09/12/2017
Phan Tấn Hải: “40 Năm Thơ Việt Hải Ngoại” Ra Mắt, Nhiều Thi Sĩ Đọc Thơ

THO 1 Hoang Hung_Ng Duc Tung

Đang ngồi, từ trái: Hoàng Hưng, Nguyễn Đức Tùng…

WESTMINSTER (VB) — Nhà thơ Đỗ Quý Toàn đã đọc mấy bài thơ tình của ông của thời nhiều thập niên trước… khi ông giữ vị trí chủ nhà, đứng tiếp đón buổi ra mắt tuyển tập “40 Năm Thơ Việt Hải Ngoại” tại Phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt hôm Chủ Nhật 3 tháng 9/2017.

Đỗ Quý Toàn cũng nói rằng một thời ông cũng là “đồng hương” với nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, người chủ biên tuyển tập, vì lúc đó họ Đỗ cư ngụ ở Canada cùng với họ Nguyễn.

Điều hợp chương trình là Đinh Quang Anh Thái, đã giữ vai MC linh động, khéo léo…

Tuy sức khỏe của tuổi lão niên chỉ còn là mong manh, nhà thơ Cung Trầm Tưởng đã đọc thơ tình về những điệu luân vũ, nơi thi sĩ họ Cung nói về “linh hồn cần gối tựa” và rồi “hân hoan người đẹp như thiên thần”…

Cung Trầm Tưởng cũng đọc tiếp theo một liên khúc thơ, trong đó có nhắc tới sự kiện chính trị ngaỳ 3 tháng 9, khi “hóa kiếp Hồ tinh”…

Nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc nói về dòng chảy văn học, từ thời kỳ ban đầu là lưu vong đau xót với thơ Mai Thảo, Cao Đông Khánh… rồi tới thời kỳ sau là khám phá, là cách tân, là nỗ lưc sáng tạo… Thơ 40 năm lưu xứ cũng là liệu pháp chữa trị chấn thương… Tập sách này là một điều tốt đẹp, để nghe ngóng lại trái tim mình…

Nhà thơ Trịnh Y Thư gửi lời chúc mừng tuyển tập, nói tuyển tập tiêu biểu cho nhiều xu hướng. Các tác giả xa quê, không bị cắt lìa, vẫn còn sợi dây: bến bờ ngôn ngữ, tự do. Trịnh Y Thư nhắc về thập niên 1980s, những khám phá với Ngu Yên, Nguyễn Hoàng Nam, Khế Iêm… cho tới bây giờ, thi ca luôn luôn là những cách tân nghệ thuật…

THO 3 Ha Nguyen Du_Khe Iem

Nhà thơ Hà Nguyên Du & Khế Iêm

Bản tin Văn Đoàn Việt ghi nhận tổng quan như sau:

“Chiều ngày 3/9/2017, tại hội trường báo Người Việt, Orange County, California, buổi ra mắt sách “40 năm Thơ Việt Hải ngoại” do nhà thơ Nguyễn Đức Tùng chủ biên, Văn Việt và Người Việt Books xuất bản đã diễn ra thật vui vẻ, sôi nổi dưới sự dẫn dắt sinh động của nhà báo Đinh Quang Anh Thái. Đông đảo các cây bút và bạn đọc yêu thơ đã đến dự; có những gương mặt văn hóa nổi bật như nhà thơ Nhã Ca, nhà thơ Đỗ Quý Toàn, diễn viên điện ảnh Kiều Chinh, nhà nhiếp ảnh Nick Út, nhà báo Tống Văn Công, nhà báo Phan Huy Đạt, nhà báo Phạm Phú Minh, nhà văn Trùng Dương, nhà văn Cung Tích Biền,…; có những người đến từ xa (không tính chủ biên đến từ Canada) như nhà thơ Cung Trầm Tưởng (Minnesota), nhà thơ Trần Mộng Tú (Seatle, bang Washinton), nhà thơ Nguyễn Hàn Chung (Houston, Texas nơi đang trải qua cơn bão thế kỷ), đặc biệt có nhà thơ Hoàng Hưng thay mặt Văn Việt đến từ Sài Gòn.

THO 2 Cung Tram Tuong

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng

Khán phòng luôn sôi động với những phát biểu và đọc thơ diễn cảm của nhà thơ Cung Trầm Tưởng, nhà thơ Đỗ Quý Toàn, nhà thơ Đặng Thơ Thơ, nhà nghiên cứu Bùi Vĩnh Phúc, nhà thơ Trịnh Y Thư, nhà thơ Hoàng Hưng, nhà thơ Vương Ngọc Minh, nhà thơ Nguyễn Hàn Chung, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng…

Văn Việt xin giới thiệu với bạn đọc lược ghi phát biểu của nhà thơ Hoàng Hưng.

Cảm nghiệm từ một người làm thơ trong nước về Thơ Việt Hải ngoại

(lược ghi phát biểu tại buổi Ra Mắt Sách “40 năm Thơ Việt Hải ngoại” tại Orange County 3/9/2017)

Hoàng Hưng

  • Tiếp xúc đầu tiên của tôi với thơ Việt Hải ngoại là tập Thơ Cao Tần (những năm 1970) hình như do nhà văn Nhật Tiến gửi về cho em trai là nhà văn Nhật Tuấn.

Ngay lập tức, tôi xúc cảm mạnh với tâm trạng bi phẫn, tuyệt vọng, cười ra nước mắt của người bị mất tất cả, bị lưu đầy cộng với nỗi nhớ thương tiếc nuối những gì thân yêu nhất… Những câu thơ hôm nay tôi còn nhớ và còn xúc động:

Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió

Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan

Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi

Những hào hùng uất hận gối lên nhau

Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới:

Ta làm gì cho hết nửa đời sau?

  • Từ những năm đầu 1990:

Thơ Hải ngoại ào vào trong ngước, gây ấn tượng mạnh vì sự Mới Mẻ, tác động tới thơ trẻ (thông qua các Tạp chí Thơ, Hợp Lưu, các mạng Tiền Vệ, Gió O, Da Màu…)

Một số ấn tượng nổi bật:

– Các nhà thơ lớn tuổi vẫn tràn đầy năng lượng sáng tác (Trần Mộng Tú, Hoàng Xuân Sơn…) và có những người tiếp tục đổi mới đáng kinh ngạc (Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Xuân Thiệp…)

– Tiếng nói nữ táo bạo, nổi loạn: Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Lưu Diệu Vân…

– Bứt phá, vượt qua biên giới Thơ/ Văn xuôi, Cái Thơ/ Cái Không Thơ, Cái Đẹp/ cái Tục, Cái Trữ tình/ Cái Giễu nhại… xác lập tính đương đại, hậu hiện đại: Đỗ Kh, Đinh Linh, Nguyễn Hoàng Nam, Lê Đình Nhất Lang, Ngu Yên…

– Hiện tượng Thơ Tân Hình Thức và Khế Iêm: ảnh hưởng rất mạnh vào trong nước, đã thành trường phái, có thể coi là “phong trào” duy nhất trong thơ Việt từ sau 1975 và xuyên biên giới.

– Tiếng Việt trong thơ hải ngoại: trái với định kiến thông thường là văn thơ hải ngoại bị cắt đứt với nguồn nên ngôn ngữ bị cũ kỹ, quá date, ta thấy có những trường hợp nhà thơ hải ngoại sử dụng tiếng Việt ngày càng sắc, đậm, phong phú, cập nhật những vốn từ đang sống, tiếng lóng, từ đường phố, một cách nhuần nhuyễn,… (đặc biệt ghi nhận ở Chân Phương, Linh Đinh, từ chỗ quen làm thơ tiếng Pháp, Anh hơn là tiếng Việt…)

– Thế hệ mới đầy sức sáng tạo: Lê Đình Nhất Lang, Đỗ Lê Anh Đào, Trang Đài Glassey Trần Nguyễn, Lưu Diệu Vân, Như Quỳnh de Prelle, Pháp Hoan,…

– Sự đa dạng, phong phú về giọng điệu, phương pháp, từ cổ điển, lãng mạn đến hậu hiện đại…

– Sự “nối ruột“ với trong nước: với người thơ Hải ngoại, VN không còn là hoài niệm của người bị gạt ra ngoài, đứng từ xa và không lối về, chỉ biết tiếc nuối đau buồn, VN giờ đây là nỗi niềm của người nhập cuộc, chia sẻ với mọi mặt mọi vấn đề của đất nước + sự không ngừng bổ sung lực lượng, tiếp máu từ trong nước qua những cuộc “vượt biên, tỵ nạn“ kiểu mới:

Thơ Việt Hải ngoại đủ yếu tố là một “nền thơ tự nó“ không hề mang tính ngoại biên so với một dòng thơ được coi là “chính thống“, tồn tại song song với thơ Việt trong nước và cả hai hợp thành một nền thơ Việt toàn cầu!

THO HAI NGOAI p

THO HAI NGOAI n

2 Ảnh Trên: Các nhà văn nhà thơ tham dự buổi ra mắt tuyển tập thơ

Xin dẫn một bài thơ:

ĐÁP ỨNG

Khát

cầu xin một bát nước

chúng mang cho ta một bát máu tươi

Đói

cầu xin một nắm cơm

chúng ném vào mặt ta một nắm đá

Lang thang

cầu xin một nơi trú ẩn

chúng xây cho ta những dãy ngục vững chắc

Sống

đòi hỏi chút Tự Do

chúng cho ta một viên đạn chì ngay vào giữa trán

(Pháp Hoan)

Bài thơ này là của 1 nhà thơ quốc nội hay hải ngoại? Nếu suy diễn theo nội dung, giọng điệu, dễ kết luận là thơ trong nước. Nhưng đây lại là của một nhà thơ hải ngoại sống ở Đức. “Ta” ở đây không thể phân biệt quốc nội hay hải ngoại. TA là nhà thơ Việt, con người Việt TỰ DO bất kể ở trong hay ngoài nước.

Nếu phải dùng cái từ thời thượng của trong nước là “hòa hợp dân tộc”, thì TỰ DO chính là tinh thần cốt tử của sự “hòa hợp” ấy. SỰ HÒA HỢP CỦA NHỮNG CÂY BÚT, NHỮNG CON NGƯỜI TỰ DO.” (ngưng trích VănViệt)

Trong khi đó, nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc trong bài nói chuyện trích như sau:

“Nói Chuyện Thơ Người Việt Ngoài Nước”

…Trong cái nhìn của tôi, Thơ Việt ngoài nước là một dòng chảy liên tục sau biến cố 30 tháng Tư, 1975. Nó phản ánh tâm hồn, tâm thế, tâm cảnh và tâm thức của người Việt lưu xứ.

Lúc đầu, nó cho thấy một cảm thức lưu vong rõ nét. Buồn, đau và xa xót. Thơ Mai Thảo:

Những hàng dây điện mắc song song

Chở những buồn vui tới khắp cùng

Đường dây ta mắc qua đời lạnh

Chỉ một u u tín hiệu trùng.

Hay trong thơ Cao Đông Khánh:

Tôi một bữa ngồi yên như bàn ghế

Nắng rọi trong đầu những trắng bao la

Còn đôi mắt tôi ở Nhà Bè, Gia Định

Ở Ngã Tư Bảy Hiền ly nước mía, má, môi

Em đạp xe mini trời gió mềm trong áo

Thành phố bập bềnh trôi giữa nắng mênh mông

Sợi tóc chẻ hai gần đường xích đạo

Vạt áo sau lưng khép hở Sài Gòn …

Những câu thơ ấy cho thấy cái cô đơn, đau buồn của người xa xứ. Và chúng làm cho ta nhớ nhà, nhớ quê. Và còn trong biết bao nhiêu nhà thơ khác nữa, cái tâm tình cô đơn, hoài hương thiết tha đó.

Đúng thế, có thể nói, người ta có thể nhìn ra cái tâm trạng buồn thương, nhớ tiếc này trong thơ của bất cứ một nhà thơ Việt xa xứ nào. Nó như một hải lưu chảy ngầm bên dưới đời sống của chúng ta, những đứa con lưu lạc khỏi quê hương. Cho dù, ở những giai đoạn sau, những nhà thơ Việt ngoài nước có thể, trong sự hòa nhập vào đời sống mới, học hỏi, tiếp cận được những tiếng nói, những ngôn ngữ mới, tìm được cho mình những phong cách khác, phản ánh một thái độ sống, một tâm thái mới, sự buồn đau, nỗi nhớ-về cũ kỹ kia vẫn ghi lại một dấu ấn, đậm hay nhạt, đâu đó, trong những dòng chữ viết của họ.

Việc ghi nhận lại tiếng nói, tâm hồn của người Việt ngoài nước, qua thơ, như thế, là một sự cần thiết. Nó cho thấy khuôn mặt và trái tim của người Việt ngoài nước. Nó là lịch sử tâm hồn của người Việt lưu xứ. Cái lịch sử này, như tôi đã có dịp nói đến trong bài Tựa cho quyển sách 40 Năm Thơ Việt Hải Ngoại, có nhiều nét sinh động hơn, thiết tha hơn, cái lịch sử mà các nhà nghiên cứu xã hội có thể vẽ ra, với những thống kê và thăm dò nghiêm cẩn. Cái lịch sử người Việt lưu vong, xa xứ, trong Thơ, nó giống như những cái nẩy bật của trái tim người. Trái tim của người Việt lưu vong. Và sau đó, mở rộng ra, trái tim của những di dân, những con người vẫn luôn thấy trong mình cái gốc rễ Việt, cái gốc rễ làm nên chính con người, làm nên tính cách họ.

Lưu vong là một khía cạnh của cuộc sống con người, từ xa xưa. Nhưng đặc biệt trong mấy thế kỷ trở lại đây, nó lại càng trở nên rõ nét hơn khi lịch sử thế giới đã cho thấy có những đường nứt địa chấn chạy qua lịch sử của bao nhiêu dân tộc. Với những vết cắt, những chấn động in hằn dấu tích của chúng trên những trang lịch sử ấy. Nhưng, dù có những nét chung nhất, lưu vong, với mỗi dân tộc, mỗi tập thể người chịu đựng bi kịch ấy, lại cho thấy có những sắc thái, những định mệnh riêng, làm nên những vết đau, tạo nên những chấn thương riêng trong tâm hồn họ.

Nhưng, như Vladimiro Ariel Dorfman, một nhà tản văn, tiểu thuyết gia, kịch tác gia, và cũng là một nhà tranh đấu cho nhân quyền, đã nói, “Tôi nghĩ rằng cuộc sống lưu vong là một lời nguyền rủa, một lời chúc dữ, và bạn cần phải biến nó thành một ân sủng. Bạn bị ném vào cuộc lưu vong để chết, thật sự như thế, để làm bạn câm lặng đến nỗi bạn không còn tìm được tiếng nói của mình. Tiếng nói của bạn trở nên thất lạc. Và, bởi thế, cả cuộc đời tôi đã dồn tất cả cho việc lên tiếng rằng, ‘Tôi sẽ không để mình bị bắt trở nên câm lặng.’”

Và, như vậy, những con người Việt bật rễ kia phải sống ra sao? Làm thế nào để tìm lại tiếng nói của mình. Để không bị ném vào sự chết. Không bị ném vào cuộc thất tung. Câu trả lời đã được một nhà thơ miền Nam Việt Nam trước 1975 thể hiện rõ qua phát biểu, bằng thơ, “Tôi đi tìm tiếng nói / Cho cổ họng của tôi” . Thơ Thanh Tâm Tuyền. Để tìm được tiếng nói, hoặc để tìm lại tiếng nói của mình, người ta phải nhờ vào ký ức. Ký ức là quá khứ. Quá khứ là những gì đến trước hiện tại, nhưng nó lại khuôn nắn hiện tại. Nó “cấu trúc” hiện tại. Con người là tổng hợp của tất cả những sự cấu trúc và tái cấu trúc của đời mình. Qua quá khứ và qua ký ức. Trong cuộc lưu vong, xa nhà biệt xứ kia, nói như Richard von Weizsaeker, vị tổng thống nổi tiếng của Cộng hòa Liên bang Đức từ 1984 đến 1994, “Nếu anh chọn lựa lãng quên như một phương thuốc chữa trị cho những đau khổ, dằn vặt của mình, anh sẽ, một cách nào đó, tự làm mất chính anh. Chỉ có một sự cứu chuộc duy nhất: anh phải nhớ lại.” Nhớ lại, nhìn tận mặt những vết thương, những đau đớn cũ. Từ đó, anh sẽ có cơ hội hồi phục. Con người bình thường sẽ chọn cuộc nhớ lại của mình theo một cách thế bình thường, bằng bất cứ một con đường nào khả hữu. Kẻ cầm bút, hắn sẽ vịn vào văn chương mà đứng dậy.

Với người làm thơ, Thơ (viết hoa) sẽ trả lại tiếng nói cho họ. Thơ là một liệu pháp tốt. Và cần thiết.

Một vài ý trong những điều vừa nói trên, tôi đã có cơ hội phát biểu trước đây. Nhưng, tại diễn đàn này ngày hôm nay, trong buổi ra mắt tập thơ 40 Năm Thơ Việt Hải Ngoại, tôi xin phép được nhắc lại chúng. Một lần nữa. Để tự nhắc nhở mình, và, nếu được phép, cũng để nhắc nhở mỗi một chúng ta, những người Việt đang sống cuộc đời lưu lạc, xa biệt mái nhà xưa, nhưng lòng vẫn luôn nghĩ về, ngóng về chốn cũ, những điều đáng lưu ý ấy.

Như thế, thơ của người Việt 40 Năm Lưu Xứ là vết đau, vết cắt, là ghi nhận về những chấn thương của người Việt xa quê, nhưng nó cũng là một liệu pháp, một cách thức chữa trị cho những vết đau, vết cắt, cho những chấn thương đó. Nhìn vào thơ, người ta thấy được tất cả. Thấy được những tan hoang, chia lìa, và đau đớn. Thấy những vệt máu tươi, hay những bệt máu cũ. Thấy những vết thương vẫn còn mới, hay những vết cắt đã thành sẹo. Nhưng người ta cũng, qua đó, thấy được cái sức sống, cái sinh lực đang trào lên sau cơn địa động. Thấy được sự xây dựng lại. Sự hồi phục, vươn lên. Người ta thấy được tự do và niềm tin. Thấy được ánh mắt sáng của người xa xứ, cái ánh mắt chấp nhận cuộc thử thách để đứng thẳng người, không gục ngã, trước cuộc sống mới. Và, trong tất cả những điều ấy, bùng bốc hoặc thấp thoáng đâu đó, vẫn là cái ánh lửa kia. Cái ánh lửa mà con người xa xứ đã mang theo trong lòng, trong trái tim họ. Nó vẫn luôn cháy sáng. Và nó thắp lên những tia hy vọng mới. Cho tương lai.

Nỗ lực của những người chủ trương dự án 40 Năm Thơ Việt Hải Ngoại, đặc biệt của tác giả, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, là một đóng góp tốt cho việc tìm hiểu khuôn mặt, tiếng nói và tâm hồn của người Việt xa xứ, nói chung. Ở một khía cạnh nào đó, nó như một tâm động đồ, một tâm chấn kế, tìm bắt được những rung động, những thiết tha ở những độ rung khác biệt, cho thấy sắc thái tâm hồn của chính chúng ta, những người con xa xứ. Cái nỗ lực ấy, dù sao, trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống hiện tại, với cái sống rải rác khắp nơi trên khắp mặt địa cầu của bao nhiêu con người Việt, với những mảnh sống khác nhau, những tiếng nói đặc thù, riêng biệt, với giới hạn của sự giao tiếp, với tới, của sự kết nối, tập hợp, và với cái khó khăn, giới hạn của thời gian, tác giả của quyển sách, tôi nghĩ, chắc chắn vẫn cảm thấy mình có sự thiếu sót và tiếc nuối vì mình đã không ôm trọn được đủ, được đầy, những tiếng nói, những khuôn mặt thơ cần thiết phải có trong quyển sách, hay những tiếng nói thơ còn chưa được nhận diện, hoặc chưa được nhận diện kỹ, trong nỗ lực của mình…”

Cũng ghi nhận rằng nhà thơ Vương Ngọc Minh (tức Lưu Hy Lạc) đã đọc vài câu thơ Thâm Tâm, trước khi đọc bài “Nàng Có Cách Cuả Nàng,” trong đó Vương Ngọc Minh làm thơ tình kiểu Tân Hình Thức, như:

ngày hôm qua vẫn còn

nguyên với ngaỳ hôm sau

với thời gian đúng vậy

tôi muốn nói thời gian…

Trong khi đó, nhà thơ Đặng Thơ Thơ lên đọc thơ của một số tác giả, trong đó có thơ Trần Mộng Tú, Trịnh Y Thư, Lê Đình Nhất Lang, Lưu Diệu Vân, Đỗ Lê Anh Đào…

Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung từ Houston tới, đọc hai bài thơ không có trong tuyển tập. Đặc biệt bài thơ “Nghe Lá Thu Rơi Sân Chùa Tịnh Luật” rất mực dị thường, khi kể về chàng thi sĩ cư sĩ thăm chùa và một đêm nằm ngủ lại trong chùa….

Chủ biên là nhà thơ Nguyễn Đức Tùng giải thích về tiến trình hình thành tuyển tập, nói rằng ông xin lỗi vì thiếu một số thơ của nhiều người quá khứ, như Mai Thảo, Nguyên Sa, Minh Đức Hoài Trinh… vì vấn đề tác quyền không xin phép được. Nguyễn Đức Tùng cũng gửi lời cảm ơn tới tất cả những ngươì tham dự và những người đã giúp hoàn thành tuyển tập…

Phan Tấn Hải