức. Phòng cấp cứu hồi sức. Bạn tôi nằm đó, hôn mê, một chút máu rỉ ra bên khóe miệng.

Tôi nắm tay Đạt, bàn tay hồ như không còn sinh khí. Mấy năm nay, bạn bè đi nhiều quá. Mạc Lân… Vũ Bão… Trần Thư… Cao Nhị… Mai Văn Hiến… Rồi gần đây nữa, Lưu Công Nhân… Hữu Mai… Cao Xuân Hạo… Chẳng lẽ bây giờ lại đến lượt mày, hở Đạt? Tôi có cảm giác như anh khẽ gật đầu. Nhưng tôi chỉ tự lừa mình để tiếp tục cuộc trò chuyện thầm đơn phương… Nhớ không Đạt, nhưng ngày hoạn nạn, chúng mình cơm đùm cơm nắm lăn lê bò toài hết Thư viện Trung ương đến Thư viện Khoa học Xã hội dịch thuê viết mướn?… Nhớ không Đạt, những ngày bom B.52 Mĩ rải thảm phố phường Hà Nội, chúng mình tìm nhau vào những quãng ngưng, chụm đầu nghe một khúc “Sonate mùa Xuân” của Beethoven hay một chương “Concerto số 2 cho piano” của Rachmaninov trên chiếc máy quay đĩa Nga cà khổ và mày không quên bình luận với cái cười yêu đời không gì dập tắt nổi của mày: “Un havre de bonheur [1] !”…? Thế mà bây giờ…

Hai giờ ba mươi. Người ta mời người nhà các bệnh nhân ra khỏi phòng cấp cứu để các bác sĩ, y tá làm việc. Cả Nhiên, Liên, Uẩn và Thành, các con gái, con trai và con rể của Đạt đều khuyên tôi về nghỉ, hứa có gì sẽ thông báo ngay.

Kịch tác gia Ngọc Thụ, một người em thân thiết của Lê Đạt, đưa tôi về. Bùi Ngọc Tấn vẫn để đèn chờ tôi (anh ở Hải Phòng lên dự Đại hội Toàn quốc họ Bùi, nghỉ lại chỗ tôi như mọi lần). Cả hai chúng tôi đều không ngủ được. Cũng chẳng nói gì với nhau. Tôi trở dậy, đặt chiếc đĩa “Triple Concerto” của Beethoven. Tôi vẫn thường bảo Đạt: “Mình chỉ ước sao khi nào chết sẽ ra đi trong tiếng nhạc này.” Lúc đó là ba giờ mười lăm, thời điểm Đạt ra đi, như mấy tiếng sau Uẩn gọi điện báo cho tôi biết.

© 2008 talawas

Cấu trúc cách ly trong Ngó Lời của Lê Ðạt

Thụy Khuê

Ở Sénégal, với mẩu gỗ mun, người ta có thể tạo ra trăm nghìn hình tượng nghệ thuật. Trong tranh thủy mạc, chỉ với vài nét, họa sĩ có thể phác cả vũ trụ càn khôn. Dường như đó là những bí quyết tiết kiệm của nghệ thuật nhà nghèo và là bửu bối của những ai đã từng chán ngấy xài sang: Xài sang chất liệu, xài sang thời gian, xài sang chữ nghĩa… Thơ Ðường, với những chữ tầm thường, số chữ giới hạn mà có thể tạo sinh những biến ảo vô hạn giữa cảnh và tình.
Lê Ðạt tìm đến nghệ thuật nghèo -art pauvre- như một phương tiện ngó lời:

Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải
Bóng lá răm ngày Phả Lại đắng cay
(Phả Lại, Ngó Lời, trang 18)

Hai câu tám chữ, tổng cộng 16 chữ. Trong 16 chữ này không có chữ nào bóng bẩy, mạ kền, không có chữ sang, chữ diện, toàn những chữ tầm thường mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ ngõ ngách nghèo nàn nào trong chợ chữ. Nhưng nếu thử vài động tác chuyển hoán vị trí của chúng trong hai câu:

Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải
  Bóng lá răm ngày Phả Lại đắng cay

thành:

Vườn lá răm gió bay mùa hoa cải
  Bóng ngày phả lại nắng mắt đắng cay

hay:

Bóng nắng mắt răm gió ngày phả lại
  Vườn lá bay mùa hoa cải đắng cay

  Vườn mắt bay mùa hoa ngày phả lại
  Nắng bóng răm gió lá cải đắng cay

  Mắt ngày đắng cay bay mùa hoa cải
  Phả lại vườn răm bóng lá gió bay

  Ðắng cay hoa cải nắng gió Phả Lại
  Vườn răm mùa lá ngày bóng mắt bay

  Ðắng cay lá răm nắng ngày phả lại
  Vườn mùa hoa gió bóng cải mắt bay

  Ðắng cải cay hoa mắt ngày mùa nắng
  Lá vườn phả bóng gió lại răm bay
  v. v…

Tính theo toán học 16 chữ này có thể hoán vị giai thừa (factoriel) 16 thành một tổng số khổng lồ những câu thơ khác nhau(1). Khi ấy sự biến hình của 16 chữ có thể trở thành vô tận và như thế hai câu thơ phả lại trên đây cho ta cái cảm tưởng không chỉ ngắm một vườn cải, vườn răm trong ngày nắng Phả Lại, mà dường như ta đứng trước một không gian ảo: thiên nhiên mang tâm cảm và thị giác con người đang phân thân làm nhiều mảnh, rồi tự xếp lại thành những cảnh khác, những tình huống khác, cứ như thế, như thế… Từng mảnh cảnh và tình tự do tung bay như tranh Chagall dưới sự hướng dẫn của một nhà ảo thuật vô hình: Tụ hợp, ly tan không ngừng trong khoảnh khắc không gian và thời gian lạc mất và tìm lại trong nhau.

Ðó là sự cách tân mới nhất trong phép tạo hình thơ Lê Ðạt.

***

Dưới dạng tung bay nhẹ nhàng như đùa nghịch, chơi chữ, thơ haikâu của Lê Ðạt mang một quá trình tìm tòi sâu xa và cá biệt, một sự bắc cầu giữa xưa và nay, trong cấu trúc hình thức và triết lý thi ca. Lê Ðạt đã vượt qua những trở lực của dấu trong tiếng Việt, của trật tự chữ trong câu (dấu có nhiệm vụ phối âm và nhạc tính trong câu phụ thuộc vào trật tự chữ). Ông đã phá câu, xé chữ để sáng tạo mộtlối nói mới một cách ngó lời , trong cấu trúc cách ly tạo sinh toàn diện.

Nếu ở Bóng Chữ, đã có những biến ảo chữ (mỗi chữ giấu những bóng mình) trong cách trượt âm, trượt nghĩa. Nếu ở Bóng Chữ đã xuất hiện cấu trúc sóng ngang (tức là một câu thơ có thể biến đổi tùy theo những cách ngắt câu khác nhau). Thì ở Ngó Lời, ngoài biến tấu bóng chữ, biến tấu sóng ngang, các sóng chéo, xiên, trên, dưới, ngang, dọc, đều có thể giao nhau. Sự hoán vị trở nên bất kỳ khiến tính cách tạo sinh mở ra toàn diện: Với số chữ giới hạn (16) nhưng âm, ảnh và ý có thể biến đổi gần như đến vô cùng. Cho nên, những câu thơ như:

Trang thiên thanh ấp xanh mùa cốm tiếc
  Thư ủ tình thu ép biếc hơi hương
(Thư xưa, trang 49)

không chỉ có một kiếp sống, mà chúng có thể có những kiếp sống khác, tùy theo sức tạo sinh của người đọc:

Trang thư ủ tình thu mùa cốm biếc
  Ấp thiên thanh xanh ép tiếc hơi hương

  Biếc trang tình ép thu xanh mùa cốm
  Tiếc hơi hương ủ ấp thu thiên thanh

Lê Ðạt gọi thơ ông là haikâu, có lẽ để phân biệt với hai câu hiểu theo nghĩa thông thường, vì ẩn sau mỗi haikâu, còn có những hai câu thơ khác chưa khám phá. Ngó Lời ẩn cả bóng chữ lẫn bóng câu.

Trong văn học hiện đại, người ta thường đề cao vai trò của người đọc như một đối tác văn học trực diện với tác phẩm. Nhưng thực ra không phải tác phẩm nào cũng cho người đọc cái quyền liên danh với tác giả. Với những câu thơ cổ điển như:

Buồn trông cửa bể chiều hôm
  Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
(Nguyễn Du)

hoặc hiện đại như:

Vậy sao em lại ngủ
  ngủ trong lòng mộ trong nghĩa địa thân thể anh
  với áo cỏ may châm da thịt
(Thanh Tâm Tuyền)

thì người đọc chỉ có thể nghiêng mình, tiếp nhận cảnh tình, mà không thể tiếp tục tạo sinh ra những câu thơ mới, như với:

Thê Húc dáng cong bước chiều ký ức
  Trang mây bay Bút Tháp mực xanh ngày
(Hồ chiều, trang 96)

Ký ức chiều ngày bước cong Thê Húc
  Mực xanh bay bóng Tháp Bút trang mây

Thê Húc mây bay bước chiều ký ức
  Bút Tháp cong trang dáng mực xanh ngày

……
Thơ haikâu của Lê Ðạt không phát sinh từ haiku của Nhật Bản mà gần gụi với tinh thần phá câu của Mallarmé và tính chất độc lập chữ trong thơ chữ Hán. Trước khi là một dấu hiệu chỉ định sự vật, chữ Hán đã mô tả sự vật bằng đường nét: Mỗi chữ là một đồ hình. Bản thân chữ Hán là những bức hoạt họa phối âm, có khả năng tự túc, độc lập với những chữ khác. Ví dụ câu thơ Thiên địa phong trần của Ðặng Trần Côn, tức Trời – đất – gió – bụi là 4 chữ độc lập. Ðây không phải là một câu thơ (hiểu theo nghĩa cổ điển: Câu có chủ từ, động từ, tĩnh từ) mà là nhiều câu thơ vì ta có thể đảo lộn trật tự 4 chữ : Ðất gió bụi trờitrời bụi gió đất... không hề gì. Nhưng khi Phan Huy Ích chuyển sang tiếng Việt thành Thuở trời đất nổi cơn gió bụi thì chỉ còn có một câu thơ hay và chỉ một mà thôi: câu thơ Việt không thể đảo lộn trật tự như câu thơ chữ Hán (không riêng gì Phan Huy Ích, mà hầu như bất cứ ai dịch thơ Ðường, dù là dịch hay, cũng làm mất tính cách độc lập chữ  trong câu thơ chữ Hán).

Lê Ðạt dường như có ý muốn phá vỡ trật tự này. Ông phá câu tiếng Việt, ôngcởi trói thơ ông khỏi hình thức câu, để đi đến câu bất định: Một cấu trúc cách ly toàn diện.

Ðương nắng đường rùng lạnh cũng có thể là: Ðường nắng đương rùng lạnhhay Rùng lạnh đường đương nắng, vv… Với thủ pháp này, nhà thơ độc lập và dân chủ hóa mỗi chữ; nói khác đi ông tháo chữ ra khỏi phép đặt câu theo văn phạm cổ điển (mỗi chữ có một chức vụ cố định trong câu). Ông đưa chữ ra khỏi lãnh vực quan liêu để đạt tới sự bình đẳng bình quyền: Mỗi chữ đều đắt giá như nhau, đều tự do đi lại trong kâu. Có thể đó là một hình thức thực hiện dân chủ và nhân quyền trong trận đồ chữ nghĩa của Lê Ðạt. Chữ trở thành một sinh thể tự do hành động và di động. Ở mỗi vị trí khác nhau, chúng tạo nên những môi trường khác, những tình huống khác. Chữ là hóa thân của con người. Mỹ học bỗng mang đậm một tính đạo đức học sâu nặng.
***

Có thể xem thơ Lê Ðạt như những bức họa mang đường nét “thiên di”, chuyển từ hữu hình sang vô thể, từ vô thể trở lại hữu hình. Chuyển từ phong cảnh sang tình cảnh, từ vật chất sang con người trong luân hồi giữa mơ và thực, phối hợpkhông gian, thời gian và khoảnh khắc:

Tháp Gô tích núm đồi trưa thở nắng
  Chuông ngân chim thân trắng bướm cựa mình
  Lửa gạo thắp hoa đèn soi cỏ lạ
  Mây Sơn Tinh nước cả ngã ba tình
(Trung du, trang 25)

Ðây là phong cảnh trung du trải dài trong không gian và thời gian? Ðây là trận bão tình Sơn Tinh – Thủy Tinh trong một thời cổ tích? Hay đây là khoảnh khắc khỏa thân hiện hình của người kiều nữ trong những truyền thuyết muôn đời? Tính chất di động từ thực tại hữu hình chuyển sang ảo ảnh, từ tâm cảnh sang tâm linh, sang những chuyển biến vô hình, siêu hình, phải chăng là cuộc hành trình trong vô thức, giữa mơ và thực, giữa thức và tỉnh, mà có lần Lê Ðạt gọi là hội chứng từ thức:

Khuya mõ đoạn tình, kinh thoát tục
  Thơ trang ngân tâm từ thức lụy trần

Ai gõ mõ, ai đoạn tình, ai đọc kinh, ai thoát tục? Ai làm thơ, ai từ thức, ai lụy trần? Ai thanh, ai tục? Ai tỉnh, ai mơ?…
***

Chênh vênh giữa nhiều biên địa, Ngó Lời là sự hiện diện và gặp gỡ của những vắng mặt: Cổ thi, Ðường thi, ca dao, Nguyễn Du, Mallarmé, Desnos, quá khứ, kỷ niệm, ước hẹn, bội thề… trong một ngôn ngữ tình đã được giải phóng:

Tàu đắm hẹn bội thề lênh láng biển
  Trắng tinh bờ mộng thải nhiễm ô mơ
(Ô nhiễm, trang 139)

Từ một ngoại cảnh thời sự: tàu đắm, ô nhiễm biển của thời nay, Haikâu như vết dầu loang dần trên mặt sóng, chuyển sang tâm cảnh của những hẹn biển thề non, của những giấc mơ ô nhiễm, của những tinh mộng láng lênh, của những bội ước bội thề…
Hay từ một huyền thoại thời danh:

Tóc phong lan cổ bạch đàn tích sóng
  Mắt thoại huyền sông chén ngấn hò khoan
(Thoại huyền, trang 37)

Người đẹp trong tranh ngập ngừng bước ra, bỗng vỡ tan như mảnh gương bội ước; như những con chữ bội tình vừa hội tụ nên hình hài nàng trong giây lát đã vội chia tay để đi tìm những thoại huyền chưa biết, những tích cổ chưa hay của nhữnglan phong tóc, những thoại bạch đàn, những sông sóng mắt, những mắt hò khoan, những cổ ngấn đàn
Từ hận vạn cổ, trăng Khuất Nguyên xưa, thoát thai:

Bóng cá dạ trăng buồn quẫy nước
  Dằng dặc tình tăm chữ giải oan
(Khuất Nguyên, trang 80)

Hay câu thơ Ðỗ Phủ, biến thành:

Ðôi bóng câu huyền cong biếc liễu
  Một hàng cười trắng thẳng thanh thiên
(Xuân Ðỗ Phủ, trang 83)

Nhà thơ hẳn đã nắm bắt được cái “khoảnh khắc” bây giờ và ở đây, cho nên ông tạo điều kiện gặp gỡ giữa xưa và nay, để những bóng cá, dạ trăng oan khuất năm xưa, có dịp giải oan cho những hận tình chưa ngó, để những hàng cười trắngbây giờ có thể thăng thiên lên bầu trời xanh xưa sau.
***

Tính cách trữ tình và lãng mạn không lộ mà như đã nhỏ  thành mật tố, ngấm vào chữ rồi sao lên, khiến các con chữ ráo hoảnh, chúng như chưa hề đẫm lệ bao giờ. Có vẻ hờ hững, thản nhiên, vô tình, nhưng thực ra chúng đã nhiễm tình từ tâm, lụy tình từ kiếp trước, đã đam mê hơn một lần đời và đã vượt khỏi nhục cảm đời thường để đi vào xác thân ái ân đời chữ, khiến mỗi kết hợp hôm nay đều phát ra một tình trường, một từ trường, tĩnh lặng mà vô cùng đau thương và dậy sóng:

Người đẹp lẩn khe hai hàng chữ tối
  Thủ thư mù lần lẻ một lối mê.
(Borges, trang 84)

Hành động thơ trong Ngó Lời chủ yếu là một hành trình vào tình vừa cách ly, vừa hội tụ. Người thơ nhờ cậy vô thức phát lộ những khoảnh khắc khác nhau của một đời tình, của nhiều đời tình, của một nền văn hóa, của nhiều nền văn hóa, những ngọn lửa đam mê,… và cắt ra những hình tượng, những mảnh puzzle ghép lại thành thơ trong một công nghệ sinh học chữ đặc biệt. Nhưng mỗi yếu tố vẫn còn mang trong mình những vết thương quá khứ, chưa hết lụy tình mà đã hồi sinh, chúng đem vào đời mới những niềm đau cũ:

Tim lặng lạnh gốc bồ đề mưa cũ
  Chim gõ mõ kiếp xưa chưa hết rũ lụy tình
(Chim gõ mõ, trang 48)

***

Chúng ta sinh ra trong cô đơn, gián đoạn và chết đi trong gián đoạn, cô đơn. Mỗi cố gắng “giao lưu” với kẻ khác dường như chỉ là ảo tưởng. Ở chóp đỉnh của hạnh phúc, hai cá thể cũng không biết những gì đang xảy ra trong nhau, bởi đau không thể chia, sướng không thể sẻ, bởi không có cầu “thông thương” trực tiếp và liên tục giữa con người.
Những bắt gặp cảm thông, nếu có, chỉ là những tíc tắc tức thời, những lóe chớp ngộ tình, như những tia lửa sáng tạo sinh rồi tắt. Bachelard có lần đề nghị:Nếu chúng ta thử nhìn lại tư tưởng của mình, sẽ thấy chúng không ngừng bị xóa theo mỗi khoảnh khắc trôi đi.
***

Mỗi khoảnh khắc ra đi mang theo những mẩu sinh mệnh tư tưởng chưa kịp thành hình mà đã tàn lụi. Nhưng thời gian cũng chỉ là một chuỗi dài những khoảnh khắc chết yểu. Thời gian vừa là nghĩa trang, vừa là cái nôi của những tích tắc tức thời. Thời gian mang tính chất đứt đoạn của cuộc đời, và mỗi khoảnh khắc là một cô đơn, chia biệt, giam cõi âm trong lòng, bởi còn đang sống nó đã chết. Khoảnh khắc tựa như định mệnh của con người: Sống để tiến về cái chết, và nó cũng gắn liền với trực giác sáng tạo, cũng lóe lên rồi cũng tắt lụi, nếu con người không kịp thời ghi lại bằng chữ. Chữ chính là thịt xương của những sinh mệnh tư tưởng lóe lên trong khoảnh khắc.

Chữ chính là chứng từ của những mẩu tư tưởng đã qua đời :“Heo may từ xao xác nghĩa trang già” (trang 80). Chữ cũng mang định mệnh gián đoạn và cô đơn của khoảnh khắc, của đời người, nhưng chữ sống sót, chữ không bị thời gian xóa đi như xác thân hay khoảnh khắc

Trăng liêu trai hoa cửa trang không ngủ
  Tự vị ma về chữ dụ mộng du
(Chữ khuya, trang 85)

Chữ là thuật cho phép người sống sống với người chết, cho chúng ta hôm nay sống với Nguyễn Du, Lý Bạch, Tản Ðà hôm qua, trong những khoảnh khắc đang trôi, kéo theo những chia ly cách biệt.
Lê Ðạt gắn bó sâu xa với ý niệm thời gian, khoảnh khắc, với tình yêu, sự sống và sự chết, hẳn không khỏi nghiệm suy về những mất mát trong phút giây đang sống.
Hành động cách ly và tạo sinh con chữ, đem nó ra khỏi từ trường liên tục của những câu thơ có văn phạm, phải chăng, ở đây không chỉ là sự cách tân hình thức ngôn ngữ thơ, mà còn là sự thực hiện tự do và cũng là một cách tìm mình, tìm đến tận nguồn của những cô đơn gián đoạn trong sự sống; tìm cách hồi sinh những phút giây sáng tạo hiếm hoi trong đời để kết thành một xâu chữ -tình- thoát khỏi sự hủy diệt của thời gian? Nhà thơ vĩnh viễn là một kẻ lang thanh trang lần quê chữ tìm mình (trang 122). Họa hằn cũng có lần nhà thơ du cư kia may kỳ ngộ một khoảnh khắc vĩnh cửu.
***

Nặng nợ với chữ, với tình, vỡi chữ tình và tình chữ, thơ Lê Ðạt gánh những kiếp tình, nổi, chìm, lỡ, mòn, thề, bồi, lầm, lỗi… trong mỗi hóa thân chữ.

Ðất lở đá mòn một hai chìm nổi
  Thề bồi lời cát lỗi phải lầm sông
(Thề bồi, trang 125)

Lửa Ngó Lời thầm thì trong bóng câu bóng chữ, rủ người đọc mộng du trong cõi có có không không, kết hợp không gian thời gian trong những sát na hò hẹn, chia ly, bùng lên rồi tắt lịm, khâm liệm một vũ trụ nhớ thương, đắm say, cô đơn, gián đoạn, phân kỳ, mà hồn chữ thể hiện và hồi sinh những chứng tích của sự sống tưởng đã chết trong con người.
Thơ Lê Ðạt tỉnh táo mà đam mê, xót xa và hy vọng; dường như bình thản, vô tâm, nhưng đến được chỗ vô tâm có đâu là dễ? Chẳng đã trải bao hành hương trắng mộng?

Ai đốt rừng cho gỗ tiêu tâm (trang 60)

Cảm ơn chữ đã không phụ nhà thơ và nhà thơ đa mang đã trả lại cho tim ta những kỷ liệm vùi nông chân lộ úa tình (trang 164) trong một thoáng ngộ yêu:

Một huệ tình ơn chữ ngộ thừa yêu (trang 176).

 Yên Cơ, Giáng Sinh 1997

Chú thích 

1 hoán vị g(i)ai thừa 16! = 1x2x3x … x16 = 20.922.789.000, gần 21 tỷ.

 

Tôi làm khổ chữ hay chữ làm khổ tôi?

Nguyễn Đức Tùng thực hiện

Người đầu tiên mà chúng tôi đến thăm trong dịp ghé Hà Nội tháng 4. 2007, là nhà thơ Lê Đạt. Chúng tôi gồm có Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Tùng và một số bạn bè văn nghệ, đến nhà riêng của ông. Lê Đạt vừa dọn đến ở chung với người con trai được một năm, trong một khu phố yên tĩnh, hơi khó tìm đường. Trời Hà Nội sáng sớm mây mù, gió lao xao, mát mẻ dễ chịu. Đường nào cũng có nhiều cây xanh, nhưng không nghe tiếng chim hót. Trước ngõ nhà ông có vài gánh hàng rong, làm tôi nhớ đến Hà Nội ba mươi sáu phố phường của Thạch Lam. Lê Đạt tiếp chúng tôi trên căn gác nhỏ, nụ cười vui, dáng điệu nhanh, hỏi và trả lời dứt khoát. Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông phá lên cười. Trên vách tường sau lưng chỗ ông ngồi, có treo hai tấm hình. Một là tấm poster lớn đem về từ Ngày hội Thơ Việt Nam 15 tháng giêng âm lịch, tổ chức ở Văn Miếu Hà Nội, chụp chân dung của ông, phía sau là nền hoa mimosa vàng. Poster được chuẩn bị bởi nhà thơ trẻ Hữu Việt. Bên cạnh là giấy chứng nhận Giải thưởng Nhà nước 2007.

 Nguyễn Đức Tùng: Thưa anh Lê Đạt, xin chúc mừng anh vẫn còn giữ được sức khỏe và sự minh mẫn để làm việc. Người yêu thơ anh, theo dõi báo chí, chắc chắn sẽ vui khi biết rằng anh vẫn làm thơ và vẫn dành rất nhiều sự quan tâm đối với thơ ca Việt Nam.

Lê Đạt: Rất mừng được gặp các anh từ nước ngoài về và ở trong Nam ra. Chúng ta có dịp gặp nhau như thế này là quý lắm. Tôi vẫn còn viết được nhưng không còn viết được nhiều như trước.

Một thân hữu văn nghệ: Anh có thường tập thể dục không?

Lê Đạt: Mỗi ngày tôi đều đi bộ hai tiếng đồng hồ bờ Hồ Tây. Khi lạnh thì mặc thêm áo ấm.

Du Tử Lê: Anh còn hút thuốc lá không?

Lê Đạt: Không, tôi đã bỏ thuốc từ lâu. Nay thì bỏ hết. Trước đây tôi cũng hút ghê lắm

Nguyễn Trọng Tạo: Đọc các bài viết trước đây, các ông ấy thường cho là các anh thuộc loại sống truỵ lạc (cười).

Lê Đạt: (cũng cười) Những việc ấy thì nhiều.

Nguyễn Đức Tùng: Trên poster nhân Ngày hội Thơ ở Hà Nội vừa qua, treo ở tường sau lưng anh, có “lời khuyên” của nhà thơ Lê Đạt “Gửi người làm thơ trẻ” như sau: “Các nhà thơ trẻ để tránh khỏi nhạt nhẽo sáo mòn tuyệt đối không nên đến cửa hàng đặc sản gọi cho mình một món bi kịch.” Tôi rất chú ý đến lời khuyên này. Anh cho rằng tuổi trẻ ngày nay không có bi kịch của riêng họ? Họ đến các cửa hàng đặc sản hơi nhiều phải chăng?

Lê Đạt: Tôi không thích từ “lời khuyên” lắm. Nghe nó đạo mạo quá. Ta thống nhất với nhau là đó chỉ là một từ dùng tạm nhé. Mỗi thế hệ đều có bi kịch riêng của mình. Vấn đề là anh có nhận ra cái bi kịch ấy không và có sống với nó hay không. Các nhà thơ trẻ ngày nay cần sống nhiều hơn cái không khí của thời đại mình như những người làm chứng và như những tác nhân. Ai cũng biết rằng trong thơ cái giả không sống lâu.

Nguyễn Đức Tùng: Anh cũng nói: “Nên học thêm một, hai ngoại ngữ để có thể đọc được nguyên bản vì đọc thơ dịch là một việc vạn bất đắc dĩ”. Thưa anh, tác động của thơ nước ngoài đến thơ Lê Đạt như thế nào? Nói rộng ra, ảnh hưởng của thơ thế giới đối với thơ Việt Nam ra sao? Tôi hình dung rằng đây là một câu hỏi rất lớn.

Lê Đạt: Đúng là một vấn đề rất lớn. Thế hệ của tôi thường biết tiếng Pháp. Cũng có nhiều người đọc được cả tiếng Nga hay tiếng Anh, có người cũng đọc được chữ Hán. Ảnh hưởng là rất lớn, mình biết được người ta đã làm gì và đang làm gì. Học nhiều thứ. Học ở các bậc thầy cả về kĩ thuật làm thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Nhờ các dịch giả mà người Việt Nam được đọc các tác phẩm lớn hoặc hay của thế giới, hãy lấy một vài ví dụ như Sử ký Tư Mã Thiên (Nhữ Thành), Chiến tranh và hoà bình(Nguyễn Hiến Lê), Doctor Zhivago (Nguyễn Hữu Hiệu), Đèn không hắt bóng (Cao Xuân Hạo), Thơ Tagore (Đỗ Khánh Hoan), Bông hồng vàng (Vũ Thư Hiên) v.v… Như vậy việc dịch thơ chẳng lẽ không đóng góp được nhiều vào việc thưởng thức và sáng tạo thơ ca hay sao?

Lê Đạt: Thơ khác với tiểu thuyết. Thơ rất khó dịch. Người nào đã đọc được trong nguyên bản rồi thì không thể chịu được bản dịch của thơ. Độc giả bình thường thì có thể đọc thơ dịch, vả lại cũng chẳng có cách nào khác, nhưng anh là người làm thơ thì anh nên cố đọc trong nguyên bản ít nhất một ngoại ngữ.

Nguyễn Đức Tùng: Anh cũng tâm sự tiếp với các nhà thơ trẻ như sau (cùng trên tấm poster): “Các nhà thơ trẻ còn quá quen với cách làm thơ ngẫu hứng. Ai cũng biết cảm hứng là cần nhưng cảm hứng chỉ là khởi đầu, sau đó là mồ hôi và sự vật lộn với từng con chữ”. Có người đọc thơ Lê Đạt lại tin rằng thơ anh đầy sự ngẫu hứng đối với ngôn ngữ.

Lê Đạt: Điều đó không sai. Nhưng muốn tạo được cái ấn tượng thơ mình là đầy ngẫu hứng, thì mình phải lao động cật lực.

Nguyễn Đức Tùng: Nhưng cũng có người khác lại cho rằng trong tập Bóng chữ, và những bài thơ sau đó nữa, các con chữ bị vật lộn quá nhiều.

Lê Đạt: Những ý kiến khác nhau như thế càng chứng tỏ thơ của mỗi người chứa những yếu tố sáng tạo khác nhau. Tôi cũng biết đến những ý kiến chỉ trích rằng Lê Đạt là người làm khổ chữ. Tôi làm khổ chữ hay chữ làm khổ tôi? Việc đó còn hạ hồi phân giải. Thì tôi đã tự nhận là phu chữ kia mà.

Nguyễn Đức Tùng: Trên tập thơ Mimôza gần đây nhất, đăng ở Hợp Lưu số tháng 6&7 / 2006, anh có giải thích một đoạn rất hay về chữ mimôza. Một kỷ niệm gần như là tình yêu có thật trong đời.

Nắng tạnh heo mày hoa lạnh
Mimôza chiều khép cánh mi môi xa

Tôi rất thích hai câu này, so với nhiều câu khác của Lê Đạt, và cho nó là tiêu biểu cho trường phái thơ ngôn ngữ ở Việt Nam mà đại diện là Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng.

Từ những năm 1960 và nhất là 1970, ở Mĩ cũng có trường phái thơ ngôn ngữ, có người gọi là L-A-N-G-U-A-G-E. Các anh có ảnh hưởng nào của các nhà thơ Mĩ không hay hoàn toàn là một sự tình cờ?

Lê Đạt: Là sự tình cờ.

Nguyễn Đức Tùng: Theo dõi các bài viết của anh trên Hợp Lưu, talawas, và những tờ báo khác thì thấy anh là một trong những người rất hiếm không những làm thơ mà còn chịu khó trình bày, diễn giải để giúp người đọc hiểu rõ hơn về thơ. Trong tập Bóng chữ, trước bài “Ông phó cả ngựa”, anh có một đoạn mở đầu rất quan trọng.

Bậc phó cả
dễ ít nhiều
Tạo hoá
Cùng cánh thợ
Lê Đạt: Cám ơn anh đã nhắc đến đoạn này. Tôi vẫn tin rằng ngày nay cái đọc cần phải khác ngày trước, và người đọc cần tham dự vào quá trình sáng tạo của nhà thơ. Anh ta là đồng tác giả. Con ngựa của ông phó cả ngựa cũng là những con chữ sinh sôi bất tận.

Nguyễn Đức Tùng: Tập thơ Bóng chữ của anh lúc ra đời đã gây ra nhiều tranh luận sôi nổi. Sau nhiều năm im lặng từ thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, nhà thơ Lê Đạt trở lại với người đọc. Có thể hiểu rằng sự mong đợi của mọi người lúc đó đối với anh là rất lớn, nhưng họ không chờ đợi anh viết một loại thơ lạ như thế, khác hẳn thời kỳ NVGP. Hiện nay tình hình chắc đã khá hơn, và người ta không còn chỉ trích thơ Lê Đạt nữa?

Lê Đạt: Tình hình có khá hơn, nhưng vẫn còn nhiều người không hiểu hoặc không thích thơ Lê Đạt. Theo tôi đó là điều bình thường vì nhà thơ ít nhiều cách tân nào cũng kéo theo họ những người ủng hộ nồng nhiệt và những người chống đối. Tôi có nhớ Matisse đã phát biểu đại ý như sau: “Ba mươi năm nay người ta không chửi bới tôi nữa, kể cũng hơi buồn.”

Du Tử Lê: Các anh em vừa gặp nhau ở Sài Gòn xong lại kéo nhau ra Hà Nội để thăm anh và bạn bè khác. Những người viết ở nước ngoài thuộc thế trẻ hơn, như anh Nguyễn Đức Tùng, rất chịu khó đọc và gặp gỡ. Tôi cho rằng phải đọc nhiều, gặp nhiều thì mới hiểu nhau được.

Lê Đạt: Chúng ta ngồi hết vào đây, sát vào nhau để dễ nói chuyện. Và để đoàn kết. Các ông ấy buồn cười, lúc nào cũng bảo mình nói sai chính sách. Mình nói hơi bị đúng. Mình lúc nào cũng đoàn kết. Tôi còn nói đùa rằng các anh ở ngoài ấy khi về gặp tôi nếu có mắng mỏ gì thì mắng mỏ đi, chứ đừng để bụng, dễ đau bao tử. Văn nghệ thì đối với nhau cứ phải cởi mở, vui vẻ, có gì thì nói thật hết. Chứ văn nghệ mà đối với nhau lại còn tệ hơn chính trị thì không vui. Văn nghệ phải vui hơn chính trị. Không có nghĩa là kém sâu sắc đâu nhé.

Nguyễn Trọng Tạo: Anh Nguyễn Đức Tùng từ Canada về, và anh Du Tử Lê từ Mĩ.

Lê Đạt: Anh Du Tử Lê cho mình gởi lời hỏi thăm bạn bè ở Mĩ. Tùng chuyển lời hỏi thăm đến Nam Dao giúp mình nhé. Nguyễn Trọng Tạo có đưa cho mình đọc bài phỏng vấn về thơ mới đây trên talawas của Nguyễn Đức Tùng và Nam Dao. Tốt lắm.

Đây là tấm poster trong Ngày Thơ Việt Nam, có trích những câu viết của mình. (Nói đùa, cười) Văn thật của mình chứ không phải là đạo văn đâu nhé. Cái cô Phan Huyền Thư khi không lại dính vào chuyện này. Nó lỡ làm như thế thì thôi đi, một số các anh lại gay gắt quá. Mình năm nay đã cổ lai hi rồi, nên thấy cái gì cũng thích nhẹ nhàng.

Du Tử Lê: Thưa anh, trong đợt phát Giải thưởng Nhà nước vừa rồi, có anh, anh Hoàng Cầm, và Phùng Quán phải không?

Lê Đạt: Có cả Trần Dần nữa. Tất cả là bốn người trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm.

Nguyễn Đức Tùng: Xin phép anh được chụp tấm hình cái poster Ngày hội Thơ của anh, trong đó có lời khuyên các nhà thơ trẻ, và chụp luôn cái hình của tấm bằng Giải thưởng Nhà nước treo bên cạnh.

Lê Đạt: Anh chụp cái poster, nhưng thôi đừng chụp cái hình Giải thưởng Nhà nước nữa. Cái vụ này nó làm tôi nhức đầu lắm (cười).

Tôi vừa đọc xong mấy bài viết về vấn đề của Phan Huyền Thư. Các anh ở hải ngoại thì quyết liệt quá, mặc dù các anh đúng. Rồi các anh trong nước cũng khe khắt quá. Tôi vừa đọc bài của anh Nguyễn Hoà ở Hà Nội xong. Tôi không phải là người chủ trương hoà cả làng, về văn chương cái gì cần phê bình thì phải phê bình, nhưng nói nặng quá thì người ta không sửa được. Cái sự đoàn kết lẫn nhau nó vẫn hay hơn là đánh lẫn nhau.

Tôi ngẫm ra thế này: Chúng ta đánh nhau rồi có lúc còn ngồi lại với nhau không? Làm sao mà không ngồi lại được? Vậy thì phải ngồi lại với nhau thôi, thế thì đừng nên nói với nhau như hắt nước đổ đi. Chuyện gì bỏ qua được thì bỏ qua, tôi nghĩ không nên giận cá chém thớt. Trên các diễn đàn thì phải phê bình nhưng đừng nên vì giận nhà nước mà giận lây sang cả những chuyện khác.

Chúng ta đều là văn nghệ sĩ, mà văn nghệ sĩ thì chế độ nào cũng bị bạc đãi, thế thì chúng ta phải thương nhau. Từ kinh nghiệm cá nhân của tôi mà ra, tôi thấy văn nghệ sĩ mà không biết thương nhau mà chờ chính trị thương mình là một ảo tưởng quá lớn.

Trong khi phê bình lẫn nhau, thì đừng rút ván chặt cầu.

talawas là một diễn đàn có uy tín, đó là một cơ quan phản biện hay. Nhưng đôi khi vẫn biến đối thoạithành đối thụi (cười).

Nguyễn Đức Tùng: Thưa anh, trong các cuộc tranh luận, nhất là khi đến hồi gay gắt, ngay cả những người chủ trương các tờ báo hay các diễn đàn cũng không thể hoàn toàn kiểm soát được. Vả lại tôi nghĩ nếu anh kiểm soát gắt gao quá thì nó lại mất đi cái không khí tự nhiên của sự tranh luận.

Nguyễn Trọng Tạo: Cái đó một phần cũng vì Phan Huyền Thư có thái độ không rõ ràng.

Lê Đạt: Tôi không phải chỉ nói về vụ Phan Huyền Thư. Cô ấy còn trẻ, và đây chỉ là một tai nạn giao thông nhẹ. Tôi muốn nói đến sự đối thoại nói chung trong văn học và ngoài xã hội.

Nếu các anh đọc tôi từ những năm 80, thì tôi đã viết về chuyện nên đối xử như thế nào với nhau trong văn nghệ. Theo tôi, sau một cuộc chiến tranh, anh em trong nhà ai thắng ai thua không quan trọng lắm, vấn đề quan trọng là còn có đường đi lại với nhau hay không. Nghĩ được như thế thì thấy nhẹ nhàng. Ai thắng ai thua mà làm gì, các anh đánh nhau thì chỉ có thơ là thua mà thôi (cười).

Tôi chủ trương cần có sự hoà thuận giữa người Việt Nam ở miền Bắc và ở miền Nam, người trong nước và người ở hải ngoại. Cái đó là quan trọng nhất. Còn ai thắng ai thua không hề quan trọng đối với tôi. Những ranh giới như vừa rồi không phải là khái niệm địa lý, mà là khái niệm tâm thức.

Người ta cố gắng chính trị hoá chúng ta, thì chúng ta phải chống lại cố gắng chính trị hoá đó. Làm thơ rất khổ sở, chứ có sung sướng gì đâu. Ví dụ như tôi nói vài câu xúc phạm đến anh Du Tử Lê đang ngồi đây, thì làm sao lần sau tôi gặp anh ấy được nữa. Vì vậy những gì bỏ qua được thì nên bỏ qua. Thơ trong nước đã chính trị hoá rồi, thì thơ ngoài nước cũng không nên quá chính trị hoá nữa. Chỉ thỉnh thoảng mới có một vài ông thi sĩ làm quan lớn mà thôi, chứ bọn làm thơ chúng ta đa số là sống nghèo khổ thì phải thương nhau chứ.

Nguyễn Đức Tùng: Những cuộc tranh luận văn học mặc dù đúng là làm cho không khí sinh hoạt có khi nặng nề, nhưng mặt khác lại đặt ra được những vấn đề mới. Miễn là chúng được giữ trong biên giới của sự lành mạnh và thuần tuý văn học. Tôi nghĩ là không nên tránh các cuộc tranh luận.

Lê Đạt: Tránh làm gì? Và tránh cũng không được. Tôi cũng tin rằng chỉ có tranh luận và dân chủ thì mới có tiến bộ. Tôi chỉ muốn nói rằng đối với những trường hợp có tính cách cá nhân quá thì nên rộng lượng bỏ qua. Cần có cái nhân ái ở bên trong.

Có một chuyện cổ tích nói về một ông quan toà xử một phạm nhân, sau đó nổi lên giặc dã, ông chạy loạn qua đúng nơi lãnh địa của người bị ông xử tội. Ông tưởng rằng bị anh ta trả thù, nhưng không. Ông hỏi thì được trả lời rằng: ông xử tôi đúng, mà khi xử thì khuôn mặt ông rất buồn rầu chứ không tỏ vẻ khoái chí hay vui vẻ. Vì vậy mà tôi biết tấm lòng của ông.

Nguyễn Đức Tùng: Như vậy là anh muốn nói đến thái độ đối với nhau, hơn là nói về nội dung công việc.

Lê Đạt: Phải rồi. Như vụ Nhân văn-Giai phẩm ngày xưa, nhiều người xúm nhau lại đánh chúng tôi. Lại còn phân công người nào đánh người nào.

Nguyễn Trọng Tạo: Người ta gọi là đánh hội đồng văn chương. Ý anh Lê Đạt nói là bây giờ cũng có hiện tượng như thế đối với một vài cá nhân.

Lê Đạt: Ngày trước có lần Trần Dần kể cho tôi nghe rằng Nguyễn Đình Thi kéo anh ta ra một nơi và bảo: chúng nó phân công tao đánh mày, mày thông cảm. Trần Dần bảo rằng: thì việc mày, mày cứ làm. Nhưng mấy hôm sau khi đọc bài Nguyễn Đình Thi đánh Nhân văn-Giai phẩm thì anh ấy ngã ngửa, vì bài ấy viết nặng nề và ác quá.

Nguyễn Đức Tùng: Mở rộng ra các bài viết khác như của Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Mạnh Phú Tư v.v… anh có cùng một nhận xét ấy hay không?

Lê Đạt: Các bài viết ấy đều tương tự như thế.

 

[1]Trong thời gian nằm bịnh tại quân y viện, tôi được biệt đãi phần ăn 230 đồng mà không phải khấu trừ vào lương. Ở trên quản l‎í số tiền này ra sao tôi không rõ, chỉ thấy tận mắt là nhà bếp có phần thịt kho mỡ phát ra cho các xe để phân phối cho từng trại, các bà đẩy xe trích phần thịt bỏ bịch ny lông. Tôi có sức, đẩy xe cho các bà thì được trả công vài cục mỡ, khay ăn đến giường bệnh thì chỉ còn nước thịt và 1 miếng mỡ tượng trưng. Vì vậy nên có vụ y sĩ đại úy Hà Thúc Nhơn ở Nha Trang dẫn thương binh làm loạn và bị bắn chết tại quân y viện Nguyễn Hụê. Nay biết là tù binh cộng sản được 4-5 USD/ngày nên chẳng bao giờ nghe nói họ làm loạn trong trại!
[2]Chuyện thứ nhất nổi tiếng ở cao nguyên làm nên danh một đại úy (Phạm Hữu Tài): Ông tư lịnh quân khu là người văng tục đều đặn với thuộc cấp, vừa mắng vừa chửi thề vừa quơ gậy chỉ huy về bất cứ việc gì. Đại úy trên vào một bận họp đưa tay xin phát biểu “Tôi vào quân đội để phục vụ đất nước, tôi đi lính có một mình, không mang mẹ tôi theo để thiếu tướng chơi, sao thiếu tướng lại ĐM tôi”.
Chuyện thứ nhì hi hữu không kém, nổi tiếng ở đồng bằng làm nên danh một đại tá (Mạch Văn Trường): Bay thị sát mặt trận ông vào tần số điện đàm của địch, trao đổi thì bị địch cho ăn đủ thứ con ở trên máy. Đại tá này bèn trả lời “ Ta sẽ cho mi ăn một nắm kẹo đồng”!

Nguyễn Đức Tùng: Gần đây việc anh và ba nhà thơ khác được Giải thưởng Nhà nước đã gây ra những dư luận khác nhau. Về mặt chính thống, dĩ nhiên là việc trao giải thưởng đồng nghĩa với việc công nhận đóng góp của các anh vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam. Nhưng một số dư luận cho rằng cái phương cách mà nhà nước tặng giải thưởng và cái phương cách mà các anh nhận giải thưởng là có vấn đề. Trước khi nói về điều này, tôi nghĩ rằng trước hết cần thấy bản thân giải thưởng là một điều tốt đẹp cho cá nhân những người được giải thưởng. Trước hết là như thế đã. Còn điều đó có tốt cho nền văn học nói chung và có đáp ứng được các câu hỏi của lịch sử hay không lại là chuyện khác.

Vì vậy về phương diện cá nhân, tôi xin chúc mừng anh Lê Đạt.

Lê Đạt: Cám ơn anh. Có người chê tôi là việc nhận giải thưởng là một việc “không anh hùng”, thì từ thuở biết nghĩ đến giờ, tôi có bao giờ rắp tâm làm một anh hùng đâu? Nói như Montaigne “Tôi chỉ mong muốn sống một cuộc đời có thể lượng thứ được”.

Nguyễn Đức Tùng: Như thế người ta có thể hiểu rằng hành động nhận giải thưởng của anh và anh Hoàng Cầm là một cử chỉ đẹp, một cử chỉ cao thượng, đúng thế không?

Lê Đạt: Đẹp xấu gì cũng được. Tuỳ. Làm sao tôi có thể từ chối giải thưởng, vì bên cạnh tôi còn có vợ con anh Trần Dần, vợ con anh Phùng Quán và vợ con tôi. Tôi không nhận sao được? Thú thật với anh, bao giờ đối với vợ con, tôi cũng có mặc cảm tội lỗi. Nhất là với vợ tôi, việc tôi làm Nhân văn đã phá hỏng cả cuộc đời nghệ thuật của cô ấy.

Lòng nguyên xanh rừng non xuân trụi lá
Oan chồng thương bạc má văn công

Số tiền mấy chục triệu của giải thưởng đâu có lớn với tôi. Mà cái danh vị của nó cũng đâu có lớn. Tôi đâu có cần nó để đánh bóng.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi nghĩ thế này: những người phản đối việc trao giải thưởng không phải là họ phản đối anh, thậm chí ngược lại, họ là những người rất yêu mến anh. Theo dõi trên báo chí, cũng như trò chuyện với nhiều người, kể cả những người đang ở trong nước, tôi thấy họ có hai điều quan tâm. Thứ nhất là, nhà nước trao giải thưởng theo một phương cách không được đàng hoàng, và như thế là xoá sổ món nợ Nhân văn-Giai Phẩm một cách nhẹ nhàng, không xứng đáng với một vấn nạn văn học và xã hội. Thứ hai là, cái cách mà các anh nhận giải thưởng.

Lê Đạt: Nhà nước nào cũng “xỉn” trong việc trả nợ nhân dân.

Nguyễn Đức Tùng: Nghe nói rằng hình như khi phát giải thưởng, nhà văn Đỗ Chu, mà thú thật tôi không biết là ai, có nói lời xin lỗi riêng đối với anh?

Lê Đạt: Đỗ Chu nói nhiều câu rất hay, nhưng chỉ với tư cách cá nhân của anh ấy mà thôi, chứ không đại diện cho nhà nước hay một tổ chức nào cả. Nhiều người nghe, nhưng sau đó chỉ có tôi là nhắc lại một câu của anh ấy trong nhiều câu khác. Về cái sự xin lỗi của anh em.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi tin là chúng ta cần thấy rằng những tranh luận liên quan đến vấn đề Giải thưởng Nhà nước đối với các nhà thơ Nhân văn-Giai phẩm sẽ còn lâu dài và rộng lớn, và không chỉ giới hạn trong cá nhân của các anh. Thậm chí các anh cũng không phải là trọng tâm. Trọng tâm của vấn đề nằm ở sự khác nhau của các quan điểm. Mặt khác, tuy các quan điểm này có thể rất khác biệt, chúng vẫn bổ sung cho nhau, hơn là triệt tiêu lẫn nhau. Việc nhận giải thưởng của anh không hề giúp chấm dứt các cuộc tranh luận. Nó cũng không làm tăng lên hay giảm đi các giá trị của phong trào Nhân văn-Giai phẩm.

Lê Đạt: Món nợ Nhân văn không phải chỉ là món nợ giữa nhà nước với anh em chúng tôi. Đó là món nợ của nhà nước với lịch sử. Và lịch sử bao giờ cũng sòng phẳng. Tôi tám mươi tuổi rồi, sắp chết rồi, khen chê đối với tôi cầm bằng như gió bay đi.

Nguyễn Đức Tùng: Những người phản đối việc anh nhận giải thưởng tin rằng nhà nước cần đưa ra một lời xin lỗi và giải thích chính thức đối với vụ án Nhân văn-Giai phẩm, và điều này quan trọng hơn gấp trăm lần so với việc trao tặng giải thưởng.

Lê Đạt: Như thế là người ta quên rằng nước Việt Nam không phải là nước Mĩ, không phải là nước Pháp. Nhà nước ta không có thói quen xin lỗi người dân.

Nguyễn Trọng Tạo: Như thế là không đàng hoàng.

Lê Đạt: Nhà nước không phải bao giờ cũng đàng hoàng.

Một thân hữu văn nghệ: Nhà nước chưa đàng hoàng bao giờ cả?

Lê Đạt: Nói chưa bao giờ thì tuyệt đối quá. Đàng hoàng là một thói quen khó khăn. Nhà nước cũng phải học tập để có thể tăng cường chất đàng hoàng và chúng ta nên khuyến khích nhà nước làm việc đó.

Nguyễn Trọng Tạo: Đây là Bộ trưởng Văn hoá nói với tôi. Khi có ý kiến đề nghị các anh trong Nhân văn-Giai phẩm được giải thưởng thì có nhiều ý kiến không thuận, chống lại. Có người đòi kiện. Kiện rằng bọn NVGP là bọn phản động chống Đảng, thế thì các anh cho phép họ ngồi cùng chiếu với chúng tôi à. Có những ý kiến rất mạnh mẽ như thế. Ông Bộ trưởng nói với tôi rằng, vì chuyện này mà phải ngồi đọc tài liệu về NVGP. Việc này của ông mất bảy ngày mới xong, để tìm ra những bằng chứng về chuyện phản động hay không phản động. Đọc xong thì ông quyết định ủng hộ việc trao giải thưởng, và chuẩn bị kế hoạch giải trình với chính phủ. Cuối cùng được sự nhất trí cao. Như vậy việc này cũng không đơn giản về phía những người ủng hộ, kiểu như nói một cái là xong.

Lê Đạt: Một số người thắc mắc tại sao tôi gọi việc trao giải thưởng là một cử chỉ đẹp. Tôi cho rằng việc nghĩ lại của con người, nhất là của con người quyền hành, là một cử chỉ đẹp và nên khuyến khích để cổ vũ những cử chỉ đẹp khác. Trong phạm vi nhà nước cũng có những người có thiện chí. Mình phải khuyến khích thiện chí của họ.

Nguyễn Trọng Tạo: Họ chưa tốt thì làm cho họ tốt, họ tốt rồi thì làm cho họ tốt hơn.

Nguyễn Đức Tùng: Gặp anh thì thấy tính anh rất vui vẻ cởi mở. Có thể vì thế mà một số người hiểu lầm rằng anh đã nhận giải thưởng một cách dễ dãi, hồn nhiên, thiếu suy nghĩ chăng?

Lê Đạt: Cũng có thể là thiếu suy nghĩ với một số người. Thì tôi nhận xoàng vậy. Nhưng không phải cứ đắn đo suy nghĩ thì phải mặt mày nhăn nhó, đau khổ.

Vụ án NVGP lớn như thế, đau khổ như thế, mà trong những ngày đó tôi cũng chỉ cười mà thôi. Cách đây mấy năm một đài phát thanh ở Cali gọi về cho tôi đêm 30 Tết. Anh phụ trách hỏi tôi rằng nghe nói anh Lê Đạt có cái cười đặc biệt lắm, anh có thể cười để chúc giao thừa đồng bào không? Hôm đó tôi cười đúng năm phút đồng hồ (cười… một phút). Đó có thể coi là một kỉ niệm đẹp. Cũng may hôm đó không có quí ngài nào hảo ý giúp đỡ: Lê Đạt nhét túi được bao nhiêu đô mà cười phởn thế. Điều thật đáng buồn trên đời có lẽ là sự hiểu lầm của những người mình vẫn nghĩ là bạn bè. Có một nhà văn ở hải ngoại hỏi tôi rằng: hiện nay nhà nước đối với anh thế nào. Tôi trả lời: tôi có cảm tưởng hiện nay họ đã chuyển tên Lê Đạt từ sổ đen lên sổ đỏ trong hàng ngũ những động vật…

Nguyễn Trọng Tạo: Động vật quý hiếm, sắp tuyệt chủng (mọi người cùng cười).

Lê Đạt: Những cuộc đua tranh, những nỗi đau khổ trần gian chỉ vừa thời gian một tiếng cười. Nhưng nếu các anh nghiêm túc, thì tôi cũng đâu có phản đối. Tôi đâu có chống lại những người nghiêm túc. Nhưng nếu các anh buộc tôi phải nghiêm túc thì chắc là không được. Chỉ có một điều cần nhắc là muốn đấu tranh cho dân chủ thì phải dân chủ với nhau trước.

Nguyễn Trọng Tạo: Khi phát giải thưởng cho anh Hoàng Cầm, không ghi nhận tác phẩm Về Kinh Bắc.

Lê Đạt: Tôi đồng ý với anh Nguyễn Trọng Tạo. Về Kinh Bắc chính là Hoàng Cầm.

Nguyễn Đức Tùng: Nhân anh nhắc đến Hoàng Cầm, xin đặt câu hỏi với anh. Thưa anh, vụ án NVGP thực chất là một vấn đề văn học thuần tuý hay là một vụ án chính trị, hay là cả hai?

Lê Đạt: Nó là cả hai. Đối với chúng tôi là văn học. Đối với chính quyền là chính trị.

Nguyễn Đức Tùng: Như thế là rõ. Những người tham gia vào NVGP nhưng không phải là các nhà thơ như Lê Đạt, gồm có Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Hữu Đang v.v… có vai trò như thế nào?

Lê Đạt: Mỗi người một công việc khác nhau. Anh Nguyễn Hữu Đang là một nhà hoạt động văn hoá lâu năm đáng kính. Anh có công lớn trên mặt trận chống dốt, xoá nạn mù chữ. Phan Khôi và Trương Tửu là những trí thức có uy tín, nhưng không phải là những người ngoan ngoãn vâng lời. Họ không muốn trở thành những nhà trí ngủ.

Nguyễn Đức Tùng: Hiện nay những người trí thức như thế, ở Việt Nam, nhất là trong giới văn học nghệ thuật, có còn không?

Lê Đạt: Vẫn còn, nhưng không nhiều.

Nguyễn Đức Tùng: Hôm qua, anh Nguyễn Thuỵ Kha có cho tôi và anh Du Tử Lê xem các cuốn Giai phẩm mà anh ấy giữ được từ hồi còn nhỏ. Anh cẩn thận cuốn chúng lại trong tờ báo Nhân dân cũ, giấu trên nóc nhà, trước khi đi bộ đội vào Nam. Khi giải ngũ về nhà, anh rất mừng vì chúng vẫn còn nguyên vẹn. Tôi được xem những tờ báo sống sót qua năm mươi năm sóng gió, thật là cảm động. Trong bộ Giai phẩm có rất nhiều người mà sau này ít được nhắc tới như Sĩ Ngọc, Trần Lê Văn… Những người này có vai trò như thế nào?

Lê Đạt: Các anh Trần Lê Văn, Sĩ Ngọc v.v… không những viết bài mà còn tham gia vào việc cổ động anh em viết.

Nguyễn Đức Tùng: Trong tập Giai phẩm mùa Xuân 1956, với cái bìa màu xanh được trình bày giản dị mà sang trọng, do nhà Minh Đức- Thời Đại xuất bản, ngay sau lời nói đầu, là bài thơ của Lê Đạt. Tôi xin đọc lại bài thơ ấy:
Làm thơ

Đêm khuya
Bóng đầu anh
Hằn trên trang sách nhỏ
Như bóng hàng cây quặn gió
Lắng xuống mặt đường
Giông bão mênh mông
Anh nhìn Tổ quốc
Đất nước đêm nay trĩu đầu ngòi bút
Hàng vạn vần thơ mang nặng tình người
Anh nghe tiếng đất trời
Xao động lùm cây ngọn cỏ
Như người hiệu thính viên
Đêm không ngủ
Ghi những lời cuộc sống
điện về
Những tiếng nặng nề
Những tiếng cục cằn uất ức
Những tiếng căm thù chua xót
Những tiếng yêu thương…

Chất say đắm nồng nàn, tình yêu và sự xả thân vì cuộc sống thật là đáng quý. Ngày nay tại sao thơ Lê Đạt không còn như trước nữa?

Lê Đạt: Có nhiều cách nồng nàn và xả thân. Đọc lại tôi vẫn quí những bài thơ tuổi trẻ nhưng tôi không thích viết như thế nữa. Người ta không nên đòi hỏi nhà thơ suốt đời chỉ làm một cách thơ giống nhau.

Nguyễn Đức Tùng: Cũng có một lý do ngoài văn học là sau khi bị liên luỵ về vụ án Nhân văn-Giai phẩm, tự khắc người ta phải viết khác đi để tồn tại. Anh có tin vào một thứ thơ phi chính trị? Ngày nay nhìn lại Nhân văn-Giai phẩm, anh có hối hận về những việc mình đã làm không?

Lê Đạt: Tôi không hề hối hận. Những việc anh em làm hồi đó tôi vẫn tin là đúng. Người sai không phải là chúng tôi. Khi nào có thời giờ có lẽ chúng ta phải xác định với nhau thế nào là thơ phi chính trị (!)

Nguyễn Đức Tùng: Các nhà văn ở miền Bắc thường không biết đến, hoặc không quan tâm, hoặc là cả hai, đối với hai dòng văn học lớn là văn học miền Nam trước 1975 và văn học ở hải ngoại sau 1975. Lê Đạt là một trong những người rất hiếm thường có bài xuất hiện trên các tờ báo hải ngoại. Anh cũng đi rất nhiều, và viết những bài thơ lãng mạn và say đắm ở Pháp.

Chân quận mười ba quận ra mười bốn
Cỏ trăm đường cúc trắng ngổn ngang xanh
(“Pakơrét”)

(Pâquerette là loại hoa cúc trắng nhỏ)

Anh là một trong những nhà thơ dùng nhiều hình ảnh và khai thác sự liên tưởng (associations) một cách mạnh mẽ. Anh có đọc văn học miền Nam không và nghĩ sao về nó?

Lê Đạt: Tôi cho rằng văn học Việt Nam là một, bất cứ nhà văn nào viết tiếng Việt cũng đều là nhà văn Việt Nam. Do điều kiện chính trị và lịch sử, chúng ta ít được đọc nhau, đó là điều đáng tiếc. Thú thật, tôi cũng không đọc được nhiều.

Nguyễn Đức Tùng: Nhưng ít được đọc nhau không có nghĩa là phủ nhận nhau.

Lê Đạt: Phủ nhận làm sao được. Đó là vốn văn hoá của dân tộc mình. Bây giờ nói về các nhà thơ ở miền Nam trước đây. Những người như Bùi Giáng, Tô Thuỳ Yên, Thanh Tâm Tuyền… Tôi rất kính trọng các ông ấy. Nhưng tôi ít đọc và rất ít hiểu biết về họ, như thế làm sao tôi có thể viết về họ được. Nhưng không viết về họ không có nghĩa là tôi không kính trọng hay quan tâm. Có thể là sau này tôi sẽ viết, nếu như tôi có đủ thời gian, nhưng như thế tôi phải đọc rất kĩ hoàn cảnh xã hội miền Nam và văn chương thời ấy. Mà tôi và nhiều người ở miền Bắc lại không có điều kiện.

Du Tử Lê: Thưa anh làm thế nào để các nhà văn miền Bắc và miền Nam, trong nước và hải ngoại có thể hiểu biết nhau hơn?

Lê Đạt: Cần phải mở rộng quan hệ, đi lại, trao đổi, cần phải vượt qua các thành kiến do những chính quyền khác nhau cố tình dựng nên. Quan trọng nhất tôi nghĩ là cần phải bám sát tác phẩm. Tranh cãi cho ra nhẽ. Không phải là chín bỏ làm mười đâu nhé. Nhưng cái gì có thể bỏ qua thì hãy bỏ qua, cái gì cần quyết liệt thì phải quyết liệt. Nhưng trong một tinh thần mà tôi gọi là ái hữu văn nghệ.

Nguyễn Đức Tùng: Tinh thần ái hữu mà anh nói, hiện nay có phổ biến giữa các nhà thơ, nhà văn ở trong nước, ở Hà Nội hay không? Và nhất là ở những người viết trẻ?

Lê Đạt: Tôi có cố gắng truyền đạt cái tinh thần ấy trong giới hạn của tôi, nhưng có làm được hay không thì tôi không biết. Đi đâu tôi cũng truyền đạt cái ý kiến ấy.

Nguyễn Đức Tùng: Những người viết trẻ ngày nay có còn cái nhiệt huyết đi làm những chuyện thay đổi xã hội theo một lý tưởng nào đó, hay không? Hay thơ của họ chỉ là những tiếng động mơ hồ phía sau các bức tường mà người khác dựng nên?

Lê Đạt: Các nhà văn nhà thơ trẻ Việt Nam hiện nay thích nổi tiếng quá. Theo tôi là không nên. Người viết không nên quá quan tâm đến sự nổi tiếng. Nhưng đứng về mặt phạm trù mà nói: Không tuổi trẻ thời nào kém thời nào cả. Họ chỉ khác nhau.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi xin phép có sự khác biệt ý kiến với nhiều người ở đây. Tôi không nghĩ rằng so với các thế hệ trước, người viết trẻ thích nổi tiếng hơn. Mà nếu họ có thích nổi tiếng thật, thì điều đó cũng không có hại gì, thậm chí còn có lợi cho sự kích thích sáng tạo. Vần đề có vẻ như là nằm sâu hơn chuyện thích nổi tiếng. Hình như anh cho rằng thế hệ ngày nay có một cái gì đó không được như chúng ta mong muốn. Tại sao thế?

Lê Đạt: Thích nổi tiếng không phải là một tội. Nổi tiếng cũng thú vị lắm chứ, nhưng không nên lấy đó làm mục đích của đời mình. Cái thiếu sót chính của thế hệ trẻ hiện nay là vốn văn hoá. Trong văn chương không có trình độ, không có vốn văn hoá, thì anh khó đi xa được.

Nguyễn Đức Tùng: Và khó làm ra cái mới? Có thể chia con đường thơ của Lê Đạt làm hai giai đoạn. Giai đoạn NVGP và trước đó. Giai đoạn sau này lặng lẽ sáng tác nhưng không được xuất bản trong nhiều năm. Anh so sánh như thế nào thơ Lê Đạt qua hai giai đoạn này. Nhiều người lấy làm tiếc rằng anh không còn làm thơ như thời kì NVGP nữa.

Lê Đạt: Nhân văn hay hậu Nhân văn, tôi bao giờ cũng là người lấy đời mình ra đánh cược, được ăn cả ngã về không. Nhưng công bằng mà nói tuổi trẻ không ít người cũng thích tôi và thích thơ tôi. Tôi cũng rất quý mến họ. Có thể trả lời bằng thơ cho ngắn gọn hơn:

Gắng chữ với thời gian tri kỉ
U thất tuần bồ nhí mộng hăm

Nguyễn Đức Tùng: Như thế là sau khi bị đánh thời kì NVGP, các nhà thơ như Lê Đạt chuyển hướng sáng tác vì lý do chính yếu là để khỏi bị đánh, hơn là vì nhu cầu nội tại của sáng tạo văn học?

Lê Đạt: Sáng tạo văn học bao giờ cũng do đòi hỏi nội tại. Những lí do khác chỉ là phụ.

Nguyễn Đức Tùng: Anh có dịp đọc loạt bài “Thơ đến từ đâu” trên talawas hay không?

Lê Đạt: Có, tôi có đọc. Các bài phỏng vấn về thơ ấy rất tốt, rất có ích cho những người làm thơ và yêu thơ. Tôi nghĩ là trong nước cần phải đọc nhiều. Tôi cũng thấy nhiều điều mới. Nên làm. Giỏi lắm(cười). Nhưng các bài phỏng vấn Tùng đừng có làm dài, làm ngắn thôi. Tôi già rồi, đọc mỏi mắt lắm, mặc dù rất thích.

Nguyễn Trọng Tạo: Những người trả lời phỏng vấn thường phải trả lời dài mới nói hết ý của họ. Vả lại còn có nhiều vấn đề mà các nhà thơ chưa có dịp thể hiện ý kiến của mình ở những nơi khác.

Nguyễn Đức Tùng: Các nhà thơ trẻ hiện nay ở Hà Nội như Nguyễn Thế Hoàng Linh, Nguyễn Vĩnh Tiến, Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Thuý Hằng… có những đóng góp như thế nào đối với văn chương Việt Nam?

Lê Đạt: Tôi quí họ như quý tương lai của thơ Việt Nam. Họ cần phải thấy rõ trách nhiệm ấy và lao động thơ nghiêm túc hơn nữa.

Nguyễn Đức Tùng: Gần đây ở Việt Nam có phong trào thơ trình diễn. Anh nghĩ sao?

Lê Đạt: Tôi chưa đủ thông tin để kết luận. Nhưng tôi thấy nhà thơ cần cảnh giác với từ “diễn”.

Nguyễn Đức Tùng: Anh có nói những điều vừa rồi với những người làm thơ trẻ hay không?

Lê Đạt: Có chứ. Tôi có nói nhiều. Nghe thì họ cũng tiếp nhận, nhưng về nhà lại quên đâu mất. Những trào lưu thời thượng tuổi trẻ bao giờ cũng thích, nhưng họ chán ngay ấy mà.

Nguyễn Đức Tùng: Thơ Việt Nam sẽ đi về đâu?

Lê Đạt: Một nền thơ hay bao giờ cũng là hạnh phúc và cơ may của một dân tộc. Có thể có những thời gian mà hạnh phúc và cơ may ấy không xảy ra. Thế kỉ XVIII chẳng hạn, thơ Pháp chẳng mất mùa trầm trọng đó sao?

Nguyễn Đức Tùng: Ở đây có những ý kiến khác nhau. Các nhà thơ mới cần có những thể nghiệm mới. Văn chương rất cần các thể nghiệm để tấn công vào các biên giới. Đó là con đường sáng tạo mà thời nào cũng đặt ra. Chẳng lẽ một người thường thể nghiệm ngôn ngữ như anh cũng chống lại sự thể nghiệm của thế hệ trẻ hay sao?

Du Tử Lê: Hay vì thơ của họ không thật?

Lê Đạt: Tôi chống là chống cái không thật, cái giả vờ, chứ các thể nghiệm thì sao lại chống. Ưu điểm của lớp trẻ là không biết điều, chứ nếu biết điều quá thì lại thành ông già à? Vấn đề là cái không biết điều ấy phải là cái không biết điều chân thật.

Du Tử Lê: Thưa anh, thay mặt cho một số bạn bè văn nghệ của riêng tôi ở hải ngoại và ở miền Nam trước đây, tôi xin gửi đến anh lời chúc sức khỏe. Về Hà Nội, được nhìn thấy anh khỏe mạnh như thế này, anh em rất vui. Anh Nguyễn Đức Tùng thuộc vào thế hệ sau tôi, có thể gọi là chuyển tiếp đến thế hệ trẻ hiện nay. Cá nhân tôi, người đọc rất kĩ NVGP và thơ Lê Đạt, ngay cả trước năm 1975, hết sức quý mến anh và các anh Hoàng Cầm, Dương Tường, và những người khác. Như một người làm thơ, tôi nghĩ là tôi học được ở các anh nhiều điều. Vì vậy nhân đây, xin được cám ơn anh. Thêm nữa, tôi rất mong quan hệ văn chương giữa anh em miền Bắc trước đây và miền Nam trước đây, giữa trong nước và ngoài nước ngày một tốt đẹp, không còn ngăn cách.

Lê Đạt: (Cười) Cám ơn anh. Tôi rất ghét sự ngăn cách.

Du Tử Lê: Chúng ta chỉ có một Tổ quốc, và một ngôn ngữ là tiếng Việt.

Lê Đạt: Tôi xin đọc một bài thơ để tặng các anh. Một bài thơ tình (ngâm, lim dim mắt).

Anh đến mùa thu nhà em
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày
Nông nỗi heo may từ đó
Mưa đêm tuổi nổi ao đầy
Đồi cốm đường thon ngõ cỏ
Bướm lượn bay hoa ngày
Tin phấn vàng hay thuở gió
Tóc hong mùi ca dao
Thu rất em
Và xanh rất cao

Nguyễn Đức Tùng: Thơ của anh trong bài này đẫm tính ca dao. Không mới lắm so với nhiều bài khác nhưng rất tình tứ. Trong thơ Lê Đạt có chất dân gian không?

Lê Đạt: Tôi rất thích ca dao. Nhưng là ca dao sinh sự. Trong đời sống, tôi không phải là người ưa sinh sự. Nhưng đã làm thơ thì thế nào cũng phải sinh sự. Sinh sự mới tạo ra sự sinh được.

Nguyễn Đức Tùng: Xin cám ơn anh. Tiếp lời anh Du Tử Lê, tôi xin thay mặt độc giả chúc anh mạnh khỏe và sáng tác lâu dài.

Nhà thơ Lê Đạt tiễn chúng tôi ra đường. Mọi người đứng lại nói chuyện một lúc nữa và chụp một số bức ảnh kỉ niệm. Sau cuộc nói chuyện dài, ông vẫn tươi tỉnh, không lộ vẻ mỏi mệt. Hy vọng rằng ông sẽ khỏe lâu như lời chúc của chúng tôi.

© 2007 talawas

Lê Ðạt và, tác phẩm “Hèn đại nhân”

Du Tử Lê

 Chúng ta cùng biết, nhà thơ Lê Ðạt là một trong những kiện tướng của Phong Trào Nhân Văn-Giai Phẩm, giữa thập niên 50 ở miền Bắc. Nhưng có dễ ít người biết rằng, ông còn là một nhà văn, với những truyện ngắn mang đầy tính trào lộng, sâu sắc tới dữ dội, không thua gì những bài thơ xung phá thẳng vào thành trì chế độ. (1)

Nếu ở lãnh vực thi ca, với thi phẩm nổi tiếng “Bóng Chữ,” Lê Ðạt cho thấy sự cật lực của ông trong nỗ lực phá rừng, xẻ núi cho thi ca có được một chân trời, một bình minh mới, thì ở lãnh vực văn xuôi, qua tập truyện “Hèn Ðại Nhân,” ông lại cho người đọc thấy mặt tài hoa khác, trong dòng văn học Việt Nam, hôm nay. (2)

 Bằng giọng văn châm biếm, trào phúng mà sức quyến rũ là cả một từ trường mạnh mẽ ngùn ngụt đẩy, xô người đọc hăm hở uống từng trang sách của mình, Lê Ðạt, một lần nữa, đưa thể truyện ngắn, tới một chân trời mới.

Chân trời hay những cánh cửa mà, 15 truyện ngắn trong tuyển tập “Hèn Ðại Nhân” mở ra cho người đọc, là những chân trời, hay những cánh cửa ẩn dụ, lênh láng tiếng cười và, cùng lúc, nước mắt.

Căn bản, là thi sĩ, nên suốt lộ trình văn xuôi mang tên “Hèn Ðại Nhân” của Lê Ðạt, người đọc cũng gặp không biết bao nhiêu những đoạn văn như thơ. Những nhân cách hóa bất ngờ mà, người ta thường chỉ thấy được, nơi những tài năng ngoại khổ.

Những bất ngờ đầy thi tính này, lại luôn song hành, kề cận những hình ảnh hay ý tưởng rất đời thường, rất mỉa mai… Khiến người đọc khó lòng giữ được thăng bằng cảm thức.

Bước vào thế giới truyện ngắn mang tên “Hèn Ðại Nhân” của Lê Ðạt, người đọc như một con diều giấy, mà chữ nghĩa của tác giả là sợi giây tơ nõn, vô hình; nhưng có khả năng thả ném con diều lên chín tầng mây. Ðể rồi, chỉ cần một chớp mắt hớ hênh, sợi giây chữ nghĩa của tác giả, lại giựt, ném con diều xuống bùn, đất.

Như trong truyện ngắn đầu tiên, truyện “Bài Haiku,” khi đề cập tới một nhân vật có tên là Yôda, một danh tướng buông gươm, cởi áo tìm về nẻo đạo, và ước mơ cuối cùng, được thở hơi thở thi ca: Hơi thở Hài Cú, bên cạnh một Basô, bất tử. Lê Ðạt viết:

“Hình như đấng tối cao cũng chứng cho lòng thành của người kiếm sĩ dốc lòng đổi nghiệp, nên những hạt mộng bỗng nẩy mầm, trái tim quen với sự sát phạt, như bầy chim ngậm những chồi xanh thả Mùa Xuân phủ bóng rợp lục chiến trường trơ trụi ngày xưa. Tướng quân Yôđa bỗng làm thơ… Và thơ ông được truyền tụng chẳng kém gì những chiến tích thuở trước.”

Dòng văn xuôi đang ắp đầy những giọt nước thi ca lấp lánh, vậy mà, không một báo trước, chỉ bằng một dấu chấm, Lê Ðạt viết tiếp: “Chỉ ít lâu sau, ông đã trở thành trưởng môn trường phái thơ Nayoga một cách hết sức dân chủ, tuy chẳng thông qua bỏ phiếu kín…”

 Những cụm từ “hết sức dân chủ” và “thông qua bỏ phiếu kín” là những cụm từ phản ảnh sinh hoạt thời đại, sinh hoạt đời thường, hiện tại, của xã hội Việt Nam hôm nay.

Những tương phản, như những đối cực triệt để giữa hư cấu và, đời thường, là những cặp song sinh bất thường, nếu không muốn nói là “quái thai,” đầy rẫy trong cõi văn xuôi Lê Ðạt.

Tuy nhiên, như đã nói, căn bản, tác giả là thi sĩ, nên cách gì, người đọc cũng vẫn gặp được nơi tác phẩm này, những ví von, những so sánh hay những nhân cách hóa bất ngờ, như những ngụm nước mưa đầu nguồn, mà một lữ hành không chờ đợi trong cuộc hành trình sa mạc, giằng giặc của mình.

Cũng ngay nơi truyện ngắn vừa kể, về Basô, tác giả của những bài thơ Hài Cú tiêu biểu nhất của thể thơ Nhật Bản này, sau khi tỉnh rượu, bỏ đi, khiến trên một chục nhà danh họa, cuối cùng chẳng một ai ghi được chân dung Basô, Lê Ðạt viết:

“Trời chuếnh choáng gió như thế này, ai mà lại hóa dại ngồi một chỗ, khi con đường trước mặt tung tăng như một lời mời viễn du.”

Rồi, cũng chỉ với một dấu chấm nhỏ bé, Lê Ðạt lại bất ngờ giựt con diều (người đọc,) chúi nhủi xuống bùn, đất, với phản diện, tuy không khốc liệt, nhưng mênh mang ẩn dụ thấm thía, rằng:

“Cuộc vẽ bỏ dở và mãi cho đến giờ, Basô vẫn chưa có chân dung.

Người thì thậm xấu hát thì thậm hay. Ai có được bức chân dung Trương Chi? Không biết Basô có thậm xấu như Trương Chi không, nhưng thơ Basô quả thậm hay…”

Cũng vậy, trong truyện ngắn “Vùng May Rủi,” một chuyện hư cấu khác, viết về hai người bạn già bỏ cả một đời chỉ để tìm cách đạt tới “chiến thắng” sau cùng, với những vòng quay, những con số trong một canh bạc.

Sòng bài ở đây, hiển nhiên, chỉ là một thế thân của định mệnh.

Khi mô tả những viên bi lăn tới, như những vòng lăn lạnh lẽo cuốn theo bao nhiêu sinh mạng về cõi chết, Lê Ðạt viết:

“Ðịnh mệnh soi mình lúc ẩn lúc hiện trên viên bi ngà quay ngược chiều với chiếc cần quay kim loại lanh canh nơi đáy đĩa thăm thẳm… Hạnh phúc… hạnh phúc sẽ rơi vào con số nào? Dăm tháng nửa năm, một phát súng lại nổ ngay cửa sòng bài chấm dứt một cuộc lần tìm may rủi bất tận. Có phải may rủi nằm trong thân phận con người?”

Và, chỉ ít dòng sau, khi mô tả sự ra về thất vọng, bẽ bàng của hai con thiêu thân manh tâm kình chống định mệnh, Lê Ðạt viết:

“Rồi hai người lặng lẽ ra về. Con đường đảo ngây ngất mùi hương vào xuân và những đôi trai gái đang giải khát môi nhau trên ghế đá. Tiếng chuông từ tháp giáo đường lanh lảnh báo mùa phục sinh nở hoa.”

Phải chăng, nhờ những đối cực triệt để kia, mà cõi văn xuôi Lê Ðạt, đã có được cái ma lực huyễn hoặc, lôi cuốn?

Cái ma lực của hạnh phúc hư ảo và đớn nhục, nhức buốt mà vẫn ắp đầy thi tính!

Nó như một thứ nhân cách phức hợp, chập chùng trong mỗi sinh vật được chỉ danh là con người, trên mặt địa cầu này.

Chú thích:

(1): Tên thật là Ðào Công Ðạt, ông sinh ngày 10 tháng 9 năm 1929 tại Yên Bái; mất ngày 21 tháng 4 năm 2008, tại Hà Nội. Là một trong vài nhân vật chính thuộc Phong Trào Nhân Văn-Giai Phẩm, ông nổi tiếng với bài thơ nhan đề “Nhân câu chuyện mấy người tự tử,” đăng trong Nhân Văn số 1, đề ngày 20 tháng 9 năm 1961. Trong bài này có những câu được nhiều người nhắc nhớ tới hôm nay như: “Anh công an nơi ngã tư đường phố / chỉ đường cho / xe chạy / xe dừng / rất cần cho luật giao thông / nhưng đem bục công an đặt giữa trái tim người / bắt tình cảm ngược xuôi / theo luật lệ đi đường nhà nước / có thể gây nhiều đau xót / ngoài đời.” Sinh thời, cố thi sĩ Hoàng Cầm từng nhấn mạnh, Lê Ðạt, bạn ông, tự nhận là một thứ “phu chữ.” Vì, với thơ cũng như văn, Lê Ðạt rất kỹ tính, cẩn thận chọn từng chữ. Ðôi khi chỉ một chữ thôi, cũng đủ khiến ông suy nghĩ, dằn vặt nhiều ngày.

(2) Tác phẩm này xuất bản tại Việt Nam, 1998.

 

“Phản đề” dành cho người Việt trẻ

Nhà thơ Lê Ðạt, dù tuổi đã ngoài 70 vẫn là một người trẻ lạ lùng. Trẻ, ở trong tâm hồn và tính cách lẫn những cách tân trong thơ ca Việt – cho dù cuộc đời ông như chính nhà thơ thừa nhận là rất “li kỳ” và chịu nhiều thăng trầm dâu bể. Trẻ, ở chính cái cách mà ông nhìn nhận rất “thiện chí” và cởi mở về lớp trẻ, về thế hệ trẻ hiện nay…

Báo Sinh viên Việt Nam (SVVN) đã có cuộc trò chuyện cùng ông trong một ngày đông cuối năm ở một ngôi nhà phố cổ Hà Nội về những câu chuyện của người Việt trẻ trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá đồng thời phát triển những giá trị truyền thống dân tộc.Và làm sao để loại bỏ được những lực cản khách quan và chủ quan, những “tảng đá” giáo điều đeo đẳng trên lưng, những mặc cảm nhỏ nhen, những kiến thức và tình cảm vụn vặt để những người Việt trẻ sẵn sàng cho một cuộc “leo núi” đỉnh cao như nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn từng ao ước. Câu chuyện bắt đầu từ khát vọng và ước mơ của những người trẻ.

Nếu không có khát vọng, chúng ta trở thành những đứa trẻ chết già!

SVVN: Tất nhiên tuổi trẻ ai cũng đầy mơ mộng và khát vọng, nhưng có nuôi được và biến nó thành thực tế không mới là chuyện đáng nói. Gần đây, trong một cuộc phỏng vấn về thế hệ trẻ, nhà thơ Phan Huyền Thư cũng đưa ra một câu hỏi chưa có trả lời “Trên thực tế, có được bao nhiêu người biến ước mơ hoài bão của mình thời tuổi trẻ thành hiện thực? Và bao nhiêu người đã bội ước với tuổi trẻ của mình?” Trong thơ ông, tôi cũng đọc được: “Những ước mơ xưa/ Như con chim gãy cánh/ Rũ đầu chết ngạt trong bùn/ Năm tháng mài mòn/ Bao nhiêu khát vọng”…

LĐ: Tôi cho rằng để sự mơ mộng và khát vọng trở thành hiện thực phải đòi hỏi rất nhiều ở sự can đảm và kiên trì. Ở đó, không có “đất” cho sự thực dụng và những toan tính tầm thường, ở đó cũng không có cơ hội cho những người thiếu lòng đam mê và dũng cảm. Ðể nuôi khát vọng, nó đòi hỏi sự đam mê thành thật, thậm chí vác cả sự đam mê trên vai mà trèo đèo lội suối để biến nó thành sự thật. Với những người trẻ tuổi, tôi có một lời khuyên chân thành: đừng bao giờ sống 50%, đừng bao giờ yêu 50% và cũng đừng bao giờ làm 50%. Sự nửa vời cũng là một trong những lý do để người trẻ phản bội lại ước mơ của mình. 

SVVN: Nhưng đôi khi họ không dám sống 100% còn vì nhiều lý do, những định kiến từ bên ngoài họ. Và có những trả giá đôi khi là quá đắt nếu mạo hiểm “đặt cược” cả 100% “số vốn” mà họ có?

LĐ: Phá bỏ những định kiến với chính mình mới quan trọng chứ không phải là định kiến của người khác. Và định kiến đáng sợ nhất là sợ khác người, sợ mọi người coi mình là rồ dại. Với người trẻ, dù lao đi mà trượt chân vài cái còn hơn là ngồi một chổ để tính toán hết đời mình, nó tạo cho người trẻ một sự khôn ngoan không cần thiết. Còn lý do khách quan thì bao giờ cũng có, khó khăn bao giờ cũng có, nó chỉ biến đổi hình thái theo từng giai đoạn thôi chứ chẳng bao giờ có một môi trường lý tưởng nào cho giới trẻ cả. Nhưng dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải nuôi khát vọng. Tuổi trẻ mà không có khát vọng tức là chưa kịp trẻ họ đã già hay ngược lại là đã già ngay từ khi còn trẻ, nói như cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương – Họ là những đứa trẻ chết già.

SVVN: Nhưng dù sao thì cũng phải “thực tế khát vọng” phù hợp với năng lực của mỗi người. Nhiều người chỉ cần nuôi những giấc mơ nhỏ và khi đạt được họ bằng lòng với nó?

LĐ: Tôi không nói đến những “giấc mơ con” và những “cuộc đời con”. Còn những người trẻ có chí tiến thủ và giàu hoài bão bao giờ cũng đặt mình trong sự đối sánh với người khác. Biết người quan trọng hơn biết mình. Từ đó có những cái nhìn phê phán, tôi nghĩ rằng sự phê phán (để biết được những nhược điểm của mình) chính là bước đầu tiên của tri thức.

Một trong những điều nữa hạn chế sự tiến thủ của những người trẻ là căn bệnh chủ quan quá mức và dễ hài lòng với chính mình. Cuộc đời là một quá trình trôi chảy và đấu tranh liên tục, nếu anh hài lòng với những kết quả ban đầu và dừng lại coi như anh đã “chết” ở chính điểm dừng ấy và sau đấy trở thành một kẻ “ăn mày dĩ vãng” hay “xác ướp trở lại” mà thôi!

SVVN: Những khát vọng nào của tuổi trẻ đáng được biểu dương nhất, thưa nhà thơ?

LĐ: Có rất nhiều khát vọng đẹp, nhưng tôi thích nhất ở những người bạn trẻ tuổi là khát vọng lên đường, khát vọng đi tìm những miền đất mới, những lĩnh vực mới. (Xã hội nên có những động thái tốt đẹp dành cho những người tìm đường). Và tôi nghĩ, càng có nhiều khát vọng lên đường, tuổi trẻ càng dễ phá bỏ được những định kiến, những cái cũ ở ngay trong chính bản thân họ cũng như xã hội bên ngoài…

Tuổi trẻ hãy lên án một cách nghiêm khắc sự giả dối

SVVN: Ngoài chuyện thiếu khát vọng, sự dễ hài lòng và sống 50%, theo ông có những lực cản nào nữa kéo sự phát triển của người trẻ lại?

LĐ: Có những tính cách xấu lâu ngày biến thành những khuyết điểm của người Việt Nam, đó là không có ý thức về sự hoàn chỉnh, thói quen không có kỉ luật, không đi đến tận cùng cái mình đang có, dễ hài lòng và chấp nhận thực tại, căn bệnh tiểu nông, tiểu thủ công nghiệp manh mún, giật gấu vá vai… Ðiều này dẫn đến một thói ứng xử xấu nữa là dễ tặc lưỡi cho qua. Một người già chép miệng hoặc tặc lưỡi cho qua đôi khi còn thông cảm được vì sự “lực bất tòng tâm” nhưng với một người trẻ thì rất nguy hiểm. Tại vì khi chép miệng là lúc anh bước từ một cõi thực tế sang một “cõi” ảo, một “cõi” đầu hàng, buông xuôi. Khoảng cách giữa chúng rất nhanh nhưng lâu dần nó cuốn anh đi rất xa. Nếu nói, điều tôi ghét nhất trong tính cách của người Việt là thói chép miệng, nghe thì có vẻ đơn giản nhưng thực ra khi anh chép miệng, phần nhân tính trong anh đã bị buông xuôi và anh đã dễ dàng “đồng hoá” với sự thất bại, với thói xấu.

SVVN: Gần đây, xã hội nói nhiều đến căn bệnh giả dối bằng cấp, đặc biệt là trong giới trí thức trẻ. Nhà văn Nguyễn Khải thì lên tiếng về căn bệnh công chức hoá ở lớp trẻ…Theo ông, điều nào đáng lo ngại hơn?

LĐ: Chuyện bằng cấp và thói quen công chức hoá đều bắt đầu từ hậu quả của thời phong kiến và quan liêu bao cấp – đó là học để làm quan. Xã hội mới thì tôn trọng đến sự thành đạt ở bề ngoài (tiền, danh vọng) mà chưa chú ý đến giá trị tinh thần. Chính cơ chế đó đã khuyến khích thói công chức hoá ở trong nhiều người. Họ coi nhà nước như là chỗ an dưỡng hơn là nơi để cống hiến và sáng tạo. Lâu dần, họ mất đi sức mạnh của tinh thần mà chỉ còn lại sức mạnh của cái ghế. Thói xấu này không chỉ có ở trong những người trẻ mà phần lớn là để lại từ các lớp đàn anh đi trước. Thái độ của xã hội cũng phải chịu lỗi về điều này. Chính môi trường của xã hội nhiều khi khuyến khích sự giả dối. Giới trẻ cần phải lên án một cách nghiêm khắc sự dối trá, bắt đầu từ chính bản thân mình. Và phải tập cho mình một thói quen biết xấu hổ trước cái xấu. Tôi cho rằng, sự biết xấu hổ là sự bắt đầu nhân tính của con người.

Ðừng nhìn hiện tại bằng con mắt của quá khứ

SVVN: Những người lớn tuổi “kêu” là lớp trẻ đang quay lưng với những giá trị truyền thống và thuộc sử Tàu hơn sử Ta. Thực ra với lớp trẻ, truyền thống có những vai trò gì? Và họ nên “đối xử” với truyền thống như thế nào để “hợp lý hợp tình”?

LĐ: Vế đầu, tôi nghĩ một phần do nền giáo dục và nền văn hoá nghệ thuật của chúng ta chưa đủ sức để hấp dẫn giới trẻ. Truyền thống, hay nói giản dị hơn là quá khứ cũng có quá khứ tốt và quá khứ xấu, cần được nhìn nhận lại một cách khách quan. Có những giá trị tốt cần được phát huy như truyền thống tương thân tương ái, sự độ lượng…nhưng cũng có những truyền thống trở thành lực cản vì sự trì trệ và bảo thủ cần loại bỏ.

“Ðối xử” với truyền thống, tôi nghĩ lớp trẻ đừng bao giờ nhìn hiện tại và tương lai bằng đôi mắt của quá khứ, đừng để những “lực chết” kéo ta lại với quá khứ, hay để những người sống đi cãi nhau với người chết (ông dẫn thơ – Thưở ấy tôi rất già/ Mở miệng khuôn tổ tiên rập nói). Với truyền thống, cũng cần phải nhìn nhận một cách tinh tế. Bảo tồn truyền thống không quan trọng bằng phát huy truyền thống để tìm ra một truyền thống mới. Ví dụ có những giá trị truyền thống rất xấu như “Ta về ta tắm ao ta” hay “Phép vua thua lệ làng” “Chó cậy gần nhà”…, nó thể hiện sự lạc hậu và xã hội không thông suốt từ trên xuống dưới, mang nặng tư tưởng bè phái, địa phương, gia đình… Hay bia Quốc Tử Giám không chỉ thể hiện tính hiếu học mà còn lộ ra tính hám văn bằng có ngay ở trong truyền thống.

Nhìn nhận truyền thống, mỗi người trẻ nên định giá bằng đôi mắt của mình chứ không theo sự định giá của người khác.

“Ðạp đổ thần tượng” hay “đứng trên vai thần tượng”?

SVVN: Trong một lần trò chuyện, nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường nói rằng lớp trẻ ngày nay có vẻ hơi “vô thần, vô đạo”, thực ra thì theo ông, lớp trẻ có nên nuôi trong mình những “tín điều” không?

LĐ: Vô thần thì nên, nhưng vô đạo thì không nên. Con người nên có những tín điều nhưng không nên thờ thần tượng vì thần tượng là sự xuống cấp của tín điều. Nhìn lịch sử tiến triển của loài người mình phải đứng trên vai của quá khứ mới thấy được tương lai chứ núp bóng quá khứ thì tương lai không bao giờ thấy được.

SVVN: Vậy thì theo nhà thơ, lớp trẻ nên “núp bóng thần tượng”, “đạp đổ thần tượng”, hay “đứng trên vai thần tượng“?

LĐ: Bản thân của sự phát triển văn hoá là chống lại thần tượng. Nói như Trang Tử là “vứt trí bỏ thánh” để trở lại suy nghĩ của chính ta. Nói đạp đổ thần tượng thì nghe có vẻ hơi phạm thượng nhưng tôi nghĩ rằng không sai và nói gì thì nói, nếu được coi là thần tượng tức là họ đã ghi được dấu ấn giá trị trong lịch sử, hiện tại và tương lai nên để lớp trẻ khai phá. Tốt nhất, là đứng trên vai thần tượng vì ở trong hoàn cảnh đó, thần tượng đã làm được một việc có ích là giúp lớp trẻ có một cái nền cao ráo và vững chắc.

Sống thật với chính mình thì sẽ khác

SVVN: Trước đây, nhà thơ Lưu Quang Vũ than “Tôi chán cả bạn bè/ Mấy năm rồi họ chẳng nói được câu gì mới”. Gần đây, cả Văn Cầm Hải và Phan Huyền Thư đều nói đến “Những giấc mơ của lưỡi”. Nhà thơ Dương Tường thì nhận xét “Có nhiều người nghĩ khác, nhưng ít ai sống tận cùng với cái khác của mình”…Một trong những điều mà giới trẻ tự chán mình là họ đang càng ngày càng cũ, càng nhạt? Ông có cảm thấy điều đó?

LĐ: Tôi chống lại sự nhàm chán nhưng không có nghĩa là tôi sống khác với tôi. Hãy sống thật với chính anh thì anh sẽ khác với những người khác chứ không phải “chủ trương” để sống khác. Vì nếu khi anh sống khác anh tức là anh không thật với chính mình. Còn nếu khi anh tự chán mình, chán bạn bè mình là lúc anh đang khao khát để thay đổi, khao khát sự “vận động” của lưỡi.

SVVN: Vậy ông “khuyến khích điều gì trong cách sống của giới trẻ

LĐ: Tôi khuyến khích sự lao động cần cù và kiên trì của lớp trẻ, từ bỏ cách nghĩ cách làm việc “ngắn hạn”, “ăn xổi” và bệnh “khoa trương”, “ồn ào”. Tập cho mình những tầm nhìn “dài hạn” và đi đến tận cùng cái “tư duy dài hạn” ấy. Trong cuộc sống, thư giãn hãy “bình thường tâm”, đừng “phân thân” nhiều quá. “Khi đói ta ăn, khi mệt ta nghỉ” như lời dạy của một thiền sư, chứ đừng khi ăn lại nghĩ đến chuyện khác và khi nghỉ cũng nghĩ đến những chuyện khác.

SVVN: Và trong tâm hồn, trong thơ ca? Là một nhà thơ không ngừng cách tân thơ Việt, cuối cùng ông nghiệm ra điều gì quý giá nhất ở thơ ca?

LĐ: Thơ là mỹ học và đạo đức học. Cái đẹp trong câu thơ kêu gọi sự cao thượng. Và nên hiểu thơ ca cũng là một sự lao động ngôn ngữ đầy gian khổ chứ không chỉ là cảm xúc thẩm mỹ thuần tuý (Chữ bầu nên nhà thơ). Nhà thơ, nhất là các nhà thơ trẻ hãy tập cho mình một cách sống gian khổ (chứ không phải cực khổ), một sự “li kỳ” trong tinh thần. Nhưng đáng buồn nhất cho những nhà thơ “li kỳ trong đời thật nhưng lại tẻ nhạt trong đời chữ”!

SVVN: Sự “li kỳ” trong đời người, đời chữ của ông, nếu được nói bằng thơ..?

LĐ: Thơ ca, cuối cùng với tôi vẫn là cảm xúc mỹ học và cái đẹp của sự cao thượng. Tôi thích những câu thơ giàu cảm xúc: Vườn thức, một mùa hoa đi vắng/ Em ở đây mà em ở đâu? Hay Tim lặng lạnh góc bồ đề mưa cũ/ Chim gõ mỏ kiếp xưa, chưa rũ hết luỵ tình

SVVN: Ðiều cuối cùng, nhân dịp mùa xuân mới, mùa như các nhà thơ nói “ươm mầm, chồi xuân, lọc nõn…”, nhà thơ có một lời chúc nào dành cho những người bạn trẻ?

LĐ: Tết ở ta có một tục lễ cổ truyền rất hay là xông đất. Tôi chúc các bạn trẻ đầu năm mới hãy “xông đất” nhiều hơn, “xông đất” nhiều lĩnh vực mới hơn nữa…
Phụ Đính : Bài “đấu tố” Lê Đạt của Xuân Diệu (Tháng 5/1958)

Những biến hoá của chủ nghĩa cá nhân tư sản qua thơ Lê Đạt

Xuân Diệu

 Nhà thơ Pháp A-ra-gông (Aragon) có lúc (1943) đã phải cay đắng thốt ra rằng: sao mình lại phải lấy những vần thơ tiếng Pháp để mà nói những cái trại tù đầy của Quốc xã Đức! Tôi xin thú thật rằng: phải mấy lần viết về cái gọi là văn thơ của nhóm phá hoại Nhân văn–Giai phẩm, tôi chẳng lý thú gì; tôi thích dùng tiếng mẹ đẻ để ca hát, nói nỗi lòng tôi rung động với Tổ Quốc, với nhân dân, hơn là để xâu lại một chuỗi dài dơ dáng những thứ thơ xấu xa phản trắc. Nhưng, những Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt… đã cố ý làm xú độc cái không khí văn thơ của ta, nên chúng ta phải quét cho sạch, phải tẩy độc; thực ra, người không thể yên ổn mà làm việc tốt được, khi ma quỷ hãy còn lẩn với người. NhómNhân văn–Giai phẩm có cả một kế hoạch dùng ngòi bút phá hoại ta; chúng ta đã vạch cái chân tướng phản động về chính trị của họ; tuy nhiên, có người còn có thể lầm, cho rằng “sáng tác” của bọn họ còn có cái hay. Tôi hãy lấy thơ Lê Đạt làm một ví dụ để vạch ra cả một hệ thống nghệ thuật thoái hoá, suy đồi, vạch cái cờ gian bạc bịp đã lừa được một số nhỏ người nhẹ dạ trong ba năm nay; thơ Lê Đạt là một hệ thống khá tiêu biểu trong thứ “văn nghệ” Nhân văn–Giai phẩm.

Một cuộc tàng hình

Những kẻ ăn cướp lại cứ muốn đánh trống la làng lên trước; chúng tung khói giả ra làm sương mù, để dễ bề làm ăn. Nhóm phá hoại Nhân văn–Giai phẩm muốn “cao tay”; trong cuộc tranh luận về tập thơ Việt Bắc (1955), họ làm ra bộ rất cách mạng; Hoàng Cầm khinh thơ Tố Hữu là “ít chất sống thực tế”, là “đao to búa lớn”, là “trống rỗng”, là “hồn thơ yếu ớt, chênh vênh”; Lê Đạt lấy tính chất của giai cấp công nhân ra để chê trách thơ Tố Hữu; bọn họ làm như là mình cứng cáp, vững vàng lắm, mới nghe nói Hắt hiu lau xám, Bâng khuâng trong dạ, Bồn chồn bước đi trong bài thơ “Việt Bắc”, đã buộc cho Tố Hữu là gieo rắc cái bùi ngùi, cái buồn! Nhưng trong thực tế ba năm qua, chính họ đã rơi thảm hại vào những điều mà họ nói vu cho người khác! Lê Đạt phất ngọn cờ “Học tập Mai-a-kốp-ski phát huy sức sống mới của thơ ca Việt Nam” [1] đã dám lấy cái giọng của chính nghĩa, hô to: “Chúng ta chưa vạch được bộ mặt đểu cáng của kẻ thù bên trong, chưa lột mặt nạ được những tư tưởng lạc hậu đội lốt cách mạng, chưa lên án chúng”. Vâng, câu này đúng lắm, nhưng nó chỉ đúng cho chúng ta, những nhà văn chân chính và quần chúng cách mạng, trước đợt đấu tranh này, trong những năm 1955, 56 và 57, còn quá đoàn kết một chiều, nhượng bộ hữu khuynh với bọn chống chế độ, là bọn Nhân văn–Giai phẩm, trong đó Lê Đạt là một tay quan trọng. Ấy thế mà Lê Đạt lại dám đánh trống lên! Rõ đúng là: cần phải xem món hàng thật giả thế nào, chứ đừng có nghe chiêu bài quảng cáo!

Tục ngữ nói: Thức lâu mới biết đêm dài… Lấy một Lê Đạt làm ví dụ, theo dõi hành tung trên một chặng dài, ta thấy hiện rõ quá trình của một kẻ ẩn núp, tàng hình, đã từng quay quắt được một thời gian, nhưng rốt cục cái bản chất phản lại giai cấp vô sản lòi ra mồn một.

Trong kháng chiến, Lê Đạt cũng công tác, cũng làm thơ, lúc mới Hoà bình, cũng ra tập thơ Thế giới này là của chúng ta gồm những bài thơ làm từ 1950 đến 1955, với nhiều lời ca ngợi chế độ. Những người tinh một chút, xem tập thơ này (12-1955), đã thấy ngờ ngợ và khó chịu: sao mà thơ cứ phều phào, vội vã, làm bằng trí khôn chứ không phải làm bằng tình cảm; – trên đời này, ai còn nhầm được những lời yêu đương chân thực với những lời hẹn thề xoen xoét!
Lớp trước lớp sau
Mồ mả ông cha còn đấy
Từng ngọn cỏ hôm nay nóng rẫy
Những lời gửi gắm hôm qua
Nước chúng ta
Dân chúng ta bất diệt
Sông núi mấy nghìn năm tha thiết
Vẫn thầm thì hai tiếng Việt Nam

Những xóm những làng
Những cây đa cổ thụ
Những bờ tre gốc lúa
Những giếng nước dòng sông
Những câu dân ca như chảy máu lòng…
Kể ra, những lời thơ như trên này, – vào hạng tốt nhất của tập thơ – cũng khó mà bắt bẻ được; nó có đủ cả, đưa cả mồ mả cha ông, người chết người sống, sông núi, tên của Tổ quốc v.v…; nhưng sao nó nói nhanh thế! Nó nói nhiều thế! Vanh vách kể đủ thứ, đưa ra cả một ít máu chảy ở lòng! “Tinh hoa phát tiết ra ngoài”, cái lối chàng Sở Khanh đấm ngực: “Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng!”, lộ liễu phanh phui trên tập thơ. Người ta để ý hơn cả, là Lê Đạt nói rất nhiều đến Đảng; dễ chưa người làm thơ nào lại viết nhiều về Đảng bằng Lê Đạt trong tập thơ này; không phải những người làm thơ khác kém yêu Đảng, nhưng người ta muốn tình nhiều lời ít, nói một cái gì cho thấm, sắc, chân thực, vì Đảng không phải chuyện đưa ra bô bô. Trong bài thơ: “Đảng cứu sống chúng ta”, Lê Đạt reo:

Việt Minh về đây rồi!
Việt Minh về đây rồi…
… Chi bộ kết nạp anh vào Đảng

Trong bài “Người đảng viên”, Lê Đạt nhắc:

Anh im lặng cúi đầu
Anh nhớ ngày vào Đảng…

Và Lê Đạt phất “Ngọn cờ Đảng bay trên đầu phơi phới – Lời thề còn vẳng bên tai”; và Lê Đạt “Mang đất nước trong lòng – Miệng hát bài ca cộng sản”, Lê Đạt “Vần trái đất theo đường đi của Đảng”; và Lê Đạt hùng dũng: “Tuổi trẻ chúng ta – Sống chết đi trên đường cộng sản – đứng đầu ghềnh Cách mạng – hộ vệ cho cuộc đời”; Lê Đạt làm ồn nhiều quá! Mời mọi người“Cùng với chúng tôi – Phất mạnh ngọn cờ của Đảng”, v.v…

Người đọc, ngay cuối năm 1995, đã bắt mạch thơ Lê Đạt và nghi hoặc tự hỏi: – Sao anh này nói nhiều thế? Một bạn thơ, đọc xong tập Thế giới này là của chúng ta, ngay lúc đó đã bảo với tôi: – “Người ta thì khéo tay, còn Lê Đạt thì khéo óc.” Chúng tôi đã cùng nhau cảm thấy một cái gì không thật, một cái gì xoen xoét; và mặc dầu Lê Đạt nói đủ cả, làm thơ về những anh công nhân kháng chiến mùa đông đứng bên máy tiện, về vợ chồng anh làm thuốc đen, mặc dầu Lê Đạt làm thơ về nông dân nhận trâu, nhận ruộng, làm thơ đón bộ đội miền Nam ra tập kết, mặc dầu trong thơ Lê Đạt cũng có những người khóc, những người chết, chúng tôi vẫn không tin. Khi Lê Đạt viết bài: “Chống hoà bình chủ nghĩa”, tôi lại càng ngờ vực. Sao lại huênh hoang đến thế, hình ảnh gì mà lại lố như vậy:

Đường cách mạng còn dài
Nhiều ngã ba, ngã bảy
Không chúng ta đứng đấy
Ai chỉ đường
Cho trái đất quay?…
…Trái đất
Không chúng ta
Ngơ ngác trước mù loà
Chống gậy
bước đi loạng choạng

Chẳng bao lâu, cái thắc mắc của người đọc đã được trả lời. Thế giới này là của chúng ta phát hành tháng 12-1955, thì chỉ hai tháng sau Giai phẩm mùa Xuân ra đời (tháng 2-1956). Đã rõ rệt như ban ngày, tập Giai phẩm mùa Xuân 1956 phất lá cờ đầu tiên chống Đảng, chống chế độ, và Lê Đạt là nhà lý luận trong đó. Lê Đạt mở đầu Giai phẩm với cái tuyên ngôn: “Trích Thơ gửi người yêu”, thì chính Lê Đạt đã in một đoạn “Trích Thơ gửi người yêu” ngay đầu tập Thế giới này là của chúng ta: một cái tuyên ngôn mà dùng chung cho một tập “ca ngợi” chế độ và một tập chống chế độ! Trong “Thơ gửi người yêu” đó, đã lộ mặt cái anh hùng chủ nghĩa đáng tức cười của Lê Đạt:

Một người lực sĩ
Chỉ mang nổi ngàn cân
Anh suốt tháng suốt năm
Mang quả địa cầu trong óc,

đã lộ ra cái khinh người vô căn cứ, tự cho mình là đẻ ra cái thai to quá: “Ăn nằm với cuộc đời – thai nghén đất trời – sinh ra sự sống”, lộ rõ cái nói dóc trắng trợn, rẻ tiền.

Và với bài thơ tuyên ngôn thứ hai: “Mới”, đăng trong Giai phẩm, Lê Đạt đã nhanh như cắt, tự lột toạc vứt xuống đất cái mặt dối trá của mình đã đeo từ trong kháng chiến; Lê Đạt không cần mai phục nữa, tự vạch cái giả vờ của tập thơ cơ hội Thế giới này là của chúng ta, xé nát nó ra, đứng lên trên nó mà giày xéo một cách căm giận:

Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm hại
Khôn ngoan không dám làm người
Bao nhiêu lần tôi không thực là tôi
Tim chết cứng trong lề thói
Những đêm trắng tấy lên trong dữ dội
Không muốn nhìn mặt mình

Thật là rõ quá! Mấy câu này đã cắt nghĩa cho người đọc hiểu tại sao mà thơ Lê Đạt trước kia cứ nói nhiều đến Đảng, mà lại cứ như nước đổ lá môn, trôi tuột đi! Thôi, từ những bài thơ Giai phẩm này trở đi, Lê Đạt sẽ được là Lê Đạt, sẽ “thành thật” là mình, sẽ sang một chặng đường khác, sẽ đến một chân trời “mới”, say sưa cầm một cán cờ khác, nhất quyết dương lá cờ “mới” đó lên!

Những biến hoá của chủ nghĩa cá nhân tư sản

Lê Đạt đã rít lên tiếng nói từ thâm tâm, từ bản chất của mình ra, nó đích là tiếng đòi “tự do” của chủ nghĩa cá nhân tư sản, nó là ý muốn của tồn tại và phát triển của hệ thống tư tưởng tư sản! Nó không chịu nổi sự chuyên chính của tư tưởng vô sản yêu cầu chủ nghĩa cá nhân phải tự nguyện phục tùng lợi ích của tập thể, phục tùng kỷ luật cách mạng. Nhưng chủ nghĩa cá nhân tư sản ranh mãnh lắm; nó quyết kéo lẽ phải về nó; nó tự xưng nó là đại diện cho “con người”, ai dồn ép nó, tức là xúc phạm con người: Lê Đạt mị dân, kêu to lên: “tôi mới hai mươi lăm tuổi” (1956), hòng tập hợp thanh niên quanh mình, kích những “tuổi hai mươi” lên, nói khích họ, gãi vào cái máu anh hùng chủ nghĩa của tiểu tư sản, cái tính ham mới chuộng lạ của thanh niên. Lê Đạt đưa ra cái tà thuyết rạch đôi các sự vật ra làm hai: hễ cái gì “mới” là cách mạng, hễ cái gì “cũ” là đeo kính vào viện hàn lâm, là mệt mỏi, lối mòn, vết già nua, lề đường han rỉ… Nhưng chúng ta thì đặt tiêu chuẩn một cách khác; có một cái mới căn bản trong thời đại chúng ta: là giai cấp vô sản chiến thắng, là cách mạng xã hội chủ nghĩa; ngoài ra, những sự vật khác, thì chúng ta rạch ra làm hai: những cái gì có lợi cho giai cấp vô sản và chủ nghĩa xã hội là tốt, những cái gì chống lại, là xấu, bậy, phản động. Chứ chúng ta không câu nệ trong vấn đề mới, cũ. Khi chế độ phong kiến và chủ nghĩa đế quốc còn canh ty nhau trị vì trên đất nước ta, thì đi ngược chiều đó, là mới, và cái mới này là tốt. Nhưng khi, trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đời sống dân chủ nhân dân vững mạnh được mười ba, mười bốn năm, và đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, mà nhóm phá hoại Nhân văn–Giai phẩm lại cho mười ba, mười bốn năm không thay chiều đổi hướng, tức là cũ, là “công thức xỏ dây vào mũi”, thì ta không để yên cho họ đi tìm cái “mới” khác đâu! Chúng ta quyết bảo vệ cái “một chiều xã hội chủ nghĩa” này, và quét tất cả những thứ “mới” của họ vào hố rác!

Lê Đạt, “những đêm trắng tấy lên dữ dội”, đã đẻ ra một quái thai: chủ nghĩa cá nhân phát cuồng, tự phải lòng mình quá đáng, và tự nói phét về mình không chút ngượng mồm. Lê Đạt là một anh hùng quân đội chăng? Một anh hùng lao động chăng? Một thi sĩ đại tài chăng? Anh ta làm một số bài thơ xoàng ca ngợi chế độ, thì anh ta đã lại phủ nhận tất cả rồi. Nhưng Lê Đạt cứ vênh váo, lấy dáng điệu vĩ nhân, thấy bóng đầu mình lù lù quá to trên trang sách nhỏ, “đất nước đêm nay chĩa đầu ngòi bút”, mà ngòi bút thì nặng hàng vạn vần thơ. Ai muốn tìm cảm giác lạ, thì hãy đến xem! Lê Đạt ban ơn ban phước cho đời sống cách mạng này, “moi óc làm thơ, moi tim làm thơ” đến nỗi “từng từng giọt mồ hôi đẫm bản đồ chính sách”, trong khi đó thì đùng một cái, Lê Đạt bất ngờ nổ súng “vào đầu dĩ vãng”làm cho thiên hạ giật mình!

Trong bài “Mỗi ngày mỗi lớn – Gửi Kế hoạch Nhà nước 1956” người ta thấy Lê Đạt gợi lại cái dáng điệu đánh cối xay gió của anh chàng Đông Ky-sốt, nhưng lại không có cái đáng mến của Đông Ky-sốt:

Ta nắm cổ thời gian
Quất cho phi nước đại
Kéo ngày mai gần lại
Thúc vào lưng cuộc đời
Mở máy đến chân trời cộng sản

Chúng ta cũng thấy rõ cái “tôi”, khi nó tự thổi phồng mình, đã hoá ra buồn cười như thế nào, Nhưng, còn hơn thế nữa. Lê Đạt thấy người chung quanh không tin anh ta khi anh ta huếch hoác, thì Lê Đạt chuyển ngay giọng vênh váo ra giọng đau khổ. Làm anh hùng không đắt, Lê Đạt bèn chuyển sang làm tử-vì-đạo trong bài “Cửa hàng Lê Đạt”. Phương pháp nào cũng tốt, miễn là tự đề cao được mình, làm cho thiên hạ chú mắt vào ta! Qua cửa miệng Lê Đạt, cái chủ nghĩa cá nhân tử sản bị dồn ép, cất lên những lời thảm thương, hấp hối; nó tự làm ra vẻ đang bị thương, máu me lênh láng, và nó đau, tức là cả nhân loại đau; nhưng ở miền Bắc này, nó muốn có người nghe, thì nó vẫn cứ phải nói là nó yêu chế độ:

Có những ngày
tôi chỉ còn muốn chết
Nhưng yêu vợ,
yêu thơ,
yêu chế độ
Tôi không thể đi
Và cho dù có nằm sâu dưới mộ
Bất công đè nặng trên đầu
Tôi vẫn gào lên…

Lê Đạt cho mình là người chủ chốt của báo Nhân văn, tham mưu cho cả báo, tự tay sửa chữa nhiều bài đả kích chế độ ta rất cay độc, chính mình vu khống thiên hạ, thế mà lại đập đầu ăn vạ kêu rằng thiên hạ bất công với mình. Cứ một đà ấy, Lê Đạt tự khóc mình rất lâm ly, cho rằng sở dĩ mình khổ đau, là vì mình ôm lấy nghĩa lớn, sự vờ khóc này là một cách rất tinh vi buộc tội vào cho chế độ ta:

Tôi đã sống những ngày dầu dãi
Quên ngủ, quên ăn 
Mắt lõm sâu
như huyệt chôn người chết
Tôi đã chịu đau thương
bất công nhọc mệt
Tuổi thơ
làm hại tuổi giời
Mà nhiệm vụ
tôi vẫn làm chưa trọn…

Càng nói càng tự say lấy lời nói của mình, Lê Đạt không chịu đứng dừng ở cái cương vị tử-vì-đạo, mà tham vọng hơn. Cái “bệnh vĩ đại” [2] đang lên cơn sốt cao độ, Lê Đạt thấy như mình là một đấng cứu thế nào đây, tự căng mình lên cái mức vũ trụ:

Vũ trụ ơi
tha cho tôi
Tất cả những gì
thơ tôi chưa làm được
Khi tắt thở
mắt tôi đừng ai vuốt
Còn gì buồn hơn
không được thấy cuộc đời
Bác sĩ ơi
hãy khoét mắt tôi
lắp cho những người cần nó
Để chết rồi
mắt tôi vẫn mở
Vẫn tham gia phục vụ
loài người

Người nào hay mủi lòng và mất cảnh giác thì rất dễ bị lừa với những cách nói “tha thiết” như trên đây. Dưới các chế độ áp bức bóc lột trước, trong văn học và trong cuộc đời, đã có những người mang một thành tâm muốn lấy tất cả nước mắt mình, và nếu cần, lấy tất cả máu mình tưới cho tắt bớt cái ngọn lửa khổ đau đốt thiêu nhân loại; ta rất cảm kích những nỗi chân thành đó, vì trước khi có Đảng của giai cấp vô sản, họ không cầm được một vũ khí nào thực sự có hiệu quả đầy đủ. Một vĩ nhân như Nguyễn Trãi:

Tuổi già, tóc bạc, cái râu bạc,
Nhà ngặt, [3] đèn xanh, con mắt xanh,

âu lo cho cả cuộc đời dưới chế độ phong kiến; Nguyễn Du muốn khóc liền cho ba trăm năm; chúng ta kính cẩn nâng nhận các tấm lòng cứu nhân độ thế như vậy. Nhưng Lê Đạt?

Cuộc đấu tranh hiện nay đã vạch rõ cái mặt dạn dày của Lê Đạt trong nhóm Nhân văn–Giai phẩm, có chủ trương, có kế hoạch phá hoại chế độ ta, trước hết là trên mặt trận tinh thần; chân tướng chính trị của Lê Đạt xấu xa như vậy, mà Lê Đạt cứ ba hoa, khóc lóc đòi cứu thế, thì ai mà không bật cười cho được? Ai mà không tức giận?

Từ mười ba, mười bốn năm nay, tiếp theo Cách mạng tháng Tám, Đảng ta đã công khai lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi vĩ đại, cuộc xây dựng đất nước còn nhiều thành tích lớn, có phải là ở dưới thời Pháp thuộc, còn có người chưa biết Đảng nữa đâu; tại sao Lê Đạt bây giờ còn rướn người lên như Lê Đạt đây dẫn dắt cuộc đời? Tại sao nhân dân quần chúng đã nắm lấy chính quyền của mình qua sự lãnh đạo của Đảng, mà Lê Đạt vẫn không chịu tích cực và cụ thể làm việc, lại cứ rên siết ăn vạ, nếu chẳng phải là Lê Đạt không chịu công nhận cuộc đời mới này mà chúng ta đang xây dựng? Gần đây, Lê Đạt đã thú nhận rằng Lê Đạt đã tự cho chính mình là lương tâm của thời đại, chính mình thông minh hơn Đảng. Trước khi con ễnh ương vỡ bụng, thì đã có lúc nó kêu to ì ộp!

Cùng với Trần Dần, Lê Đạt đã mở sách ra đọc, học đòi Mai-a-kốp-ski một cách lố bịch. Mai-a-kốp-ski là một nhà thơ lớn, cần phải học cái nhiệt tình yêu Đảng, bảo vệ chế độ Xô Viết của ông; mặt khác, theo tôi nghĩ, chúng ta sống sau Mai-a-kốp-ski ba mươi năm, chủ nghĩa cộng sản và những tác phong cách mạng đã có những bước tiến bộ mới; sao cứ nhại cho được “cá tính” của Mai-a-kốp-ski? Mai-a phải đâu là không có những nhược điểm mà chúng ta không nên học? Chẳng qua là Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm lợi dụng Mai-a một cách tội lỗi; Lê Đạt đã xoen xoét ca ngợi được Đảng để rồi phản bội, thì họ có từ một cái gì! “Bệnh vĩ đại” của Lê Đạt quả là to! Sau khi nói đến Mai-a-kốp-ski và Beethoven, Lê Đạt tự vỗ vào ngực: “Thật là an ủi và sung sướng được làm người cùng với những con người như thế”. Chúng ta nói: “Những người như thế làm vinh dự cho con người” [4] . Nhưng Lê Đạt thì lại chỉ muốn làm người cùng với những cỡ như Mai-a và Beethoven thôi, chứ còn với quần chúng bình thường vô danh, thì Lê Đạt không muốn cùng làm người. Bây giờ chúng ta có thể tạm đếm lại những thứ áo mà chủ nghĩa cá nhân ở Lê Đạt đã vơ lấy đắp vào thân: áo chiến sĩ, áo đảng viên, áo anh hùng, áo cứu thế, áo thiên tài…

Còn nhiều biến hoá

Ở đây, tôi không nói lại nữa về trường hợp bài thơ vu khống chế độ ta: bài “Nhân câu chuyện mấy người tự tử” nằm to tướng trên số 1 báo Nhân văn; một bài thơ chính trị phừng phừng một căm thù giai cấp đối với chế độ, mà nhiều người đã vạch ra rồi.

Trong bài “Cửa hàng Lê Đạt”, cái hằn thù giai cấp đó còn bốc lên ác liệt hơn, tinh vi và toàn diện hơn; chủ nghĩa cá nhân tư sản của Lê Đạt, trong bài này, không phải chỉ thương thân tủi phận, mà chính trong lúc đó nó làm như đang hấp hối rẫy chết, cũng là lúc nó hằn học, xỉa xói, dùng nhiều mánh khóe giảo quyệt chống đối chế độ. Những mánh khóe này không ai còn lạ gì. Cái lưỡi Nhân vănsáng tạo ra quay quắt khá nhiều thứ giọng. Thoạt đầu là giọng thách thức, khiêu khích:

Lê Đạt nào?
Chán thơ thẩn rồi sao
mà lại về mở hiệu
Hay vợ đau con yếu
Làm thơ không đủ tiêu
Hay bị phê bình, kiểm thảo
Giờ như chim phải tên
Động thấy cây cong là sợ
Hay thơ tồi
không người tiêu thụ
Phải bán ki lô

Rồi Lê Đạt chặn họng ngay những người nào sẽ phê bình anh ta, gọi họ là “mác-xít thiên binh”, là lang băm chứ không phải ngành y tế. Trước đây, ở tập Thế giới này là của chúng ta, trong khi Lê Đạt mới về thủ đô, đã vội vàng bán văn cho tên lái Minh Đức, viết ngay một tập sách đứng lên làm lãnh tụ giáo dục thanh niên, và khi bị báo Tiền phong vạch ra, thì Lê Đạt cứ ngang nhiên chửi người khác là hoà bình chủ nghĩa, “chết đuối trong đũng quần đàn bà”. Ở “Cửa hàng Lê Đạt”, Lê Đạt đang lừa đảo người ta, Lê Đạt dõng dạc kêu:

chí ở sở thuế
Hãy phạt nặng bọn lái văn “Mỹ ký” [5] 
Chuyên buôn giả tình người

Mới mở “cửa hàng” ra, Lê Đạt đã theo đúng quy luật tư bản chủ nghĩa, rêu rao cạnh tranh: “Bao nhiêu chỗ ngon người ta cắm trước”; đã dèm pha các “hiệu” cũ hai, ba mươi năm; chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng: “Chưa có tiếng tăm – rồi sẽ có tiếng tăm”; ấy thế mà Lê Đạt lại kêu người ta ghen ghét mình:

Dưới mặt trời
thiếu gì chỗ đứng
Mà phải nguýt lườm
Phải huých lẫn nhau

Thật đúng là bọn Nhân văn, lấy sự gian dối làm khuôn, làm phép! Và Lê Đạt doạ Đảng là mình đây có lực lượng, khoe rằng phe cánh của mình đông, có nhiều “nhân tài”; Lê Đạt ra ở riêng, thì nào “Ôm lấy bóng đèn Văn Cao vẽ một con mắt đỏ”, nào “ngoài cửa hàng Trần Dần treo quả tim đồ sộ”, nào “hôm khai trương Hoàng Cầm giọng oanh vàng đất Bắc sẽ đến ngâm thơ”, nào “Phùng Quán Vượt Côn Đảo về”, v.v… bao nhiêu là kẻ “còn tim đòi rung, còn đầu đòi nghĩ”! Và Lê Đạt mị dân, khêu gợi vào đời sống hiện nay còn eo hẹp của cán bộ, làm như chăm sóc cho họ hơn là Đảng và Chính phủ; Lê Đạt lại ca tụng cửa hàng của mình là rộng rãi phóng khoáng, có đủ thứ vui thú cần dùng, “mới về nhiều thứ thuốc chữa liệt tim”; và bao trùm tất cả, vẫn là cái kiêu ngạo bảo thiên hạ “mang thơ tôi làm gậy chống lên đường”. Tất cả bài thơ là giọng lưỡi của một kẻ khiêu khích, khi bù lu bù loa thảm thiết, khi cười sằng sặc, khi trợn mắt tức giận, khi phồng mồm huênh hoang, có doạ dẫm, có van vỉ, tận dụng cái kỹ thuật “tác động tinh thần”.

Có một điểm hay hay, chứng minh cho quy luật trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa, là trong khi Lê Đạt hươi kiếm múa những loại thơ như trên kia, thì Phan Khôi đứng vỗ tay; ông già tỏ ra thích chơi chống bỏi, làm ra bộ “mới” lắm, gần với thanh niên; Lê Đạt tung, thì Phan Khôi hứng: “Tôi viết cái bài khảo cứu nhỏ này cốt để cắt nghĩa mấy câu thơ của Lê Đạt; Những kiếp người sống lâu trăm tuổi, – Ỳ như một cái bình vôi…” [6] Thật là vinh dự cho Lê Đạt, được Phan Khôi che tàn!

Trên đây, tôi vạch những cái đội lốt của Lê Đạt, những phương pháp, mánh khóe của một kẻ cờ gian bạc bịp biến hoá lắm trò. Nhưng tôi cần phải nhắc lại, nhấn mạnh vào cái bản chất tư tưởng tư sản, cái bản chất giai cấp tư sản của Lê Đạt; dù biến hoá thế nào, dù có tung ra nhiều bọt nước miếng để giả làm mây, thậm chí giả làm cầu vồng lắm màu, chủ chốt vẫn là một cái lưỡi cày không thay đổi: lập trường tư sản phản động, trước hết chống đối chế độ ta về chính trị. Câu kết trong nhóm Nhân văn–Giai phẩm, Lê Đạt say sưa chống Đảng ta, bản chất tư tưởng của Lê Đạt không dung hoà, không đội trời chung với giai cấp vô sản. Cho nên khi Lê Đạt làm thơ “ca ngợi” chế độ, thì thật là giả tạo ra khắp các lỗ chân lông; đến khi làm thơ đả kích chế độ ta, thì thật là say sưa xuất phát tự đáy lòng, một cái lòng đen tối, bạc ác. Đứng lên lập nhóm Giai phẩm mùa xuân, cùng với Nguyễn Hữu Đang làm bộ óc của báo Nhân văn, đứng làm “nhà lý luận” của bọn chống chế độ, Lê Đạt là một tay cổ vũ trong bọn đó, bởi “nhiệt tình” chống Đảng sâu sắc của mình. Sau khi báo Nhân văn bị cấm, Lê Đạt liên lạc, câu kết với Thụy An, Lê Đạt đóng vai trò quan trọng trong việc lũng đoạn Hội Nhà văn, Lê Đạt tích cực dùng ngòi bút viết lối văn hai mặt; Lê Đạt luôn luôn giữ một cương vị đứng chủ trường phái; mãi đến trong lớp học văn nghệ lần thứ hai (tháng 3 và 4-1958) vẫn còn tìm cách quay quắt. Cho nên, xét Lê Đạt, ta phải nhìn thấy cho hết, rằng Lê Đạt chống đối ta, phá hoại ta từ trong bản chất giai cấp thù địch.

Rơi trên ghế đá

Trong thời gian qua, Nhân văn–Giai phẩm tung ra một tập tục mà một số bạn trẻ nhẹ dạ cũng bắt chước, là: làm thơ về sự làm thơ, tự tán dương mình là thi sĩ thế này thế nọ, một cuộc “tự cho mình đi tàu bay”! Hồ Chủ tịch, trong Đại hội Văn nghệ lần thứ hai, có khuyên văn nghệ sĩ lấy đức tính khiêm tốn làm đầu. Nhóm Nhân văn–Giai phẩm thì thực hiện một cái đạo đức hoàn toàn ngược lại: nói khoác, kiêu ngạo càng nhiều càng hay! Lê Đạt cùng với Trần Dần, là hai người dùng ngực mình làm phèng phèng hăng nhất: theo sau, Phùng Quán cũng tự thổi kèn về mình. Họ thuyết rất nhiều về bản thân thi sĩ siêu nhân của họ, về thơ của họ làm lớn con người. Trần Dần nói: “Tôi đứng mênh mông chỉ mặt ngài Ngô”, nhưng thực chất, Trần Dần có chỉ mặt ngài Ngô đâu! Chỉ thấy anh ta “đứng mênh mông” như một cái bong bóng to bằng quả đất. Lê Đạt đòi Đảng điều động anh “vào bộ tâm hồn quần chúng”, trong khi Lê Đạt thực tế làm y hệt những công việc “tác động tinh thần”. Cái núi giả chuyển bụng ầm ỹ và đẻ ra một con chuột chù.

Nếu Bài thơ trên ghế đá chỉ là một tâm trạng bi quan, dao động, thì chúng ta phê bình giúp đỡ, coi như cái bệnh thường mắc phải của người tiểu tư sản sợ thực tế. Nhưng tập thơ này là cả một hệ thống có ý thức phá hoại tinh thần từ đầu chí cuối. Chúng ta thấy, với cái chế độ chính nghĩa, nhân đạo của ta, biết bao nhiêu người xưa kia trộm cướp đã bỏ tà qui chính, những gái điếm cũng kiếm nghề lao động, những kẻ trước đây cờ gian bạc lận cũng tự mình làm ăn lương thiện: sống trong chế độ ta, họ không chịu giở những ngón lừa dối mà họ đã dùng với chế độ cũ. Lê Đạt thì trái lại; anh ta vẫn cứ “đầu thai nhầm chế độ”; giữa nền văn học cách mạng của ta, cứ làm hệt như dưới thời Pháp thuộc, coi cách mạng chưa hề có, xã hội chưa hề thay đổi; cố tình tiêu tiền chế độ cũ trong chế độ mới của ta: rõ ràng là Lê Đạt ngang nhiên gian lận!

Ví dụ bài “Đu”. Trong thời Pháp thuộc, nếu có đôi trai gái nào đang đánh đu, nghĩ rằng giá hai người bay bổng luôn trên trời, thì đó có thể là một ý ngộ nghĩnh [7] , tìm một giải thoát tiêu cực. Nhưng giữa miền Bắc nước ta hiện nay, Lê Đạt đánh đu bay tuốt như thế, dụng ý gì? Lại còn bảo rằng sẽ hoá hiện thành hai ngôi sao mới không có trong sách thiên văn. Đó là một sự khiêu khích!

Người ta ai cũng có lúc buồn; buồn mà bao hàm một ý muốn cố vươn lên, thì lại có ý nghĩa giáo dục. Nhưng cái buồn thảm, cái mòn mỏi trong Bài thơ ghế đá là một cuộc đánh tiêu hao vào nghị lực, vào tin tưởng. Chủ nghĩa nhân văn cộng sản của ta là một chủ nghĩa nhân văn cao nhất, bởi nó ca ngợi hàng triệu triệu những con người trung bình, đặt vinh quang vào những công việc vô danh, những phấn đấu hàng ngày; chúng ta rất hiểu cái bếp nước của cuộc đời cách mạng, giải quyết những cái mắm muối nhất, rau dưa nhất, mà không coi thế là tủn mủn. Chúng ta là những người làm ăn rất cụ thể, chúng ta không sợ những đống tã của cuộc sống, của tình yêu, của gia đình! Người nào muốn lớn, thì phải tổ chức được, cải tạo, chiến thắng được những cái nhỏ đó! Nhưng Lê Đạt thì đưa đống tã ra mà doạ thiên hạ: “Chết đuối trong những lo toan nhỏ nhặt”“Một củ dưa hành một chai nước mắm – Cái soong cái chảo tính cộng trừ – Chắp nối cho vừa khít hai đầu tháng”“Nhiều dự định sa lầy trong đống t㔓tình yêu bị những cái hàng ngày bóp cổ”. (Bài “Gia đình”). Nếu không có cái đời sống bình thường hàng ngày, thì hôm nào cũng đẻ ra trái đất như Lê Đạt chăng? Cái vấn đề là phải nâng đời sống hàng ngày ấy lên, bằng tăng hiệu suất lao động, bắng sắp xếp hợp lý những việc trong nhà, bằng giáo dục một phương pháp tư tưởng, một nhân sinh quan độ lượng, phóng khoáng, bằng cách chữa cái tính eo sèo tẹp nhẹp tiểu tư sản, nghĩa là bằng phấn đấu cụ thể hằng ngày; chứ không phải chết khiếp trước củ dưa hành, hay chai nước mắm. Vì những người như nhóm Nhân văn–Giai phẩm thì có con đường bán hồn cho giai cấp tư sản, đi tìm say sưa giải thoát ở các tiệm trà, tiệm rượu, ở quanh bàn đèn thuốc phiện; chứ nhân dân lao động bình thường, bảo họ vứt đời sống thường ngày khiêm tốn của họ, thì họ đi tìm xa hoa, lộng lẫy ở đâu? Đời sống của họ tuy còn eo hẹp, khó khăn, nhưng chính bàn tay họ sẽ dần dần tự cải thiện, còn đẹp đẽ gấp mấy nghìn lần cái máu tham, cái bệnh khát vàng của giai cấp tư sản! Lê Đạt kêu rêu như vậy, dụng ý gì? Những bài thơ xông thẳng vào những cái đau khổ mà nói, mà phấn đấu, chúng ta rất yêu, và đòi hỏi có nhiều thơ thể hiện ở mức cao như vậy. Nhưng Lê Đạt đưa những xót xa đau đớn ra và cho nó thắng trận, bắt chị chỉ huy du kích dũng cảm trong kháng chiến, bây giờ lấy chồng rồi, thì “len lét cúi nhìn xuống đất”“chồng đánh chửi như cơm bữa”; bắt một chị phụ nữ sau một năm lấy chồng không hợp, không thể nào yêu chồng được nữa, mà không dám ly dị, “mỗi ngày qua là mỗi ngày tự tử – bóng tối trùm lên như nấm mộ – nghe hơi sống trên người lạnh đầu”, dựng lên những người đầu hàng, chết đứng như vậy. Lê Đạt đưa người ta vào con đường tuyệt lộ, tắc tỵ: hai người yêu nhau mà không nói, mỗi người lấy vợ, lấy chồng, có con, Lê Đạt bắt một người chết đi, để cho người kia đến thăm mộ mới nói được mối tình! Chủ nghĩa cá nhân tư sản miệng thì hùng hổ cho mình là ghê gớm, vĩ nhân, óc khỏe hơn tất cả những người lực sĩ mang nặng, khai lối mở đường cho loài người, nhưng trong ruột chỉ có sự trống rỗng, sự nhát hèn, chỉ cần bị một mỗi kim chích cho, là quả bong bóng nằm bẹp dí thảm hại. Lê Đạt đã lộ hết cái cốt yếu hèn của mình, trong thơ chỉ doạ chết với lăm le:“Cổ họng mơ lưỡi dao ngọt sắc”. Hơi tử khí xông lên. Trong bài “Biển với người”, tưởng rằng con người lướt gió cưỡi sóng ra sao, té ra: Biển gặp người trên con tàu, thì cho gọi gió về, và tung sóng lên “bắt người về với biển”:

Xác chết không còn tình
Biển lạnh càng thêm lạnh

Tư tưởng của những giai cấp bóc lột, khi bị quần chúng dồn vào chân tường, thì một là phá hoại điên cuồng, hai là tìm cái chết trong những khoái lạc cuối cùng. Bài thơ trên ghế đá đầy một điệu hưởng lạc, chết lịm trong tình yêu. Cái con người đòi vần trái đất theo con đường cộng sản ấy, đưa ra cái hình ảnh Trình Giảo Kim xưa “mỗi lần ngửi hơi đất mẹ, lại thấy gấp muôn lần khỏe”, tưởng anh ta sẽ ví với người cán bộ mỗi khi hoà mình vào quần chúng, lại thấy sức lực hồi lại nghìn lần; đó là bài học cổ điển của người cộng sản; nhưng không! Cái “đất mẹ” của Lê Đạt không phải là nhân dân mà chỉ là “em”, em tiếp hơi cháy bỏng cho! Lê Đạt đã từng đề ra một châm ngôn [8] : “Ăn như tư sản – Sống như Lão, Trang – Viết như vô sản”. Ăn thật khoái mồm, sống thật bàng quan, và viết thật cách mạng. Đó là tâm lý con buôn trắng trợn, giành lấy phần sướng, phần lợi nhất trong mọi lĩnh vực. Kiểu tìm cái sướng của Lê Đạt là lối hưởng lạc trối già, trối già không phải của tuổi tác, mà trối già của những giai cấp rẫy chết, bị lịch sử lên án. Trong bản thảo đánh máy của Bài thơ trên ghế đá đưa nhà xuất bản Hội Nhà văn, có bài thơ “Trong hầm bí mật” về sau không in vào sách, rất tiêu biểu cho cái triết lý “máu, sướng và chết” của Lê Đạt. Lê Đạt bày ra một cảnh đôi trai gái gặp nhau trong hầm bí mật, trong khi tiếng cuốc của giặc phá hầm rào rào trên đầu. Trước cái nguy cơ đó, đáng lẽ người ta chuẩn bị một mất một còn với giặc; nhưng Lê Đạt thì lại cho hai người ôm ghì lấy nhau, lấy cái chết ở trên đầu làm một cái kích thích bệnh hoạn!

Lê Đạt vẽ ra một cán bộ xa vợ lâu ngày, đêm nằm hầm bí mật, nghĩ đến vợ, “Quên mặt, sợ mơ nhầm người khác”. Một câu thơ lộ hết cái mặt gian xảo của Lê Đạt. Những hình ảnh Lê Đạt đưa ra cũng làm người ta ghê rợn; không còn một chút trang trọng tối thiểu đối với cơ thể người phụ nữ: “Con cái sắp hàng dưới vú”“Gầy guộc vú dài theo kháng chiến”. Đó là tôi chưa nói Lê Đạt lố bịch về phương diện thẩm mỹ, ví dụ:

Như có cô văn công nào
múa nhảy
trong lòng

Khi người ta nói: có một con chim hót ở trong lòng, thì hình ảnh xinh và hợp; trái tim, tấm lòng chỉ vừa đựng một con chim bay bổng nhẹ nhàng. Chứ còn cái tấm lòng của Lê Đạt, mà có cả một cô văn công múa nhảy ở trong, thì có hoạ là sân khấu Nhà hát nhân dân!

Bài thơ trên ghế đá còn có dã tâm gì nữa? Có dã tâm đả kích Đảng. Cho Đảng là phao phí nhân tài (“Con búp bê”, “Tình người”); ví Đảng như một anh thợ cầu già chưa vợ, bắc rất nhiều cầu, xây dựng kinh tế được nhiều đấy, nhưng “chưa bắc qua được một lòng người”. Hàng triệu lòng người đã nhờ Đảng mà tái sinh, yêu Đảng sâu sắc; nhưng cố nhiên lòng của bọn Nhân văn–Giai phẩm thì chỉ có giai cấp tư sản phản động mới bắc được cầu.

Đọc tập thơ này, ta chỉ có thể nói là: y hệt như công việc “tác động tinh thần” của địch. Rơi thảm hại xuống như thế.

Một bài học

Nhà xuất bản Hội Nhà văn, dưới sự lũng đoạn của Hoàng Cầm, in tập thơ Ghế đá, chúng ta không lạ. Nhưng một luồng thơ xấu như thơ Lê Đạt, bị công chúng căm về nội dung, ghét về hình thức, mà tại sao vẫn còn một nhóm người thưa thớt nào đó ra vẻ ưa thích? Điều này cũng dễ hiểu thôi. Đây là một vấn đề giai cấp xã hội, vấn đề hệ loại tư tưởng. Một anh cán bộ văn hoá đã bộc lộ rằng khi anh đọc thơ Lê Đạt cho một số thanh niên cao bồi ở Hà Nội, thì họ mới nghe thoáng qua, chưa hiểu rõ từng câu, họ đã thích ngay. Cái màu cá nhân anh hùng rẻ tiền, càn quấy ngổ ngáo của cao bồi đã gặp Lê Đạt là phát ngôn nhân của họ. Thơ Lê Đạt rất nhiều “cá tính”, thích đập phá vô chính phủ, bán trời không văn tự, chống đối lập trường và kỷ luật xã hội chủ nghĩa, thì nhất định là được cao bồi, những sản phẩm còn rớt lại của văn hoá Mỹ, đồng thanh tương ứng. Một sinh viên khi kiểm điểm mình đã bị nọc độc Nhân văn, cũng nói: “… Lê Đạt mới thật là ‘nhà thơ của mọi thời đại’. Nhìn anh tôi thấy thích thích. Râu ria tua tủa không thèm biết cái lưỡi dao bào, áo quần xốc xếch như tôi, như tất cả những người còn bận tâm vì lý tưởng, nói ba hoa, cười hơ hớ. Đúng là dáng dấp của một nhà thơ”. Nhưng Lê Đạt và nhóm phá hoại Nhân văn–Giai phẩm không dựa được trên chân lý, trên chính nghĩa; cái cơ sở giai cấp mà họ đưa vào cũng đang phân hoá; những cao bồi đã học tập ba nên hai chống; một số ít sinh viên lầm lạc sau khi học tập cải tạo chính trị, đã tỉnh ngộ; các văn nghệ sĩ vạch chân tướng của bọn phá hoại. Văn nghệ là nơi đòi hỏi sự chân thật hơn ở đâu hết, một chút giả dối nào chóng chầy cũng tòi ra. Những con người như Lê Đạt không thể kiếm chác lâu, lừa bịp lâu được.

Lấy một Lê Đạt ra làm ví dụ của thứ “văn nghệ” Nhân văn–Giai phẩm, chúng ta đã rút một bài học cảnh giác với chủ nghĩa cá nhân tư sản có nhiều biến hoá mưu mánh. Rút kinh nghiệm cuộc đấu tranh này, chúng ta sẽ vạch tính cách giai cấp phản động của nó, bất cứ nó lẩn lút ở đâu; chúng ta cần tiếp tục quét tan chủ nghĩa xét lại và tư tưởng của nhóm phá hoại Nhân văn–Giai phẩm để xây dựng nền văn học cách mạng.

5-58

[1]Tuần báo Văn nghệ số 69 và 70 (tháng 4 và 5-1955)
[2]Tiếng Pháp có chữ délire de grandeur, một thứ bệnh tâm lý thích tự cho mình là lớn lao vĩ đại, ví dụ: tưởng mình là Nã Phá Luân, v.v…
[3]Ngặt: nghèo ngặt.
[4]“Tựa” tập thơ dịch Mai-a-kốp-ski (Nhà xuất bản Hội Nhà văn)
[5]Mỹ ký: là một hiệu ở Hà Nội, làm hàng mạ vàng, mạ bạc rất khéo, y như thật.
[6]Bài “Ông bình vôi” của Phan Khôi (Giai phẩm mùa Thu tập II)
[7]Nguyên văn chính tả: ngộ nhĩnh. Chúng tôi cho rằng văn bản gốc có thể có lỗi in ấn (talawas).
[8]Nguyên văn: trâm ngôn. Chúng tôi cho rằng văn bản gốc có thể có lỗi in ấn (talawas).

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ, số 13, tháng 6 năm 1958. Bản điện tử do talawas thực hiện.

 

 

Đọc văn Lê Đạt

Anh Tưởng

Thoạt nhìn, Nguyễn Huy Tưởng không gây được nhiều thiện cảm. Anh người to, thô, mặt hơi nặng, mấp mé lạnh lùng. Cử chỉ chậm chạp, nhiều lúc vụng về, hơi công chức – anh là “thủ trưởng” cơ quan hội Văn nghệ Trung Ương suốt thời gian kháng chiến chống Pháp.

Nguyễn Tuân đã gọi đùa Nguyễn Huy Tưởng là ông Phán Đoan do thời Pháp anh làm ở sở Thương Chính thành phố Hải Phòng.

Một lần họp chi bộ, Tô Hoài đã phê bình Nguyễn Huy Tưởng như sau:

“Tôi thấy đồng chí Tưởng có phần xa cách anh em – lần nào cu Thái (liên lạc của Hội) đem quần áo của anh ra suối giặt là anh em biết ngay vì dáng nó đi khuệnh khoạng, khác thường như bắt mọi người phải tránh ra cho nó đi”

Tưởng im lặng chịu trận, mặt chảy xuống càng nặng thêm, nửa buồn, nửa ngơ ngác.

Anh tâm sự với tôi:

“Có thể là mình quan liêu, thì cứ nói thẳng ra, những lời phê ác khẩu như vậy làm mình hết sức nản lòng”

Tôi an ủi người bạn lớn tuổi:

“Nếu đơn giản như vậy thì còn gì là Dế Mèn nữa. Anh em văn nghệ ít nhiều có cá tính, ông còn lạ gì, đứa nào không ác khẩu? Giận họ thì giận cả đời”

“Mình cũng biết thế, nhưng nó vẫn làm mình “đau lòng”.

“Gớt phê bình Victo Huygô còn độc miệng hơn nhiều – Ông có biết Gớt nói thế nào không?… Huygô nếu viết ít hơn và lao động nhiều hơn thì tốt”

Tưởng cười, ho sặc sụa:

“Cậu tha những của quái quỉ ấy ở đâu về thế?”

Hai người im lặng đi một quãng đường, bỗng Tưởng đi chậm lại

“Lắm lúc mình cũng muốn thân mật với anh em, nhưng vụng quá chẳng biết làm thế nào – Tuân nó gọi mình là Phán Đoan cũng phải (!!!)”

Một lần khác anh nói với tôi:

“Có lẽ mình không phải một nhà văn nòi – Mình chủ yếu là một người yêu văn học”

Thời kỳ làm Phán Đoan ở Hải Phòng – Hồi này anh đã có truyện đăng trên báo Tri Tân (lẽ dĩ nhiên đó không phải là một chứng chỉ sang trọng đối với một nhà văn).

Nghe tin Trương Tửu về thăm đất cảng (lúc đó Trương Tửu đã là một ngòi bút phê bình nổi đình đám) anh có nhờ người dẫn đến ra mắt Trương tiên sinh và đưa cho Trương một bản thảo nhờ xem hộ.

Mấy ngày sau khi anh đến tiếp kiến, nhà phê bình nổi tiếng nhìn anh một cách thương hại:

“Anh viết văn đã lâu chưa?”

“Dạ, cũng gần được chục năm”

“Tôi rất buồn phải nói với anh rằng, anh không có khiếu viết văn. Nhưng nếu cố gắng, cũng có thể có dăm cuốn sách xuất bản được”

Tưởng cười buồn

“Ngoài cái thái độ kiêu kỳ đáng trách ấy, ý kiến của Trương Tửu có phần đúng”

Tôi biết anh nói thật chứ không phải làm dáng như một số nhà văn khác.

Nguyễn Huy Tưởng không có cái tài hoa của Nguyễn Tuân, cái mẫn tiệp của Nguyễn Đình Thi, cái tinh quái của Tô Hoài.

Những gì anh đạt được đều do mồ hôi thứ thiệt anh đổ xuống trang chữ.

Tôi đã có may mắn được đọc một số bản thảo của anh. Lổn nhổn không ít những biểu thức sáo mòn đến vô cảm. Nào nộ khí xung thiên, nào lửa giận ngút trời, nào tình keo sơn, môi hở răng lạnh v.v… kèm không ít những đoạn du dương biền ngẫu kiểu Nam Phong.

Nguyễn Huy Tưởng đã cần cù đọc lại, đã quyết liệt sửa.

Những trang viết của anh chi chit những tẩy xóa, những ngoặc lên ngoặc xuống hệt như một trang morat của Banzăc.

“Với mình việc sửa chữa bản thảo còn mệt nhọc hơn là sáng tác lần đầu”

Tôi bỗng nghĩ tới nhận xét của một nhà thơ đại gia người Pháp

“Người ta đánh giá nhà văn trên những gì anh ta công bố và cả những gì anh ta không muốn công bố”

Một lần anh đột nhiên phê bình tôi:

“Những bài toa viết nhiều tính từ quá”

Một nhà văn chuyên nghiệp phải rất cảnh giác với chúng vì chúng thường làm nhão câu văn.

Tôi đã học được rất nhiều ở lao động chữ tạp dịch phu phen của Nguyễn Huy Tưởng.

Một lần anh tâm sự:

“Lê Đạt có biết trong số nhà văn Tây phương moa thích nhất ai không?”

“Lép Tônxtôi chứ gì (anh em thường gọi đùa Nguyễn Huy Tưởng là ông Tônxtôi vì anh luôn miệng nhắc đến bộ “Chiến tranh và hòa bình”)

Tưởng cười rất tươi và hóm hỉnh (hiếm khi tôi thấy anh cười như vậy).

“Không phải, người mình thích nhất là Bốtxuyê”

Tôi tưởng mình nghe lầm.

“Bốtxuyê thế kỷ XVII, vị thầy tu chuyên điếu văn cho các ông hoàng bà chúa?”

“Đúng, Bốtxuyê là một nhà văn rất kỹ tính, tên ông ta là kết hợp ba đầu ngữ Bos suêtus aratro – Lê Đạt ngày trước có học tiếng La Tinh, chắc toa hiểu Bos suêtus aratro là con bò kéo cày.

Giai thoại trên có phải anh muốn cảnh cáo tôi không?

Từ hồi thanh niên, tôi đã mắc bệnh mất ngủ – Một đêm vào 2 giờ sáng, tôi chợt thức giấc (thời gian này, cơ quan hình như đóng ở nhà ông Chánh Cuốn cây số 5 đường Hà Tuyên) thấy Nguyễn Huy Tưởng nằm ngủ gục trên bàn bên cạnh đĩa dầu dọc còn thức. Hồi tối, Nguyễn Huy Tưởng đã nói với anh em:

“Tạp chí sắp đưa nhà in mà bài Ký sự Cao Lạng mình chưa viết xong, đêm nay có lẽ phải thức trắng.”

Vào khoảng mười giờ, anh uống liền hai tách cà phê cắm tăm để thức. Tưởng ngủ gục trên bàn và ngáy rất to.

Biết rằng anh quá mệt, tôi không nỡ đánh thức.

Bốn giờ sáng, tôi dậy tập thể dục, đã thấy chiếc gạt tàn thuốc lá đầy ắp. Anh dậy từ lúc nào. Mà không phải chỉ có một đêm.

Tôi không bao giờ quên tối hôm đó, trước lớp đấu tranh Thái Hà II độ một tuần, lúc gió đã bắt đầu thổi hơn cấp 10 có nguy cơ trở thành bão lớn.

Chúng tôi ở nhà Tô Hoài trên Nghĩa Đô về, có Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, tôi và Nguyễn Văn Bổng, một nhân vật chống Nhân Văn khét tiếng cùng trong ban phụ trách lớp Thái Hà II với Nguyễn Đình Thi.

Cuộc đồng hành bất đắc dĩ và không khí thật nặng nề. Bỗng Nguyễn Huy Tưởng nói khá to:

“Các ông ấy thật buồn cười, bắt mình học một tháng chứ học một năm, mình cũng không bao giờ kết luận thằng Lê Đạt là phản động, mình ở với nó mãi, mình còn lạ gì”

Nguyễn Huy Tưởng biết rất rõ phát biểu như vậy là hết sức nguy hiểm, nó có thể khiến anh dễ dàng bị buộc tội là ủng hộ Nhân Văn và tức khắc trở thành một tên phó phản động, chí ít, cũng là một phần tử lạc hậu, lúc này anh vẫn còn trong Đảng đoàn văn nghệ.

Chúng ta thường có một thói quen không tốt là khi viết điếu cho một đồng nghiệp ít nhiều có tiếng, ta thường tống tiễn họ bằng những lời khoa trương tiện lợi và công cộng như “nhà văn lớn”, thậm chí “cây đại thụ” v.v… (sinh thời Nguyễn Tuân gọi đó là văn tế ruồi)

Tôi bất cần biết Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn lớn hay nhỏ, là cây đại thụ hay đồ sộ thụ, tôi chỉ biết anh là nhà văn hiếm hoi có tư cách mà tôi đặc biệt quý mến và kính trọng trong giới cầm bút đương đại.

Anh Tưởng,

Ở cõi bên kia, tôi nghĩ anh có quyền yên ngủ và ngáy thật ròn rã sau một cuộc đời lao lực nhọc nhằn và trung thực cày vỡ xứ đồng tiếng Việt.

 

Nhân Thánh Thán bình thơ Đường

Xin chọn mấy bài thơ Đường tương đối quen thuộc với độc giả VN để tiện theo dõi:

  1. Hoàng Hạc lâu

    Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
    Thử địa không dư hoàng hạc lâu
    Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
    Bạch vân thiên tải không du du
    Tịch xuyên lịch lịch Hán dương thụ
    Phương thảo thê thê Anh vũ châu
    Nhật mộ hương quan hà xứ thị
    Yên ba giang thượng sử nhân sầu
    Thôi Hiệu

 

Lầu Hạc Vàng

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi
Nơi đây chỉ còn trơ lầu Hạc vàng
Hạc một đi rồi không trở lại nữa
Mây trắng ngàn năm man mác trôi
Dòng sông quang tạnh rực rỡ hàng cây đất Hán dương
Cỏ thơm mọc tươi tốt trên bãi Anh vũ
Chiều tối quê nhà ở nơi đâu?
Khói sóng trên sông khiến người buồn bã.

Kim Thánh Thán phê bình: Có bản chép Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ thực là lầm lớn! Không biết rằng bài thơ này dùng bút lớn bao la tả liền ba chữ Hoàng Hạc lâu, chỗ kỳ lạ là ở đó. Giả sử người xưa mà cưỡi bạch vân thì lầu này tại sao lại có tên là hoàng hạc? Lý này thật rất rõ ràng. Còn như câu 4 chợt thêm vào bạch vân diệu ở chỗ có ý không ý, có nói không nói (hữu ý vô ý, hữu vị vô vị). Nếu thoạt tiên chưa tả hoàng hạc mà trước đã tả bạch vân thì là hoàng hạc, bạch vân đối chọi nhau: Hoàng Hạc vốn là tên lầu, còn bạch vân thì do điển nào mà ra? Bạch vân đã được ngời xưa cưỡi đi mà đến nay hãy còn du du trên đời này há có thiên tải bạch vân sao? Thực không đáng một cái cười. Làm thơ không nhiều mà có thể khiến Thái Bạch Công phải gác bút thì đúng là bậc đại trượng phu trong rừng bút mực vậy. Hãy xem bọn nho mọn ô uế suốt đời rên rỉ khổ ngâm, đến cái ngày đậy nắp áo quan, người ta góp nhặt lại cũng được mấy trăm ngàn lời thế nhưng không từng được cả một đứa trẻ nít trong làng tạm thời để mắt vào, thực đáng đau xót lắm.

Lê Đạt lạm bàn: Lý giải minh triết, lời lẽ tung hoành, sát phạt như những đường gươm tuyệt mệnh đúng là loại người xưa nay hiếm trong cõi phê bình. Thể loại phê bình thường bị một số nhà sáng tác xem khinh 15 phút như thể loại ký sinh, thằng còng làm thằng ngay ăn, viết đến mức Thánh Thán ai dám bảo thua sáng tác? (Tôi e rằng phần Thánh Thán phê bình Tây sương ký có chỗ còn vượt cả bút lực của tác giả Vương Thừa Phủ).

Trong lúc không ít nhà sáng tác phải xuất trình chứng minh thư độc giả mới biết là của ai, chỉ cần lướt mấy dòng trên, dù chưa xem đến tên tác giả cũng biết ngay là của ông họ Kim. Lời thật độc! Trộn không lẫn.
Không có thể loại dở. Chỉ có người dở.

Kim Thánh Thán phê bình tiếp: Phàm cổ nhân mà có một lời, một hàng, một câu, một chữ đủ để bước một mình trong một thời, chiếm cứ cả ngàn năm thì ta cần phải tin rằng không gì là không đều do đọc ở sách, dưỡng khí mà ra.

Như dải thơ này ta phải tin rằng rõ ràng là do đọc sách. Các câu 1, 2: chính là ông đọc Thiên Thiên đạo, sách Trang tử, lời của Luân Biện nói về Tề Hoàn công… ông liền thuận tay sửa bớt, dùng rất thích đáng. Các câu 3, 4 chính là ông đọc được câu ca Dịch thuỷ trong Kinh Kha liệt truyện.

Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn
(Gió vi vu hề sông Dịch lạnh lùng ghê
Tráng sĩ một ra đi không trở về)

Cuốn sách ai cũng đọc thế mà chỉ riêng ông có sự sẵn đối cảnh liền dùng, ngay cả chính mình rốt cuộc cũng không biết nữa thế thì rõ ràng phải tin đó là cái sức dưỡng khí.

Tiền dải tả người xưa, hậu dải tả người nay tuyệt nhiên không tả đến lầu! Dải này lại diệu ở chỗ không dính liền gì với đoạn trên, chỉ nhất ý tựa cao trông xa, riêng thổ lộ hoài bão của mình, mặc cho đời sau muốn hiểu ra sao thì hiểu thực đúng là bậc đại gia vậy.

Lê Đạt lạm bàn: Thánh Thán viết lời bình trên đã 300 năm mà tưởng đâu mới viết hôm qua, hôm kia gì đó trên một tạp chí phê bình mới tại Pháp những thập niên 60.

Nghĩ đến thuyết bản viết nhiều tầng (écriture plurielle) của Rôlăng Báctờ hay của trường phái ngữ nghĩa phân học (sémanalyse) quan niệm bất cứ một nguyên cảo nào cũng được viết trên một palimxet, tức là một miếng da cừu. Đã viết rồi được cạo sạch đi để viết mới những vẫn ẩn hiện bản văn cũ. Một câu thơ hay là câu thơ ký thác được lịch sử thi ca nhân loại, nó đi qua các tầng văn hoá như con tàu Du hành II vượt quỹ đạo Thái dương hệ đi vào cõi vô cùng.

Đọc sách, dưỡng khí là quá trình tích tụ, sinh thành trong ý thức lẫn vô thức con người, do đó một nhà thơ có thể xuất khẩu thành chương nhưng câu thơ vẫn mang sức hàm dưỡng hàng nghìn năm công lực mà ngay chính nhà thơ rút cuộc cũng không biết. Không có câu thơ hay mà lại ở trình độ cấp I.

Thơ theo cấu trúc gián đọan – Không cần những chuyển câu dông dài có tính chất lý giải hai năm rõ mười – Nhà thơ cố gắng tạo nên một liên kết chữ phức hợp bất định và đa nghĩa mặc cho người đời sau (cả đời nay nữa) muốn hiểu ra sao thì hiểu khuyến khích khả năng tự do tạo nghĩa của họ với tư cách đồng tác giả của bài thơ.

Cố gắng sáng giá nhất của nhà thơ là dò tìm miền chưa biết, mở mang bờ cõi diễn đạt của ngôn ngữ và cảm thụ của người đọc. Đó là trọng chữ, trọng người, đâu phải trò ú tim, cố tình làm khó, làm bí hiểm, coi thường người đọc.

Trong phong trào thơ hiện đại cuối thế kỷ XX, Thánh Thán “tam bách dư niên hậu” vẫn còn là một bạn đường đồ sộ.

Thánh Thán phê bình: Thái Bạch Công phê bình bài thơ này cũng chỉ nói rằng:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
(Trước mắt có cảnh không nói được
Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu)

… Bây giờ mình muốn mệnh ý thì họ Thôi đã mệnh ý hết rồi, nếu muốn thẩm cách thì họ Thôi đã thẩm cách xong rồi, nếu muốn tranh phát bút thì họ Thôi phát bút đã là không tiền khoáng hậu, không chiếu cố đến kẻ khác, dù cho mình có cảnh đẹp đầy mắt có thể soạn mấy trăm ngàn liên chăng nữa thì cũng chỉ là tự nhả hết tâm huyết ra uổng phí thôi, chớ còn đặt tay vào đâu được, vì thế bất giác cúi mình sát đất thổ lộ thực rằng: có cảnh nói không được. Than ôi! Thái Bạch Công sỡ dĩ hư tâm phục thiện như thế chỉ vì chính mình hiểu rõ luật thi cam khổ. Còn các ông đời sau thì bất chấp có người nào đề thơ rồi, chẳng ngần ngại gì mà không tức thì đề lại tám câu.

Lê Đạt lạm bàn: Đúng là Lý Bạch qua hai câu thơ trên có tỏ lòng trọng thị Thôi Hiệu. Nhưng nói rằng bất giác cúi mình sát đất thì có phần quá đáng. Thánh Thán là một nhà phê bình cực đoan. Đó là ưu điểm, cũng là nhược điểm của ông.

Vì mải đề cao Thôi Hiệu, ông chỉ thấy khía cạnh cúi mình sát đất của Lý Bạch mà không nhìn thấy thái độ tự tại bình tâm của một đại thi hào không lấy việc hơn thua làm trọng mà chỉ một lòng cảm thụ thơ hay. Thơ anh làm về lầu Hoàng Hạc thế là diệu, của anh hoặc của ta, ta hơn hay anh hơn việc đó có quan trọng gì, anh làm đã đạt rồi thì ta ngâm thơ của anh hà tất phải làm thêm một bài để thi đấu, con trẻ nó chẳng cười cho sao? Đó là tâm sáng của bậc thượng đẳng.

Thánh Thán viết: Than ôi! Thái Bạch Công sở dĩ hư tâm phục thiện như vậy chỉ vì chính mình hiểu rõ luật thi cam khổ.

Tôi cũng biết ý Kim tiên sinh muốn dùng Lý Bạch để dạy một bài học cho các ông thơ thẩn đời sau… của trường phái thơ con cóc!

Nhưng tôi e tiên sinh còn có điều hạn hẹp khác:

Ở một phần khác Thánh Thán viết: Ôi luật thi đời Đường chẳng phải chỉ là sự cấu tạo tốt đẹp của một thời mà vốn là tuyệt xướng của ngàn bậc thánh.

Luật thơ dù tuyệt vời đến đâu cũng chỉ là bước đầu. Người làm thơ cao thủ không thể không thuần thục nó nhưng thành thục rồi nên quên nó đi, biến nó thành một phản xạ. Luật thơ dù là thơ Đường, chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ.

Lý Bạch không làm không phải vì hiểu rõ luật thi cam khổ, ông không làm vì không thích làm, thế thôi.

Thánh Thán thừa hiểu rằng hai nhà thơ lớn nhất đời Đường là Đỗ Phủ và Lý Bạch.

Đỗ Phủ hoạt động trong cõi luật.

Lý Bạch hoạt động trong cõi siêu luật.

Đỗ Phủ là tuyệt đỉnh của thơ luật Đường.

Lý Bạch là chân trời của thơ Đường.

Sao lại lấy những tiêu chuẩn của cõi luật áp đặt cho cõi siêu luật?

Một điểm nữa, tại sao lại khăng khăng kết luận rằng Lý Bạch cúi mình sát đất không dám làm thơ về lầu Hoàng Hạc nữa? Thật ra Lý Bạch đã làm. Nhưng không làm như Thôi Hiệu. Hai câu thơ:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu

có thể coi là một bài kiểu khác của Lý về Hoàng Hạc Lâu. Nó cũng nổi tiếng không kém gì bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

Đó chính là phép hiện diện bằng khuyết diện của bậc đại trí.

Lý Bạch hình như đã bứt được ra khỏi bận tâm ấy, ông làm thơ như bình sinh khi đói ta ăn, khi mệt ta nghỉ, như con cá Kình dọc ngang vùng nước cả, con chim bằng vùng vẫy đỉnh Thiên Sơn, đó là cái hư tâm hay nói theo các nhà phê bình mới, cái hồn nhiên cấp hai, của bậc chân thi.

Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài

Phụng hoàng đài thượng phụng hoàng du

Phụng khứ đài không giang tự lưu

Ngô cung hoa thảo mai u kính

Tấn đại y quan thành cổ khâu

Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại

Nhị thủy trung phân Bạch lộ châu

Tổng vị phù vân năng tế nhật

Trường An bất kiến sử nhân sầu.

Lý Bạch

 

Lên lầu Phụng hoàng tại Kim Lăng

Lên lầu Phụng hoàng (xưa) phụng hoàng dạo chơi

Phụng hoàng đi rồi lầu không nước sông vẫn trôi

Trong cung Ngô hoa cỏ vùi chôn đường nhỏ tối tăm

Áo mũ đời Tấn thành ra gò đất

Núi Tam Sơn rơi một nửa ra ngoài trời trời xanh

Sông Nhị phân đôi ở giữa bãi Cò Trắng

Tất cả chỉ vì đám mây nổi hay che mặt trời

Không thấy thành Trường An, người buồn bã.

 

Thánh Thán phê bình:

Trong thơ đời Đường, một dải gồm 4 câu 7 chữ là 28 chữ rõ rệt đó chính là 28 ngôi sao, ngôi nào cũng đều có duyên cớ cả, trong số đó quyết không có ngôi sao nào không duyên cớ. Nay trong ba câu dải thứ nhất bài thơ này tôi kiếm cái duyên cớ tất phải là phụng du (phượng dạo chơi) mà không tìm được. Như vậy Lý tiên sinh ngày ấy hẳn nên cắt đứt ái dục mà nhường cho họ Thôi độc bộ, thế mà tại sao lại cũng giống như bọn văn nhân nhỏ mọn đời sau cứ phải muốn hơn hớn không xá, cam làm vậy…

Giang tự lưu cũng chỉ là đổi vân du du. Diệu là diệu ở hai câu Ngô cung, Tấn đại lập tức một khóc một cười?

Ta muốn kiếm cung Ngô mà chỉ có cỏ hoa vùi lối như thế há không muốn khóc thất thanh ư? Nhưng ta nghe nói kẻ đánh Ngô là Tấn, do đó đi kiếm triều đại Tấn thì cũng đã mũ áo thành gò rồi, như thế há không muốn cười ra nước mắt ư?

Lê Đạt lạm bàn:

Trước hết cần nói, Phụng hoàng đài không phải một bài thơ kiệt xuất của Lý Bạch.

Lấy một bài trong số ngàn bài thơ của Lý để so với bài kiệt xuất nhất của Thôi Hiệu là một việc làm e không công bằng.

Nhưng thôi, ta cứ chấp nhận coi đó như kết quả của một cuộc bốc thăm phân bảng các đội bóng tranh giải Mundial.

Ngay trong câu mở đầu, Thánh Thán viết:

Tương truyền đây là bài thơ bắt chước Hoàng hạc lâu (của Thôi Hiệu). Như vậy là Thánh Thán đã tôn Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu lên làm một mô thức và lấy nó làm chuẩn đánh giá bài Phụng Hoàng Đài.

Đó là cách phê bình khép kín nhìn về phía sau chứ không phải mở nhìn ra phía trước.

Trong thơ, làm lại một bài thơ của người khác đã viết không phải chuyện lạ. Vấn đề chính là biến hóa cái của người khác thành cái của mình như thế nào.

Lấy một ví dụ cho dễ hiểu. Đọc câu thơ của Nguyễn Du:

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

Ai cũng biết Nguyễn Du mượn một câu thơ Đường:

Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Hoa đào như cũ còn cười gió đông

Nhưng hai chữ năm ngoái tuyệt bút hàng ngàn lần so với hai chữ y cựu, nó gợi lên bao nhiêu nuối tiếc bâng khuâng và ngơ ngác, nó làm sóng sánh cả câu thơ… khiến câu thơ gần như trở thành của Nguyễn Du chứ không thể nói là đơn thuần bắt chước thơ Đường.

Thánh Thán căn cứ vào luật thơ Đường (lại luật!!!) 4 câu 7 chữ là 28 chữ, rõ rệt chính là 28 ngôi sao (biết rồi khổ lắm nói mãi!) rồi đi đến nhận xétNay trong ba câu của dải thứ nhất bài thơ này tôi tìm kiếm cái duyên cớ tất phải tả “phụng du” mà không kiếm được.

Không kiếm được là phải vì có đâu mà kiếm. Tôi nhắc lại: Lý Bạch hoạt động ở cõi siêu luật (một cõi luật khác).

Câu thứ nhất trong bài của Thôi Hiệu:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

là nói một sự kiện Thôi cho là trọng đại nó khơi nguồn cảm khái của nhà thơ, mới vào bài thơ đã bộc lộ tính hoài cổ trang trọng một cách rõ rệt.

Câu mở đầu của Lý Bạch:

Phụng hoàng đài thượng phụng hoàng du

Dung dị và phóng khoáng, hai chữ phụng hoàng lặp lại cho câu thơ dáng dấp nhẹ nhõm của một cuộc chơi (du). Cái ý du này quán triệt cả bài thơ.

Đã chơi thì tả hay không tả nào có quan trọng gì? Vả lại, xét đến cùng,chơi tự nó chẳng phải là duyên cớ sao? Lý Bạch là một nhà thơ điêu luyện đến mức tự nhiên. Trong lúc mọi người yên trí rằng phụng du là bất túc, là không có duyên cớ, Lý Bạch thủng thẳng gẩy nhẹ, nhẹ nhưng vào lưới.

Đó là câu 7 của bài thơ, trở lại ý chơi và nâng nó lên một tầng khái quát mới.

Tất cả chỉ vì đám mây nổi hay che mặt trời
Tổng vị phù vân năng tế nhật

Cả phụng du cả Ngô lẫn Tấn, tất cả cũng chỉ do trò chơi của đám mây nổi (mây nổi tan hợp bất thường, phù du chứ không phải mây trắng u hoài, man mác) với mặt trời mà thôi.

Bất giác nghĩ đến lời bình của Trang Tử về con gà gỗ trong Nam Hoa kinh.

Để nói cái lai láng, cái trầm buồn, Thôi Hiệu có một cách. Để nói cái tiêu sái, cái thích thảng Lý Bạch có một cách. Sao Kim nhạc trưởng lại bắt hai người diễn tấu giống nhau?

Hai câu thơ được Thánh Thán khen:

Trong cung Ngô hoa cỏ vùi chôn đường nhỏ tối tăm
Áo mũ đời Tấn thành gò đất.

Đúng là những câu thơ hay, nhưng cũng là hay theo tiêu chuẩn của mô thứcHoàng Hạc lâu, của thông lệ.

Theo tôi hai câu xuất sắc nhất trong bài là hai câu mà Thánh Thán bỏ qua:

Núi Tam Sơn rơi một nửa ra ngoài trời xanh
Sông Nhị Thủy phân đôi ở giữa bãi Cò Trắng

Xuất sắc vì tân kỳ.

Hai câu thơ như bứt khỏi sức hút của hạ giới bay lên quỹ đạo vũ trụ.

Người làm thơ có cái bút lực muôn trượng của một tâm hồn siêu phàm ngoại cỡ hàng ngày làm bạn với Núi Kính Đình với sông Hoàng Hà đổ xuống từ lưng trời.

Một người như thế không thể nào lấy luật, dù là luật của thánh nhân để giới hạn được.

Ai cũng biết Đỗ Phủ suốt đời lao tâm khổ tứ làm một câu thơ quỷ thần chưa khiếp kinh, chết không nhắm mắt, đó là bận tâm lớn của bậc thi bá.

Lý Bạch hình như đã bứt được ra khỏi bận tâm ấy, ông làm thơ như bình sinh khi đói ta ăn, khi mệt ta nghỉ, như con cá Kình dọc ngang vùng nước cả, con chim bằng vùng vẫy đỉnh Thiên Sơn, đó là cái hư tâm hay nói theo các nhà phê bình mới, cái hồn nhiên cấp hai, của bậc chân thi.

Suốt đời Đỗ Phủ kính trọng Lý Bạch như một người anh lớn không phải vì tuổi tác, mà chính vì cái hư tâm này.

Nó không khỏi nhắc ta nghĩ đến thái độ kính trọng của Khổng Tử đối với Lão Tử.

Nhà quy tắc vĩ đại của nhân loại nói với học trò:

Loài chim ta biết nó hay bay, loài cá ta biết nó hay bơi, loài thú ta biết nó hay chạy. Loài chạy thì có thể đánh bằng cạm bẫy, loài bơi thì có thể đánh bằng chài lưới, loài bay thì có thể đánh bằng lưới giập, còn như loài rồng thì ta không biết nó cưỡi mây gió lên trời như thế nào. Nay ta gặp Lão Tử, người ấy cũng như con rồng vậy.

Kim tiên sinh,

Ông là bậc tiền bối, uyên bác, bụng chứa hàng kho sách, tôi là kẻ đến sau kiến thức đơn sơ – dùng lời một nhà thơ Pháp, chỉ vừa đủ để tự vệ – tiếp ông rượu e rượu dỏm không mua, nhà chật ở chung, trầm không gây, e bất tiện hàng xóm, tri âm riêng có tấc lòng với thơ, mấy lời lạm bàn, mong ông lượng thứ.

 

Đường chữ

Câu thơ khổ tu xí xoá nợ luân hồi

Sau Nhân Văn, tôi vẫn tiếp tục…
Nhân Văn chỉ là một chặng chứ không phải toàn bộ Đường chữ của Lê Đạt

Ngay từ nhỏ tôi đã ôm ấp mộng cách tân thơ Việt – lẽ dĩ nhiên lúc đó tôi không ý thức được rõ rệt nên cách tân như thế nào.

Sau Cách mạng tháng Tám, nhà thơ ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất là nhà thơ Xô-viết Mayakovsky. Tôi thích những hình ảnh quả đấm hết sức táo bạo cũng như những bài thơ quảng trường mạnh mẽ tham gia trực tiếp vào quá trình thay đổi xã hội của ông.

Ảnh hưởng của Maya rất đậm nét trong những bài thơ tôi cho in trên Giai phẩm mùa Xuân và báo Nhân Văn số một. Những hình ảnh sinh sự đã khiến tôi ít nhiều được công nhận như một nhà thơ cách tân:
Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một dãy bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại

Hay

Người công an đứng ngã tư đường phố
Chỉ huy xe chạy xe dừng
Rất cần cho công việc giao thông
Nhưng đem bục công an máy móc
Đặt giữa tim người
Bắt tình cảm ngược xuôi
Theo đúng luật đi đường Nhà nước
Có thể gây rất nhiều chua xót ngoài đời

Tôi cũng rất mê hai câu thơ ngông nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ:

Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi

Cho đến lúc này, chủ yếu tôi vẫn là một nhà thơ tài tử. “Chơi” thì là tài tử chứ còn gì nữa!

Những câu thơ hay của tôi thường là do may mắn mà ra đời chứ ít khi trải qua một quá trình lao động gian khổ nào! Càng may mắn tôi càng thích thú. Từ “chơi” của ông Trứ đã ảnh hưởng lâu dài đến sáng tác của tôi cho mãi đến đại hạn Nhân Văn.

Trong suốt hơn 30 năm đại hạn này, tôi có nhiều thời gian suy nghĩ về thơ mình cũng như về thơ nói chung.

Tôi buồn rầu nhận ra rằng thơ tôi chưa có cách tân triệt để. Về cấu trúc mà nói, nó vẫn chưa thoát khỏi thơ “Mới” những năm 1930.

Tính cách tân của nó chủ yếu chỉ là thay đổi dấu.

Thiên hạ chủ yếu làm thơ ca ngợi (dấu cộng).

Tôi chủ yếu làm thơ phê phán (dấu trừ).

Thơ ca ngợi hay phê phán cũng đều trực tiếp bị thúc đẩy bởi thời sự. Việc tôi bị án treo bút (không biết đến bao giờ, có thể đến suốt đời) đã tách tôi ra khỏi sức ép của xuất bản. Tôi bắt đầu nghĩ đến những thay đổi triệt để hơn.

Nhưng triệt để là thế nào tôi vẫn chưa hình dung được!

Thời kỳ này tôi vẫn tiếp tục làm thơ nhưng bắt đầu chán thơ mình. Tôi viết và xé bỏ rất nhiều. Bế tắc. Tôi quyết định nghỉ làm thơ một thời gian dài để có điều kiện suy nghĩ.

Rất nhiều đêm mất ngủ. Có lẽ bệnh mất ngủ của tôi bắt đầu từ thời kỳ này.

Tôi luôn luôn tự hỏi: Chẳng lẽ mình thiếu nghị lức đến mức không tận dụng được những bất hạnh gây ra cho gia đình, bạn bè, người quen, người không quen cũng như cho chính bản thân mình để có đủ hơi sức tiến hành những cách tân thơ từng ôm ấp từ hồi nhỏ? Chẳng lẽ mình đành phí bỏ nghiệm sinh một cách vô ích và oan uổng? Làm thế nào để rũ bỏ được mặc cảm tội lỗi? Làm thế nào để không bị rớt lại như một rơ-moóc già tại một ga xép rêu mốc?

Trần Dần hình như ngay từ đầu đã tìm ra con đường của mình và anh tiếp tục đi một mạch.

Tôi không có cái may mắn ấy.

Tôi phục xuống đọc sách. Trong cuộc đời chìm nổi của mình, những lúc nản lòng tôi đều trở về với sách, hy vọng tìm ra một lời giải, một lý do để tin trong việc giao lưu với những con người “tử tế” của chữ.

Rất may thời gian này Hội Việt kiều yêu nước tại Pháp gửi về tặng Thư viện Khoa học Xã hội rất nhiều sách, đặc biệt những sách về chủ nghĩa cấu trúc, về phong trào Thơ mới, Văn học mới, Phê bình mới… Những năm 50 là giai đoạn hoạt động tư tưởng sôi nổi của giới trí thức Pháp, có ảnh hưởng lớn đến diện mạo văn hoá nhân loại.

Tôi mê mải đọc sách 4 năm liền, ngày 8 giờ vàng ngọc thứ thiệt. Nhiều hôm tôi đọc thông tầm từ 2 giờ chiều đến 9 giờ tối, giờ thư viện tắt đèn. Thấy tôi về muộn phải vét cơm nguội ăn, con gái lớn tôi đã nói đùa: “Bố phải lòng cô nào mà mê mệt thế!”

Và tôi còn đọc nữa nếu như không xảy ra một sự cố bi hài kịch lớn.

Đế quốc Mỹ đã bắt đầu leo thang ném bom Hà Nội. Các cơ quan lục tục sơ tán.

Tôi vẫn mê mải đọc sách. Cùng vào thời điểm này, Trần Dần ra thư viện để dịch thuê Althusser và Trần Đức Thảo cũng “hội ngộ” để tìm tài liệu bổ sung cho những nghiên cứu của anh về giai đoạn sơ khai của ý thức.

Giám đốc thư viện là một thiếu tá chuyển ngành “râu hùm hàm én” rất Từ Hải. Con người trượng phu này có lẽ rút kinh nghiệm từ bài học bất cẩn của Từ Hải nên đã có một cảnh giác rất “siêu”. Ông đã nói với thuộc chức:

“Thời buổi này ai còn tâm đâu đọc sách! Chắc bọn Trần Dần, Lê Đạt ra thư viện là để tụ bạ… làm bậy.”

Và ông hạ lệnh “cấm” chúng tôi đọc sách. Lẽ dĩ nhiên ông không công khai nói toạc ra như vậy mà sử dụng phương pháp trí trá khuất tất quen thuộc của đám thư lại. Một hôm tôi đưa phiếu mượn sách, cô thủ thư quen tỏ ra lúng túng và nói:

“Giám đốc chỉ thị các anh không được đọc sách tiếng nước ngoài, chỉ được đọc sách tiếng Việt.”

Cũng may lúc đó tôi cũng đã ngốn gần hết những sách cần đọc.

Và cho đến bây giời tôi vẫn hàm ơn Thư viện Khoa học đã cho phép tôi “du học” bốn năm liền mà không cần chạy chọt cũng như vướng bận những lo toan xích líp, quạt tai voi, dây mai-so, hạ thấp tư cách con người.

Trên đất nước bốn nghìn năm văn hiến ai ngờ đọc sách mà cũng gian nan thế.

Một anh bạn khá thân thường chạy tài liệu cho tôi dịch kiếm sống, một hôm có vẻ thông cảm rủ rỉ với tôi:

“Ông đúng là một thằng rồ, còn ai chịu in sách cho ông nữa mà cách tân với cách tung. Nghỉ cho nó khoẻ. Rồi tôi sẽ cố chạy thêm tài liệu cho ông dịch!”

Trước sự tốt bụng của bạn, tôi còn biết trả lời thế nào. Chỉ còn cách giấu biệt không cho ai biết những dự định thơ của mình như giấu một bệnh “đáng xấu hổ” ở chỗ kín của cơ thể.

Hay tôi là một thằng rồ thật!

Có lẽ do làm việc căng quá, tôi lâm bệnh. Chóng mặt. Đi lảo đảo. Nằm xuống nhiều lúc thấy đầu mình tụt xuống một hố sâu thẳm. Và ác mộng. Nhiều đêm sợ quá tôi phải ngồi dậy tựa lưng vào tường thức cho đến sáng.

Một anh bạn giới thiệu tôi với bác sĩ X, một chuyên gia thần kinh “năm bờ oăn” thời bấy giờ, ở Pháp về.

Bác sĩ X hỏi tôi:

“Anh cho tôi xem sổ khám bệnh.”

Tôi cười trả lời:

“Đây là lần đầu tiên tôi đến khám tại một bệnh viện công.”

X ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

“Không sao, để tôi nói anh em kiểm tra toàn bộ sức khoẻ cho anh…”

Xem kỹ những giấy tờ xét nghiệm và sau khi khám cho tôi, X chậm rãi:

“Anh chẳng có bệnh gì đáng bận tâm cả, chỉ bị stress thôi.”

X viết đơn cấp thuốc cho tôi và khẽ khàng như nói tâm sự:

“Ông đến nhờ tôi, lẽ tất nhiên tôi phải khám và cấp thuốc…”

X nhìn quanh rồi càng hạ thấp giọng:

“Thời buổi này ai chẳng suy nhược thần kinh… tôi cũng bị, lẽ tất nhiên ít hơn ông vì không bị ăn đòn…”

X tiễn tôi ra cửa, bắt tay tôi khá chặt và dặn dò:

“Quên nó đi ông ạ.”

Chẳng biết tôi quên “nó” hay “nó” quên tôi mà chỉ sau đó ít ngày tôi bỗng hết bệnh.

Tôi vẫn loay hoay tìm cách đổi mới thơ mình nhưng thất bại. Cái thói quen ngôn ngữ là một trong những thói quen cứng đầu và hết sức ngoan cố.

Thời trước Nhân Văn tôi tin tưởng hào hứng biết bao!

Hình như những ngày đẹp trời đã qua. Và giờ đây là một chuỗi những Chủ nhật buồn.

Tôi thèm cái đinh ninh của Trần Dần.

Nhưng tôi biết Trần Dần cũng chẳng thể giúp gì được tôi.

Tôi không thể làm giống như anh được. Với Dần, tôi cũng ngày một kính nhi viễn chi hơn.

Không phải hai đứa mâu thuẫn gì nhau.

Tôi không có cái “bình thường tâm” của kẻ tu chợ và cần phải có một diện tích thanh vắng nhất định để thiền ngẫm cũng như nghiệm chữ.

Trong cuộc đời trầm luân một con người, đôi khi ta hạnh ngộ một vài câu nói nó cưu mang mình như một chiếc phao cứu sinh.

Suốt đời tôi hàm ơn ba câu nói.

Một của Trang Tử: “Mọi người đều biết lợi ích của cái hữu dụng, ít người biết lợi ích của cái vô dụng”.

Hai của Lacan: “Vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ”.

Ba của Mallarmé: “Hãy trả tính chủ động cho chữ”.

Tôi bắt đầu cuộc hành trình vô dụng lần tìm vô thức thông qua việc giải phóng ngôn ngữ.

Tôi xin phép được nhắc lại đây một đoạn viết khá dài trong tập Đời tôi và tâm phân học của Freud, cũng sâu sắc như Lacan nhưng lại dễ hiểu hơn: “Người ta thấy miền tưởng tượng là một kho chứa được hình thành khi có sự chuyển đổi đau đớn từ nguyên lý khoái lạc sang nguyên lý thực tế nhằm tạo ra một thế vật cho việc thoả mãn xung năng mà cuộc sống buộc con người phải từ bỏ. Người nghệ sĩ giống như một người loạn thần kinh, anh ta tự rút lui vào thế giới tưởng tượng ấy, tách khỏi hiện thực không làm anh ta thoả mãn. Nhưng khác với người loạn thần kinh, nghệ sĩ biết cách làm thế nào tìm lại được con đường hiện thực vững chắc. Các tác phẩm của anh ta là sự thực hiện tưởng tượng những khát vọng vô ích giống hệt những giấc mơ… Nhưng trái lại với những giấc mơ phi-xã hội và nặng tính tự si, sáng tác của nghệ sĩ bộc lộ khả năng gợi mối đồng cảm ở người khác, đánh thức và thoả mãn chính những khát vọng vô thức ấy ở nơi họ.”

Freud còn viết:“Mọi đứa trẻ khi chơi ứng xử như một nhà thơ với ý nghĩa nó tự tạo ra cho mình một thế giới hay nói chính xác hơn, nó chuyển dịch những đồ vật của thế giới nó đương sống sang một trật tự mới phù hợp. Nó coi trò chơi của mình là rất nghiêm túc.” (L.Đ. nhấn mạnh.)

Nói một cách nôm na, người làm thơ thực hiện một trò chơi chữ nghiêm túc, sử dụng những phép tu từ học (ám dụ, hoán dụ, lược tỉnh, ghép âm, nói lái nói lối…) như một đứa trẻ chơi với những đồ vật chung quanh.

Thế nào là chơi nghiêm túc? Chơi nghiêm túc là chơi thật, chơi hết mình, sống trò chơi như một nghiệm sinh thực thụ. Nghiêm túc không mâu thuẫn với trò chơi mà mâu thuẫn với chơi đùa hay tài tử. Từ một người chơi tài tử tôi đã nỗ lực nghiêm túc để trở thành một người chơi chuyên nghiệp.

Người làm thơ chơi những phép tu từ như một thứ bẫy vô thức. Anh ta sinh sự với ngữ nghĩa và ngữ pháp để tạo ra một sự sinh mới cho thơ.

Người làm thơ rắp tâm biến ngôn ngữ tiêu dùng thành một thứ ngôn ngữ trò chơi (hiểu theo nghĩa mạnh) trong một trạng thái nửa tỉnh nửa mơ mà Roland Barthes gọi là một sự chú ý bồng bềnh(attention flottante).

Chính cái trò chơi hết mình này khiến Freud coi các nghệ sĩ như một thứ trẻ con lớn tuổi có khả năng đánh thức bản năng trò chơi của độc giả.

“Mỗi người tự nhớ lại thời anh ta sống thực với những ham muốn trẻ thơ trong đó ngôn ngữ làm ra thế giới, thời gian là chiếc gậy của nàng tiên và tấm thảm bay, tóm lại thời của ma thuật”. (J. Bellemin-Noel)

Tôi xin phép được mở ngoặc để nói thêm về từ chơi chữ vì từ này do bị sử dụng quá nhiều đã xuống cấp nghiêm trọng và thường bị nhiều người coi như một trò kỹ xảo đơn thuần có tính lý trí. Người chơi chữ dễ dàng được coi là một người thông minh. Như tôi đã trình bầy ở trên, chơi như vậy là chơi đùa. Nhà nghệ sĩ cũng như đứa trẻ không chơi đùa mà chơi thật khiến trò chơi chữ không còn là một trò chơi đơn thuần dựa trên óc thông minh của một người tỉnh táo mà dựa trên toàn bộ trí năng cũng như cảm năng của một kẻ đam mê bị thánh ốp trong một cơn thượng đồng của chữ.

Về phương diện này phải coi Hồ Xuân Hương như một nhà thơ tiên phong đầu bảng trong thi pháp Việt Nam.

Hãy theo dõi cuộc chơi chữ hết sức nghiêm túc và tài ba của cao thủ chữ họ Hồ:

Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông
Chúng bảo nhau rằng ấy ái uông…

Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu…

Nứt ra một lỗ hõm hòm hom…

Cái hay của bà Hồ không phải ở chỗ nói đến “cái ấy” một cách công khai và trì tục mà ở chỗ bà đã làm việc đó, thông qua một nghệ thuật chơi chữ hết mình một cách hiểm hóc, tài tình và hữu hiệu. Hàng phòng ngự chặt chẽ và cứng rắn của nguyên lí thực tế đã bị nguyên lí khoái lạc xuyên thủng và sút tung lưới.

Tôi xin lấy một ví dụ, bài “Giáo Thụ gửi vợ” cũng nói về “cái ấy” một cách mạnh mẽ:

Cõi Bắc anh mang thằng củ lẳng
Miền Nam em giữ cái chai he
Hẳn còn vương vít như hang thỏ
Hay đã to ho quá lỗ trê?

Nhưng sao nghe không sướng – nó loã lồ và dung tục quá! Điều quan trọng không phải là nói đến cái ấy mà là nói như thế nào. Tôi không hủ nho tới mức lấy đũa gắp giải rút quần vợ. Trong thơ người ta có quyền nói tất cả mọi thứ nhưng nhất thiết phải nói bằng thơ, nghĩa là phải vượt qua chủ nghĩa tự nhiên cấp 1 đến cấp 2 của nghệ thuật. Một bức tranh khoả thân của Renoir hoàn toàn khác một anh đầm truồng của phim con heo.

Tất cả cái “khoái” trong thơ Xuân Hương không nằm ở chỗ nói trắng cái ấy ra mà ở phép nửa kín nửa hở, nó kích thích lòng ham muốn của người đọc. Ham muốn vốn không có khuôn mặt thật. Ham muốn thường hiện ra dưới nhiều hình dạng, nó nuôi dưỡng và duy trì những đòi hỏi của nguyên lý khoái lạc.

Cái ấy thì ai chẳng biết…

Nhưng “biết rồi khổ lắm nói mãi, thế rồi làm sao”!

Chính cái “thế rồi làm sao” ấy là nghệ thuật.

Trong trò chơi phi ngựa của trẻ nhỏ, vật chơi chỉ là một chiếc gậy gỗ, chính tưởng tượng, chính sự đam mê của đứa trẻ đã biến chiếc gậy gỗ thành con ngựa. Cái thích thú nằm ở chỗ chiếc gậy gỗ không phải là con ngựa mà vẫn là ngựa hay nói một cách dân dã hơn “nói dzậy mà không phải dzậy”. Cái ấy bao giờ cũng có mặt và bao giờ cũng vắng mặt trong một trò ú tim vô tận.

Bà Hồ có nhiều câu thơ kiệt xuất nhưng câu tôi kính nể nhất vẫn là câu:

Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không

Nó thăm thẳm như chiếc hố không bao giờ có thể lấp đầy của ham muốn.

Không nên quên ham muốn về cơ bản khác với nhu cầu. Nhu cầu thì hữu hạn và có thể thoả mãn được, còn ham muốn thì vô hạn và luôn luôn “bất mãn”.

Tôi bắt đầu tự làm khó dễ mình bằng những bài tập chơi chữ sử dụng tất cả những phép tu từ học có thể theo tiếng gọi của những âm tiết. Viết xong đến đâu lại xé lại đốt đến đó như một anh chàng lẩn thẩn. Tôi không muốn và cũng không dám cho ai xem. Sự tự cô lập này thật hết sức nặng nề.

Trần Dần thỉnh thoảng có hỏi tôi: “Sao lâu nay không thấy cậu làm thơ?”

Tôi chỉ cười xoà trả lời: “Vẫn làm nhưng không ra gì.”

Đặng Đình Hưng nửa nạc nửa mỡ: “Ông anh ‘xêriơ’ quá… Phải côn huyền cồn như thằng em này thì thơ mới bốc được.”

Không, tôi nhất quyết không sử dụng bất cứ một thứ “đôpinh” nào.

Người ta có thể đạt tới sự xuất thần bằng nhiều cách, không nhất thiết phải cậy nhờ những chất ảo sinh (hallucinogène) và kích hoạt.

Một nhà thơ mà phải nhờ đến chất “viagra” để thượng đồng thì yếu quá.

Tôi đã nỗ lực rất nhiều để trở thành một kẻ rồ chữ. Tôi xin được phép nhắc lại một lần nữa. Người làm thơ hoạt động ở những vùng biên ngôn ngữ rất giống một người điên. Cái khác biệt giữa họ nằm ở chỗ người điên thì vượt biên đi thẳng tới cõi vô thức hoàn toàn của đêm tối mù mịt và ở lại đó, còn người làm thơ thì loạng choạng bước một vài bước sang cõi vô thức thì ngừng lại và biết đằng sau quay, trở về với cõi ngày của ý thức sau khi đã lượm dăm mảng đêm của vô thức để mở rộng địa giới của cõi chữ. Làm thơ không chỉ đòi hỏi sự buông lỏng mà còn một cảnh giới thượng thừa.

Không một nhà thơ nào lại không muốn có người đọc mình bây giờ và ở đây.

Lời tuyên bố hoàn toàn sáng tác cho tương lai chỉ biểu hiện của một thái độ hờn dỗi vạn bất đắc dĩ.

Tháp ngà là một hình ảnh không lấy gì làm sáng giá của trường phái thơ lãng mạn. Nhà thơ không mong muốn sự cô đơn, nhà thơ chỉ chấp nhận nó.

Không tháp ngà nào ngăn cản được những tiếng vang vọng của sự sống cũng như của những bận tâm nhân loại của người nghệ sĩ.

Nhà thơ càng cô đơn càng cần san sẻ. Cần nhưng sợ. Đem những câu thơ đến bản thân mình cũng phải cố gắng mới làm quen được tung ra đời liệu có được thiên hạ thông cảm không? Cái tình trạng bồn chồn ấy thật đáng sợ. Và nó kéo dài trong nhiều năm.

Thương anh nỗi trường kỳ nợ sợ
Một mình huýt gió nghĩa trang đêm

Những năm đó tôi rất thân với hai câu thơ cực hoang vắng của Mạnh Hạo Nhiên:

Bất tài minh chủ khí
Đa bệnh cố nhân sơ

Vì bất tài nên minh chủ (chứ không phải vua ngu) không dùng, nhiều bệnh nên cố nhân (chứ không phải kẻ sơ giao) ít lui tới.

Thái độ tri thiên mệnh và bình thản của họ Mạnh đã nâng đỡ tôi không ít trong dằng dặc trường kỳ bất hạnh.

Sau khi làm những bài tập tự do ghép chữ một thời gian, tôi bắt đầu tập “chơi chữ” theo những đề tài nhất định hay nói một cách giản dị hơn, tôi bắt đầu tập sáng tác.

Tôi đã mất ba tháng để viết xong bài “Ông phó cả ngựa” lần thứ nhất và ba tháng nữa để sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu lần, nhiều câu chữa mãi có khi lại trở về câu lần đầu, đi chông chênh trong một vùng bất định đầy sương mù, luôn đối diện với một câu hỏi da diết… đâu là điểm tự do xa nhất chữ có thể đạt tới, đâu là cực hạn nhất thiết không được bước qua.

Tôi vốn không phải là một nhà thơ sướt mướt. Trong những năm tháng bất hạnh của nghiệm sinh tôi đã tu dưỡng một nụ cười bất chấp, một “chủ nghĩa makênô” chính hiệu. Người yêu thì gọi tôi là “ông Di Lặc”, kẻ ghét thì là “tên Nhân Văn ngoan cố”.

Không hiểu sao khi đọc lại bài thơ “Ông phó cả ngựa” còn nóng hổi những chữ mới ra lò, nước mắt tôi cứ ứa ra không cầm lại được.

Tôi hiểu rằng mình đã được cứu rỗi.

Vào những năm 80, sau khi được phục hồi, chuẩn Tổng Thư ký Hội Nhà văn Nguyễn Khải nói với tôi:

“Anh chọn mấy bài thơ cho báo Văn Nghệ.”

Nghe nói (?) khi đưa mấy bài thơ của tôi cho báo, có người trong Ban Biên tập đã hỏi Nguyễn Khải:

“Anh có hiểu không?”

Khải trả lời:

“Mình cũng không hiểu lắm nhưng cứ nên đăng.”

Sau khi số báo ra mắt độc giả có khá nhiều phản hồi “tiêu cực”.

Một nhà thơ kỳ cựu từ thời Tự lực Văn Đoàn T.T. hỏi tôi một cách đầy thiện chí:

Át cơ rơi, ông định nói gì thế?”

Mà không phải chỉ có một mình T.T.

Tôi chợt nghĩ đến Mallarmé. Khi có người hỏi: “Ông định nói gì trong bài thơ?”, Mallarmé trả lời: “Nếu biết nói gì thì nói, việc gì phải viết.”

Một số nhà thơ chống Mỹ có cảm tình với tôi cũng tỏ vẻ thất vọng:

“Tưởng anh mới thế nào chứ mấy bài vừa rồi chẳng có gì mới cả!”

Phần lớn những người bạn “chính trị” của tôi cũng quở trách. Đ.P., một cựu tù Sơn La tỏ ra khá quyết liệt:

“Ông im tiếng bao nhiêu lâu, giờ tái xuất giang hồ, anh em chờ đợi một tuyên ngôn của ông về dân chủ, tự do, ông lại cho in mấy bài thơ tình vớ vẩn.”

Tôi cười trả lời:

“Có tuyên ngôn đấy chứ, tuyên ngôn về quyền dân chủ của chữ.”

Đ.P. cau mặt:

“Ông thì lúc nào cũng đùa được.”

Tôi trộm nghĩ rằng hành động yêu nước nghiêm túc nhất của một công dân với tư cách một người làm thơ là cúc cung tận tuỵ bảo vệ và mở mang bờ cõi chữ của dân tộc mình.

Chỉ có một người (lẽ dĩ nhiên là theo chỗ tôi biết) tin là tôi nói thật: Trần Đĩnh.

Trần Đĩnh là nhà báo lâu năm, quen tôi từ hồi “Sự thật” ở trên rừng. Anh nổi tiếng về những tập hồi ký cách mạng, ghi lại theo lời kể… Trần Đĩnh đã tốt nghiệp khoa Ngữ văn tại trường Đại học Bắc Kinh nổi tiếng. Đĩnh rất lọc lõi thơ Đường. Ngoài ra anh còn có một vốn kiến thức quảng bác về thơ thế giới.

Thế là ít nhất đã có hai người tương đối hiểu thơ tôi, bản thân tôi và Trần Đĩnh.

Tôi xin nhấn mạnh: thêm một người không đơn thuần là một thay đổi về số lượng, mà quan trọng hơn hết, đó là một thay đổi về chất lượng. Tôi đã thoát khỏi vòng cô đơn. Một người là số ít nhưng hai người là khởi điểm của số nhiều. Trần Đĩnh đã giúp đỡ tôi không ít trong quá trình Bóng chữ qua những nhận xét vừa tinh tế vừa bốc đồng của anh.

Năm 1993, Hội Nhà văn chủ trương xuất bản cho những anh em vừa được “phục hồi” mỗi người một tập thơ.

Hoàng Cầm cho in tập Về Kinh Bắc, tập thơ đã đưa anh vào vòng lao lý. Phùng Quán cho in Thơ Phùng Quán. Trần Dần, tập Cổng tỉnh, một tiểu thuyết thơ và tôi cho in tập Bóng chữ. Trong mấy tập thơ trên, số phận tập Bóng chữ có phần long đong hơn cả.

Khi đưa Nhà xuất bản Hội Nhà văn, giám đốc kiêm tổng biên tập N.V.P. nhất định không chịu ký duyệt phần Lão Núi. Không phải vì ác ý. N.V.P. nói: “Tôi không thể ký tên chịu trách nhiệm về những bài thơ tôi chẳng hiểu gì cả!”.

Cũng may việc này tôi đã đề phòng trước. Khi đưa tập thơ cho Ban Chấp hành Hội Nhà văn tôi đã nói với Chính Hữu và Hữu Mai, hai nhân vật có ảnh hưởng nhất trong Ban Chấp hành thời bấy giờ:

“Nếu các ông thấy có những điểm sai sót về chính trị, tôi dứt khoát sẽ sửa, ngược lại các ông nên đảm bảo cho tôi tự do về mặt phong cách.”

Chính Hữu và Hữu Mai tán thành và chính nhờ sự ủng hộ tích cực của hai người mà tập Bóng chữ được ra đời một cách trọn vẹn không bị cung hình.

Vừa chân ướt chân ráo ra mắt độc giả, Bóng chữ đã được ăn đòn ngay.

Một nhà thơ thời chống Mỹ viết một bài đả kích thậm tệ đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội lên án tôi tham chữ bỏ nghĩa, nặng hơn nữa còn chủ trương vô nghĩa, gọi Bóng chữ là “thơ ú ớ” sùng bái vô thức chống lại ý thức.

Toàn những khuyết điểm giết người!

Bài viết quá nhiều lỗ hổng về kiến thức, kể cả những kiến thức cơ bản.

Lẽ dĩ nhiên tôi không trả lời.

Một nhà thơ trẻ hỏi tôi: “Sao chú không trả lời?”

Tôi cười: “Người ta phê bình một nhà thơ trùng tên Lê Đạt chứ có phê bình mình đâu, mình mà ngu thế làm sao còn sống được đến giờ.”

Không biết xuất phát từ đâu dư luận dứt khoát rằng thơ tôi khó hiểu.

Có người vừa mở tập Bóng chữ lướt qua đã gập sách lại và kêu ca rằng thơ tôi “hũ nút”. Trong thơ, nạn đọc bằng tai chứ không bằng mắt cũng khá phổ biến.

Tôi không yêu cầu độc giả ủng hộ tôi vô điều kiện, tôi chỉ yêu cầu sự công bằng. Đa số các bài thơ của tôi đều được viết đi viết lại nhiều lần. Bài “Át cơ” chỉ vẻn vẹn bốn năm câu mà chi phí mất hàng tuần, chẳng lẽ độc giả quá tằn tiện đến mức không nỡ chiếu cố cho nó mươi mười lăm phút bạc vụn?

Hơn nữa, “hiểu” căn bản là hoạt động của lý tính trong tiếp xúc của con người với ngoại giới. Người ta có thể chưa “hiểu” mà vẫn cảm nhận được thông qua trực giác, nó cũng quan trọng chẳng thua gì lý tính trong hoạt động nhận thức.

Khi ta “mê” một người con gái nhiều khi ta cũng không hiểu tại sao. Các nhà thơ lãng mạn gọi đó là “tiếng sét ái tình”. Chỉ sau khi hết choáng váng ta mới có điều kiện sử dụng lý tính để “hiểu” và hiểu mãi vẫn chưa hiểu hết.

Không phải bao giờ cũng hiểu mới cảm được.

Những lời ủng hộ mạnh mẽ đầu tiên đến từ Paris.

Người đầu tiên là Đỗ Kh., một nhà thơ trẻ nổi tiếng vì những câu thơ “bất lịch sự” trên Tạp chí Thơ ở Cali.

Hôm đến từ biệt nhà thơ Hoàng Cầm, Đỗ Kh. tiện tay vớ tập Bóng chữ trên sàn gác, đọc qua thấy lạ bèn đút luôn vào túi (Kh. cứ yên tâm mình đã đền Hoàng Cầm một cuốn Bóng chữ khác rồi). Trên đường về qua Lào, Kh. tranh thủ đọc Bóng chữ ở khách sạn và lập tức viết cho tôi một lá thư “hết sức lịch sự” và cảm động.

“Anh khiến bọn trẻ chúng em cảm thấy bớt lạc lõng.”

Rất cảm ơn Đỗ Kh.!

Người thứ hai là Đặng Tiến, nhà phê bình thơ được nhiều người tán thưởng ở hải ngoại. Bài của Đặng Tiến được Vũ Quần Phương đăng hai kỳ trên báo Người Hà Nội của giới văn nghệ thủ đô cho thấy một vốn kiến thức khá sâu sắc về thơ Việt cũng như thơ thế giới.

Đặc biệt nhất là bài của Thụy Khuê nói về thơ tạo sinh của Lê Đạt phát trên đài R.F.I. và sau được in trong tập tiểu luận Cấu trúc thơ.

Sau khi bài phê bình của chị xuất hiện, trong nước cũng như ngoài nước có dư luận rằng tôi đã “gà” Thụy Khuê viết bài này.

Đó là những xì xào không đúng sự thật. Thời kỳ đó tôi chưa quen Thụy Khuê.

Chị có liên lạc với Hoàng Ngọc Hiến xin tôi một tập Bóng chữ. Và một hôm chị “phôn” cho tôi từ Paris nói rằng đài R.F.I. sẽ phát bài của chị về Bóng chữ, chị đề nghị tôi nghe và cho biết ý kiến.

Sự sắc sảo của Thụy Khuê khiến tôi ngạc nhiên. Tôi có viết gửi chị một lá thư. Và lá thư hậu Bóng chữnày đã mở ra một tình bạn tận tâm và lâu dài giữa hai người.

Một tác phẩm nghệ thuật khi ra đời, nếu nó được tác giả thật sự mang nặng đẻ đau với tất cả tâm huyết của mình, tự nó đủ sức tự vệ.

Không sức mạnh nào bắt nạt hay bịt miệng được nó!

Hậu từ 

Trong thời gian viết “Đường chữ”, một nhà báo quen hỏi tôi: “Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Nhân Văn anh muốn gửi thông điệp gì?”

“Xin bạn cất ngay cho tôi từ thông điệp vào tủ, coi nó như loại dược phẩm độc hại môi trường bảng A.”

Lạm dụng những từ khoa trương rất không tốt cho sức khoẻ ngôn ngữ quốc gia và có nguy cơ cao dẫn đến nạn lạm phát.

Trong quốc sách tiết kiệm không nên quên tiết kiệm ngôn ngữ.

Đừng sài ngôn ngữ như sài tiền chùa.

Một hôm trên nóc nhà tròn quận XIII Paris, trụ sở của đài R.F.I., sau bữa ăn trưa, nhà phê bình văn học Thụy Khuê có hỏi tôi:

“Anh là một trong những nhà văn Việt Nam có điều kiện thuận lợi nhất để viết hồi ký về Nhân Văn Giai Phẩm, sao anh không viết?”

“Không phải không viết mà chưa viết.”

“Bao giờ anh viết… ?”

“Khi có đủ can đảm.”

Thụy Khuê có vẻ hơi khó chịu: “Em hỏi nghiêm túc”.

“Mình cũng nghiêm túc.”

“Ít năm nay theo đường lối Đổi mới, chính quyền hành xử đã có vẻ bớt cứng rắn…”

“Mình chưa viết không phải vì sợ chính quyền. Lẽ dĩ nhiên trong một nước thế giới thứ ba, từng trải hàng nghìn năm phong kiến và thuộc địa việc sợ đó không bao giờ thừa. Ở Việt Nam, người ta chưa có thói quen nói đến khuyết điểm của người đã khuất và điều mình sợ là đọc xong tập hồi ký, các con bạn có thể đến chất vấn: Bố cháu với bác là chỗ thân tình, cả nhà cháu đều quý bác sao bác lại ‘đánh’ bố cháu?”

Đúng là có thể chết luôn được!

Nhưng điều tôi sợ nhất chính là bản thân mình. Liệu tôi có đủ can đảm giữ gìn để khỏi hạ cấp việc viết hồi ký thành một toan tính “mông má lý lịch” hoặc “tự tố điêu” thành tích nhằm đánh bóng thương hiệu?

Vào giai đoạn hiện tại tôi tự xét chưa đủ bản lĩnh miễn dịch cám dỗ ma quỷ ấy.

Năm 2000 tôi có viết bản trường ca Bước ký vào XXI, xin phép được tái sử dụng phần kết của nó cho tiểu luận này:

Năm 2000

năm chiếu cố

những địa đầu thiểu số

Các nhà cầm quyền

đối đám nghi can

đúng trước giờ công bố

hãy nhẹ tay.

 

Đọc vài bài thơ của Lê Đạt

 Vợ Nhân Văn 

Lịch sử quýt làm cam chịu
Xin lỗi em

những đêm Nguyễn Bỉnh Khiêm [1] trằn trọc

Anh Thái Hà [2] chưa về

và em khóc

Xin lỗi em

những lời khuyên “cắt đứt”

Vạ gì đeo hai tiếng “liên quan”
Những buổi sớm

muốn chui đầu xuống đất

Mặt trời soi ngày kiểm thảo bắt đầu
Xin lỗi em

tiếng oan vợ thằng phản động

Lý lịch ba đời mấy đứa con thơ
Xin lỗi em

tuổi ước mơ không được sống

Những giấc ngủ

chưa một lần tròn mộng

Chung thân tâm thần

trọng tội đa mang

Đời sau ơi
May còn đoái đến tôi
Hãy trả giùm tôi món nợ
Người vợ nhỏ

vừa thoát tuổi khăn quàng đỏ

Đầu chụp mũ chồng

lưng thập tự Sói ăn

Và Đức Phật

duyệt xuất biên vào Tĩnh thổ

Xin độ trì

những Thị Kính – vợ – Nhân Văn.

 

 

Nguyễn Du

 Nhớ liễu hồ
tới nhờ em xõa tóc
Em vắng nhà
bồ kết chửa đi xa
Cầu nước chảy
bóng chiều xuân tha thiết
Xanh Thanh minh em thổi liễu vô hình

 

Lý Bạch

 Tiến tửu
chén vơi
trăng đầy hát
Rượu say mèm
sầu tỉnh
hận không say
Thiên lý chữ tuôn lòng nhật bạch
Không tận xanh
thơ thở trắng trời

 

Hồ Xuân Hương

 (Bá ngọ con ong bé cái lầm
H. X. H.)

Xuân chẳng buông hương
sao bướm vượt đường
Kìa hoa leo tường
là hoa dâm bụt

 

Lê Đạt
Xuân 17 

Thí xinh số báo xuân 17

Xuân một năm đi đâu
Chiều xinh xuân xịch đến
Không kịp ai đón tầu

Hoa cửa tha thẩn đèn
Chả quen mà cũng hẹn
Ô muốn đèo bé đời
sau xe đạp xoan chơi
Phố thi thì con gái

Chiều qua còn khép nụ
Nào hay xuân chớm về
Sớm đã hoa bùng lửa
Thắp hồng lên má đê

Ngực no căng ngược gió
Thơm mãi mùi dậy thì

2003