01/21/2017
Phạm Doanh: Vùng Tối (5)

vung-toi

Kỳ 5

(Tiếp theo)

Phần 10

Mười mấy năm trôi qua mà mỗi lần vào cuối tháng tư, niềm đau của người bỏ quê hương xứ sở, bỏ bao người thân yêu để ra đi, để lưu lạc đất khách quên người lại trổi dậy trong lòng Hoàng. Hoàng nhớ đến bài thơ của một chiến hữu làm để nhớ lại những ngày mất nước:


Niềm đau vong quốc

Người lính Hải Quân mất nước rồi 
Lòng đau nhìn sóng bạc trùng khơi 
Quê hương phía trước dần xa bóng 
Chiến hữu quanh đây chợt vắng người 
Huy hiệu ngỡ ngàng vai áo trắng 
Khẩu Colt chua xót cổ tay lơi 
Rưng rưng ánh mắt niềm thương hận 
Vận nước vận mình chỉ thế thôi. 

Những hình ảnh bàng hoàng sống lại trong tâm khảm Hoàng cùng kỷ niệm của bao thời xa xưa từ lúc còn ấu thợ

Nhà Hoàng có máu Hải Quân lâu đời; ông cố 6,7 đời gì đó từng làm Đề Đốc của vua Quang Trung, lập nhiều công trạng. Khi Tây Sơn thất thủ, ông đã tuẫn tiết chứ không để cho Gia Long hạch tội. Bố của Hoàng là sĩ quan cơ khí thuộc Hải Quân Pháp tại Đông Dương. Khi thế chiến thứ hai bùng nổ ông bị đưa sang Âu châu đánh nhau với Đức, tàu chưa về đến nước Pháp thì đã có tin Pháp đã đầu hàng. Hạm trưởng không theo lệnh của chính phủ vào cảng Cherbourg để bàn giao chiến hạm cho Đức quốc Xã mà theo lời kêu gọi của tướng de Gaulle cho tàu trực chỉ Dover sang Anh chịu sự điều động của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc trong việc chống lại Đức lúc đó đang làm bá chủ Âu châu.

Theo lời bố Hoàng kể lại sau này lúc Hoàng bắt đầu hiểu biết, cảnh tượng eo biển Manche lúc ấy là cả một bức tranh bi hùng tráng của Pháp quốc. Quân Đức Quốc Xã với chiến lược hành quân thần tốc, tạo nên một danh từ mới trong tự điển nhân loại là Blitzkrieg nghĩa là chiến tranh sấm chớp, mỗi lần tấn công qua một nước lân bang nào chỉ trong vào vài tháng có khi vài tuần như ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Hòa Lan là đã tràn ngập lãnh thô người ta. Từng đoàn Panzer thiếp giáp hạng nặng hiện đại nhất lúc đó với lớp vỏ bọc thép dầy và đại bác nòng to tầm xa dễ dàng nghiền nát mọi nỗ lức chống cự của lực lượng phòng thủ. Cả phòng tuyến Maginot ở Đông Bắc nước Pháp dài 320km với những lô cốt bê tông cốt sắt tưởng như bất khả xâm phạm cũng thất thủ nhanh chóng dưới sự tấn công vũ bão kết hợp Panzer và không quân cùng với chiến thuật bất ngờ và tài tình thọc vào sườn từ vùng Alsace. Gót giày bốt đờ sô của lính Đức vang rền trên mọi nẻo đường từ biên giới Nga đến biên giới Tây Ban Nha, từ Na Uy đến Hy Lạp.

Tàu chưa đến Dover thì có lệnh Bộ Tư Lệnh Hải Quân Hoàng Gia (Admiralty of the Royal Navy) trở lại Dunkerque để cứu hơn 300 ngàn lính Anh Pháp bị bao vây tại đó, trong tình trạng nguy cấp, trước mặt là biển không có tàu ra, sau lưng là đại quân Đức với không quân đã làm chủ vùng trời Pháp. Cùng với con tàu Vigilante có mặt bố Hoàng là cả trăm chiếc tàu lớn nhỏ của Hải quân hai nước đồng minh và cả của dân chúng Anh Pháp đáp lại lời kêu gọi khẩn thiết của chính hủ hai nước đến đưa quân mình ra khỏi chỗ chết. Mặt biển đầy kín tàu thuyền, kể cả thuyền đánh cá, du thuyền yatch sang trọng hay những chiếc ca nô chỉ có 6,7 chỗ ngồi. Tất cả đổ vào bờ biển Dunkerque đang bị pháo kích dữ dội. Nhiều thuyền tư nhân đã chạy tới chạy lui mấy lần từ bờ biển Pháp sang bờ biển Anh để di tản đoàn quân lâm nạn.

Trên đầu khu trục cơ của Đức bắn phá cố ngăn cản và tiêu diệt phần nào cuộc tản quân vĩ đại nhất lịch sử chiến tranh nhân loại. Từng chiếc Stuka với tiếng máy xé trời khi lao xuống từ bầu trời cao, từng chiếc Messerschmidt không địch thủ tha hồ tung hoành, bắn hạ những chiếc chiến đấu cơ lỗi thời của Pháp như bắn ruồi. Chỉ hai năm sau, khi khu trục cơ Spitfire của Không Quân Hoàng Gia Anh được tân trang thì Stukas, Messerschmidts và Junkers mới gặp đối thủ.

Dưới lưới lửa của Đức cuộc tản quân đã thành công với thiệt hại nhân mạng nhỏ dù có cả những thường dân đã hy sinh khi góp phần vào việc cứu liên quân này. Bố Hoàng kẹt lại Âu Châu suốt thế chiến thứ hai, chỉ về nước khi hòa bình với chiếc lon Thiếu Úy. Nói là hòa bình thật ra chỉ hòa bình cho thế giới còn về đến Vietnam là bị đưa vào cuộc chiến mới, cuộc chiến nước Vietnam dành độc lập.

Bố Hoàng đã chứng kiến sự bại trận, đầu hàng nhanh chóng của nước Pháp, dù sau này có thắng lại do sự trợ giúp của Đồng Minh, nhất là của Mỹ, đã thấy Pháp là một cường quốc trên thế giới mà chỉ có vài tháng đã xếp giáp quy hàng nên mất tin tưỏng vào sức mạnh quân sự Pháp. Ngược lại chủ nghĩa cộng sản dù đang còn ẩn dưới chiêu bài dân tộc cũng không đủ sức mang ông sang hàng ngũ kháng chiến. Với tâm tình bất định đó ông xin đổi sang phục vụ trên tàu Quân Y, cố quên đi những giằng xé giữa hai con đường, hai hàng ngũ. Năm 1954 tàu bố Hoàng lại góp phần trong việc di tản dồng bào Bắc di cư vào Nam. Bố Hoàng tiếp tục phục vụ trong Hải Quân Việt Nam thành lập sau 54. Lúc ấy Hoàng được 3 tuổị

Từ lúc còn nhỏ chưa nhận thức được gì Hoàng đã mê Hải Quân lắm, thấy bố mình oai vô cùng trong bộ quần áo trắng tinh, nhất là khi mặc trong ngày Đại Lễ với khuy áo vàng, huy chương hai hàng trên ngực, từng chiếc nho nhỏ đủ màu. Còn thủy thủ lại mặc quân phục ngộ nghĩnh, hay hay với quần loa và áo truyền thống có bạt vuông từ cổ áo xuống vaị Có lần Hoàng còn được đi ăn đám cưới Hải Quân, cả phòng tiệc trắng toát, chú rể quàng tay cô dâu di dưới hai hàng kiếm chỉa lên trời trông trang trọng vô cùng.
Kỷ luật của HQ lại rất nghiêm, có lẽ do các truyền thống từ xưa để cai quản thủy thủ là những tay anh chị tứ xứ. Lính HQ phải xa gia đình nhiều hơn, xa cả sinh hoạt vói dân chúng. Trong các binh chủng khác, người lính tuy cũng phải xa gia đình hoặc đi hành quân hoặc đóng ở vùng xa xôi nhưng ít ra còn còn sống gần làng mạc hay nếu may mắn hơn thì gần thị tứ, thỉnh thoảng khi không cắm trại thì cũng có dịp tiếp xúc với người khác.

Còn lính HQ nhiều khi trong tàu lênh đênh cả 1,2 tháng trên biển, chỉ có đồng đội trên tàu chật hẹp. chỗ đi lai cũng giới hạn, thư nhà cũng được nhận ít hơn. Cả ngày tù túng, chỉ khi lên boong nhìn ra biển xanh bát ngát, đại dương mênh mông mới thấy cái bao quát của vũ trụ mà phận người như bọt sóng, như hạt cát trong lòng biển mà thôi.
Bố hay mang Hoàng lên Hải Quân Công Xưởng chơi mỗi khi tàu ông về nằm ụ để sửa chũa, bảo trì. Hải Quân Công Xưởng chiếm ngự một khu đất mênh mông ở bờ sông Saigon quận 1, tiếp giáp với bến Bạch Đằng cũng là nơi Bộ Tư Lệnh HQ có bản doanh. HQVN khi thành lập chỉ tiếp nhận những tàu cũ của HQ Pháp để lại; sau 1960 mới có trang bị chiến hạm cung cấp bởi Hoa Kỳ. Sông Saigon sâu rộng dủ sức cho tàu lớn, kể cả Hàng Không Mẫu Hạm loại chở trực thăng từ biển vào.

Bố Hoàng dắt Hoàng lên tàu ông nằm ở ụ tàu; Hoàg rất thích thú khi thấy những chiếc chiến hạm, trong con mắt nhìn của chú bé 11,12 tuổi thật là vĩ đại, đứng dưới đất nhìn lên như nhà lầu 5,6 tầng với những khẩu đại bác to hơn đại bác trên đất liền. Sau này lớn lên gia nhập HQ, đi thăm những chiến hạm khổng lồ Hoàng mới thấy hết tầm vóc của những khí cụ chiến tranh của binh chủng này.

Hoàng có thằng bạn con của một Đại Úy Không Quân, hai đưá cứ hay cãi nhau xem binh chủng nào oai hơn, to lớn hơn. Thằng bạn cứ khăng khăng là Không Quân có máy bay thật lớn, đến khi Hoàng lục hình bố cho, chỉ cho nó coi các chiếc Hàng Không Mẫu Hạm chứa cả năm chục cái máy bay trong bụng, và phi đạo trên tàu to bằng mấy sân banh nó mới chịu thua, nhưng vẫn nói là máy bay ở trên trời còn tàu khi chỉ trên sông trên biển thôị Hoàng mơ ước ngày nào HQVN cũng có Hàng Không Mẫu Hạm thì cũng có máy bay, còn ngược lại Không Quân chỉ có máy bay mà không có tàu chiến. Lúc đó chắc thằng bạn sẽ hết lấy cái gì mà cho là Không Quân hơn Hải Quân.

Khi làm việc bố và lính dưới quyền mặc quần áo xanh, vải dầy như vải quần Jeans, lúc nào cũng có vết dầu, nhiều khi cả trên mặt. Mùi mỡ bò, mùi dầu cặn và nhữg chân vịt tàu to như xe hơi, những bộ máy tàu khổng lồ là những hình ảnh in sâu vào trí óc non trẻ của Hoàng và sau này thúc đẩy Hoàng học cơ khí tàu ở Đại Học trước khi vào Hải Quân.

Nhiệm sở đầu tiên của Hoàng là tàu HQ802; anh chàng lính mới ra trường còn ngơ nháo chưa biết gì là trận mạc. Cũng may gặp thượng cấp là Đại Úy Nguyễn Trí Hùng tận tình chỉ bảo chứ cái vốn học ở Cao Đẳng Kỹ Thuật ra và hai năm đào tạo thành Thiếu Úy Hải Quân của Hoàng chưa đủ để điều hành được phần bảo trì và sửa chữa máy tàu. Đại Úy Hùng tốt nghiệp khóa 19 Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang và là Cơ Khí Trưởng Cơ Xưởng Hạm HQ802. Dần dần Hoàng mới được biết là Hùng vốn người trí thức đã từng đi du học tại Úc. Trong khi có những sinh viên học xong tìm mọi cách ở lại nước ngoài thì Hùng lại về nước, gia nhập HQ và chỉ vài năm sau đã lên Đại Úy. Hùng coi Hoàng như em, ngoài tay nghề còn thỉnh thoảng còn chỉ Hoàng vài bước nhảy bay bướm.

Hạm Trưởng có vẻ thích Hùng, có lần mời về nhà riêng ăn cơm tối để giới thiệu gia đình. Hùng trên tàu oai phong vậy, chỉ huy toàn bộ lính cơ khí, bảo đảm máy tầu không bao giờ bị hư hỏng, bất khiển dụng mà nghe nói về nhà Hạm Trưởng gặp con gái ông lại không dám đi một mình, cò mồi cho Hoàng được đi theo. Tuy gọi là bữa cơm thân mật nhưng Hùng và Hoàng đều mặc quân phục. Đúng ra nếu không mặc quân phục thì chẳng có bộ vía nào ngon lành cả. Đời lính tiền lương rất khiêm nhường, suốt ngày ở trên tàu, lúc nào về đất liền thì ở chung với gia đình, người yêu chưa có nên không có động lực mà chưng diện. Hơn nữa họ đều cảm thấy thoải mái và có phần nào hãnh diện trong bộ quân phục trên người.

Xe Jeep đến đón Hùng trước rồi đón Hoàng tại nhà. Khi đến nhà Hạm Trưởng, người lính lái xe đưa hai người vào, chào và lái đi. Bữa cơm giản dị nhưng ngon lành vì có bàn tay khéo léo của cô Cúc con gái HT. Cúc đang học Văn Khoa năm thứ ba và là một người con gái rất thùy mị đảm đang. Liên em Cúc năm thứ nhất trường Luật thì trái lại, liến thoắng và sôi nổi, nói chuyện rất có duyên với tiếng cười trong vắt. Còn bà mẹ là tiêu biểu cho người vợ hiền mẹ tốt, chỉ biết lo cho chồng con.

Trong bữa ăn Hạm Trưởng mới cho biết là ông và Hùng đều có nhiệm sở mớị Ông được bổ nhiệm chỉ huy Tuần Dương Hạm HQ17 còn Hùng được điều động làm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Năm Căn. Trách nhiệm ông nặng nề hơn và mỗi lần ra khơi sẽ đi lâu hơn. Ông cũng nói vì hai người sẽ về Saigon thường xuyên hơn ông nên hãy ghé thăm gia đình nếu có dịp. Bữa cơm thứ nhất cũng là bữa cơm chia tay cả ba ngườị Về sau Hoàng mới biết được Đại Úy Hùng kẹt lại trong biến cố 4/1975, sau đó đi học tập, mãi đến 1983 mới vượt biên sang Mỹ được. Sau đó Hoàng có lại thăm Liên mấy lần, mối liên lạc tình cảm. đang trên đường phát triển thì xa nhau sau khi mất nước. Liên sang Úc còn Hoàng đi Mỹ.
Phần 11

Hình bóng hai Hạm Trưởng, Đại Úy Hùng và những đồng đội trên tàu vẫn luôn luôn sống mãi trong lòng Hoàng. Những lần đi trên giang đĩnh theo sông Saigon ra Vũng Tàu, qua những bờ ruộng, cánh vườn xanh ngát bóng dừa, điểm những hàng cau vươn cao trên bầu trời xanh mây trắng. Hoàng đứng phía mũi tàu cho gió lộng qua mái tóc, gió mơn man khuôn mặt. Thỉnh thoảng lại gặp những chiếc thương thuyền ngoại quốc từ biển vào Thương Cảng hay những thuyền chở hàng của nông dân đầy ắp nông sản. Rồi ra đến cửa biển, dòng sông tỏa rộng ra, nước sông màu vàng nâu chảy ra hòa với nước biển xanh, đến khi thủy triều lên thì dòng nước lại đổi chiều. Mực nước lên xuống thay đổi như tuần hoàn của vũ trụ
Giang đĩnh tuần hành trên các đoạn sông khác thì không an toàn lắm, nhất là vào những phụ lưu hay những con lạch nhỏ. Sau mỗi bụi dừa nước trên bờ đều có thể có địch quân mai phục, xả súng bắn vào sườn tàu, chỗ nào bọc thép mỏng là lỗ chỗ vết đạn. Lính trên tàu trong tháp đại liên bắn trả, đạn cày lên bờ, đạn bắn nát từng tàu dừa nước gục xuống dòng sông. Tàu đi giữa sông xa tầm đạn cá nhân vẫn chưa chắc an toàn vì dưới mỗi bè lục bình có thể có mìn phá tàu. Cũng may vì là sĩ quan cơ khí nên thời gian phục vụ trên các giang đĩnh của Hoàng rất ít ỏi và ngắn hạn, cốt để tôi luyện con người, chứ nếu chỉ phục vụ trên chiến hạm ngoài khơi thì ít chạm trán với thực tế chiến tranh.

Dĩ nhiên người lính Hải Quân chỉ thực sự thấy mình sống trong quân chủng tự hào đó khi trên chiến hạm vượt sóng trùng khơi trên đại dương mênh mông bát ngát. Những đêm đầy sao, tầm mắt vô hạn không gì cản trở. Chiếc tàu to lớn bao nhiêu cũng chỉ như hạt cát trong lòng vũ trụ Có đêm mặt biển phẳng lặng như một tấm gương, thỉnh thoảng lại có một con cá bay phóng lên khỏi mặt nước, hai cánh xòe ra như chim rồi lại lặn xuống; Hoàng ngồi trên buồng trực, vặn radio lên nghe cho đỡ nhớ nhà

“Đây là Chương Trình Dạ Lan, tiếng nói của người em gái hậu phương gửi đến các anh chiến sĩ tất cả các quân chủng trên mọi nẻo đường đất nước.
… hôm nay Dạ Lan đặc biệt gửi niềm ưu ái đến Quân Chủng Hải Quân trong tiếng hát Phương Hồng Quế với bản “Hoa Biển.

Tại em khi xưa hay hờn giỗi
Giận anh khi anh chưa kịp tới
Cho anh bồi hồi,
Cho anh nhiều lời,
Em cúi mặt làm thinh.
Không nghe anh kể chuyện,
bao nhiêu chuyện tình đẹp nhất trên trần đờị

Tại em khi xưa yêu màu trắng
Tại em hay suy tư bên bờ vắng
Nên đêm vượt trùng anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em.

Vượt bao hải lý
Chưa nghe vừa ý , lắc lư con tàu đị
Chỉ thấy bọt nước
Tan theo triền sóng, bóng hoa kia mịt mùng

Em ơi giận hờn, xin như hoa trắng tan trong đại dương.
Em ơi giận hờn, xin như hoa trắng tan trong đại dương.

Tiếng hát trẻ trung của Phương Hồng Quế cùng giọng nói ngọt như mía của Dạ Lan gợi nhớ Saigon với đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Cuờng Để, những người con gái người yêu lính thủy đi dạo phố với tình nhân trong ngày nghỉ phép.

Tiếng hò reo của thủy thủ phía dưới làm Hoàng trở về thực tại; thì ra là Mai Lệ Huyền đang hát bài “Tình Yêu Thủy Thủ” là bài ruột của cấp hạ sĩ quan và lính Hải Quân. Giọng hát đầy khói của MLH và điệu Rock giật giật làm anh em lính vừa vỗ tay theo nhịp vừa rống vang cả tàu. Có người còn ra sân tàu mà lắc, mà ngoáy theo bài hát:

“Với biển cả anh là thủy thủ… ù u.
Với lòng nàng anh là hoàng tử… ừ ư
Như chuyện ngàn năm xứ Ba Tư
Và chuyện thần tiên bao thế hệ
Cho anh bao giây phút say sưa
Cho anh mơ giây phút bên em
Cho anh luôn yêu đời hải hồ.

Càng đi xa anh càng nhớ em
Sóng đại dương khuất xa muôn trùng
Kìa ngư nhân vui đùa trên sóng
Bao nàng công chúa dưới thâm cung.

Em ơi, ảo huyền kia lôi cuốn
Nhưng anh đã nói anh yêu em
Thì ngàn kiếp vẫn không phai mờ

Với biển cả anh là thủy thủ… ù u.
Với lòng nàng anh là hoàng tử… ừ ư
….

Sĩ quan trực trong phòng chỉ huy định nói vào ống âm thoại nhắc nhở lính đừng làm ồn nhưng Hạm Phó cười nói

“Cậu cứ để anh em vui, giờ này Anh Cả còn thức mà.”

Định mạng đã xui khiến cho Hoàng lại có cùng sứ mạng như bố Hoàng ngày xưa đã hai lần mang tàu đi đi tản những con người ra ngoài cõi chết. Những ngày cuối tháng 4 tàu c?a Hoàng đang còn nằm ụ để sửa chữạ Thế cuộc đã gần như ngã ngũ; địch quân chỉ còn cách Saigon vài chục cây số. Tổng Thống Thiệu đã cuốn gói bay xa, người ta đồn là ông ta mang theo cả tấn vàng. Miền Trung đã hoàn toàn mất do cuộc di tản chiến thuật, hay đúng hơn cuộc bỏ rơi miền Trung theo lệnh của Thiệu để mong người Mỹ thấy VNCH nguy mà trở lại chăng. Thật giống như người đang đánh nhau, vừa yếu hơn địch thủ một chút bèn tự chặt một tay mình hầu kêu gọi bạn giúp đỡ. Hoàng và lính cơ khí duới quyền đã làm việc ngày đêm, quên ăn mất ngủ để chữa cho máy tàu chạy lại, trong những tin tức dồn dập đưa về. Cả Saigon nhốn nháo, mọi người đều tìm cách chạy đi. Những người làm việc cho Mỹ đã có mật hiệu di tản là bài “White Christmas” phát thanh trên radio. Có chỉ thị từ Bộ Tư Lệnh yêu cầu các chiến hạm còn trong cảng phải ra khơi ngay lập tức vì nguy cơ thất thủ của Sàigòn. Gần đến ngày cuối với cố gắng làm việc ngày đêm của Hoàng và nhân viên cơ khí chiến hạm, tầu đã ra ụ và sẵn sàng lên đường theo hạm đội di tản. Hạm trưởng cho xe đi dón gia đình của thủy thủ đoàn lên tàu.
Chiếc chiến hạm từ từ rời cảng chung vói hàng chục chiếc thương thuyền và tàu bè đủ cỡ. Cảnh tượng dân chúng bồng bế nhau trên bến, chen nhau lên tàu, rớt xuống nước như sung rụng, tiếng con nít khóc thét, tiếng mẹ mất con, vợ lạc chồng gọi nhau thảm thiết là những hình ảnh ăn sâu vào tâm khảm Hoàng. Tàu Hoàng dù có muốn đi chăng nữa cũng chỉ mang theo được thêm một ít người may mắn từ những thuyền nhỏ chèo ra sông. Trên tàu chật người nhưng không ồn ào chỉ có những tiếng nói chuyện đứt quảng, những tiếng thút thít khóc thầm, những khuôn mặt đăm chiêu, lo lắng của các thủy thủ và sĩ quan có gia đình nơi khác không ở Saigon nên không đưa lên tàu được.

Hoàng đang ở trong phòng máy để coi lại những bộ phận máy tàu vừa chữa xong hôm qua; vì thiếu phụ tùng thay thế nên Hoàng phải dùng sức sáng tạo của mình, tháo gỡ các bộ phận từ một tàu cũ để dùng nên Hoàng chưa yên tâm lắm. Chợt Hoàng nghe tiếng bước chân và tiếng nói

– Chú xem nơi này có ai không?

Giọng nói của một người lạ trong phòng máy, nơi mà bình thường chỉ có những người có phận sự mới vào, làm Hoàng cảnh giác đứng sát vào một góc kẹt.

– Thưa em đi một vòng, không thấy ai.
– Cả tàu chỉ có chỗ này vắng người, mình hội ý nhanh nàọ
– Vâng.
– Chú chuẩn bị xong chưa?
– Rồi anh, lúc nãy lên tàu, họ có khám. May mà em nhét nhanh vào giỏ của một bà cụ già đứng cạnh. Họ không để ý bà cụ nên sau đó em lấy lại khẩu súng được.
– Chú biết ai là thuyền trưởng, thuyền phó chứ.
– Thưa có.
– Tàu đang ở đâu đây?
– Đi được nửa đường ra cửa sông rồị
– Vậy là chỗ trách nhiệm của C4. Phải hành động trước khi tàu ra biển. Bây giờ mình xin gặp thuyền trưỏng, khi gặp chú dí súng bắt ngừng tàu, anh gọi qua đài, gọi C4 đến tiếp thu tàu. Rõ chưa ? Thống nhất chưa ?
– Thưa rõ.

Hai tên đi ra, Hoàng không có súng trong người nên không dám đuổi theo chúng. Chàng gọi lên đài chỉ huy.

– Phòng cơ khí gọi đài chỉ huy.

Tiếng sĩ quan trực vọng lại

– Đài chỉ huy nghe đây.
– Hoàng đây, báo động khẩn cấp, có hai tên đặc công đang tính bắt cóc Anh Cả, uy hiếp để cho đồng bọn lên tàu.
– Trên tàu đông người lắm, bọn chúng nhìn như thế nào ?
– Không rõ mặt mũi, nhưng chúng đang xin gặp Anh Cả đó.
– Nghe rõ, sẽ có biện pháp đối phó.

Khi hai tên đến gặp Hạm trưởng, chưa kịp hành sự thì bị bắt ngay, khám trong người một khẩu súng Colt 45. Hỏi đến âm mưu cướp tàu thì chúng chối, xưng là lính cộng hòa chạy từ An Lộc về. Vì sợ Việt Cộng nên mặc quần áo thường và vứt bỏ giấy tờ. Hoàng có mặt trong lúc thẩm tra, nhận ra giọng chúng. Hoàng lập lại lời chúng làm hai đứa tái mặt, cúi đầu không nói tiếp.

Hạm trưởng hỏi các sĩ quan chung quanh:

– Bây giờ xử trí tụi này như thế nàỏ
– Bắn chứ để làm gì! – Hạm phó mặt mũi hầm hầm trả lời –
– Thưa xin có ý kiến. – Hoàng ngập ngừng lên tiếng –
– Hoàng nói đi.
– Em nghĩ theo thông thường thì ta bắt chúng làm tù binh rồi giao cho An ninh quân độị Nhưng bây giờ, chỉ còn trong chốc lát mình sẽ rời bỏ đất nước làm người lưu vong, thì hoặc bắn chúng hay thả cho chúng đi trong giờ thứ hai mươi lăm này.
– Hoàng định theo xử trí nào, Hoàng là người khám phá âm mưu chúng.
– Em còn trẻ không có kinh nghiệm xử trí các trường hợp này, nếu anh tha được thì tha. Quyết định vẫn là của anh.

Hạm trưởng trầm ngâm một phút rồi quay qua hai tên đặc công

– Chúng tôi căm hận vì phải bỏ nưóc mà đi vì các anh. Nếu các anh bắt được chúng tôi, chắc là các anh sẽ đối xử khác. Nhưng chúng tôi những người lính Hải Quân Việt Nam không tàn ác như thế. Các anh trở về làm kẻ chiến thắng thì nên suy ngẫm lại.

Hai tên cúi đầu không nói

– Ở đây còn trên sông, các anh lội vào bờ được không?
– Thưa vâng, cám ơn ông tha cho, bây giờ chúng tôi mới thấy được lòng nhân đạo của những người bên kia chiến tuyến.

Lính đưa hai tên ra hông tàu, trưóc khi nhảy xuống, tên chỉ huy quay lại, ánh mắt nhìn Hoàng đầy vẻ biết ơn. Tàu đi qua còn thấy hai dáng người lội vào bờ. Chiến hạm của Hoàng ra đến khơi Vũng Tàu vào ngày 29 tháng 4 1975.

Giờ đây bao nhiêu năm sau Hoàng được đọc lại bài viết về cuộc ra đi của Hạm Đội Việt Nam của HQ Thiếu Tá Vương Thế Tuấn:

“Tờ mờ sáng 29/4, thị xã Vũng Tầu rối loạn. Chiến hạm tôi được lệnh vào sông Cát Lở để bắn hải pháo vào cầu Cỏ May chận đường tiến quân của địch vào thị xã. Khẩu 76.2 lại tiếp tục nhả đạn, có lẽ đây là những viên đạn cuối cùng bắn vào quân thù ở giờ thứ 25 này. Trên không từng đoàn Cheenook của Koa Kỳ đang thi hành kế hoạch di tản, nhưng chúng tôi lúc đó không hề biết gì. Thình lình có tiếng phản lực cơ bay xé gió bầu trờị Lập tức chúng tôi vào nhiệm sở phòng không vì sợ Mig của CS tấn công, nhưng sau đó nhận ra là phản lực Phantom của HQHK từ mẫ hạm vào yểm trợ cuộc di tản. Ddạn đại bác từ bờ bắn ra rơi lõm bõm trước mũi tầu, có lẽ địch đã xâm nhập thị xã.

Ngoài khơi, các HQ5, HQ6, HQ12 và HQ802 cũng nằm im bất động. Tôi cho chiến hạm ra xa bờ chút nữa vì trên bờ đã rối loạn, người ta đổ xô ra Bến Đá tìm ghe thuyền ra khơị.  Bãi biển Vũng Tầu như mộtđàn kiến vỡ tổ, một cảnh tượng thê lương hãi hùng chưa từng thấy.

…10 giờ sáng 30/4 tôi lên đài chỉ huy, trời đang mưa, bầu trời thật u ám ảm đạm. Trời cũng như đang buồn với số phận của đất nước. Tôi mở máy phát thanh, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Vũ Văn Mẫu đuổi cơ quan DAO trong 24 tiếng phải rời VN. Thế là hết! Chế độ Cộng Hòa bị khai tử kể từ giây phút đó. Hơn 20 năm chiến đấu cho lý tưởng tự do, nay đã thành mây khóị
Con tầu vẫn trực chỉ Côn Sơn. Tôi mở máy truyền tin, có tiếng báo cáo HQ608 báo cáo tình trạng nhiên liệu kiệt quệ, có Trung Tướng Vĩnh Lộc và Trung Tướng Trần Văn Trung trên chiến hạm xin được tiếp cứụ.

…Đến xế chiều 30/4, lần lượt kẻ trước người sau gần như 80% Hạm Đội đều ra tới nơị. Chiếc nào trễ nhất thì khuya hôm đó cũng tới được..
Hôm nay là 1/5, bầu trời thật trong sáng. Tôi lên đài chỉ huy, trước mặt tôi là cả một cảnh tượng thật bi hùng: gần 50 chiến hạm của HQVN xen kẽ với các chiến hạm đủ loại như Đ, DLG, các vận tải hạm của Đệ Thất Hạm độị, tôi có cảm tưởng như xem lại cuộc đổ bộ Normandi của Đồng Minh trong thế chiến thứ Haị. Còn đang mải mê quan sát, tôi nghe thấy giọng nói của Đề Đốc Hoàng Cơ Minh qua máy âm thoại yêu cầu đón một Sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ sang Soái Hạm HQ3. Tôi nhận lời cho chiến hạm vận chuyển lại gần chiếc Khu Trục Hạm. Thiếu Tá Richard , nói tiếng Việt sành sỏi, cho biết là Hoa Kỳ đã chấp nhận các chiến hạm HQ.

Lệnh cho hạm đội di chuyển theo vận tốc 6.5 knots, đội hình được ấn định như sau:
* Đi đầu là các chiến hạm Hải đội III gồm có: Khu Trục Hạm HQ1, Các Tuần Dương Hạm HQ2, HQ3, HQ5, HQ6, HQ15, HQ16, HQ17, Các Hộ Tống Hạm PCE HQ7, HQ8, HQ11, HQ12 và HQ14.
* Kế đến là Hải Đội II gồm có các Dương Vận Hạm HQ502, HQ505, , Các Cơ Xưởng Hạm HQ800, HQ801, HQ802, Các Hải Vận Hạm HQ400, HQ401, HQ404, và các tầu dầu HQ470, HQ471, HQ472.
* Sau cùng là các Hải Đội I gồm Giang Pháo Hạm HQ329, HQ330, HQ331, kế đến các Trợ Chiến Hạm HQ228, HQ229, HQ230, HQ231 cùng một số các tầu Tuần Duyên PGM HQ600, HQ615, HQ618 và một số nữa mà tôi không nhớ rõ.

Một ngày qua đi là một ngày xa quê hương. Hôm nay 7/5 Hạm Đội đã đi vào hải phận Phi. Các chiến hạm đều có một Sĩ Quan và một đoàn viên của HK. Họ đem theo một lá cờ Mỹ và một ủy nhiệm thơ để tiếp nhận chiến hạm. Trước đó các tên tầu của chiến hạm VN bị xóạ. Đúng 12 giờ, một buổi lễ hạ cờ, tuy đơn giản nhưng trang nghiêm được tổ chức đồng loạt trên các chiến hạm. Có lệnh hạ kỳ từ Soái Hạm, tức thì hàng trăm tiếng còi của Giám Lộ viên từ mỗi chiến Hạm thổi lên, cùng lúc lá Quốc Kỳ hạ xuống. Mắt tôi như nhòa đi, cổ tôi như nghẹn lại để ngăn chặn tiếng nấc từ đáy lòng… (Trích bài của HQ Thiếu Tá Vương Thế Tuấn)”

Người lính Hải Quân nào mà không ứa lệ khi trang lịch sử HQVNCH đã đóng lạị Ngày đó Hoàng biết là vĩnh viễn những con tàu thân yêu bàn giao cho HQ Hoa Kỳ chỉ để khỏi lọt vào tay Cộng Sản, chứ người Mỹ mang về chỉ để cho vào nghĩa trang tàu chiến, hay bán sắt vụn. Những con tàu oai hùng, niềm tự hào của HQVN chẳng còn công dụng gì với họ Những con tàu mang tên những anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo, thánh tổ Hải Quân với bức tượng trên bến Bạch Đằng chỉ tay thề rằng “Phen này ta không phá xong giặc, không về”; hay Trần Khánh Dư với trận Vân Đồn lừng lẫy; Riêng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ4 bị kẹt lại rơi vào kẻ thắng trận vì lúc đó HQ4 bị năm ụ đang sửa chữa, chạy không kịp. Các con tàu đó không còn cơ hội đánh nhau với Tàu cộng, rửa nhục Hoàng Sa, Trường Sạ Chúng thừa cơ CS Bắc Việt đang đe dọa miền Nam, năm 1974 mang một lực lượng hùng hậu gấp mấy lần ta, đánh chiếm các hòn đảo trong chủ quyền VNCH. Trong khi xua quân thôn tính miền Nam thì miền Bắc lại sợ sệt đàn anh đỏ nên không hề hó hé tiếng nào khi Trung Cộng xâm chiếm các đảo trên.

Cùng với cuộc ra đi bi đát nhưng hùng tráng của Hạm Đội Việt Nam là giấc mơ của các bậc đàn anh Chung Tấn Cang, Trần văn Chơn, Hoàng Cơ Minh đã thành lập và dìu dắt HQVN lớn mạnh. Giấc mơ đó đã vĩnh viễn đi vào dĩ vãng.

Hoàng mân mê mô hình một chiến hạm bằng nhựa cùng loại với chiếc tàu Hoàng làm Sĩ Quan Cơ Khí Phó mà nghe tâm tư tê dại đi. Thẫn thờ một lúc lâu, Hoàng ngồi vào computer, đánh hai bài thơ nói lên tâm trạng mình, gửi qua mạng lưới toàn cầu hầu chia xẻ với những người Việt lưu vong niềm đau mất nước.

Trong tòa Đại Sứ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tại một nước Âu Châu, Cao văn Tạo cũng vừa bật computer lên cách đó nửa tiếng. hắn thuộc về A7, cơ quan tình báo của Công An chuyên lo về Kiều Vận là để ý theo dõi tình hình sinh hoạt của người Việt ở ngoại quốc. Theo thói quen hắn vào website vietnamquetaoi.com (chú thích của tác giả: tên này là tác giả tự đặt, để tránh trùng vào các websites có thật) vì nơi đây có đến mấy ngàn thành viên và vì thế phản ảnh khá trung thực tiếng nói, tư duy của người Việt hải ngoại.

Trong các mục mơi đăng cái tên Hồng Đức làm hắn chú ý. Hồng Đức là tác giả nhiều bài thơ chống đối chính phủ và nhà nước. Bấm vào con chuột hắn đọc hai bài thơ Hoàng vừa gửi vào :
Lại đến tháng Tư

Thế mà lại đến tháng Tư rồi 
Thắp nén hương lòng lệ nhấp môi 
Cờ đỏ đỏ loang đầy phố xá 
Sao vàng vàng ối ngập khung trời 
Cố đô nấc nghẹn vầng mây xám 
Thủ phủ gục đầu nước mắt rơi 
Hăm mấy năm nay còn tiếc hận 
Tháng Tư trời đã phụ con người.
Cỏ úa

Cỏ úa như lòng đã héo hon 
Tình quê chưa vẹn, nghĩa chưa tròn 
Ba mươi tháng bốn nhà tan nóc 
Một chín bảy lăm nước cạn nguồn 
Từ bắc giặc tràn qua chín ngõ 
Trong nam dân chạy khắp mười phương 
Bao năm lạc lõng cơn mê hoại 
Biết đến khi nào ngộ cố hương.

Tạo dùng một tên hiệu đã đăng ký, gửi lời khen bài thơ và khuyến khích làm thêm nhiều thơ chống Cộng. Hắn cẩn thận không để lộ IP mình nên gửi qua anonymizer.
Dưới tên hiệu đó hắn đã đóng vai trò agent provocateur, kẻ khích động, làm bộ cũng chống cộng và làm quen với người chống đối khác.

Tạo lẩm bẩm:

– Tên Hồng Đức này chắc ngày xưa sĩ quan Ngụy đây. Hắn làm thơ chống đối mà tình cảm chan chứa như vậy còn có hiệu năng hơn các bài chửi bới tục tằn hay phân tích trí thức nửa mùa của các tay làm chính trị. Mình phải để ý hắn thêm nữa.

(Còn Tiếp)

Phạm Doanh

 

©T.Vấn 2017