08/11/2017
Phạm Đức Nhì: THƠ “KHĂN ĐÓNG ÁO DÀI” VÀ SHOW, NOT TELL

F=10==P1580145 - Copy

Ảnh: HKL

Học Nghệ Thuật Hùng Biện Với LM Nguyễn Văn Vàng ở ĐH CTCT Đà Lạt.

Trước 1975, tôi có lần về học thêm chuyên môn tại Đại Học CTCT Đà Lạt và được học nghệ thuật hùng biện với LM Nguyễn Văn Vàng. Đến giờ nghỉ giải lao, một ông Trung Úy xáp lại gần LM, ra vẻ ta đây, vừa cười vừa hỏi “đểu” một câu “thối như mắm tôm”:

Thưa LM, tôi thấy ngày xưa Án Tử người nước Tề có học khóa hùng biện nào đâu mà đến du thuyết ở chỗ nào cũng thành công?

Ông LM Dòng Chúa Cứu Thế mặt vẫn hiền dịu, nhẹ nhàng trả lời:

Mỗi khi có một cuộc tranh luận thành công (hay thất bại) là có người tìm hiểu, phân tích xem nhờ đâu mà thành công hoặc vì sao mà thất bại. Rồi sau đó có người tổng hợp lại thành những nguyên tắc (có tính lý thuyết) và trường Đại Học CTCT đã mời tôi đến để truyền dạy những nguyên tắc đó cho các anh, những người cần đến kỹ năng này. Dĩ nhiên, nắm vững lý thuyết là điều kiện cần nhưng chưa đủ để trở thành người ăn nói giỏi. Dựa vào mớ lý thuyết ấy rồi tùy năng khiếu cá nhân, cộng với kinh nghiệm thực hành trong những tình huống cụ thể, khả năng nói trước đám đông của các anh sẽ tiến bộ.

Ông Trung Úy có câu hỏi “thôi như mắm tôm” đứng đực mặt ra ngượng ngùng hổ thẹn trước các bạn cùng lớp vì không hiểu sự khác biệt giữa lý thuyết và thực hành của nghệ thuật hùng biện.

Bước Vào Lãnh Vực Thơ Ca

Trong lãnh vực thơ ca cũng vậy. Từ trước khi Nguyễn Bính viết Giấc Mơ Anh Lái Đò rất lâu cho đến khi tôi viết những dòng chữ này người đời đã sáng tác rất nhiều thơ. Mỗi khi có một bài thơ hay, gây được tiếng vang là người yêu thơ tới tấp tìm đọc. Trong số đó có những người đọc tò mò. Họ thấy bài thơ hay nhưng muốn tìm hiểu xem tại sao nó hay; nếu có câu, đoạn thơ dở thì họ muốn biết tại sao nó dở. Đó chính là những người làm công việc phê bình văn học. Rồi có người đúc kết một số những câu trả lời hữu lý môt cách hệ thống (có tính lý thuyết) để giúp người đọc thơ có cơ sở để biết thế nào là một bài thơ hay (hay dở) và những người làm thơ có được những “hướng dẫn căn bản” để có thể làm thơ hay hơn.

Cuốn Cấu Trúc Thơ của nhà phê bình văn học Thụy Khuê được viết ra với mục đích đó.

 Cuốn Cấu Trúc Thơ đến với bạn đọc, không ngoài mục đích là giúp các bạn tìm hiểu thơ, nếu thấy hay thì tại sao hay? Ðạt được mục đích đó không dễ, đôi khi không chắc sẽ đạt được. Tuy nhiên sự tìm hiểu sâu xa về cấu trúc thi ca là điều kiện cần (tuy chưa đủ) để giúp chúng ta hiểu và cảm nhận thơ một cách sâu lắng hơn. (1)

Khi đọc Show, Not Tell Trong Thơ có người email hỏi tôI “Nguyễn Bính có biết Show, Not Tell là cái quái gì đâu mà thơ của ông cũng đi vào lòng người và hàng bảy, tám mươi năm nay vẫn hiện diện hiên ngang trong dòng thơ của dân tộc?” Ông này đã mắc chứng bệnh tương tự như ông Trung Úy ở trên – thích hỏi “đểu” thiên hạ trong khi mình chẳng hiểu gì về mối tương quan và sự khác biệt giữa Sáng Tác và Phê Bình. Câu hỏi – như một phát biểu đầy ấn tượng, nhưng lại lộ ra sự thiếu hiểu biết về điều mình phát biểu – tuy có hơi thiếu lịch sự nhưng theo tôi, trong tranh luận văn chương, vẫn có thể chấp nhận được. Hy vọng đọc phần giải thích ở trên ông sẽ thấy được cái sai của mình và có thái độ thích hợp.

Bàn Thêm Một Chút Về Sáng Tác Và Phê Bình

Khi bài thơ, bằng cách này hay cách khác được gởi đến người đọc, sẽ như cô gái giữa chợ, tha hồ cho thiên hạ khen chê, bình phẩm. Dĩ nhiên, người có học vị cao về văn chương hoặc có tên tuổi trong giới phê bình, lời bình phẩm của họ sẽ được chú ý lắng nghe và tin tưởng nhiều hơn. Tuy vậy, không có những quy định, điều kiện cụ thể (bằng cấp, chức vụ, uy tín) cho người bình thơ. Nếu bạn – bằng con đường nào đó – tin rằng mình có đủ kiến thức và tài năng để bình thơ thì bạn cứ việc bước vào sân chơi phê bình. Những gì bạn viết ra cũng sẽ “được” đủ mọi cặp mắt soi mói.

Nếu bài bình của bạn khen đúng, chê đúng và đem lại cho người đọc những kiến thức bổ ích về Thơ, bạn sẽ được hoan nghênh. Ngược lại, nếu bạn vì tư tình mà bình thơ một chiều (chỉ khen hoặc chê), khen chê không đúng hay chỉ tán hươu, tán vượn thì bài bình của bạn, nếu không bị chê bai, chỉ trích cũng sẽ chẳng được ai để ý và sẽ đi vào quên lãng. Người đứng đắn, khi phê bình một bài bình thơ chỉ chú ý đến đối tượng tranh luận – là bài thơ và lời bình – chứ không đem chủ thể đối luận (là tác giả bài bình) ra mà xách mé, châm biếm – nói nôm na là “bỏ bóng đá người”.

Sau đây là một bình luận về bài Show, Not Tell Trong Thơ.

Chắc ngày xưa ông Nguyễn Bính chưa học được “SHOW NOT TELL” như nhà trí thức Phạm Đức Nhì (nên) mới bị cái lỗi TO ở khổ thứ 3 (và) bị ông ấy chê. Mà nghĩ  lại, không ai biết Phạm Đức Nhì là ông nào mà Nguyễn Bính thì người yêu thơ Việt Nam ai cũng biết và ngưỡng mộ. (Hai chữ trong ngoặc đơn là của PĐN)

Đây là kiểu bình luận bá đạo – không dẫn chứng xem bài bình thơ của người ta sai ở chỗ nào mà “chêm” vào một phát biểu vừa thiếu hiểu biết – mù tịt về điều căn bản nhất của phê bình – vừa coi thường thiên hạ. Ông này cũng giống ông Trung Úy ở chỗ không biết mô tê gì về công việc phê bình mà bày đặt lên mặt hỏi “đểu”. Nhưng ông còn tệ hơn một bậc là có ác tâm, ác ý – đã nêu đích danh tác giả ra mà xách mé, châm biếm một cách sai trái. Dĩ nhiên, câu bình luận nặng mùi như thế chỉ làm ô uế môi trường tranh luận văn chương.

Vị Trí Của Show, Not Tell Trong Thơ Việt Nam

Trong 3 tiêu chí chính để thẩm định giá trị nghệ thuật một bài thơ là Tứ Thơ, Kỹ Thuật Thơ và Hồn Thơ thì tiêu chí Kỹ Thuật Thơ bao gồm nhiều chi tiết nhất. Ngoài hình thức của bài thơ – thể thơ, số chữ trong câu, số câu trong bài, cách gieo vần, liền mạch hay đứt đoạn –  nhà nghiên cứu, phê bình còn nắm trong tay những “tuyệt chiêu” mà một số thi sĩ tài danh đã thi triển để làm đẹp câu, đoạn, hoặc bài thơ. Mức độ thành công của việc áp dụng một “tuyệt chiêu” nào đó trong bài thơ cũng trở thành một tiêu chí để “đo” mức hay (dở) của bài thơ.

Mỗi dân tộc, dĩ nhiên, có nét riêng trong vẻ đẹp văn hóa – trong đó có thi ca – của mình. Nhưng những “tuyệt chiêu” – mà sau này được gọi chung là những biện pháp tu từ – đã trở thành tài sản chung của nhân loại. Trong thơ của Trung Hoa, Việt Nam hay các nước Âu Mỹ đều có phép ẩn dụ, hoán dụ, thi trung hữu họa, so sánh, nhân cách hóa, điệp ngữ, nói giảm, nói tránh, nói quá, tương phản … Sinh hoạt phê bình văn học của Việt Nam còn hơi chậm chân so với sáng tác nên tuy trong thơ của khá nhiều thi sĩ tài danh đã xuất hiện Show, Not Tell nhưng chưa có nhà phê bình nào gọi tên nó chính xác bằng tiếng Việt nên trong một số trường hợp có người đã phải tạm dùng “ẩn dụ” một cách “hơi sai lạc”.

Thí dụ:

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.

(ca dao)

 Mặc dù có chứa đựng ẩn ý nhưng nếu bảo thủ pháp nghệ thuật trong câu ca dao này là ẩn dụ thì gượng ép quá. Show, Not Tell thì hợp lý hơn.

Thử xem lại bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên.

Tác giả sắp xếp một cách khéo léo hình ảnh sinh hoạt của Ông Đồ theo dòng thời gian để độc giả tự nhận ra nền Nho Học đã đi đến chỗ lụi tàn. Ở đây cũng có ẩn ý nhưng không phải “nói cái này mà ngụ ý cái kia”. Nền Nho Học lụi tàn là kết quả tất yếu của sự suy tưởng theo dòng chảy của tứ thơ. Độc giả không phải dùng liên tưởng “nhảy cóc”, từ cái này nhảy sang cái kia.

Khi bình bài thơ Ông Đồ, mặc dù đã biết về Show, Not Tell nhưng chưa cặn kẽ, thấu đáo, nên tôi đã dùng “ẩn dụ” để nói về kỹ thuật này của Vũ Đình Liên. Nhưng sau đó nhờ đã có mấy cuộc họp thân tình với các nhà thơ, nhà phê bình văn học Mỹ (để giới thiệu thơ của mình) tôi đã vỡ lẽ ra sự khác biệt lớn giữa Ẩn Dụ và Show, Not Tell. Theo tôi, thủ pháp nghê thuật Vũ Đình Liên dùng trong bài thơ Ông Đồ là Show, Not Tell chứ không phải Ẩn Dụ. (2)

Nhắc lại định nghĩa Show, Not Tell

Show, Not Tell là một biện pháp tu từ, thay vì dựa vào một (hoặc vài) tĩnh từ, trạng từ khô cứng nào đó để kể lại một sự kiện, bày tỏ một tâm trạng, tác giả tạo ra những hình ảnh sống động, cụ thể để từ đó độc giả tự khám phá, hiểu ra sự kiện, tâm trạng ấy. Độc giả sẽ cảm thấy thích thú vì không chỉ đọc một cách thụ động mà còn được tham dự một cách tích cực vào tiến trình tìm gặp điểm đến của tứ thơ.

Như vậy Show, Not Tell đã hiện diện khá rộng rãi và thường xuyên trong thơ Việt Nam. Có điều chúng ta chưa có tên gọi bằng tiếng Việt cho nó. Tệ hại hơn, có người nhiều lúc còn đánh đồng nó với Ẩn Dụ một cách không được chính xác lắm. Ai là người đầu tiên đưa thủ pháp này ra tranh luận trong các diễn đàn thơ ca Việt Nam, tôi không biết. Tôi chỉ là người dùng nó như một tiêu chí để bình thơ, và tình cờ, vướng vào một cuộc trao đổi khá lý thú (nếu bỏ qua một vài bình luận khiếm nhã). Đây là một trong vài “tuyệt chiêu” đem lại hiệu quả rất cao trong việc nâng giá trị một đoạn thơ, một bài thơ.

Thơ Khăn Đóng Áo Dài Và Thơ Áo Vest

Nhà phê bình Châu Thạch cũng đóng góp một bình luận cho bài viết Show, Not Tell Trong Thơ của tôi, đại ý: “Thơ Việt Nam là thơ Khăn Đóng Áo Dài mà cứ lấy áo Vest trùm lên thì kỳ quá. Lại còn đụng đến cả cụ Nguyễn Du nữa!” (Bình luận của ông trên FB sau đó được xóa đi nên tôi chỉ ghi lại ý chính mà tôi nhớ được.)

Theo dòng phát triển của nhân loại, về phương diện văn hóa, mỗi dân tộc đều cố gắng gìn giữ bản sắc của dân tộc mình trong khi ra sức tiếp nhận có chọn lựa những cái hay, cái đẹp của những nền văn hóa khác. Trong cái gọi là nền văn hóa “Khăn Đóng Áo Dài”, sau “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây” (3), cái “chất Việt” cũng không còn đậm đà lắm. Ngay bộ trang phục “Khăn Đóng Áo Dài mà Châu Thạch đã bóng gió đặt tên cho Thơ Việt Nam, nếu truy nguyên nguồn cội, thì có tỉ lệ rất cao là sản phẩm của Trung Hoa. Có thể nói, “Khăn Đóng Áo Dài” trong ý nghĩa nét đẹp văn hóa, tuy chưa bị tuyệt chủng nhưng cơ hội xuất hiện cũng vô cùng thưa thớt.

Riêng nhà phê bình Châu Thạch, nhìn hình của ông trên Facebook và các trang mạng mà ông cộng tác, tôi thấy ông thường mặc đồ Vest, Cà Ra Vát nghiêm chỉnh. Thỉnh thoảng, trong những khung cảnh thân tình, ông mặc quần tây, áo sơ mi – nghĩa là cái nét văn hóa “Khăn Đóng Áo Dài”của ông đã bị trang phục tây phương trùm kín mít.

Chính tôi, trong rất nhiều đám xá, hội họp, tiệc tùng giao tiếp vẫn thường khoác bộ đồ Vest để có vẻ lịch sự  và hòa hợp với đám đông. Trong những khung cảnh “bình dân” khác, tôi – bắt chước Châu Thạch – quần tây, áo sơ mi “bỏ trong thùng” hoặc thân tình hơn nữa, quần jean áo “pull” (áo thun có cổ) – nghĩa là cũng lấy đồ tây trùm kín mít “Khăn Đóng Áo Dài”.

Thật ra, không phải chỉ có Châu Thạch và tôi thường “quên” “Khăn Đóng Áo Dài” trong cuộc sống thường ngày mà đại đa số đàn ông Việt Nam cũng như vậy. Trước hết, trang phục tây phương gọn gàng, tiện lợi, “bắt mắt” và hợp với trào lưu phát triển văn hóa của nhân loại hơn. Sau nữa, mặc trang phục tây phương không có nghĩa là quên cội nguồn dân tộc. Có nhiều cách khác, cũng rất hiệu quả để biểu lộ bản sắc văn hóa của dân tộc.

Thử Đọc Hai Đoạn Thơ Của Châu Thạch

Dốc ngược chai, rượu long lanh chảy

Ta nâng ly uống cạn cả ngàn trăng

Khà một cái, hơi bay mờ mặt đất

Còn một trăng treo mộng ở trên cao

 

Em ngồi lại cùng ta, đừng đi vội

Nửa vầng trăng ta đã cắn làm đôi

Nghe vị ổi vừa chua và vừa chát

Trong miệng ta nguyệt đã vỡ tan rồi

 (Rượu Dưới Trăng, Văn Nghệ Quảng Trị)

Không bàn đến tài thơ của tác giả mà chỉ nhìn hình thức của hai đoạn thơ tôi biết ngay ông đã viết theo thể Thơ Mới; đoạn đầu không gieo vần, đoạn sau nghiêm túc hơn (mỗi câu đều 8 chữ) gieo vần gián cách ở câu 2 và câu 4.  Nếu không có những nhà thơ trong Phong Trào Thơ Mới (39 – 45) đi tiên phong, lấy áo Vest trùm lên “Khăn Đóng Áo Dài” thì Châu Thạch làm gì có cái “khung hình thức” để viết bài thơ lãng mạn như thế?

Tiện đây tôi xin mở ngoặc để “bốc thơm” anh Nguyễn Khắc Phước một cái. Theo tôi biết, anh là người yêu văn chương nhưng làm thơ không nhiều. Mấy năm trước tôi tình cờ đọc được bài thơ Mắt Bồ Câu của anh trên Văn Nghệ Quảng Trị. Bài thơ đã làm tôi bâng khuâng đến mấy ngày. Tác giả viết về một người – có thể là bạn, có thể là người tình cũ – có đôi mắt bồ câu. Tứ thơ như thế không có gì mới lạ lắm. Tôi có viết lời bình cho bài thơ và ghi nhận một số ưu điểm:

Hình ảnh đẹp, nên thơ, tứ thơ bồng bềnh nhưng dễ “bắt”. Thêm vào đó, từ mỗi con chữ, từ khoảng trống giữa những câu thơ, hơi ấm cảm xúc nhẹ nhàng lan tỏa tạo cảm giác thật dễ chịu cho người đọc thơ. (Mắt Bồ Câu – Bài Thơ Mới Đọc Lần Đầu, Phạm Đức Nhì, Văn Nghệ Quảng Trị)

Nhưng điều làm tôi bất ngờ đến sững sờ là hình thức của bài thơ. Tôi cũng đã từng làm khá nhiều thơ, đã nhiều năm trời mày mò, học hỏi, tìm kiếm  một thể thơ vừa cho mình sự tự do để vung bút, vần tạo vị ngọt vừa phải để nối kết các câu thơ thành dòng chảy một cách tự nhiên nhưng không gây cảm giác ầu ơ, nhàm chán. Bài thơ phải nhất khí liền mạch, “sóng sau dồn sóng trước” để nếu gặp lúc cao hứng có thể đánh bật lý trí, tạo hồn thơ.

Mắt Bồ Câu của Nguyễn Khắc Phước, về hình thức, có đủ những đặc tính “cao cấp” (mà tôi cố công tìm kiếm) để bài thơ có cơ hội “đi xa”. Tiếc một điều là cảm xúc của anh sâu lắng nhưng chưa đủ mạnh để làm anh nổi điên, đưa vào thơ những câu “văng mạng”, “bất cần đời”, “phi lý trí” của “cái tôi đích thực”.

Tuy nhiên, phải công nhận anh đã đi trước tôi – và rất đông người làm thơ khác – khá xa. Hình thức thơ của tôi tuy có thể nói là tự do, phóng khoáng nhưng vẫn còn mang chút dáng dấp của Thơ Mới. Mắt Bồ Câu của Nguyễn Khắc Phước đã chia tay Thơ Mới để rẽ vào một con đường khác. Anh không những đã lấy Áo Vest trùm lên Khăn Đóng Áo Dài mà Áo Vest của anh đã mang một sắc thái mới, khác hẳn chiếc Áo Vest mà những nhà thơ trong Phong Trào Thơ Mới đã đem về nước những năm 39 – 45.

Là một người bình thơ, xin ghi nhận nỗ lực làm mới thơ rất thành công của anh Nguyễn Khắc Phước. Cá nhân tôi xin bày tỏ lòng khâm phục.

Hai Đặc Tính Của Phong Cách Bình Thơ Châu Thạch

Đọc mấy bình luận “ngây ngô” của những người chơi FB bình thường khác tôi không lấy làm lạ vì đó là chuyện “thường ngày ở huyện”. Nhưng đọc bình luận của Châu Thạch thì tôi hơi ngạc nhiên.  Một người yêu thơ, làm thơ và bình thơ  như ông tại sao lại đặt vấn đề một cách gay gắt với việc khen chê (hợp lý) của tôi đối với thủ pháp Show, Not Tell trong bài Giắc Mơ Anh Lái Đò của Nguyễn Bính?

Cả tuần qua tôi bỏ thời gian đọc những bài bình thơ mới nhất của Châu Thạch trên Văn Nghệ Quảng Trị và nhận ra hai đặc tính. Một là, ông bình thơ không bàn thi pháp và hai là, bình thơ nhưng đại đa số chỉ khen, không chê.

1/ Bình thơ không thi pháp

Theo tôi, hình thức của bài thơ biểu lộ nhiều điểm liên quan đến “tay nghề”, phong thái của thi sĩ, dòng chảy của tứ thơ. Bỏ qua thi pháp, những biện pháp tu từ và nhiều chi tiết khác về cấu trúc thơ, qua bài bình của Châu Thạch độc giả không thấy được bức tranh toàn cảnh của bài thơ. Ông đã bỏ sót nhiều “tiêu chí” để giúp nhà phê bình thẩm định giá trị nghệ thuật của bài thơ một cách toàn diện hơn. Đôi khi ông còn vô ý đưa luôn kết quả chung cuộc của lời bình vào cái tựa.

Thí dụ:

Đọc Thơ Hay “Chấp Chới” Của Đặng Xuân Xuyến Và “Tháng Tư Ơi” Của Bùi Thị Quý

Hoặc:

Đọc “Thơ Ngắn Ngọt Ngào” Nguyễn Như Mây.

Chưa đọc bài bình độc giả đã biết đó là hai bài thơ hay (thí dụ trên) hoặc “thơ ngắn ngọt nào” (thí dụ dưới). Con tẩy của ván bài xì phé đã bị lộ ngay từ phút đầu, có tiếp tục chơi cũng chỉ để ăn thua chứ ván bài đã không còn hấp dẫn nữa. Đây là sai sót kỹ thuật. Về khía cạnh tâm lý, kết luận chung cuộc (KHEN) về giá trị của bài thơ đã được đưa vào ngay phần đầu của bài viết – cái tựa – thì người đọc dễ có cảm giác là nhà phê bình đã có vẻ hơi nịnh tác giả. Đây là điều mà những người bình thơ chuyên nghiệp đều cố tránh.

2/ Bình thơ chỉ khen, không chê

Châu Thạch bình thơ giống như một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp chụp hình cho khách hàng. Ông sắp xếp thế đứng, kiểu ngồi sao cho những khuyết điểm trên cơ thể khách hàng được che khuất, chỉ có nét đẹp, nét duyên dáng được xuất hiện trên tấm hình chụp.

Trong một trao đổi trên FB, Châu Thạch cho rằng, đại ý: “Bài thơ như một cô gái đẹp; tôi muốn phô bày những nét đẹp của cô cho mọi người thưởng ngoạn. Nếu lỡ cô gái có một đốm tàn nhang hoặc một nốt ruồi thiếu thẩm mỹ, tôi sẽ lờ đi để người đọc được thưởng ngoạn vẻ đẹp đó một cách trọn vẹn”.

Dĩ nhiên, tác giả bài thơ được bình rất khoái nhưng độc giả sẽ bị thiệt thòi – chỉ được tiếp cận bài thơ qua lăng kính phiến diện của người bình.

Châu Thạch là một nhà phê bình cao tuổi, nhiều kinh nghiệm sống, lại sành tâm lý nên ông nương theo tứ thơ rồi tán rộng ra đọc, nghe rất đã. Nhưng có 3 tiêu chí chính để bình thơ là tứ thơ, kỹ thuật thơ và hồn thơ thì ông chỉ chú tâm vào tứ thơ mà “quên” đi hai tiêu chí còn lại.

Với cách bình thơ ấy, độc giả không thấy hết tài (kỹ thuật) thơ của tác giả, không có cơ sở để nắm bắt hồn thơ (nếu có) và chính người bình thơ sẽ không hoàn thành nhiệm vụ của phê bình là hỗ trợ và dẫn đường cho sáng tác.

Trần Hạ Vi Đụng Đến Cụ Nguyễn Du

Trần Hạ Vi là một nhà thơ trẻ, mới bước vào sân chơi thi ca không lâu. Sau khi đọc Show, Not Tell Trong Thơ của tôi đã tra cứu tìm hiểu và đóng góp một số bình luận rất hữu ích cho bạn đọc Facebook, trong đó có bình luận về mấy câu Kiều của cụ Nguyễn Du đã làm anh Châu Thạch mủi lòng than: “Lại còn đụng đến cả cụ Nguyễn Du nữa!”

Dưới đây là trao đổi giữa Trần Hạ Vi và tôi về mấy câu Kiều.

Theo Trần Hạ Vi

Ví dụ như khi Nguyễn Du viết:

“Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày” 

 cũng tả, không kể, nhưng ý là đau buồn xốn xang, khắc khoải dữ lắm…

Tuy nhiên, nếu nhìn trong chùm 4 câu:

“Ngọn đèn khi tỏ khi mờ
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn
sầu
Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày”

thì chữ “sầu” trong câu hai đã phá vỡ thế “Show, Not Tell” của câu 3 và 4, vì chữ “sầu” đã kể (tell), đã bộc bạch ra rồi.

Và đây là ý kiến của tôi (PĐN):

Cám ơn anh Lac Nguyen và Trần Hạ Vi đã có những bình luận làm sáng tỏ thêm thủ pháp Show, Not Tell. Đặc biệt là Trần Hạ Vi đã bỏ công tra cứu và trích dẫn “đúng” những điểm cần trích dẫn để bạn đọc không những hiểu mà còn có sự tin tưởng hơn về loạt bài của tôi.

Anh Lac Nguyen thì tôi không dám nói, nhưng riêng Trần Hạ Vi thì xin được phép khen cô em một tiếng. Em rất xuất sắc trong những bình luận về đề tài Show, Not Tell. Một điểm đáng khen nữa là không biết em “lấy ở đâu” hay tự tìm ra mấy câu Kiều liên quan đến đề tài này và “chê” rất xác đáng.

Anh chỉ mới đụng đến chữ “to” của Nguyễn Bính mà đã bị “đá giò lái”; còn em dám “nắn gân” cụ Nguyễn Du mà còn được nhà văn Nguyen Lac biểu đồng tình thì thật đáng khâm phục. 

 Trần Hạ Vi trả lời:

Còn mấy câu Kiều kia là tự động nhảy vào đầu em ấy chứ, em đọc mấy bài “Show, Not Tell” một hồi em tự nhiên nhớ ra câu “Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày”, xong rồi lần ra mấy câu kia thôi. 

 Sau đó em gởi cho tôi qua tin nhắn trên FB

Em học từ anh mà.

Nhà phê bình Châu Thạch không nói việc Trần Hạ Vi “chê” 4 câu Kiều sai ở chỗ nào mà chỉ phiền trách là đã đụng đến cụ Nguyễn Du. Tại sao vậy? Châu Thạch cho rằng Truyện Kiều là một tác phẩm toàn bích, không có sai sót gì chăng? Thái độ tôn thờ quá mức một tác phẩm như thế lẽ ra không nên có nơi một người viết phê bình văn học.

Riêng tôi, xin được ca ngợi nhà thơ trẻ Trần Hạ Vi. Em đã không sợ một tác phẩm lớn như Truyện Kiều, đã đưa ra lời phê bình rất xác đáng. Tôi có thể không thua em về lòng can đảm, nhưng hiểu Kiều đến mức “moi” ra được 4 câu ấy để minh họa cho “sự phá vỡ” (chữ của THV) thủ pháp Show, Not Tell thì tôi xin bái phục.

Kết Luận

Đến đây, sau khi đã đi loanh quanh, đặt nền móng cho lập luận của mình, tôi xin trả lời phần đầu bình luận của Châu Thạch.

Show, Not tell không phải là cái “khuôn” của tây phương để trùm lên thơ “Khăn Đóng Áo Dài” của Việt Nam. Nó là một trong những “tuyệt chiêu” trong thơ đã được những nhà phê bình có tài nghiên cứu và đúc kết thành một biện pháp tu từ (giống như ẩn dụ). “Thơ Ca Không Biên Giới” nên nó đã trở thành tài sản chung của nhân loại. Thi sĩ có thể áp dụng nó để làm thơ hay hơn. Người bình thơ có thể xem nó như một tiêu chí để nếu gặp bài thơ như thế sẽ có chỗ dựa lý thuyết thẩm định giá trị nghệ thuật.

Show, Not Tell, theo tôi, đã và đang gắn bó với thơ Việt dù người đọc có nhận ra điều đó hay không. Hy vọng một ngày gần đây nó sẽ có tên gọi bằng tiếng Việt – cái tên xứng đáng với vai trò của nó.

PHẠM ĐỨC NHÌ

nhidpham@gmail.com

phamnhibinhtho.blogspot.com

 

CHÚ THÍCH:

1/ http://chimviet.free.fr/tacpham1/cautructho/mucluc.html

2/ (Ông Đồ – Những Bức Tranh Thơ, Phạm Đức Nhì, tvan.net)

3/ (Gia Tài Của Mẹ, Trịnh Công Sơn)

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2017