08/15/2016
Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 95)

clip_image001

Lính thú đời xưa

clip_image003

Trong Quốc văn giáo khoa thư có hai bài Lính thú đời xưa I và II

Ngang lưng thì thắt đai vàng

….

Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

Và bài kế tiếp:

Ba năm trấn thủ lưu đồn

Những dang cùng nứa lấy ai bạn cùng

Nước giếng trong, con cá nó vẫy vùng

Nhưng bài sau thật lạ kỳ, như ở đâu bay vào câu thơ lạ hoắc. Đó là câu cuối “Nước giếng trong, con cá nó vẫy vùng” : Câu thơ nhẩy vọt từ chuyện khổ qua chuyện vui, không đầu không đuôi, không gốc không ngọn vì giữa anh lính thú và con cá chẳng có một liên hệ gì với nhau cả.

Ngoài ra “thú” là hạn kỳ ba năm như đi quân dịch.

(Cao Huy Thuần – báo Ngày Nay)

Thành ngữ từ bàn nhậu trước 75

Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”

về thuốc lá xuất xứ từ bàn nhậu, như:

Pallmall : Phải anh là lính mời anh lên lầu.

(hay “Phòng anh lạnh lẽo, mình anh lạnh lùng)

Salem : Sao anh làm em mệt.

(đọc ngược lại là “Mà em làm anh sướng”)

Lucky: Lòng ước có khi yêu (?).

Capstan : chiếc áo phong sương tình anh nặng.

(hoặc “Chiếc áo phong sương tựa áo nàng”)

Bastos: Biết anh sầu, tôi ôm sát.

Tục ngữ Ta và Tầu

Người thì không đáng đồng chì

Ba hồn bẩy vía đòi đi võng đào

Nê Bồ Tát yếu nhân đài

(Bồ Tát bằng đất, lại muốn người khiêng)

(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)

Chữ nghĩa làng văn

“…Đầu thế kỷ 20, người tả dục tính đầu tiên là Lê Hoằng Mưu, chủ bút Lục Tỉnh Tân-văn, tác giả Hà hương phong nguyệt. Với truyện Người bán ngọc, văn phong biền ngẫu gần 400 trang. Người bán ngọc là Tô Thương Hậu giả phụ nữ bán ngọc để gần gũi và trở thành tình nhân của Hồ phu nhân trong 2 năm chồng đi xa. Trước là đồng tình luyến ái. Sau trai gái thật khi Tô Thương Hậu không cầm lòng được đã để lộ cái “oan gia”.

Vén mùng rồi vừa gạt chưn lên giường, xẩy thấy một tòa thiên nhiên, lịch sự như tiên giáng thế, làm cho người bán ngọc mảng mê nhan sắc trố mắt đứng nhìn, quên bổn phận mình, mưu sự tệ tình, bất cẩn… Thấy Hồ phu nhân mê mẩn giấc nồng sổ đầu, nằm bỏ tóc, xấp xả khó gìn cho đặng. Bèn đưa tay rờ rẫm vuốt ve cho thỏa. Không dè, mới thò tay tới bụng sợ phập phồng nó làm cho tấc dạ bồi hồi, tay rung lập cập. Người bán ngọc không dám rờ! Lật đật thục tay vào rồi xây mặt ngó quanh quẩn bên mình… Vuốt qua vuốt lại, rờ xuống rờ lên đôi ba phen mà Hồ phu nhân mê mẩn không hay, người bán ngọc thấy vậy mới dễ ngươi, ái tình lại dối lòng tà dục… muốn kề má hôn cho phỉ dạ. Có một điều là rờ rẫm vuốt ve thì không sao, chớ hễ muốn kề má xuống hun, thì lại hườn cựu lệ, trống ngực đánh rầm rầm, chân tay run lẩy bẩy… đổ mồ hôi ướt đẫm như người bị cảm mạo phong sương… dục thúc quá dằn lòng không đặng, người bán ngọc bèn gượng đưa tay ra rờ cái ngọc cốt phi phàm… Rờ tới đâu chết điếng tới đó…”.

(Nguyễn Văn Sâm – Vài suy nghĩ về truyện ngắn)

Cơm Tầu

Vài từ quen thuộc với người Việt trong tiệm ăn Tầu:

Hủ tiếu (qua điều) – Xíu mại (thiêu mãi) – Há cẩu (hà gia) – Hoành thánh (vân thốn hay hổn độn) – Mì xào (chao miên) – Bào ngư (ngư bào) – Lạp xưởng (lạp trường) – Thịt cầy nấu thuốc Bắc (hướng dục).

Lòng heo (phá lấu) – Thịt bò viên (ngầu dìn hay ngưu viên).

Ấm trà (dậm xà) – Trà ( người Tiều đọc là “té”, người Quảng Đông gọi là “chá” hay “chai”) – Cà phê sữa (phé nại hay gia phi ngưu nài) – Phổ ky ( hỏa kế).

(Phụ chú: Hủ tiếu Nam Vang từ hủ tiếu Triều Châu bên Nam Vang mà ra – Phá lấu cũng của người Triều Châu hay Tiều)

(Lê Văn Lân – Đặc san Phù Sa Sông Cửu)

Chữ nghĩa thập niên 20

Vưu vật: Hai chữ này chỉ người con gái đẹp có tư cách lạ thường.

Sách Tả truyện có câu : Phù hữu vưu vật túc dĩ di nhân”, nghĩa là gặp người lạ thường làm cho người ta phải tiến tới.

Trong khi tiếng Việt thì “vưu vật” lại có nghĩa dung tục khác!.

(Phan Mạnh Danh – Tình trường ký)

Từ Hán –Việt được nho hóa

Tầng: Tầng lớp, giai tầng xã hội. Tầng nhà

Thí dụ cao ốc đó có tám tầng và một tầng hầm.
Ti: Nhỏ, quá nhỏ. Tị hiềm, ti tiện, ti tiểu.

Từ kép li ti là do ti Hán–Việt này.

Thí dụ đó là một mớ dây rối, kết bằng những sợi nhỏ li ti.

Chữ nghĩa không hay…chết liền II

Báo Tuổi Trẻ Sài Gòn có nhặt ra một số hạt sạn của các báo ở trong nước. Xin mượn vài hạt sạn trình làng. Nhà văn Hoàng Ty trong bài Phú thương Lăng Cô nay đã lên phường, đăng trên tạp chí Thông Tin Văn Học số 62, đã viết:

“Bà Đoàn Thị Điểm đã để lại cho đời sau nhiều bài thơ bất hủ. Thưở học trò chúng tôi vẫn ngâm nga thú vị:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà..

Ới ông Hoàng Ty ơi, ông muốn viết gì thì viết, cớ sao lại chụp cái mũ đạo văn lên đầu bà Đoàn Thị Điểm. Ông là nhà văn thì cũng hiểu là bài “Đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan chứ!?

(Báo Ngày Nay: Chữ nghĩa ngày nay)

Chữ nghĩa biên khảo: Đồ sứ cổ men lam Huế

Thường hay được gọi tắt là sứ men lam Huế là sai. Ngày xưa, nước ta cũng có sản xuất đồ sành đó là đồ gốm Bát Tràng, đồ Thổ Hà. Thực ra, khi người ta gọi đồ sứ men lam Huế, có nghĩa là đồ gốm do các quan Việt Nam đi sứ sang Tàu đặt làm mang về.

(Trần Nghi Hoàng – “Dòng Đời” chảy về đâu?)

Chữ nghĩa làng văn

Nếu muốn viết một cuốn sách hay anh phải thật sự vô tư với chính anh và đừng chiều theo đám đông độc giả kia. Anh phải tạo dựng cho độc giả cái mà họ phải đọc chứ không phải chỉ mang đến cho họ cái mà họ muốn đọc. Đó là hai công việc hoàn toàn khác nhau.

Câu đối “Nhất sinh đế thủ bái mai hoa”

Câu đối của Cao Bá Quát :
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

(Mười năm lặn lội tìm cây kiếm cổ
Một đời chỉ biết lạy hoa mai)
Theo các tài liệu đã được các nhà nghiên cứu tiền bối công bố, thì đôi câu đối trên có xuất xứ như sau :
Theo “Như Thanh Nhật ký” năm Mậu Thìn (1868) vua Tự Đức cử đoàn sứ bộ sang triều cống nhà Mãn Thanh : cầm đầu là chánh sứ Lê Tuấn (đỗ Hoàng Giáp năm 1853); Hành trình của sứ bộ theo lối xưa từ ải Nam Quan đến Yên Kinh “bộ khôn bằng bộ, thuỷ khôn bằng thuyền” mất 181 ngày (lưu trú 64 ngày đi 117 ngày trong đó 44 ngày đường bộ, 73 ngày đường thuỷ). Khởi hành ngày 1/8 Mậu Thìn, sau 125 ngày thì đến thành Hà Dương tỉnh Hồ Bắc, ở đó đoàn Sứ bộ được viên tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng đôi câu đối cho chánh sứ Lê Tuấn :
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
(Mười năm chọn bạn như tìm thanh kiếm cổ
Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai)
Sự kiện trên được chép trong “Yên thiều bút lục” của Nguyễn Tử Giản (1823-1890), câu đối “… bái mai hoa” của Ngải Tuấn Mỹ tặng chánh sứ Lê Tuấn vào năm 1868, trước đó 14 năm, Cao Bá Quát đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (Giáp Dần 1854)… phải chăng người đời do quá yêu Cao Chu Thần nên cứ thích tương truyền câu “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” là của ông như một giai thoại để đời?

(Nguyễn Khôi – Câu đối có phải của Cao Bá Quát?)

Mai Hạc

Theo Vương Hồng Sển, qua bộ ấm trà “Mai Hạc” của Trịnh Sâm. Nguyễn Du viết hai câu lục bát nôm trên bộ ấm của nhà chúa để sứ thần đặt làm bên Tâu trên đường đi sứ:

Nghêu ngao vui thú yên hà

Mai là bạn cũ, hạc là người quen

Thế nhưng hài câu thơ trên đúng ra là của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Cổ Ngư

Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch trước đây, hồi thế kỷ 17, hai hồ này là một. Con đường chạy giữa hai hồ được gọi là Cố Ngư. Cố là vững bền, ngự là ngăn.

Nhưng có thuyết cho rằng, năm 1620, dân chúng vùng này đắp lên con đê chắn cá nên gọi là Cổ Ngư. Nhưng sau đọc trại đi là Cổ Ngựa vì khúc đê giống…cổ ngựa.

Nghe ra “cổ ngựa” có lý hơn “cổ ngư”. Vì cá đâu có…cổ.

Thành ngữ và danh ngôn

Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ…Nay con cháu mai sau đời sau chế tác “lung tung, trống kèn” những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ :

• Bạn có thể là “anh hùng” nếu bạn tên là Hùng và bạn có 1 đứa em

• Bạn có thể là “bác” sĩ mà không cần học nếu bạn tên Sĩ và có 1 đứa cháu.

 

 

Ngộ Không

(Sưu Tầm)

 

 

 

©T.Vấn 2016