08/14/2017
Nguyên Lạc: HOA MẪU ĐƠN – BIỂU TƯỢNG Ý NGHĨA VÀ TRUYỀN THUYẾT (I)


mau don

Ảnh: Pixabay

Hoa không thể không có bướm, núi không thể không có suối, đá không thể không có rêu, nước không thể không có rong, cây cao không thể không có dây leo, và người ta không thể không say mê yêu thích một thứ gì.

U MỘNG ẢNH (Trương Trào)

 

NHỮNG BÀI THƠ HAY

 

  1. Hoa Mẫu Đơn

Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ

Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy nhau.

Em ạ, quê ta tháp giáo đường

Sáng chiều vẫn vọng những hồi chuông

Ai đi xem lễ tôi đi với

Gió dạo lời kinh toả vấn vương …

(Hồ Dzếnh)

  1. Ký Bạch tư mã

Tam điều cửu mạch hoa thì tiết,

Vạn hộ thiên xa khán mẫu đơn.

Tranh khiển Giang Châu Bạch tư mã,

Ngũ niên phong cảnh ức Trường An.

(Bạch Cư Dị)

Nơi kinh kỳ mỗi mùa hoa thắm,

Bao ngựa xe đi ngắm Mẫu Đơn,

Giang Châu Tư Mã chạnh buồn,

Năm năm cứ nhớ phố phường Tràng An

(Nguyễn Minh dịch)

  1. Truyện Kiều của Nguyễn Du

 – Mẫu đơn

Dạy rằng cứ phép gia hình

Ba cây chập lại một cành Mẫu đơn

(câu 1425 và 1426)

Quốc sắc thiên hương

Ðã nên quốc sắc thiên hương

Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa

( câu 825 và 826 )

“Quốc sắc thiên hương” tức sắc nước hương trời:  Sắc nước là sắc đẹp nhất nước, hương trời là hương thơm chỉ có trên trời (thế gian không có); ý nói sắc đẹp hiếm có về thể chất lẫn tinh thần. “Quốc sắc thiên hương” trong văn chương cổ điển Trung Hoa chỉ về cái đẹp của hoa Mẫu đơn, lấy hoa Mẫu đơn làm tiêu biểu.

Như đã thấy, có sự xuất hiện hai chữ MẪU ĐƠN (Quốc sắc thiên hương) trong các bài thơ trên,  và chắc có lẽ nhiều bài thơ hay khác nữa. Để các bạn biết rõ về Hoa Mẫu Đơn, từ đó thấm thêm cái hay, cái đẹp của những bài thơ,  tôi xin được giải thích  về Hoa Mẫu Đơn qua biểu tượng, ý nghĩa và truyền thuyết của nó.

GIẢI THÍCH VỀ HOA MẪU ĐƠN

  1. Chi Mẫu đơn

Tên tiếng Việt: Hoa Mẫu Đơn. Tên Trung Quốc: Sho-Yo (hay Shao-Yao)

Tên tiếng Anh: Peony. Tên tiếng Pháp: Pivoine officinale

Tên khoa học: Paeonia lactiflora. Họ: Paeoniaceae

Chi Mẫu đơn Trung Quốc, nhiều khi có tài liệu gọi là chi Thược dược (danh pháp khoa học: Paeonia) là chi duy nhất trong họ Mẫu đơn Trung Quốc (Paeoniaceae).

Các loài trong chi này có nguồn gốc ở châu Á (Trung Quốc và Tây Tạng, là một trong những cây hoa được con người biết đến từ rất sớm, cách đây đã gần 4000 năm.), miền nam châu Âu và miền tây Bắc Mỹ.

Phần lớn các loài là cây thân thảo thường xanh, cao khoảng 0,5–1,5 m, nhưng một số loài là cây bụi thân gỗ cao tới 1,5–3 m. Chúng có các lá phức, xẻ thùy sâu và hoa lớn, thường có mùi thơm, có màu từ đỏ tới trắng hay vàng, hoa nở vào cuối mùa xuân hay đầu mùa hè.

Tại Việt Nam có các loài mẫu đơn sau:

Paeonia lactiflora (đồng nghĩa: Paeonia albiflora) – mẫu đơn, bạch thược trắng, bạch thược.

Paeonia suffruticosa – bạch thược cao, mẫu đơn bụi. (Wikipedia)

  1. Những Thông Tin Thú Vị Về Hoa Mẫu Đơn

Thành phố Lạc Dương (tiếng La Tinh là Luoyang, 1 trong 4 thành phố cổ kính nhất Trung Quốc), nổi tiếng về nhiều chủng loại Mẫu đơn phong phú, rực rỡ sắc màu nhờ thời tiết ôn hòa và đất đai thích hợp. Ngày 21/9/1982, người dân Luoyang chính thức chọn Mẫu đơn là biểu tượng hoa của thành phố mình. Tháng 4 là tháng của Hoa Mẫu Đơn, thật sự là mùa vui cho những người yêu hoa ở xứ sở này. Hoa Mẫu đơn nở đẹp lộng lẫy, hương thơm, sắc màu hoa hiện diện khắp nơi trong thành phố. Và lễ hội Mẫu đơn Louyang – Luoyang Peony Festival được tổ chức từ 15/4 – 25/4 hằng năm là một lễ hội văn hóa lớn, niềm tự hào của cư dân Luoyang. Suốt mùa lễ hội, tưng bừng những đèn lồng sặc sỡ, các hoạt động kinh tế cũng khá nhộn nhịp, không khí vui tươi và gây một ấn tượng sâu sắc cho tất cả các du khách trên khắp thế giới đến chơi. Ở Luoyang có những loài Mẫu đơn quý hiếm, màu sắc thay đổi lạ, hay cả những bông hoa lớn đến hàng trăm cánh, sống đã hàng trăm tuổi.

Mẫu đơn là loài hoa cảnh có lịch sử phát triển lâu đời, có nhiều chủng loại. Trong “Hoa kính” có ghi lại 131 loài, trong “Quần phương phả” ghi có hơn 180 loài, còn trong cuốn “Bặc Châu mẫu đơn biểu” của Bạch Phụng Tường người đời Minh đã liệt kê ra 269 loại, chia thành 6 loại lớn là: thần phẩm, danh phẩm, linh phẩm, dật phẩm, năng phẩm, cụ phẩm. Người xưa cho rằng loài mẫu đơn có vị trí cao nhất là hai loài có màu vàng và tím, gọi là “diêu hàng ngụy tử”. Hoa mẫu đơn nở rất lâu khoảng 20 ngày mới tàn, từ đầu tháng 4 đến thượng tuần tháng 5.

Khi những nhà truyền giáo đạo Phật người Trung Hoa  đến Nhật Bản, họ đã đem theo kiến thức về những bông hoa Mẫu đơn này. Người Nhật luôn là một dân tộc yêu hoa, nên bông hoa đẹp mới đến nhanh chóng trở thành một phần trong văn hóa của họ. Mẫu đơn là bông hoa của Tháng Sáu ở Nhật Bản. Từ Trung Hoa và Nhật Bản, nó chu du sang tận đỉnh núi Olympus, tìm cho mình một cái tên.

Peony được đặt tên theo Paeon, một thầy thuốc học trò của Thần Y Asclepius trong thần thoại Hy Lạp.Ông được nữ thần Leto (mẹ của thần Mặt Trời Apollo) mách bảo cách lấy được chiếc rễ thần kỳ mọc trên đỉnh Olympus mà nó có thể xoa dịu được cơn đau của người phụ nữ khi sanh nở. Asclepius trở nên ghen tức với Paeon. Để cứu Paeon thoát chết vì sự phẫn nộ của Asclepius, thần Zeus đã biến ông thành một bông hoa Mẫu đơn.

Điều đó cho thấy Mẫu đơn được người phương Tây đánh giá cao đến nỗi nó trở thành hiện thân của một vị thần.

Ở Đức, hoa Mẫu đơn được gọi là Pfingstrose, dù chúng đã nở trước dịp lễ Pfingsten (Lễ Ngũ Tuần là lễ 50 ngày sau ngày Phục Sinh).

Theo tích kể, Đức mẹ Maria khi nghe tin Chúa bị đóng đinh đã khóc nhỏ hàng nghìn giọt nước mắt lên một bụi hoa hồng. Kỳ diệu thay, vào khoảng lễ Ngũ tuần từ bụi hoa hồng này, nở những bông hoa to lớn, tuyệt đẹp và không có gai. Từ đó, hoa Mẫu đơn hiện diện trên cõi đời.

  1. Biểu tượng của hoa Mẫu đơn

Ngày nay, Mẫu đơn là biểu tượng của sự thịnh vượng, phồn vinh. Từ xa xưa, loài hoa vương giả này chỉ thuộc sở hữu của giới quý tộc giàu có ở Trung Quốc. Bông hoa quốc sắc thiên hương này từng rất được ưu ái qua nhiều triều đại, với mệnh danh “Chúa của muôn hoa”. Nhất là giai đoạn từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 13 sau Công Nguyên. Mẫu đơn được ca tụng trong văn thơ, nhạc và tranh vẽ lúc bấy giờ.

Giỏ Hoa Mẫu Đơn có bắp cải tài lộc và thỏ ngọc, một biểu tượng mang nhiều điều tốt lành và may mắn.

Hoa Mẫu Đơn biểu tượng của phú quý, dùng trong các dịp khai trương; người ta hay tặng nhau tượng hoặc tranh mẫu đơn để chúc nhau ngày càng phú quý, giàu sang.

Mẫu đơn là loài hoa vương giả sang trọng; Ở Trung Quốc nó biểu tượng cho sự giàu có, thịnh vượng, và sắc đẹp. Ở Nhật Bản, Mẫu đơn tượng trưng cho cuộc hôn nhân hạnh phúc với nhiều con cháu. Hoa Mẫu đơn được các cô dâu ưa chuộng, có lẽ vì ý nghĩa tốt đẹp

Hoa mẫu đơn đóa lớn rực rỡ lạ thường, hương thơm áp đảo mọi loài hoa khác. Vì vậy người ta còn gọi là “bách hoa vương”.

Một danh xưng khác của mẫu đơn là “hoa phú quý”, bắt nguồn từ câu “mẫu đơn, hoa phú quý” trong cuốn “Ái liên thuyết” của Chi Đôn Di đời Tống. “Lạc Dương mẫu đơn giáp thiên hạ” (hoa mẫu đơn ở Lạc Dương đứng đầu trong thiên hạ), dường như đó đã là câu nói mọi cửa miệng của mọi người. Vì vậy mẫu đơn còn được gọi là hoa Lạc Dương.

Người phương Tây xem hoa mẫu đơn như biểu tượng của sự e lệ.

Hoa mẫu đơn – Peony còn là biểu tượng hoa lần thứ tư của tiểu bang Indiana – Hoa Kỳ từ ngày 13/3/1957. Thật vậy, quốc hoa đầu tiên được chọn là Cẩm Chướng (15/3/1913), rồi đến Tulip – Uất kim hương (1/3/1923), Cúc Zinnia (chưa đầy 10 năm sau đó) và sự đổi ngôi cuối cùng mới dành cho Mẫu đơn – Peony.

  1. Dược tính của cây hoa Mẫu đơn

Sẽ là thiếu sót nếu không kể đến những khả năng kỳ diệu lạ thường của cây hoa mà người ta đã lưu truyền trong dân gian. Dược tính của Mẫu đơn chủ yếu ở rễ và hạt. Rễ cây có tính kháng sinh, giúp giảm đau, trị bỏng, làm giảm huyết áp, giúp trẻ mọc răng, chữa bệnh vàng da, dị ứng, thận…Hạt hoa từng được xem như một loại gia vị thông dụng. Những tập tục mê tín còn tin rằng nếu đeo một vòng cổ kết bằng hạt Mẫu đơn, bạn sẽ tránh được các bệnh như hủi, động kinh, mất trí và nó còn xua tan những cơn ác mộng, như một lá bùa hộ mạng bảo vệ người ta chống lại ma quỷ hay những thế lực của bóng đêm !

Khoảng năm 77 sau Công Nguyên, trong cuốn sách Pliny’’s Natural History đã mô tả chi tiết về cây hoa và 20 bệnh chữa bằng những bộ phận của nó. Không lâu sau đó, Dioscoride cũng đã viết một luận án về những cây thảo dược, trong đó có Peony. Vì là một cây thuốc quan trọng, dược liệu Mẫu đơn được sản xuất với lượng lớn hằng năm nhằm đáp ứng nhu cầu ở Trung Quốc và thể giới.

TRUYỀN THUYẾT VỀ HOA MẪU ĐƠN

Hoa Mẫu Đơn có nhiều truyền thuyết. Sau đây là một vài truyền thuyết thường được nhắc đến.

  1. Chuyện Thứ Nhất

Ngày xưa, ở một làng miền núi có một bà mẹ sinh được mười người con trai. Làng của mẹ bị giặc chiếm đóng. Người cha của mười anh con trai bị giặc giết ngay từ ngày đầu tiên khi chúng tiến vào làng. Mười người con trai của bà gia nhập vào đội quân chống giặc ở trong núi. Người con trai cả là chủ tướng của đội quân. Đội quân nay đã làm cho bọn giặc thất điên bát đảo. Đã nhiều lần giặc mở những trận càn quét mà không sao tiêu diệt được đội quân của cái làng bé nhỏ ấy.

Tên tướng giặc sai quân bắt bà mẹ đến, hắn bảo:

– Này mụ già, mụ hãy khuyên các con mụ trở về. Ta sẽ cho con mụ làm tướng. Bằng không, ta sẽ giết mụ.

Bà mẹ nhìn thẳng vào mắt tên tướng giặc nói lớn:

– Hỡi quân độc ác! Hẳn nhà ngươi cũng có một bà mẹ. Mẹ ngươi chắc không bao giờ dạy người phản bội lại quê hương. Là một người chân chính, ta cũng không thể dạy các con ta phản bội lại quê nhà.

Bọn giặc trói mẹ trên một ngọn đồi rồi cho quân mai phục hòng bắt được những người con của mẹ đến cứu. Chúng bảo bà mẹ hãy  gọi con  ra đầu hàng, chúng sẽ tha. Tiếng người mẹ:

– Hỡi các con của mẹ! Hỡi những người con của quê hương. Ta nhân danh người mẹ, ra lệnh cho các con không được vì ta mà phản bội quê hương.

Mệnh lệnh của người mẹ là mệnh lệnh trái tim, mệnh lệnh của tình yêu vĩ đại. Mệnh lệnh đó lan khắp núi rừng. Bọn giặc run sợ. Những người con của mẹ thì thêm sức mạnh chiến đấu. Giặc bịt miệng bà mẹ. Chúng đổ nhựa thông và nhựa trám lên đầu bà và châm lửa đốt. Ngọn lửa cháy sáng cả một vùng…

Khi bọn giặc đi rồi, dân làng lên đồi tìm chỗ bà mẹ bị hành hình, người ta thấy trái tim của người mẹ vẫn nguyên vẹn và nóng bỏng. Dân làng chôn mẹ ngay trên đỉnh đồi.

Đêm đêm, từ ngôi mộ, trái tim mẹ vẫn phát sáng cả một vùng trời. Mùa xuân đến, từ ngôi mộ, trái tim ấy mọc lên một cái cây. Cây ra hoa. Bông hoa đỏ chót, hình ngọn lửa như bốc lên từ trái tim người mẹ. Và cũng từ ngày ấy có một loại hoa mang tên Mẫu Đơn. Cây hoa tượng trưng cho người mẹ đã chiến đấu bằng một trái tim.

  1. Chuyện Thứ Hai

Chuyện kể rằng: Vào đời Đường, vua Đường Cao Tông  say đắm Võ Hậu. Lúc Vua băng hà, do con trai (Hoàng Thái Tử) còn nhỏ lên ngôi, Võ Hậu nhiếp chánh, chuyên quyền hãm hại công thần. Bà ta tự xưng vương, đổi nhà Đường thành nhà Đại Châu, rồi  xưng hiệu Võ Tắc Thiên hoàng đế.

Một hôm, Võ Tắc Thiên khi ngự du vườn thượng uyển, nhìn thấy cỏ cây xác xơ, hoa lá điêu tàn, liền truyền lệnh bằng bài tứ tuyệt dán ngay trước cửa vườn. Bài thơ như sau:

Lai triều du thượng uyển

Hỏa tốc báo xuân tri

Bách hoa liên dạ phát

 Mạc đãi hiểu phong xuy

Dịch nghĩa:

Bãi triều du thượng uyển

Gấp gấp báo xuân haỵ

Hoa nở hết đêm nay

Đừng chờ cơn gió sớm.

Thế là trăm hoa không dám trái lệnh, chỉ trong một đêm mà bừng nở khắp vườn, ngào ngạt mùi hương.

Hôm sau, Võ Tắc Thiên dạo vườn, thấy muôn hồng ngàn tía rực rỡ như những vầng mây, sắc phủ cả vòm trời xanh nên lòng rất lấy làm vui.  Bất chợt bà cau mày, vì thấy hoa Mẫu đơn bướng bỉnh, không chịu phụng mệnh, nên cành khẳng khiu, không một lá non. Giận  cho loài hoa ngoan cố, Võ Tắc Thiên ra lệnh đày Mẫu Đơn xuống tận Giang Nam (!).

Nhưng lạ thay, khi tới vùng đất nghèo nàn này, hoa lại nở rộ và vẻ đẹp rực rỡ hơn, làm đắm đuối lòng người.  Từ đó ngay cả sử sách Trung Hoa cũng ghi nhận vùng Giang Nam luôn xuất hiện nhiều tuyệt sắc giai nhân, những mỹ nữ có sắc đẹp nghiêng thành đổ nước. Cũng từ đó, vùng Giang Bắc thiếu vắng loài hoa vương giả, một biểu trưng cho quốc sắc thiên hương.

Người đương thời thấy vậy dệt bài Phú “Ngọc Lâu Xuân Tứ” nhằm thương hại và tán thán vẻ đẹp, sự khẳng khái của hoa Mẫu Đơn, thà chịu cảnh phong trần lưu lạc tự do của cuộc đời, đem sắc đẹp hương thơm ban rải cho mọi người, chớ không chịu giam mình trong vườn hoa tù hãm của bạo chúa, làm vương giả chốn kinh đô  gò bó.

Hoa Mẫu Đơn nở rộ tại thành Lạc Dương (Giang Nam), Người Lạc Dương khen hoa là “Mẫu Đơn xương tro”, và họ dày công chăm bón, hoa càng mọc càng rực đỏ. Về sau, người dân Lạc Dương lại gọi hoa Mẫu Đơn là “Lạc Dương Hồng” (Ngày nay thành phố Lạc Dương nổi tiếng về nhiều chủng loại Mẫu đơn phong phú, rực rỡ sắc màu)

Về sau người ta dùng từ “quốc sắc thiên hương” (sắc nước hương trời) để hình dung hoa mẫu đơn. Hoặc có cách phác họa khác là: “Thiên hạ chân hoa độc mẫu đơn” (chỉ có mẫu đơn mới xứng đáng là hoa thật trong thiên hạ)

Những người đẹp trong thi văn, lịch sử như nàng Kiều của Nguyễn Du, nàng Dương Quý Phi, Tây Thi , hay Vương Chiêu Quân… thường được ví như hoa Mẫu Đơn với cụm từ mô tả “sắc nước hương trời” hay “quốc sắc thiên hương” này.

         2@ 1. Bàn thêm về cụm từ “quốc sắc thiên hương” .

“Quốc sắc thiên hương” tức sắc nước hương trời.  Sắc nước là sắc đẹp nhất nước, hương trời là hương thơm chỉ có trên trời (thế gian không có); ý nói sắc đẹp hiếm có về thể chất lẫn tinh thần. “Quốc sắc thiên hương” trong văn chương cổ điển Trung Hoa chỉ về cái đẹp của hoa Mẫu đơn, lấy hoa Mẫu đơn làm tiêu biểu.

Sách “Tùng song tạp lục” chép:

Vua Ðường Minh Hoàng, một lần vào cuối mùa xuân, khi đang cùng Dương Phi đang thưởng hoa, vua Ðườn liền hỏi Tu Kỷ: “Hiện nay trong kinh thành bài thơ vịnh mẫu đơn nào là hay nhất, của ai?”. Trình Tu Kỷ tâu : – Thơ của Lý Chính Phong nổi tiếng nhất và có câu rằng:

Quốc sắc triều hàm tửu

Thiên hương dạ nhiễm y

Nghĩa :

Người quốc sắc ban mai hay say rượu (ý nói hoa đỏ)

Mùi thiên hương đêm nhuốm áo khăn (nói về hương thơm)

Hai câu thơ này miêu tả một cách tinh tế và sinh động về tư chất của hoa. Dùng “thiên hương” để nói về hương thơm như hương khí từ trên tiên giới truyền xuống nhân gian của mẫu đơn. Dùng “quốc sắc” để ví sự mềm mại, hấp dẫn, đáng yêu của hoa cũng giống như gò má ửng hồng e lệ của người con gái khi uống rượu say. Quả thật tư chất hương thơm và hình dáng mềm mại của mẫu đơn đúng là toát lên những điều đó. Đây cũng là lý do sau này mẫu đơn được mệnh danh bằng danh xưng tao nhã “quốc sắc thiên hương”.

Bách tính triều đại nhà Đường rất yêu thích hoa mẫu đơn. Mẫu đơn không chỉ xuất hiện trong các tác phẩm hội họa, người dân coi hoa là biểu tượng của sự hưng thịnh nên ai cũng yêu thích trồng và chăm sóc mẫu đơn trong vườn nhà. Trong bài thơ “Thưởng mẫu đơn”, Lưu Vũ Tích nhà thơ đời Đường có viết: “Duy hữu mẫu đan chân quốc sắc. Hoa khai thì tiết động kinh thành“, tạm dịch: Duy chỉ có hoa mẫu đơn thật sự là quốc sắc, thời gian khi hoa nở kinh động tới khắp cả kinh thành.

Trong bài thơ “Mẫu đan phương”, Bạch Cư Dị viết: “Hoa khai hoa lạc nhị thập nhật. Nhất thành chi nhân giai nhược cuồng“. Tạm dịch: Thời gian mẫu đơn nở rồi tàn chỉ trong hai mươi ngày, dường như người dân trong thành thưởng hoa ngưỡng mộ tới mê hoặc.

Mẫu đơn là một thứ hoa thơm, đẹp quý nhất trong các loại hoa, được gọi là Vương hoa. Cho nên có thể cho rằng khi nói “Quốc sắc thiên hương” để chỉ một tuyệt sắc giai nhân với hoa Mẫu đơn.

      2@ 2. Cách hiểu khác về truyền thuyết hoa Mẫu đơn với Võ Tắc Thiên.

Truyền thuyết đày hoa Mẫu Đơn chúng ta biết ngay là “xạo”. Tuy nhiên suy ngẫm cho kỹ, ta sẽ thấy đó là lời khuyên mình triết của nhân gian dạy cho các “quốc sắc thiên hương” (hoa Mẫu đơn). Võ Tắc Thiên luôn ghen ghét  những giai nhân tuyệt sắc khác, thường kiếm cớ giết hại hoặc hủy hoại nhan sắc của họ để bảo vệ vị trí của mình trong lòng quân vương. Những giai nhân nên tránh xa bà, càng xa càng tốt, nếu muốn toàn mạng.

  1. Truyền thuyết về dược tính: HOA ĐÀ VÀ CÂY HOA MẪU ĐƠN

Truyền thuyết kể rằng một đại phu nổi tiếng, Hoa Đà trong thời Tam Quốc, đã trồng nhiều loại hoa cỏ và thảo mộc khác nhau ở sân trước và sau nhà. Ông đã kiên quyết nếm một cách cẩn thận mỗi loại thảo mộc để tìm các thuộc tính trước khi kê đơn thuốc cho các bệnh nhân của mình. Vì thế, ông không hề kê bất kỳ loại độc dược nào

Một ngày, có người đã đưa cho Hoa Đà một cây hoa mẫu đơn, ông đã trồng nó ở sân trước. Sau khi nếm lá, thân và hoa của cây mẫu đơn, ông đã quả quyết rằng nó chẳng có gì đặc biệt, và nó không có giá trị như một loại thảo dược. Vì thế ông đã không dùng hoa mẫu đơn để trị bệnh.

Một đêm khuya, Hoa Đà đang đọc sách thì đột nhiên nghe thấy tiếng khóc của một phụ nữ. Ông ngẩng đầu lên và trông thấy một người đàn bà đẹp đau khổ đang dàn dụa nước mắt, trong ánh trăng mờ ảo, bên ngoài cửa sổ. Hoa Đà hơi bối rối và đi ra khoảnh sân trước, nhưng không có ai ở đó. Tại nơi mà ông đã trông thấy người đàn bà, ông tìm thấy một cây hoa mẫu đơn.

Một ý nghĩ xảy đến với Hoa Đà rằng người phụ nữ đó là cây Hoa Mẫu Đơn, nhưng ngay lập tức ông đã lắc đầu và cười cái ý nghĩ ngu ngốc của mình. Hoa Đà đã nói với cây hoa mẫu đơn, “Mày không có gì đặc biệt từ đầu đến chân. Làm sao tao có thể dùng mày làm thuốc đây?” Ông quay trở lại vào phòng và tiếp tục đọc sách.

Ngay khi Hoa Đà ngồi xuống, ông lại nghe thấy tiếng người đàn bà khóc. Khi ông đi ra ngoài để tìm kiếm người đàn bà lần thứ hai, lại không có ai cả, chỉ trừ cây hoa mẫu đơn. Sự việc này đã lặp lại vài lần trong đêm đó.

Lúng túng bởi những sự việc kỳ lạ, Hoa Đà đánh thức vợ ông dậy và kể cho bà nghe chi tiết và điều vừa xảy ra. Bà vợ ông nhìn chăm chú những cây hoa cỏ và thảo dược trong khu vườn, rồi nói, “Mỗi một loại cỏ và cây trong khu vườn này đã từng có ích như là thuốc và đã cứu vô số mạng sống, trừ cây hoa mẫu đơn này. Tôi tin rằng cây hoa mẫu đơn nó đau khổ bởi vì ông coi nói là không có tác dụng như một loại thảo dược trước khi ông nhận ra đặc tính của nó.”

Hoa Đà đã cười và bảo, “Tôi đã nếm tất cả các loại thảo mộc và biết được dược tính của chúng một cách sâu sắc. Tôi luôn để ý hết mức tới mỗi cây thảo mộc và không bao giờ bỏ qua một cây nào mà có thể có tác dụng làm thuốc. Còn như với cây hoa mẫu đơn này, tôi đã lấy mẫu lá của nó, thân và hoa nhiều lần trước khi tôi quyết định dứt khoát rằng nó không có ích lợi như một vị thuốc. Làm sao bà có thể bảo tôi nhầm lẫn với cô ta?”

Vợ ông nói, “Ông đã thử những phần phía trên mặt đất của nó. Ông đã thử phần rễ của nó chưa?” Hoa Đà trở nên mệt mỏi về chủ đề này và đã đi ngủ. Vợ của ông cho rằng chồng bà không tiếp thu lời khuyên của người khác như trước kia, và bắt đầu lo lắng rằng ông có thể bắt đầu mắc những sai lầm.

Một vài ngày sau đó, bà đến kỳ kinh nguyệt. Máu chảy ra liên tục, tựa như một dòng suối. Hơn nữa, bà bị đau và co cơ dai dẳng ở phần bụng dưới. Lén không để chồng biết, bà đã đào rễ của cây hoa mẫu đơn, sắc nó lên và uống. Chỉ nửa ngày sau, cơn đau đã rút xuống từ từ và huyết dịch trở lại bình thường.

Khi bà kể lại với chồng, Hoa Đà cuối cùng đã nhận ra rằng ông quả thật đã đánh giá sai cây hoa mẫu đơn. Ông cảm kích bà vợ đã dạy ông qua thực tiễn rằng cây mẫu đơn có tác dụng như một vị thuốc vì nó có thể dứt cơn đau và cầm máu.

Những cây mẫu đơn có vẻ ngoài đẹp đặc biệt. Thân và hoa của chúng đẹp, và đó là tại sao nó được đặt tên như vậy.

[Chú thích: Hoa Mẫu Đơn được gọi là Bạch Thược trong tiếng Trung Quốc, có nghĩa là đẹp.]

Truyền thuyết Hoa Đà này chỉ tham khảo cho vui chứ làm gì có thật. Chủ ý chuyện này chỉ muốn làm nổi bậc dược tính của cây hoa Mẫu đơn mà thôi. (NL)

Nguyên Lạc

(Còn tiếp: HOA MẪU ĐƠN – PHẦN II)

 

 

 

Nguồn:

Ðiển tích Truyện Kiều, Tâm Linh Huyền Bí.net ,daohoavien.com, Tinhhoa.net,  Đại kỷ nguyên,

Tổng hợp về hoa Mẫu Đơn ( từ Internet ) Huỳnh Huệ,  (Tianyi – Secret China) …

Hình ảnh:

Hoa Mẫu Đơn ( ROSE PARK VIỆT NAM)

https://www.youtube.com/watch?v=g5kVBcIoisQ

Peony – Hoa Mẫu đơn

https://www.youtube.com/watch?v=n6ud6QmzfE4

Peonies.avi (PPS)

https://www.youtube.com/watch?v=7_jUQJWIvFc

http://vietmessenger.com/books/?title=huong%20rung%20ca%20mau&page=15

 

 

 

 

©T.Vấn 2017