03/06/2017
Lê Văn Trạch: VĂN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ

nha tho La Vang -QT

           Cảnh đổ nát của Nhà thờ La Vang – Quảng Trị 1972 (Ảnh: (c)Flickr)

 

Văn hoá nói chung, là biểu tượng của mọi lề lối, phương thức sinh hoạt từ tiếng nói, tập tục, cách ứng xử, lễ hội, tín ngưỡng đến cách ăn mặc, lời ru, tiếng hát… gom lại; là cốt cách, sức sống… của một cộng đồng dân cư từ nhỏ đến lớn. Chưa có một kết luận cụ thể nào xác định thời điểm có mặt của người Việt tại vùng đất Quảng Trị, chỉ biết một điều là đã được diễn tiến bởi nhiều đợt di dân qua hàng bao thế kỷ. Cội nguồn của người Việt được hình thành trong vùng châu thổ các sông ở miền Bắc, tạo dựng một nền văn minh, văn hoá nông nghiệp. Những người di dân vào Nam vẫn mang theo truyền thống ấy. Quảng Trị là một dải đất hẹp nhưng có nhiều hệ sinh thái, nhiều khu vực nông nghiệp khác nhau, không phải là một nơi dễ dàng làm ăn sinh sống, hàng ngày người dân đối mặt với nhiều thứ khắc nghiệt. Do bản năng sinh tồn, họ chiến đấu và chiến thắng mọi gian nguy để tồn tại và phát triển. Góp phần vào việc giảm bớt sự căng thẳng để tạo nét hài hoà trong sinh hoạt đời thường, họ nghĩ ra những thứ để thưởng ngoạn, vui chơi dân giả. Đó là những chuyện thần thoại, chuyện cười, những nhân vật có óc khôi hài, châm biếm, những câu ca, lời ru tiếng hát, điệu hò; tất cả đó mang một nét đặc thù Quảng Trị, một nền văn học dân gian. Trong phạm vi một bài viết ngắn chúng tôi chi giới thiệu những thể loại có tính cách đại chúng là Thơ Ca Hò Vè với một số nội dung tiêu biểu mà xin bỏ qua những mẫu chuyện, những con người đã tạo nên sắc thái vui tươi thú vị nhưng chỉ hạn hẹp trong một địa phương nào đó.

Thơ Ca Hò Vè là sản phẩm của nông dân, phản ảnh bao trùm mọi sinh hoạt với một loại ngôn ngữ bình dân mang tính đại chúng, cho thấy rõ nét cái chơn chất mộc mạc nhưng thắm đậm nhân tính của con người Quảng Trị. Tạm thời có thể sắp xếp theo các thể loại sau:

I / Tục ngữ:

  1. Về thời tiết và sản xuất

Cò ăn ruộng sâu thì nắng

Cò ăn ruộng cạn thì mưa

 

Công cấy thì bỏ, công làm cỏ thì ăn

Chớp ngã Cồn Tiên, mưa liền gặp trộ

 

Đập đất nhỏ, luống đánh to

Xung quanh rắc đậu, trồng ngô xen vào

 

Đói thì ăn môn ăn khoai

Đừng thấy ló lỗ giêng hai mà mừng

 

Trăng rằm đã to lại tròn

Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi

 

Xứ Cùa đất đỏ ba dan

Ai ơi trồng mía làm giàn thả tiêu

 

  1. Về đời sống xã hội

 

Liệu cơm mà gắp mắm ra

Liệu cựa liệu nhà mà gả con vô

 

Khun ba năm không ai biết

Dại một giờ bạn hay

 

Đi buôn bữa lỗ bữa lời

Ra câu giữa vời bữa có bữa không

 

Ai ơi chớ lấy học trò

Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm

 

Khoai lang cổ bở cổ trân

Làm rễ họ Trần cực lắm ai ơi

 

Bỏ công múc nước đường xa

Có trong thì múc, ngà ngà thì thôi

 

Sui gia là bà con tiên

Ăn ở không hiền là bà con quỷ

 II / Câu đố:

Hai người ở hai buồng

Ngó đi nhìn lại như tuồng cấm cung

Đêm về sập cửa thả chông

Ngày thì vòi vọi đứng trông nhau hoài

                                                      (Hai con mắt)

 

Gặp nhau đây bất luận đêm ngày

Lật ra xem thử lỗ này ở đâu

Đâm vô thì rút ra mau

Đừng để trung nớ mà đau lòng nàng

Rút ra máu chảy tràn lan

Khi nớ duyên thiếp, nợ chàng ngái xa

                                                     (Đạp gai)

 

Họ hàng chỉ sống trên non

Tìm cây hút nhụy nuôi con tháng ngày

Không may lửa dậy khói bay

Thảm thương ấu tử sống rày thác mai

                                                 (Tổ ong bị đốt)

 

Cây xanh mà lá cũng xanh

Dầm mưa dãi nắng theo anh võ vàng

Một mai lửa đỏ thành than

Mây bay khói lượn truớc mặt chàng, chàng ơi

                                                (Cây thuốc lá)

 III/ Vè:

Một thể loại truyền khẩu rất phổ thông, dễ nhớ, thường là mô tả cảnh sinh hoạt ở nông thôn, một nhân vật đặc biệt, đôi khi nêu thói hư tật xấu với dụng ý giáo dục .

 Vè Ba Lòng:

 Thanh trời rạng thấy núi xây

Rừng xanh suối bạc đáo vầy tứ phương

Trà Trì, Văn Vận hai phường

Đá Nầm, Chinh Thạch giáo lương thuận hòa

Tháng năm bắp đã tới mùa

Chè thơm mít chuối bên Cùa gánh sang

Bao nhiêu thao vải, lụa hàng

Vật gì phường chợ cũng băng ngàn trải lên

Đò thì mắm nục, mắm nêm

Đò thì cá khô, muối ruốc cũng mang lên tại phường

Đò thì gạo, nếp, trứng, đường

Đò thì vàng bạc, lược, gương, cau trầu

Đò thì ghè, đục, ang, âu

Tréc, om, trình thống, dĩa dầu, bình vôi

Buôn chi thì nỏ có lời

Lưỡi cày, lưỡi cuốc, núc, nồi, đá, dao

Buôn chi than, vải lụa thao

Nhuộm màu xanh lục, rêu rao thêu thùa

Bao nhiêu cũng nhờ hột bắp mà thôi

Rồi mùa ngó lại, giơ cồi với mao

 

  1. Vè thằng nhác

 Lẳng lặng mà nghe

Kể vè thằng nhác

Gia đình khổ cực

Vợ yếu con thơ

Chồng ai được nhờ

Chẳng nên trò trống

Nửa ngày thức dậy

Lục đục soong nồi

Vắt áo đi chơi

La cà hàng xóm

Vợ nhờ cày ruộng

Tao bị đau chân

Vợ nhờ quét sân

Đau lưng vẹo cổ

Vợ nhờ bửa củi

Cái búa nó hư

Vợ bảo đi bừa

Sợ rằng trâu húc

Vợ nhờ đi gặt

Tao gánh đau vai

Thở ngắn than dài

Tội tình chị vợ

Ấy thế mà!

Nồi cơm vừa dở

Chưa kịp ai mời

Cúi cổ cúi tai

Một hồi chén sạch

Là cái thằng nhác

Ăn dữ không làm

Hỡi xóm hỡi làng

Nghe vè thằng nhác

 

  1. Vè con gái

 Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè con gái

Tay chân mềm mại

Khác thể bông ba

Chờ mẹ đi ra

Cắp tiền thu dấu

Muốn ăn khoai nấu

Muốn ăn khoai nướng

Muốn ăn xôi chè

Ăn rồi ngồi xếp bè he

Cái lưng bơ bừng cái thúng

Ăn chùng ăn vụng

Cho sướng cái thân

Việc nỏ muốn mần

Dôông thì muốn lấy

Áo năm bảy cấy

Mược vào đi chợ

Béng ướt dụy tôm

Hai tay bóoc lá

Lộ mồm hả ra

 

IV/ Đồng dao

 Bập bong bong tay mô khôông tay mô có

Bập bò bọ tay mô có tay mô khôông

Chị lấy dôông em ở quá

Chị ăn cá em mút xương

Chị đường em mật

Chị vật em coi

Chị voi em ngựa

Chị bựa em bèn

Chị kèn em trống

Chị trống em mái

Chị méo em tròn

Hai hòn về chị

 

Rầm rà rầm rì

Xây lúa Đồng Nai

Cơm gạo phần ngài

Tấm cám phần tui

 

Lờ đệng cháy nhà

Bà già chạy chựa

Cháy nửa bồ thóc

Lóc cóc chạy về

Ông Đề hỏi răng

Cu Nhăng cắn nhện

 Heo chi – Heo lang – Lang chi – Lang cẳng – Cẳng chi – Cẳng giò – Giò chi – Giò móng – Móng chi – Móng heo

 V/ Câu đối

Văn vận tuột quần Văn vận vận

Bích La đau bụng Bích La la

 

Cam Lộ buôn cam, Cam Lộ lộ

Bích Giang không nón, Bích Giang giang

 

Tân Trúc trồng tre, thở hoi hóp

Đông Hà xúc hến hát ngêu ngao

 

VI/ Ca dao

Ca dao chiếm phần lớn nhất trong văn học dân gian, biểu hiện tâm hồn giàu tình cảm, phóng khoáng của người nông dân, một thứ tình cảm bình dị chơn chất trong sáng như cuộc đời hiền hòa đôn hậu của họ, được thể hiện trong mọi tình huống, hoàn cảnh về gia đình, xã hội, đặc biệt là về tình yêu đôi lứa, một đề tài muôn thuở

  1. Quan hệ gia đình

 Biết răng chừ cá gáy hóa rồng

Để đền công ơn Thầy Mẹ ẵm bồng ngày xưa

 

Chị em như chuối nhiều tàu

Tấm lành che tấm rách, đừng nói nhau nặng lời

 

Cây kia ăn quả ai trồng

Sông kia uống nước hỏi giòng từ đâu

Cơ đồ gầy dựng bấy lâu

Công lao tiên tổ lẽ đâu quên hoài

Mộ phần gìn giữ hôm mai

Những ngày lễ tết chẳng sai lệ thường

 

Có chồng rồi khác chi con ngựa có dây cương

Lôi mô chạy nấy khổ trăm đường ai ơi

 

Còn cha gót đỏ như son

Một mai cha chết, gót con đen sì

 

Mẹ già ham việc tiếc công

Cầm duyên con lại thu đông mãn rồi

Mãn rồi cai đội hồi hương

Trai lui về làm ruộng, gái bán buôn nuôi chồng

 

Ra đi bỏ mẹ ở nhà

Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bưng

 

  1. Quan hệ xã hội

 Ai về Đông Hà, ai qua Cam Lộ

Ai về Gia Độ, ai đến Gio Linh

Ai về Triệu Phong, Quảng Trị quê mình

Cho em nhắn gởi chút tình nhớ thương

 

Bạn về không có chi đưa

Môn khoai đang dại, mít dừa đang non

 

Cây cao bóng mát chẳng ngồi

Lại ngồi trửa nắng trách trời không dim

 

Cây khô xuống nước cũng khô

Phận nghèo đi tới chỗ mô cũng nghèo

 

Con quan lấy đứa mần than

Nắng mưa phải chịu cơ hàn phải theo

     C . Quan hệ lứa đôi

 Trăng lên tới đó rồi tề

Nói chi thì nói, em về kẻo khuya

 

Bướm vàng đậu đọt cau tơ

Kiếm cái nơi mô nương tựa

Chơ răng cứ vất vơ rứa hoài

 

Chàng ơi phụ thiếp làm chi

Thiếp là cơm nguội những khi đói lòng

 

Đi mô cho thiếp đi cùng

Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp theo

 

Cam chua, quýt ngọt… bồng the

Thấy em nho nhỏ, anh ve anh để dành

 

Xa anh có bấy nhiêu ngày

Tình em như mảnh trăng gầy nửa đêm

 

Hai ta mót củi một cồn

Bứt tranh một chỗ, tiếng đồn thật xa

 

Em đương vút nếp hong xôi

Nghe anh lấy vợ, thúng trôi nếp chìm

 

Ai hay nông nổi mần ri

Ngày xưa ở rứa, vội chi trao lời

 

Anh đã có vợ thời thôi

Không phải mắm nêm chuối chát mà muốn moi cho nhiều

 

Anh về đừng có ngó lui

Để em ngó dọi ngùi ngùi thêm thương

 

Anh đưa em lên đến ngã tư sòng

Em trở Về Cam Lộ, anh trở lại Triệu Phong với ai chừ

 

Được nên chồng nên vợ thì hay

Rủi thời đói khổ có ăn mày cũng phu thê

 Hò:

Hò là thể loại dân ca phong phú, đa dạng, có tính quần chúng và mang nét đặc thù Quảng Trị Đó là một hình thức sinh hoạt sôi nổi, được diễn ra trong công việc đồng áng, lễ hội hay là một cách giải trí trong buổi nông nhàn. Có nhiều điệu hò và cách hò tùy theo không gian thời gian, lao động nặng nhọc khác nhau. Quét vôi thì hò hụi, giã gạo thì hò khoan, hò hô, chèo đò thì hò mái nhì, nếu đò mắc cạn thì hò mái đảy, hò rủ rơm, hò đánh bài thai, bài chòi, hò kéo gỗ, hò ru và hò đối đáp… Ở đây chúng tôi xin giới thiệu mấy điệu hò tiêu biểu:

 Hò ru:

Tất cả chúng ta đều lớn lên từ 4 tao nôi và lời ru của Mẹ. Làn điệu ngọt ngào êm dịu như đã thấm vào máu thịt xương tủy và cũng lớn lên theo giòng đời. Qua năm tháng nổi trôi, lời ru luôn luôn là sự gợi nhắc tình cảm, nghe mãi nhưng nghe lại vẫn không khỏi bồi hồi:

 Khi con thức Mẹ cho con bú

Khi con lú Mẹ lại ru hời

Nuôi con cực lm con ơi

Chỉ mong cho con lưng dài vai rộng

Để lấp biển vá trời như ai!

 

Mẹ thương con ngồi Cầu Ái Tử

Vợ trông chồng đứng núi Vọng Phu

Mai đây bóng xế trăng lu

Con ve kêu mùa hạ

Biết mấy thu đợi chờ

 

Em nghe anh đau đầu chưa khá

Em đây băng đồng chỉ sá bẻ nạm lá qua xông

Ước làm sao cho nên đạo vợ chồng

Đổ mồ hôi ra em chặm

Lại ngọn gió lồng em che

 

Ru hời ru hỡi là ru

Bên cạn thời chống bên su thời chèo

 Xây thành đp lũy trên non

Cm hoa dưỡng nước nuôi con tháng ngày

Một mai lửa dậy khói bay

Con ơi! Mẹ không biết sống rày thác mai

 Ơn cha ba năm báo bổ

Nghĩa mẹ chín tháng cưu mang

 Bên ướt Mẹ nằm bên ráo con lăn

Lấy chi trả nghĩa sinh thành

Lên non tạc đá xây lăng phụng thờ

 Hò đối đáp:

Là một thể loại văn nghệ tự túc độc đáo dược phổ biến rộng rãi trong mỗi làng quê Quảng Trị trong thập niên 30, 40. Những lúc nông vụ đã tạm ổn, vào những đêm trăng, đâu đâu cũng nghe tiếng hò rộn ràng sôi nổi tạo nên một không khí tưng bừng vui vẻ. Có thể chia làm hai loại: Hò ân tình và Hò đâm bắt.

1) Hò ân tình

Loại này đơn giản dễ hò, có thể lấy từ câu đố, một cốt chuyện đã có sẵn, chỉ cần nhập vai là hò được hoặc đôi bên đối đáp về những chuyện trời trăng mây nước vô thưởng vô phạt Địa điểm hò thường được chọn ở những nhà rộng rãi thoáng mát để có được đông đảo khán giả tham dự. Thường thì các cô gái đã đợi sẵn còn các chàng còn vòng vòng ngoài ngõ hay trước sân:

Ai đứng ngoài đường cho muỗi cắn ho kêu

Vô đây phân giải đôi điều cho vui

 Các chàng chỉ đợi có thế mạnh dạn bước vào:

Chào lê chào lựu chào đào

Ai xa chào trước ai gần chào sau

Chào bên nam mất lòng bên nữ

Chào người quân tử sợ dạ thuyền quyên

Cho anh chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó chào

 Ai có chồng thì khuyên chồng đừng sợ

Ai có vợ thì xin vợ đừng ghen

Ra đây ta hò hát cho quen

Rạng ngày ai về nhà nấy…

Khá thể ngọn đèn hai tim

Đó là màn dạo đầu, cuộc hò sẽ tiếp tục:

Nữ:       Đố anh chi sắc hơn dao

Chi  sâu hơn biển, chi cao hơn trời

Nam:    Con mắt em sắc hơn dao

Lòng sâu hơn biển, trán cao hơn trời

             Nữ:      Bánh cả mâm răng kêu bánh ít

Trầu cả chợ răng gọi trầu không

Ai mà đối đặng làm chồng nữ nhi

Nam:    Chuối không đi tây răng kêu chuối sứ

Cây không đi học răng kêu cây thông

Anh đã đối đặng em theo chồng về mau

Nữ:      Nghe anh thuộc sách Kinh Thi

Hỏi anh con cá nằm dưới cỏ gọi là con cá chi rứa anh hè

                              Nam:    Anh đây thuộc sách Kinh Thi

Con cá nằm dưới cỏ anh nghĩ là con cá tràu

                                 Nữ:       Em như bông sen trong hồ

Các anh như bèo như bọt nhìn chi được cơ đồ nơi em

                       Nam:    Nước lên cho sóng cuộn theo

                                  Cho sen chìm xuống bèo trèo lên trên

                                   Nữ:      Em đây như con rồng vàng

                                             Chín tầng mây phủ nằm ngang giữa trời

                                  Nam:   Anh đây có phép thần thông

                                             Vén mây cỡi gió bắt con rồng cỡi chơi

                            Nữ:    Em đây như chiếc chuông vàng

                                     Treo trong thành nội có hàng ngàn quân canh

                           Nam:   Quân canh dù mấy chục ngàn

                                      Dùi chiêng anh mang sẵn, anh nện chuông vàng đứt đôi

  Kiến bò cột sắt sao mòn

 Con vò vò xây tổ sao tròn mà xây

 Kiến bò cột sắt thành đàn

                                           Con vò vò xây tổ khám vàng cũng xây

 

                                           Thương thay các cậu chự bò

                                           Cái lưng môốc thếc thếc

                                           Bộ giò đen thùi thui

                                           Em về dở sách ra dò

                                           Cha em lúc trước cũng chự bò như anh

 

                                           Trai không vợ như chợ không đình

                                           Mưa dông một trộ ghé mình vào đâu

 

                                           Trai chưa vợ lo phò vua vệ quốc

                                           Chợ không đình tại thổ mộc suy vi

                                           Sao không lo phận thiếp lại đi hỏi chàng

 2) Hò đâm bắt:

 Thường là đối đáp giữa trai và gái, loại này đòi hỏi một khả năng thiên phú: Thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát. Đối thủ luôn luôn tạo bất ngờ, không có thì giờ suy nghĩ, chọn lựa. Người ra chiêu có lợi thế hơn (thường là nữ) đi những đường quyền móc họng, phạm thượng. Ngôn ngữ ở đây thuộc loại dân gian dung tục, các danh hò thường không né tránh bất cứ một từ ngữ nào miễn đạt được hết ý và đưa đối phương vào thế hiểm hóc (Nhân đây cũng xin mở một dấu ngoặc về loại văn chương này vì gần đây trên văn đàn hải ngoại, nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc có đưa ra bản thảo về ngôn từ dung tục trong văn học dân gian miền Nạm đại khái như: Vân Tiên ngồi núp bụi môn. Chờ khi trăng lặn… Nguyệt Nga…) bởi thế trong phần lược kê dưới đây nếu có một vài từ đại loại như thế, kính mong các bậc trưởng thượng thông cảm:

Trong đêm hò tại vùng Long Quang Linh Yên, một siêu hò đã đánh đòn phủ đầu các nam nhi:

Anh ra chi mỗi tháng mỗi ra

Cực lòng em lắm mẹ cha hỏi hoài

Mới nghe tưởng là một lời trách móc trữ tình, thực ra chị này đem “việc riêng” của mình ra để so sánh xưng tụng thật là hết ý. Một số ngượng nghịu bỏ về. Có người đáp lại nhưng sống sượng, thiếu hấp dẫn:

Anh ra ba em cũng ra

Anh còn sống, ông cụ thác xuống ngã ba mất rồi

 Một hôm khác tại Gia Đẳng:

Tiếng đồn eng học hết sách quốc ngữ, hết chữ Kinh Thi

 Con bò cái đi trước, con bò đực đi sau, nó cười chi rứa eng hè

Eng đã học hết sách quốc ngữ, hết chữ Kinh Thi, con bò cái đi trước, con bò đực đi sau nói cười nó cọ, nó đọ-u sao thiếp không biết lại đi hỏi chàng

 Vùng Đá Nầm, Đá Nổi ở Ba Lòng cũng một thời nhộn nhịp: những lúc nông nhàn trai tráng miệt đồng lên khai thác lâm sản và những đêm hò lại diễn ra:

Liệu bề đát được thì đan

Chớ đừng đan rồi để đó mà thế gian chê cười

 Cô gái có vẻ kênh kiệu, coi thường chàng trai, nhưng chàng ta bình tĩnh tung đòn phản công rất ngoạn mục:

Anh đây đan cũng giỏi, đát cũng tài

Lận thì đè côi đè xuống, còn nức thì xỏ ngoài xỏ vô

 Đến hiệp hai thì nam danh hò bối rối:

Ra đường lại gặp anh Ba

Anh ở “trung nớ” anh ra răng chừ?!!!

             Chàng ta xin khất, đi tìm bà cô: là một danh hò đã gác kiếm, sau khi hối lộ một xấp thuốc Tầm Bỏi, bà đã chỉ cho câu đáp, mặc dầu không sâu sắc lắm nhưng cũng đỡ mất mặt:

Anh ở trung nớ mới ra bựa qua

Cùng ra có cậu bên nhà kết nghĩa thầy trò

Anh nhanh chân anh tới trước còn cậu lò dò theo sau!!!

             Có những cô gái thật là lì lợm lém lỉnh đôi khi làm các chàng trai yếu bóng vía phải ngọng nghịu chùn chân:

Anh làm thợ mộc khéo đã ra chi khéo

Đóng bức đố xéo đã ra chi tài

Răng không giơ cái lại chàng ra chắn mộng để thòi lòi mộng ra

 Tuy thế vẫn có những nam nhi thông minh lanh lợi, đáp lại vô cùng thỏa đáng:

Anh đã đưa cái lại chàng ra chắn mộng

Mà thầy mẹ bên nhà khoát khoát khoan khoan

Để khi đi về móc áo, lỡ chừng treo khăn

 Cũng đã có cô gái bạo mồm bạo miệng tung chưởng vào đối phương:

Em mua cho anh cái dù tám cóng

Dưới có mốc đồng

Răng anh không đội

Để đầu không rứa hè

 Nhưng đối thủ của nàng không phải tay vừa, đã bình tĩnh phản công:

Cái dù tám cóng dưới có cái móc đồng

Em đem về cho cha em đội cho nội em che

Phận anh là rễ đội nón tre quen rồi

 Đôi khi lời đối đáp thật hóm hỉnh, thông minh:

Tiếng đồn em lấy chồng già

Đêm nằm em thấy ớt cà ra răng

Tre già còn dẻo hơn măng

Ớt cà tra có hột, chớ hơn thằng ớt tơ

 Văn học dân gian như đã nói là một chất liệu ngôn ngữ hòa tan trong tâm thức của mọi người, nó như mạch ngầm ẩn dấu đâu đó tưởng chừng quên nhưng chỉ một giây lắng đọng khắc khoải, sẽ bừng dậy những nỗi nhớ niềm thương da diết. Đó là một kho tàng vô tận tiềm ẩn trong mỗi người Quảng Tri, không thể có một công trình tìm kiếm hoàn chỉnh .Trong phần lược ghi với một ít nội dung tượng trưng, hy vọng tạo được một khoảnh khắc thanh thản khi nhớ về quê hương.

Lê Văn Trạch

(Trích: Dặm Trường Lưu Dấu)