09/19/2017
Ngộ Không: Ông thầy cũ

Chon Dung

Chôn Đứng – Tranh: Trân Thanh Châu

       Nhớ năm nào, một nhà văn nào đó đã khai bút…khai mê phá ngộ rằng cứ Tết đến, đọc qua một vài tờ báo xuân là thấy bài thơ rất ư khuôn mẫu mở đầu bằng vào mỗi năm hoa đào nở, lại thấy ông đồ già và kết thúc với những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ. Theo ông nhà văn thực sự bài thơ Ông đồ chẳng hay hớm gì cho mấy, chỉ vì người Việt mình có tính hòai cổ đó thôi. Lẽ dĩ nhiên gã không…”tâm đắc” lắm với nhà văn trên. Vì mỗi lần mang mang đến hình ảnh ông đồ vẫn ngồi đấy, qua đường không ai hay trong cái lúc đang lêu bêu nơi đất khách quê người. Đất sinh cỏ, già sinh tật, tật gã lại đốc chứng hoài cố nhân, hoài cố quận, và hòai đồng vọng về một thời một thưở cùng người xưa cảnh cũ đang ẩn khuất đâu đây trong tâm khảm.

Gần đây qua “Thầy Khóa Tư”, truyện viết về một ông bố ở nhà quê, một ông đồ già lỡ vận mài mực để kiếm gạo. Vào Nam, người con cũng theo nghề gõ đầu trẻ như bố mình. Ngày bố mất, thầy khóa còng lưng viết một bài phú, một thể văn biển ngẫu nay đã thất truyền. Thầy khóa áo dài khăn đống, bát cơm quả trứng, vừa vái linh cữu bố vừa ê a ngâm bài phú dài lê thê. Bỗng dưng trong gã, bồi hồi với hình ảnh anh nhiêu, anh khóa của một thời đã qua, trôi sông lạc chợ như hồn ma bóng quế hiện về.

Mấy chục năm sau, lưu lạc đến đất tạm dung này, qua một tờ báo Xuân, gã lại gặp Thầy Khóa Tư với một bài phú khác, một thể loại, thể văn cử nghiệp lỗi thời. Bài phú với nỗi nhớ nước đau lòng con quốc quốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia:

Chốn tha hương xót cho người vong quốc, chữ “Vật vong tại Cử” còn tươi nét,

mỗi  nghĩ mỗi thêm rầu.

Miền khách địa thương về chút huyên đường, câu “Bất khả viễn du” vẫn nằm lòng,

càng nhớ càng bắt mệt

Với thầy khóa vật vong tại cử là ta ở đất Cử, với ẩn dụ là hãy đừng quên trở về với quê cũ. Ừ thì hãy bén gót Hạ Chí Trương cùng Hồi hương ngãu thư: ”Ly biệt gia hương thế nguyệt đa – Cận lai nhân sự bán tiêu ma”. Theo chân Thầy Khóa Tư, Hạ Chí Trương, gã trở lại cảnh cũ người xưa của một thời vắng bóng với ông đồ, anh khóa. Ấy vậy mà như cá rô gặp mưa rào, gã gặp được cả hai…

***

Chuyện là ngày ấy, gã có túc duyên gặp một ông đồ.

Lẫn đẫn những năm trung học, Tết nào cũng thế với tình nghĩa giáo khoa thư cùng tập tục mùng hai tết thầy, mùng ba thăm bạn: Gã được ông bác dẫn tới thăm ông thầy già của ông từ làng quê xưa thật là xưa. Ông bác thuộc thể loại “cổ hủ“, cứ rình rình con cháu họp mặt đông đủ là héo hon với hoài cố nhân, hoài cố quận, hòai đồng vọng như gã bây giờ vậy. Nghe ông bác suông đuột thì ông thầy già xưa kia là ông Cử, ông Nghè gì gì ấy rất nho phong sĩ khí, khi bình rượu túi thơ, lúc ngồi trên chõng tre với cái điếu bát, cần trúc bọc bạc, thong dong với vườn cỏ vân, vách phên trúc…

Như ông đồ xưa năm ấy, mỗi lần ông bác dẫn thằng cháu tới thăm là mỗi lần ông đồ mặc áo the thâm, khăn xếp ra tiếp khách. Ông gầy như que tăm, xanh như tầu lá chuối, giọng nói có rễu rạo đấy, nhưng rất an nhiên tự tại, điềm đạm, mực thước. Mặc dù ông bác gã là học trò cũ, nhưng ông đồ vẫn một mực khiêm cung, vẫn kêu ông bác gã là thầy thế này, thầy thế nọ, thầy dậy thế là phải. Nhưng cũng không hẳn vậy, gặp ngày kị, ngày húy, được bà vợ thửa cho đĩa đồ nhắm, đĩa lạc rang. Gặp lúc ông bác gã đếm cua trong lỗ có được chai rượu mang tới là ông đồ khụng khạ khụng khiệng như ai. Gã thấy phong thái, và khẩu khí ông đồ cũng có khác, làm như thơ phú ngất ngưởng một mình một chiếu, rung đùi hỉ hả, với…trong trần ai, ai dễ biết ai.

Lại thêm một lần, gã quay quả quang gánh với Thầy Khóa Tư:

Mua vội mua vàng, mà dư mắm muối tỏi hành, còn thêm hoa hoét

Nghề giáo tuy bạc bẽo, vậy mà có công có hưởng, đứa trò xưa biếu cặp rượu tây

Nói cho ngay hoa hét thì không, nhưng đứa học trò xưa là ông bác gã có xách tới cặp rượu tây biếu thầy thật. Với gã, thấy chai cổ lùn nắp đen như lân thấy pháo, nên…gặp thời thế, thế thời phải thế. Thế là ông nhấp gã ực. Chẳng là gã vừa mới đỗ tú tài đôi, mà nói dại chứ…Chứ mươi năm trước với đất lề quê thói, với tú đơn, tú kép gã có thể thửa được chân lý trưởng, rồi thành lý cựu để chiếu trên chiếu dưới, đầu gá má lợn như ai. Tửu như tâm phúc chi ngôn, nôm na là say hay nói thật…Thật ra gã cũng muốn bon chen chữ nghĩa như cụ Tú đất Vị Xuyên với nhập thế cục bất khả vô văn tự, chẳng hay ho cũng nghĩ một vài bài, huống chi mình đã đỗ tú tài. Ông bác lừ mắt một cái, ông đồ như biết ý, khà một tiếng khẽ khọt: “Chấp nhê bất ngộ”. Thế nhưng vốn liếng Hán tự với chữ nhất bẻ làm đôi, chẳng dấu gì, có một dạo, gã ăn mày dăm khoẻn lơ mơ lỗ mỗ chi hồ giả dã qua ông đồ nên mới nho nhe vậy.

Đại thể những ngày còn nhỏ, gã có túc duyên gặp một ông đồ có thật. Và phải đợi đến cái tuổi tóc muối tiêu với muối nhiều hơn tiêu, gã mới gặp anh khóa như “Thầy Khóa Tư” ở trên. Đại loại như “âm bản” với “nguyên mẫu”: Nếu như ông bác gã đã gặp ông thầy cũ là ông đồ. Thì sắp tới đây, gã sẽ gặp anh khóa là ông thầy cũ của gã.

***

Sắp tới đây là trước khi về thăm quê nhà, ông bác lòi tói ra một cái thư, gã mới tri giao quái ngã đến họ và tên. Riêng phần tái bút có giây mơ rễ má đến gã và người viết nhai chữ ra câu, nhằn câu ra chữ như thế này đây: “Ông cho cháu gửi lời thăm Hùng, ông liên hệ với Hùng phấn đấu về thăm Thái Bình một chuyến”. Và không nhìn địa chỉ ngòai phong bì, nhắm mắt gã cũng biết thư này được gửi đi từ…Thái lọ.

Chuyện xưa tích cũ là năm chín, mười tuổi gì đấy, vào dịp ba tháng hè, để buộc chân bó cẳng gã. Ông via gã tống thằng “cao bồi Hà Nội” về tỉnh Thái để ông bác gã kèm. Chưa kịp biết ổi cầu Bo nhỏ to thế nào, gã đã chạm trán với một…”anh khóa” đến nhận kèm trẻ tư gia. Nhờ dùi mài kinh sử bấy lâu nay, gã được biết cái học nhà nho buổi ấy, mười người đi học chín người thôi, thế nên anh là anh khóa cuối trào của cái học nhà nho đã hỏng rồi. Cứ theo ông bác thì anh đang theo Tây học, nhưng ông bác quý anh vì cái tình đồng môn, lại cùng một thầy nên đưa anh về nhà để “kèm” gã chí chát là vậy. Và cũng năm tháng ấy, quấy hôi bôi lọ thì gã còn đang…”lọ” nên chưa chịu hiểu anh nhiêu, anh khóa là khỉ khô gì? Nhưng đó là chuyện sau…

Chuyện đang kể lể bây giờ là được ba bẩy hai mươi mốt ngày, ông bác gã gọi anh là…”đồ gàn”: Vì cơm nóng canh sốt có sẵn không sơi, anh cứ lôi cơm nắm muối vừng trong cái mo cau ra bầy cỗ, “cao lâu” lắm là cơm nguội chan nước dưa chua với mấy con rạm, con cáy, vậy là xong bữa. Trời nóng như lò bễ, tứ thời bát tiết canh chung thủy với cái áo dài chúc bâu, quạt nan phẩy phành phạch. Ghế không ngồi, anh tháo guốc, hai bàn chân vỗ vào nhau bèn bẹt, leo tuốt lên cái sập gỗ chân quỳ ngồi xếp chân bằng tròn. Để có đầy đủ dụng cụ “thư phòng”, ông bác gã khuân về từ tiệm sách Khánh Hưng ở phố Lê Lợi, vở học trò kẻ gạch ngang, bút ngòi sắt, lọ mực tím. Anh bỏ xó.  Thợ rèn có đe, ông nghè có bút, thay vào đồ nghề của anh trong cái bị cói là cái bút tre vót bẹt để viết chữ Quốc ngữ. Và sấp giấy bồi đục lỗ buộc bằng giây gai, một cái đĩa, một thỏi mực tàu như cục than đen thui lủi, cái bút lông để viết chữ Tàu.

Ông bác gọi anh là “đồ gàn”. Thẳng tắp mực tàu, gã hiểu ra là ”ông đồ” nát chữ.

Hình ảnh ông đồ với anh khóa cứ đeo đuổi gã theo năm tháng với Chu Thiên qua Bút nghiên, Vũ Đình Liên với Ông đồ. Và gần đây, nhằm vào thiên niên kỷ 21, gã mới lân la làm quen “Thầy khóa Tư” qua Hán Việt tự điển kèm theo dăm bài phú. Mặc dù anh không áo lương khăn lượt. Anh cũng chẳng như ông đồ bùn chữ như trấu trát với nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi giật cái khôi nguyên (câu đối của Trạng nguyên Lê Văn Hưu). Đại thể gã học mót ở anh đơn giản như đan rổ với thiên trời địa đất, cử cất tồn còn, tử con tôn cháu, lục sáu tam ba và sau là tiền trước hậu sau (1).

Nhưng nhằm vào cái tuổi cóc nhái ấy, gã vẫn thích nhìn anh là một ông đồ, chỉ vì thỉnh thỏang anh mang thỏi mực tàu gò lưng ra mài, chấm bút lông rồi sổ ngang sổ tọet. Và gã cũng chẳng buồn nhớ anh dậy gã những gì? Mới chỉ gần đây thôi, lục lọi mớ ký ức nhăn nheo cất kỹ trong rương quần áo, gã chỉ thấy anh kể chuyện đâu đâu như Phạm Thái với Quỳnh Như. Nói thẳng mực tàu đau lòng gỗ thì cứ như truyện bên Tàu với Lã Bố Hí Điêu Thuyền đó thôi. Chính những lúc này, với lợn rọ chó thui, gã chỉ thiên cổ chi mê qua “giáo thụ” Cao Bá Quát đầy nho phong sĩ khí với nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái, học trò dăm đứa nửa người nửa ngợm nửa đười ươi. Cũng bởi nhẽ đó, gã mới tầm chương trích cú ra là qua nền khoa cử ngày xưa, sĩ tử muốn thi Hương phải qua một kỳ khảo hạch của giáo thụ, huấn đạo ở phủ, quận. Nếu rớt, sĩ tử là…anh nhiêu, anh khóa, lủi thủi về làng dậy lũ ấu học đầu để chỏm.

Ấy vậy mà phải đợi khươm mươi niên sau, gã mới bòn vót chữ Tàu là chữ Hán, chữ Nôm. Cũng như phú của Thầy Khóa Tư là một loại thể văn có hai vế thuận nhau hay đối nghịch nhau, số âm tiết trong mỗi câu và số câu trong bài phú không hạn định. Lớn lên một chút nữa, nhằm ở cái tuổi tứ thập nhi bất hoặc, tức bốn mươi thì không còn lầm lẫn nữa, gã mới…lẫn ngẫn ra, chẳng là hồi ấy anh muốn “khoe mẽ”: Thái Bình của anh là nơi tạm dung của những tao nhân mặc khách như Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ, với tài kinh bang tế thế dẫn thủy nhập điền ở huyện Tiền Hải. Đất lành chim đậu có cụ Tiên Điền Nguyễn Du làm tri huyện Phụ Dực ở đây. Và chẳng thể thiếu bà Huyện Thanh Quan có chồng là tri huyện…Thanh Quan.

Với Tam tự kinh sau cùng tiền trước hậu sau…thì hậu sự với…”thức biết tri hay, mộc cây căn rễ, dị dễ nan khôn, chỉ ngon cam ngọt”, v…v.. Để sâu đậm nhất với gã là cuối tuần, anh đưa gã về quê anh, để gã thức biết tri hay vặt cây, hái trái, bơi sông, câu cá. Ngay đầu làng, gã mộc cây căn rễ có một cây cây đa cụ, rễ mọc xum xuê. Muốn vào nhà anh phải đi qua con đường mòn, bên cạnh cái ao nuôi cá rô. Gã không nhớ lầm mùa hè năm ấy thì nắng rõ nắng (2). Gã nhìn rõ con cóc cụ đớp muỗi trong bóng râm ở bụi tre gai. Dưới gốc gạo, gã bắt gặp anh chị chuồn chuồn đuôi bấu vào nhau miệng hớp nắng. Gã nhìn thấy chú châu chấu voi, gã đuổi theo…Có thể vì vậy, đeo theo ký ức ngày còn bé, vay mượn chữ nghĩa qua sách vở, gã gần gũi với làng trên xóm dưới, đâu đây có tiếng võng ru con kẽo kẹt giữa trưa hè. Nhưng đó là chuyện sau, khi gã phang ngang bửa củi anh đồ Nguyễn Văn Siêu với sinh đồ Cao Bá Quát.

Vì vậy chẳng ngại ngùng gì mà nói, với cơm mắm thắm về lâu, anh là người đã mang hương đồng cỏ nội vào đầu óc của gã, những tên tuổi, những trang sử vừa lật qua. Ngay cả những áng thơ bi hùng, tình yêu trai gái của Sơ kính tân trang của Phạm Thái qua ngòi bút Khái Hưng với Tiêu Sơn tráng sĩ. Cũng từ Phạm Thái, từ cái buổi hoang sơ ấy đến cái tuổi ngũ thập tri thiên mệnh, gã biết thế nào là mùi phong trần tục lụy, thác về âm phủ cắp kè kè, Diêm vương phán hỏi mang gì đó: “Be…”

***

Trông giỏ bỏ thóc một phần vì cái thư sàng chữ ra câu, sẩy câu ra chữ:                    “nhờ ông liên hệ với Hùng phấn đấu về thăm Thái Bình…”, nên gã khăn gói gió đưa về Hà Nội. Cũng một phần vì âm vọng của tiếng “be” của hồ trường và gà luộc hồng đào, nào lá chanh thái mỏng của tỉnh Thái mời gọi, nào là da vàng như ướp nghệ, thịt mỏng thơm và ngọt, chưa ăn đã thấy rỏ dãi…Để nay gã đang rong ruổi với đường mưa ươt đất về lại với cái tuổi ấu thời. Xe từ quốc lộ 1 đổi qua đường 10, nhìn đâu chỉ thấy trống vắng và lạ lẫm. Gã được thể gậm nhấm thêm câu hành ngôn, hành tỏi của ai đấy: Nhật mộ hương quan hà xứ thị, yên ba giang thượng sử nhân sầu cách mấy, khi trở về thăm quê nhà, tác giả có cảm quan, cảm nhận như người khách lạ trên chính quê hương mình. Thêm nữa, với quân tử hiếu cổ, gã như con cóc cụ cõng theo một ông đồ khác nữa trên lưng, trên con đường cô lý, cô liêu qua nhà văn Viên Linh:

“…Một hôm thầy Chu Thiên tới gần tôi trong giờ chuyển lớp chuyển môn. Thầy hỏi: “Em có thể chở thầy lên Hà Nội không. Hay chỉ cần chở thầy lên Ðồng Văn cũng được, rồi thầy tìm cách đi Chợ Ðại hay Cống Thần, rồi đi Hà Nội sau.”

Khi thầy ngồi lên cái khung ngang rồi, tôi đạp xe đi, mỗi tay một bên ghi-đông, mà không thấy thầy chạm vào tay tôi. Tôi không còn nhớ những chuyện gì đã nói, song nhớ rất rõ thầy hỏi về gia cảnh của tồi (…). Rồi bất chợt thầy Chu Thiên hỏi tôi”

– Bao giờ em vào Nam?

– Dạ?

Tôi không hiểu, nên chỉ dạ, và chờ để thầy hỏi thêm.

– Mẹ em có tính đi Nam không? Chú bác họ hàng ở Hà Nội chắc là đi Nam cả?

– Vâng…

(…)

Vâng…gã cũng theo gia đình vào Nam năm 54. Bây giờ gã đang có mặt ở bến phà Tân Đệ, gần như có thể lùi xùi nói gã là…Gã là một trong những người cuối cùng nhìn lại bến phà cũ xưa, cũng là cửa ngõ vào thị xã Thái Bình này. Đứng nhìn trời cao mây xanh, con sông mát rượi, mặt nước dập dờn gợn sóng, sát bên bờ là con hương lộ, xa xa là rặng cau cao vút, thấp thóang những bóng nhà. Để gã lắng đọng và nhởn nha thả hồn về quá khứ, để gã bắt gặp những vết chân của những người đi trước, mường tượng sẽ gặp lại mảnh đất đã vun sới cả một dòng họ. Đất quê lành lắm, gieo gì lên nấy, nhẫn nại nuôi vén, ngọt nhờ đắng chịu. Qua bao lớp phế hưng dâu biển, người của đất quê muôn đời vẫn vậy, cam chịu, nhẫn nhục bám cứng vào ruộng vườn, mồ mả ông bà từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Nhưng hình dung đến ông thầy cũ, càng đến lúc sắp gặp mặt, gã như muốn chùn lại. Lợn đầu cau cuối vì một chuyện không đâu với “ông chú họ trẻ” hơn gã hai tuổi mà hồi nhỏ vẫn cùng nhau đánh khăng, đánh đáo với nhau. Biết gã mới về, từ Thái Bình mò lên Hà Nội, qua lời ông bác gã dặn dò, gã gửi hắn ít tiền để làm quà. Vừa thò tay nhận, chân trước chân sau là hắn đòi về ngay, nại cớ chị vợ đang bị bệnh nặng. Và than thở, thở than hắn đang lo không biết có qua khỏi con trăng này không. Nghe vậy, gã cũng áy náy, móc thên mớ bạc nữa và hắn biến mất trong nhấp nháy. Đến trưa, vợ hắn đứng trước cửa, nghe gã kể vậy bèn cười toe: “Lại mò ra tiệm phở ấy mà, quất hai bát là ít”. Nói cho ngay, cũng chả trách gì ông chú họ trẻ, vì mới hôm kia hôm kỉa hôm kìa, gã vừa ghé phố Bát Đàn làm một bát tái chín nạm giò vè, tiêu ớt rau thơm giá trụng – sách gầu gân mỡ sụn, tương chanh nước béo hành trần (3) nữa là.

Học theo thói người xưa câu: “Tiền bất kiến cố nhân – Hậu bất kiến lai giả”, nôm na là trước không thấy người xưa, sau không thấy người mới với những…“đổi mới” thế nào. Thế nên thêm một nỗi buồn không tên bám theo gã không rời: Lãng đãng với ông đồ của thời thế, họa sĩ Bùi Xuân Phái đồng cảm qua bài thơ người bạn họ Vũ cùng chữ nghĩa tấm tắc ngợi khen tài, hoa tay thảo những nét, như phượng múa rồng bay, nên phóng bút vẽ bức Ngắm tranh ông đồ. Ông vẽ ông đồ ngồi trên vỉa hè, như đắm chìm trong con phố vĩnh hằng yên ắng, cửa đóng im lìm, đường không có người, cây không có lá. Nhưng khổ nỗi, người thơ ngắm bức họa, và “âm bản” thêm bài thơ với “nguyên mẫu” Ông đồ thứ hai. Để gió thổi muôn chiều ẩn hiện với cờ đỏ sao vàng: “Hỡi người nghiên bút ngàn năm ấy – Khối hận bây giờ đã nhẹ chưa”. Vì vậy theo gã, theo người viết ở khúc đầu thì “thực sự bài thơ Ông đồ chẳng hay ho gì cho mấy” cũng có thể vì Vũ Đình Liên với những hệ lụy…thời thời thế thế, thế thời phải thế!

Thế vậy mà cả tuần sau gã mới về Thái Bình để nhờ vả ông chú họ trẻ đưa đi thăm mồ mả gia tiên. Rời bến phà, còn mười cây số nữa là tới thị xã, gã như Từ Thức về trần lạc lõng với mấy cái bảng hiệu bên đường như “Phở cơm”, “Phở vó bò” hay “Canh cá Quỳnh Côi”, “Bánh cáy”. Gã ớ ra vì phở cơm, canh cá Quỳnh Côi gã còn nhai câu nhá chữ được. Còn phở vó bò chả nhẽ mang vó cất vó con bò! Hay bánh cáy thì trong bánh…kẹp con cáy, con còng? Gã chịu chết nghĩ không ra.

Nên gã nghĩ tiếp chuyện không ra chuyện vừa rồi: Rằng gã muốn xếp tàn y lại để dành hơi về ông thầy cũ qua hình ảnh của một ông đồ, cũng có thể đang eo hẹp với nhưng mỗi năm một vắng, người thuê viết nay đâu. Vì miếng đỉnh chung, cũng có thể ông thầy gã đang mải mê ngụp lặn trong biển dâu với hồng hơn chuyên như người thơ Vũ Đình Liên. Gần hơn một chút, không lẽ anh giống như ông chú họ trẻ của gã, đại hạn phùng cam vũ, chỉ đợi bơi trong mấy bát hành trần nước béo. Lại nữa, lại vướng víu xưng hô cùng tuổi tác với…“anh”. Bởi lẽ qua ký ức rời rạc, ngày ấy dưới con mắt của thằng nhóc tì như gã, anh nửa “thư sinh”, nửa đơ đơ rất…“nhà quê”. Thế nên sắp tới đây, gã không biết xưng hô thế nào cho phải phép nho gia, chẳng lẽ kêu…“Thầy”!

Chưa kịp kêu…thầy. Sắp vào thị xã, va vào mắt gã là lá cờ đỏ sao vàng to đùng bên đường. Thêm một lần nữa, như con cóc cụ, hết vác ông đồ Chu Thiên, ngẫm người thầy cũ lại nghĩ đến ta. Gã lại khuân thêm Thầy Khóa Tư vào chuyện mình:

Ngẫm mình:

Thêm xuần thêm tuổi, tuần bất hoặc hẳn đã xa mờ

Mỗi tết mỗi già, cỡ tri thiên cũng vừa ngót nghét

Cực chẳng đã phải nương nhờ đất khách, vẫn chắc có ngày trở lại,

ngày Cộng nô gặp búa gẫy lưỡi liềm rơi

Chẳng đặng đừng phải trôi giạt quê người, hằng tin có lúc quay về,

lúc giặc Hồ bị trời chu đất diệt

Vận nước bỉ rồi lại thái, lẽ biến hóa chẳng du di tơ tóc, kẻ ra đi quyết chí phản hồi

Mệnh người khổ tận cam  lai, luật toàn hoàn không sai chạy mảy may, người ở lại

vẫn cương cường bất tuyệt

Người ở lại vẫn cương cường bất tuyệt…chưa thấy đâu, vì sẽ gặp lại lát nữa…

Xe vừa vào cửa ngõ thị xã, gã khựng lại khi nhìn thấy dọc bên bờ sông, khóm chợ ngày nào vẫn vậy, vẫn không đổi thay. Chợ hiu hắt phất phơ trong gió, lơ thơ mấy cái chõng tre, chân gầy guộc cao lêu khêu. Trên lợp mái rơm, mái rạ, nghèo nàn và tiêu điều. Cảnh vật không đổi thay qua nửa thế kỷ với sông kia rày đã nên đồng…Ấy cũng là hình ảnh tỉnh Thái đã chui tọt vào đầu gã và nằm túm tó trong tâm khảm như một dấu ấn…để lúc này đây, gã như hụt hẫng trong buổi chợ chiều vắng khách.

Cây đa bến cũ nhưng thiếu vắng còn đò xưa…Cảnh cũ như vậy, còn người nay ra sao. Để rồi gã đứng trước cửa nhà ông lúc nào không hay. Cửa vừa mở, thấy gã ông nói ngay: “Anh Hùng phải không”.

Tự trong tiềm thức, hốt nhiền gã buông một chữ “nhất tự thiên kim”: Thầy….

***

Gã gọi ông bằng thầy vì…ông già quá đỗi, cũ kỹ quá lắm. Gã tự hiểu cũng chẳng hơn gì ông, vì có gặp lại một người quen sau mấy chục năm, mới bắt gặp những tàn phai, nhăn nheo của chính mình. Ông nheo mắt cười và mở rộng cửa đón gã.

Gã ngập tràn những giao động với bồi hồi, như không hiểu sao ông biết gã về. Vào đến phòng giữa, nom ròm cái lỗ khóet giữa hai căn nhà để đặt cái điện thọai, gã hiểu ngay là ông bác gã đã “điện” cho ông để báo trước. Ngỡ ngồi ở đây để hàn huyên, ông khóac vai gã dẫn vào phòng trong, gã mới nhận thấy chân ông khập khiễng. Vừa ngồi xuống ghế, gã thưa thốt: “Thầy…”, ông khóat tay, thầy trò gì, cứ anh em như hồi nào, gã cảm thấy gần gũi như gặp lại một người thân. Ông vào lấy nước, đảo mắt nhìn quanh, nhà cửa không ngoài cái chõng tre, chiếu Phát Diệm, góc bàn có cái “ra đi ô” bọc ván gỗ hiệu Phillips còn sót lại từ năm 54 và tất cả chỉ có vậy và không hơn. Qua dăm câu hỏi thăm, gã được biết ông trước dậy học, nay đã về hưu. Chuyện một lát, gã phải cáo từ vì còn theo ông chú họ trẻ về thăm làng xã, và hẹn ông khi trở lại, sẽ ra quán, để nón lá áo tơi ra quán chợ, vụn vặt cùng những ngày tháng cũ.

Chiều về đón ông, gã nhờ bác tài đánh một vòng thị xã để tìm về đường xưa lối cũ. Thành phố giống như bất cứ nơi nào khác mà gã mới vừa đi qua sô bồ với nhà cửa, cái cao cái thấp, thụt ra thụt vào như tổ tò vò. Thiếu vắng hẳn cái yên ắng, phẳng lặng của một thị xã bên đường, qua tiếng ve sầu râm rả trong nắng hè oi ả. Ông vừa chỉ trỏ như muốn ”thuyết minh” với gã giữa cũ và mới: Đây là phố Lê Lợi, trước là phố Đệ Nhất, kia là phố Hai Bà Trưng, xưa là phố Đệ Nhị, rồi bắt qua năm 1949, 1950 với tiêu thổ kháng chiến thế này thế kia…Gã nghe hững hờ, vì chẳng hình dung được gì, ăn vẹt ở mòn cũng có thể vì không phải thành phố quen thuộc của gã như Sài Gòn ở cái tuổi mới lớn. Ai cũng vậy, mỗi người mỗi có một nơi chốn để ẩn náu, trong những ngày vắng gió đìu hiu. Vả lại, chữ nghĩa gã chỉ bằng cái muỗng, bức tranh vân cẩu tỉnh lỵ của ông, được mô tả qua hai câu thơ sau đây là hết…đất: “Thái Bình có cái cầu Bo – Có nhà máy cháo, có lò đúc môi”. Mà làm như ma đưa lối quỷ dẫn đường hay sao ấy, vừa rao mõ không bằng gõ thớt tới “ăn” vẹt ở mòn, vừa thêm bát thêm đũa tới…cái môi múc cháo, là tới quán ăn. Ngồi xuống, ông nói ngay, ở đây có gà luộc và ốc luộc, ông khu khi khú khí rằng Thái “Lọ” quê mùa của ông chỉ có thế. Gã buông tuồng với ông gì mà chỉ luộc với…luộc như…sông Luộc vậy. Nhưng của đáng tội, ốc luộc không đến nỗi…“lọ” cho lắm, thịt chị mái già chỉ hơi…dai nhanh nhách thế thôi.

Nhưng chuyện không dai như giẻ rách cho mấy..Vì cứ theo ông, từ ngày về đây, cả tháng ông cứ ru rú trong nhà, không bước ra đường, chỉ vì cái chân. Chuyện vơ năm gắp mười là ông có những thời gian dậy học nhàn hạ. Rồi tin Đòan Chính, con Đòan Chuẩn…“dinh tê” bay về tới tận Hà Nội, ông đâm nghĩ ngợi, cuối cùng đăng ký vào bộ đội vượt Trường Sơn đi “B”. Ông tỉ tê về một miền Nam đất ấm tình nồng, mưa thuận gió hòa. Ông râm rả tả cảnh rừng chiều Lộc Ninh, đất Lai Khê ruộng đồng bát ngát, để ông có những suy tính riêng tư. Thế nhưng trời không chiều lòng người, với khúc cuối của đọan đường chiến binh không có hậu: Số ruồi, đụng trận đầu trong đời, ông để lại An Lộc trọn vẹn một bàn chân, ông được phục viên về lại…Thái Bình.

Ruồi bu kiến đậu, ông lễnh đễnh đưa gã về một quãng đời lềnh bềnh của ông, như chuyện bên đường, không eo xèo nhân thế với…ông thiên. Bất chợt ông hỏi gã ngày mai đi chơi sông Luộc không? Gã trả lời muốn đi thăm chùa Keo, mộ tổ họ Trần ở gò Tinh Cương, lăng Trần Thủ Độ thờ vật tổ sàng, sẩy, nong, nia. Và nếu có thể được, gã nhờ ông tìm mộ bia hai ông tiến sĩ họ hàng hang hốc nhà gã có tên trong văn học sử. Ông rôm rả với một công đôi chuyện vì cũng cả gần hai chục năm nay, ông chưa đặt chân về làng. Ngay gã cũng muốn ghé quê ông để tìm về chuỗi kỷ niệm của cái tuổi óc ách, như gã đã vơ bèo vạt tép ở trên. Nhưng gã cứ lấn cấn chẳng hiểu nổi là cả hai mươi năm, ông không về thăm quê, mặc dù chỉ hơn chục cây số.

Buổi tối gã về nhà ông ngủ mai đi sớm, và mượn dịp ôn lại những ngày mưa gió cũ. Nhà ông ở ven thị xã nên có hơi đồng không mông quạnh, vì cả mấy chục năm không nằm màn, gã tẩn mẩn “ngắm” cái mảnh vải mầu cháo lòng căng lùng bùng. Gã vẩn vơ nghĩ đến ông cùng những bước chông chênh, đang đi vào cái tuổi đếm những chiếc lá vàng. Ốc chưa mang nổi thân ốc mà còn đòi làm cọc cho rêu, nên gã để cái đầu đất xoay xỏa trong cõi mụ mị “Tưởng tượng ta về nơi bản trạch, con còng ẩn nhẫn bò quanh quẩn” để ôm giấc mộng quá khứ lai từ “Ta về tắm lại dòng sông cũ, truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên” (Tô Thùy Yên). Vậy mà cứ khất lần mãi, mãi giờ đây gã mới có mặt ở nơi chốn này của cái tuổi cóc nhái. Trong cái khỏang không gian chật hẹp ấy, trong cái tranh tối tranh sáng của nửa đêm về sáng, giữa trời đất bao la đồng quê thôn dã. Gã lắng nghe ngòai kia tiếng cóc nhái gọi tình, lúc ồm ộp đứt quãng, khi âm ỉ buồn như trấu cănt. Gã vừa vất vưởng tới “Sông kia rày đã nên đồng, chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai, đêm nghe tiếng ếch bên tai, giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” (Trần Tế Xương). Vừa nghe ông nói chuyện bâng quơ, như ông nói chuyện với chính ông…

Ông đang trở về thực tại, ông gọi đò với chính ông…Chăn tằm hái dâu cũng quần nâu áo vá, đứng đường đứng sá cũng áo vá quần nâu, gã hiểu là mỗi người mỗi số mệnh riêng, không ai giống ai. Vì ông đang lan man về nơi chốn ông đang có mặt, và chan canh đổ mẻ về dân tình đang khăn gói gió đưa vào Nam, như dân Hưng Yên lên Ban Mê Thuột, dân Nam Định vào Lâm Đồng, dân Thái Bình dừng chân ở Biên Hòa, dân Hải Dương xuống mãi tận Cà Mâu. Tiếp đến, ông ăn xó mó niêu với gã về một vùng đất lạ, sầu riêng Long Khánh, bưởi năm roi Biên Hòa…

Ông ru gã vào giấc ngủ chập chờn để thiếp đi lúc nào không hay…

Bỗng không đâu, gã ôm rơm rặm bụng với giấc hòe của ông trong giấc mê hoang: Gã hoang đàng về những ngày năm 54, gã thấy ông nhập hồn nhập vía vào Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hòai…Nếu như ông ra đến Hải Phòng chui tọt vào tầu há mồm thì ông cũng sẽ lại như gã, như con dế trống đi xa, lâu lâu lại nhớ quê nhà gáy chơi. Gã chợt tỉnh giấc mộng hòang lương vì ông trở mình, húng hắng ho khan.

Tiếp đến, gã trằn trọc tự hỏi lâu rồi ông không về thăm làng, nay lại muốn bỏ xứ mà đi, nhưng gã nặn óc nghĩ không ra. Gã lại đắm mình trong giấc mộng chưa chín một nồi kê, gã đã thấy ông vừa hóa thân thành…một con cò già.

***

Ngỡ sáng đi sớm, đến quá trưa hôm sau hai thầy trò mới trở về chốn cũ…

Xe vào tỉnh lộ 39 về huyện Kiến Xương. Ông chỉ cái nghĩa địa ven đường và nói sắp tới làng ông và bảo bác lái ngừng ở đây để vào thăm mộ các cụ. Từ xa, gã cảm thấy trống trải trong cánh đồng ngập nắng. Đến gần thấy mộ này chen chúc với mộ kia, phân trâu phân bò, rác rưởi ngập ngụa chung quanh. Gã nom ròm dăm ngôi mộ mới được tô hồ vữa non, sơn vôi sống nhòe nhọet. Nhìn ngôi sao đỏ trên bia liệt sĩ của họ, gã chẳng dị ứng gì. Gã hiểu rằng sông có khúc người có lúc, ngay khi ở đất khách quê người, trong cái tuổi lá rụng về cội, gã vật vờ với mộ phần gia tiên là cái gạch nối của cội nguồn, của những người tha hương như gã đây. Đang chìm lắng trong một cõi đi về…Ông cho gã hay người ta đã “thủ tiêu” những gì thuộc giai cấp cũ, “thủ tiêu” cả cái sống, cái chết. Vì một tấc đất nghĩa trang làng cũng thuộc về nhà nước. Ông chép miệng bâng quơ “Thế nào là sống: Sống về mồ mả, không ai sống về cả bát cơm”.

Về đến đầu làng, ông chỉ cho gã cây đa sừng sững ở ngã ba đường…

Đến gần ông lắc đầu ngán ngẩm vì xưa kia cổng làng là hai cột gạch, có hai câu đối “Bình bộ nghè địa đa thiểu khách – Vãng lai đạo lý sĩ hiền môn”, diễn nôm làng hiếu khách là…kẻ sĩ, nên tên làng là làng Nghè. Cổng làng không còn nữa, chỉ còn cây đa già khú đế và những chiếc bình của một thời hoang vắng. Trong hoang dã, gã ngắm những bình vôi của các cụ ta xưa được đặt dưới cây đa, do có hương đèn cúng vái mà thành thần, thành ma…Vào đến làng, men từng bước trên lối đi. Vừa đi, gã vừa nghe ông kể lại qua già làng, ngày mới dựng làng lập đình xưa kia lầy lội ngập móng chân trâu. Sau được lát những gạch nghiêng ken sít đều tăm tắp. Đời này qua đời khác, đọan đường dài thêm mãi. Nay trải bê tông thô kệch, đã đè lấp, xóa tan quá khứ mơ hồ của những ông Cống, ôn Cử võng lọng vinh quy bái tổ qua con đường sống trâu thuở xa xưa ấy, những người muôn năm cũ đã đi vào một thời vắng bóng.

Qua một thời vắng bóng, gã hoang vắng đâu đây có căn nhà cột tre cật, kèo tre gai, bên khoảnh vườn cỏ vân, dưới mái nhà tranh vách đất, cụ Nghè ngồi trên chõng tre. Dưới sàn đất trải chiếu cói, ông bác gã và ông đây đang châu đầu vào nhau bình văn luận phú với Tứ thư, Ngũ kinh. Ngoài sân lũ ấu học đầu để chỏm, trong đó có gã. Lũ bạn đang ê a trêu chọc gã: “Nhân chi sơ: sờ vú mẹ Tính bản thiện: miệng muốn ăn – Tam tự kinh: rình cơm nguội” (4). Chợt có tiếng võng cót két, két cót sau rặng chuối ven hè…Thế là gã được thể phang ngang bửa củi ông bác gã là…ông đồ Nguyễn Văn Siêu, ông là…sinh đồ Cao Bá Quát qua giai thoại của một thời khoa cử…

“…Ông Quát tới nơi, đứng cửa sổ dòm vào, thấy một ông đồ khoảng 25, 26 tuổi, ngồi trên một cái chõng cũ siêu vẹo, học trò thì ngồi lê la dưới đất, chứng tỏ là một lớp học nghèo. Thầy đồ Siêu nhìn thấy một anh chàng trẻ tuổi chừng mười lăm, mười sáu, thơ thẩn đứng ngoài cửa sổ nhìn vào, thầy đồ hỏi:
– Anh đi đâu mà đứng ở đây?
Ông Quát trả lời:
– Tôi là học trò đi qua trường thấy thầy giảng văn muốn xin thầy cho vào nhập học.
Ông Siêu muốn thử tài học của anh, bèn nói:
– Nếu thật anh là học trò, thì anh đối thử vế đối này:
“Tiên sinh tọa tịch thượng, cót chi két, két chi cót, cót cót két két”.
(ông thầy ngồi trên chõng, (chõng kêu) cót két, két cót, cót cót két két).
Không suy nghĩ, sinh đồ Quát đối lại ngay:
“Tiểu tử nhập đình trung, thẩn chi thơ, thơ chi thẩn, thẩn thẩn thơ thơ (trò nhỏ vào sân trường, (đi) thẩn thơ, thơ thẩn, thẩn thẩn thơ thơ…”.

Vừa lúc ông và gã thẩn chi thơ, thơ chi thẩn tới một con ngõ quanh co có bức tường bệch bạc, lớp vôi khô queo như muốn bở ra từng lớp gạch đỏ, gột hết cát bụi như đưa ông về thuở ban sơ. Chính những hoang tàn nhỏ nhoi ấy là sợi dây liên hệ mỏng manh với thời gian xa cách. Đứng trên thẻo đất này, rơi rớt lại dăm mái ngói âm dương đã ngả sang mầu xanh rêu mốc như nằm mơ ngủ cả trăm năm. Qua một khúc quặt khác, đập vào mắt ông và gã những căn nhà mới xây như mấy cái hộp “các-tông” nằm chồng chất lên nhau, cái vuông, cái chữ nhật lỏng chỏng với cái cao, cái thấp.

Bước thêm mấy bước là căn nhà xưa kia của thầy bu ông, nay là kho chứa thóc của hợp tác xã, ngõ trúc ao sâu vẫn còn đó, những khóm trúc nay đã lớn như bụi tre, vặn mình như tóc rối, gió đánh rập rờn kêu kẽo kẹt (2). Nhìn xuống cái ao, nước tù xanh om và đầy váng là váng, ngay cả những mảng bèo cũng ngộp thở, không còn sinh khí để sinh sôi nẩy nở. Nhìn lên mái rạ ngả sang mầu nâu đất, ông không tìm thấy khói bếp len lỏi qua lớp rơm trong một chiều tàn năm nào… Hai bên đường là những thửa ruộng khô cằn và héo hắt, trơ trụi những cuống rạ. Gió đưa rào rạt, ông như muốn tìm lại một mùa lúa chín của những vụ mùa, vụ chiêm ngày nào… Nhưng tất cả đã thuộc vào quá vãng, mãi mãi nằm ngủ sâu trong tâm khảm của riêng ông.

Làng phình ra, đồng co lại, chợt thấy một cánh diều nằm chơ vơ cạnh bờ ruộng (2)., ông bước xuống vài bước. Ông dừng lại ngay vì thầm hiểu, cánh diều cũng đã thuộc về quá khứ, không còn thuộc về ông nữa. Ông nhướng mắt nhìn cả cánh đồng, tịnh không một bóng người, con đường sống trâu thiếu vắng hẳn những vết lồi lõm. Ông biết rằng, nếu bước lên con đường mòn ấy, ông cũng dẵm vào lỗ chân trâu. Ông chẳng biết đi về đâu, với đường đi không đến. Ông như cánh diều đứt giây, tìm về thời gian đã mất bên bờ mương ao cá. Để không đâu gã cũng có những đồng cảm với ông, cùng những tiếc nuối xa vắng, âm hưởng qua một dòng nhạc đang ẩn hiện: “Còn đâu nữa. Tiếng hát chim non cây đa trường cũ, với bóng tre xanh đong đưa nhịp võng. Còn đâu nữa. Gió ngát hoa cau trong đêm dần tối, dấu cũ chân ai bơ vơ một mình. Mãi đi hoang, mãi lang thang, lỡ quên đi mái đình xưa đổ nát với những nấm mộ hoang”.

Những nấm mộ hoang…

Mới vừa rồi đây gã ghé thăm nghĩa trang làng của ông giữa đồng không mông quạnh, mồ mả gia tiên ông nằm cô quạnh ở đấy đã bao nhiêu đời, chen chúc với những bụi cỏ gà lay lắt. Còn đâu nữa…Chỉ còn hoang phế cô liêu u tịch của một chốn đi về cùng hương tàn khói lạnh, để ngậm ngùi, những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ. Còn đâu nữa…Chỉ còn là những nấm mộ bên mảnh ruộng sũng nước. Ngay cả ông thầy cũ, gã không tìm thấy hình ảnh ông đồ hay anh khóa nữa, mà chỉ thấy hom hem, cũ kỹ như ngôi miếu cổ, rêu phong ẩm ướt. Còn đâu nữa…Chỉ còn là những nỗi trầm uất của giấy đỏ buồn không thắm, mực đọng trong nghiên sầu và gã bắt gặp ông, như đang gần gũi với miếu đền. Ông nào khác gì chiếc bình vôi lăn lóc dưới gốc cây đa trong hoang lạnh. Còn đâu nữa…Chỉ còn là…

Hay ngay chính gã cũng đang cằn cỗi và thu hẹp.

Chỉ còn là…là nói một cách khác chuyến về thăm nhà lần này, gã như người xa lạ, như Lưu Nguyễn lạc chốn tiên cảnh, cưỡi hạc về trần chỉ thấy quê nhà hoang vắng, xa cách. Bất chợt nhìn lên khỏang không, trời xanh mây trắng nắng vàng, gã thấy…Không phải cánh hạc bay lên vút tận trời, trời đất từ nay xa cách mãi mà là một đàn cò đang giang cánh bay về phương Nam tìm một mảnh đất ấm áp nào đó…

Trong một thoáng mây bay, gã quay quả với mới tối hôm qua đây, trong giấc mơ hoang, gã hoang tưởng ông là con dế mèn phiêu lưu ký về một miền đất ấm tình nồng. Nay nhìn đàn cò, gã lại lây lất tới đàn ngỗng, đàn bướm “di cư” về phương nam trốn lạnh cả mấy trăm ngàn dặm đường. Mấy thế hệ sau, con cháu đàn ngỗng, đàn bướm lại tìm đường bay về phương bắc, về với đất tổ. Như đàn cá hồi lội dòng nước ngược, như gã lúc này đây. Như Hạ Tri Chương với Hồi hương ngẫu thư: “Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi – Hương âm vô cải, mấn mao thôi”. Cuối cùng với bản lai diện mục là: ”Nhi đồng tương kiến, bất tương xứng – Tiểu vấn: Khách tòng hà xứ lai?”.

Nhìn trộm sang ông…Gã bồi hồi thấy ông già rồi, cũ kỹ rồi, ông trở thành cổ kính, và rồi ra cũng thành thần, thành ma không nhà như những cái bình vôi dưới gốc đa đầu làng ấy thôi. Đang xa vắng, vắng xa…Bất chợt từ đằng xa, cạnh cánh diều hồi nãy nằm chơ vơ bên bờ ruộng. Gã nom nhòm thấy có…một con cò già.

Con cò lạc bầy đang lò cò chân đi cà nhắc, cà nhắc tới bờ mương uống nước…

Không hẹn mà gặp, trong tâm thái vô định, ông như hòa nhập vào một mảng váng chiều ướt đẫm. Ông ngẫn ngẫn ngửa mặt nhìn lên khoảng không, đất với trời vẫn u ám, âm ỉ như chậu nước gạo đục. Ông như đang đắm chìm theo đàn cò mất hút vào đám mây xám mỏng tang như bánh tráng trũng.

Từ đằng cuối chân trời, đàn cò mất dần…chìm dần…

                 Thạch trúc gia trang

                Ngộ Không Phí Ngọc Hùng


        Chú thích:

(1) – Tam tự kinh là sách do Vương Ứng Lâm đời nhà Tống viết để dậy trẻ con học

vỡ lòng chữ Hán. Mỗi câu có ba chữ, như nhân chi sơ, tính bản thiện, v…v...

(2) – Đoạn văn này, người viết ăn mày chữ nghĩa của một tác giả khuyết danh khác.

(3) – Câu đối về phở của Thầy Khóa Tư.

(4) – Trích lục Tam tự kinh trong sách Vỡ lòng của học trò xưa được ví von với học trò

cầm miếng bánh đúc chạy quanh nhà thầy để học chữ Hán.

 

***

 Xin xem phụ lục Thái Bình cổ lục liệt truyện kế tiếp…

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2017