05/02/2018
Ngộ Không: Những chiếc thuyền giấy

ben cu con do

Bến Cũ Con Đò – Tranh: Thanh Châu

Nhằm vào khoảng thời gian nào đó với những thúc đẩy nào đấy, người viết có bài

tạp bút viết xong đâu vào đấy rồi…rồi quên bẵng. Mây vẫn bay ngày vẫn qua đi,

khươm mươi niên sau tìm thấy, đọc lại và dòm ra bài viết có cái kết luận: “Rồi ra còn

ai? Còn ai nữa trên những chiếc thuyền giấy…” mà chữ nghĩa ngập những chơi vơi,

bồng bềnh chả ra làm sao cả. Thêm những chuyện đã được kể rồi với chữ nghĩa chắp

vá đây một khúc, kia một đoạn thì ai đọc. Nhưng ngẫm nguội có “mở”, có “đóng”. Đọc và

viết lại không tránh khỏi có thêm, có bớt này kia, kia nọ. Bèn trộm nghĩ: Ừ thì hay là hãy

đóng lại bằng vào vay mượn kết cấu của một tác giả khác xem có…khác chăng.

 

***

Chuyện là ông bạn đời ở phương bắc điện thoại gửi gấm bạn ông tới nhà tôi ăn chực ở đợ một hai bữa. Nghĩ cũng chả tốn kém gì nên ừ. Gã từ Sài Gòn qua đây, ghé thành phố tôi đang ”luân lạc” với riêng tư. Qua ông bạn đời, gã có bút hiệu Ngộ Không và mụ chữ tôi đều bị giời xiềng vào chữ nghĩa như anh tù văn, vì vậy trong buổi phùng trường tác hí thuộc thể loại nhậu văn chương. Mụ chữ tôi lấy ngắn nuôi dài với gã bấy lâu nay tiêu pha chữ nghĩa mục tác giả tác phẩm như nhà văn Lan Khai (1) chẳng hạn cùng những tác phẩm như Truyện đường rừng, Cái hột mận, Lầm than, v…v….

Vậy mà gần đây mụ chữ tôi mới hay biết…

(….) Một ngày gần cuối năm 1945, Lan Khai bị VM thủ tiêu tại Tuyên Quang. Nhà văn của những người lầm than Lan Khai chết thật mờ ám. Như Khái Hưng, đang ăn trưa cùng gia đình, ông được giấy của ủy ban xã kêu lên có việc. Ông bỏ bữa ra đi, đi mãi, đi luôn đến 60 năm sau thân nhân mới tìm được hài cốt ở một vực sâu con suối giữa rừng Tuyên Quang. Lan Khai bị xô xuống vực chỉ vì ông là đảng viên Quốc dân đảng! (…)

Gã nhòm đĩa tiêt canh vịt không nói gì, chẳng biết làm gì không lẽ lại làm thinh, mụ chữ tôi mà rằng vào thập niên 40 với nhà làm văn học Dương Quảnh Hàm (2) qua những tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu, Văn học Việt Nam, Việt Nam thi văn hợp tuyển. Thêm một tác giả với cái chết là nghi án trong văn học sử

(…) Tháng 12 năm 1946, đêm 19, Hà Nội nổ súng đánh Pháp vào lúc 20 giờ, và trong trận đánh ấy, hay ngay trong đêm ấy, có thể trong ngày và đêm sau, trên các con đường của kinh thành, những góc phố của thủ đô, trong khói lửa mù trời, Dương Quảng Hàm đã “mất tích”. Từ điển Tác gia Việt Nam viết: “Ông mất tích tại Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến”. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, cũng một tác giả soạn, hai tháng sau, không dùng chữ “mất tích” nữa. Chỉ viết là ông “mất”. Có một sự cân nhắc nào, và tại sao, Cục xuất bản trong bộ Văn hoá Thông tin tại Hà Nội lại phải can thiệp để tác giả viết khác đi như thế? Từ mất tích đến mất, cái tích kia là thế nào? Có chỗ khác lại nói ông bị Pháp giết. (…)

Đợi gã lùa miếng tiêt canh vịt vào bát rồi, mụ chữ tôi ăn đong ăn vay tiếp…

(…) Có nguồn theo một bài báo ở Hà Nội, đêm nổ súng, ông Dương Quảng Hàm nhìn thấy nhà mình cháy, vì “tiếc sách” trong nhà nên chạy vào cứu, và chết cháy trong đó. Nhưng theo nguồn tin gia đình ông, thì cái chết của ông không thể hiểu như thế. Cái chết của ông, cũng như cái chết của các trí thức yêu tiếng Việt, văn hoá Việt khác, như Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Nguyễn Cát Tường (họa sĩ Le Mur)… là do bị ám hại. (…)

Nhấp một ngụm Cognac, gã Ngộ Không sổ nho “biện tửu bất nan, thỉnh khách nan, thỉnh khách bất ban, khoản khách nan”, mà gã rồ chữ rằng bày tiệc không khó, mời khách khó, mời khách không khó, đãi khách mới…khó. Gã khó thế đấy, nên mụ chữ tôi ngộ ra hầu chuyện gã kiểu nhậu văn chương cũng bộn của vì gã ngụp lặn với chữ nghĩa dăm bữa là ít! Và chuyện của gã bắt đầu với nhà văn Khái Hưng như thế này đây…

***

Năm 2006, gã ra Hà Nội, ghé phố Nguyễn Khuyến tìm ít sách cổ, những sách xưa thật xưa từ thập niên 30, 40 mà năm 54 người Hà Nội vào Nam để rơi rớt lại trên hè phố. Xong việc, khi đứng bên Hồ Tây đợi cà phê xe, cà phê gánh đi qua, những mặt hàng từ thời cụ Tản Đà, cụ Tú Mỡ còn sót lại. Mặt hồ còn lạnh sương đêm. Trời còn tối đất, gã đứng trong cái ánh sáng nhạt nhoà mà lòng thanh thản. Ven hồ còn vắng.

Gã chợt thấy một lão ông ngoài lục tuần đang ngồi gấp những chiếc thuyền giấy thả xuống mặt hồ. Lão gày gò, nước da đen đủi, áo quần đã cũ…Gã để hồn đi hoang và hoang tưởng lão ông đây là ông Phùng Quán trong giai đoạn bị trù dập có thể tóm tắt trong sáu chữ: “Cá trộm, rượu chịu, văn chui”. Vì ông luôn luôn đi câu cá trộm ở Hồ Tây, ông hay ra uống rượu chịu của bà hàng nước đầu phố, cuối tháng vợ lĩnh lương, ra trả nợ. Còn văn chui, chỉ việc ông thỉnh thoảng viết, nhưng ký tên…em vợ ông.

Gã bối rối nhìn trời nhìn đất, trong gã đang tối như đêm, dày như đất vì không biết lão là ai. Chả lẽ không biết làm gì là làm thinh, gã cầm một tờ giấy lên. Lão gật gưỡng nhòm gã, thả xuống một con thuyền khác và đăm đăm nhìn…một chiếc thuyền câu bé tẻo teo nhấp nhô theo sóng nước như…ao thu lạnh lẽo nước trong veo.

Mảnh giấy có chữ…! Hoá ra lão cũng viết…văn chui như ông họ Phùng vậy.

Đọc lươt qua vài hàng, gã nhận thấy đây là một áng văn hay, như ca dao ta có câu văn hay chẳng luận đọc dài, vừa mở đầu bài đã thấy văn hay. Gã dòm lão. Lão nhòm gã. Chỉ có tiếng lao xao của gió vờn lá rụng. Lão cứ nhàn nhã gấp giấy. Gã chậm rãi đọc. Va vào mắt gã là văn bài về Phạm Thái dẫn nhập bằng câu thơ: “Ta mượn nâu sòng che kiếm bạc – Mười năm gió núi lộng thư phòng – Rượu cạn bình khô chiều nắng tắt – Nhớ người tê buốt ngọn thu phong”. Gã trộm thấy văn cách lão nào có khác chân cứ thung thăng bước mà không bị vướng vào câu, tay cứ tự nhiên vung vẩy mà không bị va vào chữ. Nhưng gã chỉ nhớ mài mại theo dạng sử thi cương mục như dưới đây:

Phạm Thái còn gọi là Chiêu Lỳ, sinh tại phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Vào thời Lê Mạt chống nhà Tây Sơn. Mưu đồ thất bại, bị truy nã nên phải ẩn thân chùa Tiêu Sơn, phủ Từ Sơn thuộc Bắc Ninh. Ông nấp bóng cửa thiền, lấy pháp danh là Phổ Chiếu thiền sư.

Sau Phạm Thái trút áo nhà sư để khoác áo thầy đồ ở nhà bạn, gặp em gái bạn là Quỳnh Như, cả hai làm thơ hẹn ước nên duyên tơ tóc, nhưng bà mẹ không chịu, Quỳnh Như đau buồn quyên sinh. Ông đâm ra bất đắc chí vì đại sự không thành, duyên nợ lỡ dở nên lang thang đó đây, uống rượu tiêu sầu để quên đời. Phạm Thái soạn Chiến tụng Tây Hồ phú và truyện Sơ kính tân trang bằng chữ Nôm về chuyện tình của ông.

Đến thiên niên kỷ 20, Khái Hưng dựa vào Sơ kính tân trang của Phạm Thái. Khái Hưng cũng vào chùa Tiêu Sơn viết truyện Tiêu Sơn Tráng Sĩ…

Đọc xong, gã len chân vào chuyện là Khái Hưng cũng đi đây đó vào chùa Thầy tại núi Sài Sơn ở phủ Quốc Oai, Sơn Tây. Sau ba tháng đàm đạo với sư trụ trì, ông thông thạo về đạo Phật, chuyện Từ Đạo Hạnh, nhất là chùa chiền. Ông học chữ Hán qua 18 vị La Hán ở hậu sự đường. Nhờ vậy ông dịch thơ Đường của Lý Bạch nào có khác gì Phạm Thái với những câu như: “Thiếp ngắt hoa trước cửa – Chàng cưỡi ngựa trúc đến”. Rồi tiếp đến: “Sầu lớn nghìn muôn mối – Ba trăm chén rượu ngon – Sầu nhiều rượu tuy ít – Rượu nghiêng sầu phải bon”.

Lão ừ hử: “Vậy ư!”. Vậy ư xong, lão lực đực với gã:

Ngoài ra Khái Hưng còn vào chùa Long Giáng ở Đông Triều viết Hồn Bướm Mơ Tiên. Đây là tác phẩm đầu tay và cũng là tác phẩm đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn. Năm sau, trong một chuyến đi thăm chùa Tiêu Sơn ở Bắc Ninh. Vì ông đã từng giao du với một số vị sư mà ông quen biết trong cuộc đời nay đây mai đó trước khi về Hà Nội dạy học ở trường Thăng Long. Cũng vì những vị sư ở đây và cảnh chùa Tiêu Sơn gợi cảm, đã thúc giục ông viết Tiêu sơn tráng sĩ.

Cả hai vừa nói chuyện trống không vừa nhìn con thuyền giấy đang lờ lững bên ven hồ, nó không chịu trôi ra xa. Không khéo nó là một phần máu thịt của lão, dù lão có hắt hủi nó cũng không nỡ bỏ đi. Gã chẳng biết làm thế nào, chẳng nhẽ lại đứng nhìn lão xua đuổi những đứa con tinh thần do lão đẻ ra. Gã xắn quần lội ra ven hồ. Gã vớt chiếc thuyền giấy. Lão ngẩn ngơ nhìn rồi lại tiếp tục thả con thuyền khác. May mà buổi sáng bên hồ không có người, nếu có họ lại cho gã là thằng hâm hâm cũng nên. Đất nước, con người bây giờ làm gì cũng vì miếng cơm, manh áo, có ai lại như lão viết chuyện tình áo sòng, áo nâu của ông sư Phạm Thái. Mà gã cũng vậy, khi không mang chuyện “ông đồ” Khái Hưng vào chùa học chữ Hán, chữ Nôm vào cái buổi tháng ba ngày tám ăn đong ăn vay này? Ai chứ với Khái Hưng, vì gối đầu lên chữ nghĩa bấy lâu nên gã hay biết cóc nhái qua tác giả Hoàng Yến Lưu với bài viết Nửa chừng xuân của Khái Hưng thì từ toà soạn ở đường Quán Thánh, ông thường ra hồ Trúc Bạch, uống cà phê gánh.

***

Nhặt cái thuyền dạt vào ven bờ, trở lại cái ghế đá, gã giở bản thảo của lão ra đọc.

Và ớ ra vì vừa nhắc đến cái ghế đá qua bài viết Nửa chừng xuân…trên thì dịch giả truyện Liêu trai chí dị là Khái Hưng hiện ra trước mắt gã trên giấy ngay đây…Hồn ma bóng quế Khái Hưng hiện về trong một cõi đi về với những u mê ám chướng…

clip_image002

“…Khái Hưng đã chết như thế nào? Từ lâu, mỗi lần gặp lại tên Khái Hưng, tôi (Dương Nghiễm Mậu) lại nghĩ đến điều đó, cùng lúc tôi muốn biết Khái Hưng, Tự lực văn đoàn, cũng như tất cả những người ở thế hệ Khái Hưng họ đã nghĩ gì, làm gì. Họ đã hoạt động trong giai đoạn kháng chiến ra sao? Tại sao Cộng sản thủ tiêu Khái Hưng? tôi nhớ câu thơ ấy của Thanh Tâm Tuyền. Khái Hưng đã bị thủ tiêu, điều ấy đã chắc.

Trong thời gian làm tờ Văn Nghệ tại nhà in ở đường Cô Bắc, tình cờ tôi được nghe truyện về Khái Hưng, người nói chuyện giới thiệu là một người cháu về đằng bà Khái Hưng, người này nói chính ông đã gặp Khái Hưng lần cuối vào ngay buổi chiều cán bộ V.M. bắt Khái Hưng dẫn đi, bọn cán bộ này là một thứ du kích tự vệ xã, Khái Hưng mặc quần áo thường, người kể truyện gặp Khái Hưng ở đầu làng, Khái Hưng có nét mặt rầu rầu buồn bã mỉm cười và giơ tay chào. Sau đó, người nói chuyện bảo dù rất kín, mấy tên du kích đã lộ ra rằng họ bỏ Khái Hưng vào bao bố đâm chết rồi quăng xuống sông.

Không hiểu ngoài những điều mơ hồ, không có gì làm bằng chứng kia, còn có những điều nào khác được kể về cái chết của Khái Hưng? Có điều Khái Hưng đã chết. Khái Hưng đã chết thực và tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng – theo như ghi chép – để lại cho chúng ta là tác phẩm Băn khoăn…”

Vuốt chiếc thuyền giấy cho thẳng nếp, gã đọc tiếp một đoạn khác của con đẻ của Nhất Linh và là con nuôi của Khái Hưng (tác giả gọi ông bằng “papa”). Bài viết kể về những kỷ niệm, những ngày cuối trước khi ông bị Việt Minh bắt và đưa đi thủ tiêu…

“…Mờ sáng hôm sau tàu giạt vào bờ bến Mễ vì sợ tàu bay bắn phá. Gia đình tôi phải tạm ngụ ở làng ven sông rồi sau thuê xe tay đi về quê. Hai ngày sau mới về tới Dịch Diệp, quê me tôi, cách tỉnh lỵ Nam Định chừng 20 cây số. Sắc mặt papa có vẻ vui hơn, không còn đăm chiêu như mấy ngày ở Hà Nội nữa.

Vài hôm sau, một chiều hai thanh niên mặt lạ tới “mời” papa lên huyện. Cả nhà thất sắc nhưng papa chỉ vào cái phù hiệu của Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam do chính tay Trần Huy Liệu tặng còn gắn ở ve áo, bình tĩnh nói “Chắc không có chuyện gì đâu, để tôi đi xem sao, bây giờ kháng Pháp là lúc cần đoàn kết, đâu có chuyện bắt bớ bậy bạ!”

Khi papa ra đã tới gần đầu ngõ, mẹ tôi chợt nhớ vội gói mấy quả cam đường vào tờ kinh cứu khổ rồi bảo tôi: “Con chạy theo đưa papa mau lên, nói papa nhớ tụng kinh luôn, lạy trời phật cho tai qua nạn khỏi”. Tôi chạy theo đưa papa nói vội: “Cam đường papa nhớ ăn, kinh cứu khổ papa nhớ tụng!”

Tôi đi theo đến đầu làng, dáng papa thất thểu vác tay nải mệt nhọc đi trước, tên công an đi theo sau. Đi mãi, đi mãi rồi khuất hẳn sau dãy tre, chắc là đi về phía sông Hồng xa lắc đằng kia. Tôi bàng hoàng trở về nhà, miệng còn lẩm bẩm:

“Tội nghiệp, không biết papa có nhớ ăn cam đường và tụng kinh cứu khổ không?…”

Và thêm một đoạn văn ở trong nước của ai đấy tiếp nối theo con nuôi Khái Hưng:

“…Một số tài liệu cho rằng Khái Hưng bị Việt Minh bắt giam tại Liên Khu 3 (Lạc Quần, Trực Ninh) rồi đem xử tử hình ở bến đò Cựa Gà, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Theo con nuôi Khái Hưng, thì Khái Hưng mất tích sau Tết Ðinh Hợi (22/1/1947).

Hồi còn dạy học ở thị trấn Vĩnh Bảo, Hải Phòng năm 1973, tôi đã nghe chính miệng những du kích Thái Bình, những kẻ thừa hành bản án kể rằng họ được lệnh bỏ rọ trắm xuống sông nhà văn Khái Hưng trong Tự lực văn đoàn. Kẻ hành quyết kể lại thái độ của Khái Hưng rất bình thản, ung dung chui vào rọ nứa cho họ trần buộc dây, gài đá, vần xuống sông. Ở dưới đáy sông sặc nước, chắc nghẹt thở lắm…Khái Hưng chết chỉ vì ông là đảng viên đảng Đại Việt!…”

Cùng một cõi đi về, gã bần thần vì bị ám ảnh bởi truyện của Bồ Tùng Linh (Khái Hưng dịch) vừa rồi có chút nào sa đà với chữ nghĩa chăng. Thế nhưng làm như có hồn ma ám chướng hay sao ấy: Những tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng mới được tìm thấy làm như có cùng một dòng sinh mệnh với tác giả như: Băn khoăn. Hay với tâm tư của một người viết trước cảnh cốt nhục tương tàn trong cuộc chiến Quốc Cộng đang diễn ra với các truyện ngắn gồm: Lời nguyền,  Khói hương, Khúc tiêu ai oán...

***
Lão lặng lẽ thả khoảng chục con thuyền giấy. Người thả thuyền hết giấy. Người vớt thuyền làm như nao nuốt, với những nắn nuôi. Gã ôm những con thuyền giấy lên ghế đá ngồi, gỡ từng con thuyền, xếp lại theo trang. Đó là những tờ giấy bị nước hồ dày vò đến thảm thiết. Người hết giấy gấp thuyền dật dờ châm thuốc. Người vớt thuyền ngồi tư lự. Mùa hè nắng đỏ, nắng ơi ơi gọi nhau cứ tao tác cả lên. Gã muốn đi đâu đó, nhìn quanh quất, những gánh cà phê hay xe cà phê dạo cũng biến đâu mất theo những chiến thuyền giấy. Gã chợt nhớ đến câu thơ của hiền nhân Phạm Thái: “Sống ở dương gian đánh chén nhè – Thác về âm phủ cắp kè kè – Diêm vương phán hỏi mang gì đó – Be”.

Vì vậy gã rủ rê lão đi ăn…thịt chó. Ngồi trong quán nhà sàn ở khu Nhật Tân. Lão lơ đãng đảo mắt ra ngoài bờ đê, gió sông Hồng hiu hiu thổi. Lão như cái bóng ngồi im. Im ắng. Gã chiêu niệm chữ nghĩa tiếp. Văn chương thiên cổ sự của lão vẫn thế, chỉ phẩy vài cái mà lột được hết hồn vía của nhân vật. Gã bày tỏ cảm nhận, cảm quan với lão. Lão đang nhìn ra ngoài khoảng không. Chỉ có tiếng ầm ì của sóng nước, và…

Và những con chữ nhẩy múa trên mặt giấy trải phẳng phiu trên bàn…

Mỗi năm hoa đào nở, tôi (Hà Sĩ Phu) lại đến thăm nhà thơ Tú Sót. Ông kể lại cho tôi nghe buổi “hầu chuyện” với cụ Vũ Đình Liên cách đây đúng 15 năm. Ý định ghi lại xuất xứ bài thơ Ông đồ đăng trên báo Tinh Hoa năm 1936 được ông Tú ấp ủ từ năm 1989, nhưng rồi cứ nấn ná chưa thực hiện được. Một buổi chiều thu nhạt nắng, sau khi thắp hương viếng phần mộ nhà văn Vũ Trọng Phụng, ông đồ xứ Nghệ đã mời nhà thơ Vũ Đình Liên lại nhà mình để được hầu chuyện.

Kể lại kỷ niệm này, ông đồ xứ Nghệ rưng rưng:

Rất ít người biết bài thơ Ông đồ của cụ Vũ Đình Liên nặng kỷ niệm về người vợ tảo tần. Bà chỉ là cô hàng xén ở phố Hàng Bồ. Cụ khi đó là anh chàng thư sinh học trường Bưởi, ngày nào cũng đi qua con phố có cô hàng xén đó và chàng trai trẻ này đã phải lòng gánh hàng chỉ có kim, chỉ, đèn dầu, ngoài ra bên cạnh cô hàng xén còn có một ông đồ già ngồi viết chữ. Thời đó, kẻ sĩ là ông đồ nghèo đến nỗi không có nhà phải ngồi ở vỉa hè để bán chữ, không có cả tiền mua giấy nên phải ngồi bên cô hàng xén. Để khi có khách đến thuê viết, ông đồ chỉ cần với tay về phía cô hàng xén: “Này, cô cho tôi nhờ tờ giấy, nhờ cái bút”, vậy là được cả đôi bên. Họ cứ dung dị gắn bó mưu sinh với nhau ở một góc vỉa hè chật chội. Họ ngồi cạnh nhau trên hè phố cùng kiếm sống qua ngày.

Cụ Tú Sót chậm rãi: “Thơ không phải lúc nào muốn là bật ra được, nó phải là những cảm xúc căng chật trong lòng với những khắc khoải”. Ban đầu, cụ Vũ Đình Liên khắc họa hình ảnh Ông đồ : “Hàng Bạc đi lên Hàng Bồ, trên đường đi học, ông đồ buồn thiu” thế thôi. Một ngày xuân, nhà thơ đi qua con phố thân thuộc đó, bỗng thấy trống vắng, chỉ còn những bậc thềm hoang lạnh vì không thấy ông đồ đâu nữa. Người đời lãng quên ông đồ, lãng quên luôn một nét văn hóa dân gian. Chỉ kịp nghĩ đến đó, nhà thơ bỗng bật lên nỗi niềm thương xót của kẻ hàn nho mãi tự: “Năm nay đào lại nở, không thấy ông đồ xưa, những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ”. Tâm sự với người bạn thơ Tú Sót, cụ Vũ Đình Liên mắt ngấn nước: “Nhưng ông ạ, có lúc tôi cảm hoài bài thơ Ông đồ hình như không phải của mình mà là tiếng nói từ ngàn xưa vọng lại”.

Cuối trang giấy, lão ghi lại cô đọng: Ông Tú Sót gắn những năm cuối đời của mình ở góc phố Bà Triệu. Ông đã mãi mãi trở thành “người muôn năm cũ” từ mùa hạ 2006.

Gã tự hỏi “Ông đồ Nghệ Tú Sót” nào đây? Sách vở mua cả đống ở phố Nguyễn Khuyến, Hà Nội để đó, vì vậy gã đâu có hay ông Tú là bóng chiều đậu xuống bờ vai, đời còn sót lại một vài bóng quen của lão thả thuyền giấy. Thế nên gã đắm chìm trong một thời nho học với áo the, guốc mộc qua một chiếc thuyền giấy khác về một bến đò:

clip_image004

Tranh “Ông đồ xứ Nghệ” được vẽ

phỏng theo bức“Ông Đồ Vũ Đình Liên”

của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái.

“…Nhà thơ Tú Sót tức Chu Thành, hay Chu Thành Thi vừa tạ thế ngày 27-3-2006, thọ 77 tuổi. Không thể kịp ra Hà Nội tiễn đưa người bạn quý, tôi (Hà Sĩ Phu) ngồi ở Đà Lạt, bùi ngùi tiếc thương. Thơ ông ngay cả khi châm biếm sâu cay vẫn cứ nhân ái. Trong những lúc trà dư tửu hậu, Tú Sót thường đọc “tếu” với bằng hữu câu:

Hôm nay mồng tám tháng ba
Tôi giặt hộ bà cái áo…của tôi

Câu thơ hóm hỉnh, đùa cợt, đẫm tình người với người vợ khuất núi, Tú Sót đấy. Tú Sót không tô vẽ, đẽo gọt cùng thời thế với với thế thái nhân tình…

Cổ eo, thân rỗng, mồm loe
Nhớp nhơ cái bụng, lại khoe cái mồm
Bị người phỉ nhổ luôn luôn
Thế mà vẫn cứ giơ mồm ra khoe!

Thấy gã ngẫn ngẫn trông thấy, lão um tùm bài thơ có tên là Cái ống nhổ. Vì ông Tú Sót Chu Thành đồng thanh tương khí với ông Tú Sơn Phan Khôi qua Ông bình vôi. Bài này Phan Khôi đồng khí tương cầu với bài thơ Cái bình vôi của Lê Đạt…Cũng như ông Tú Sơn Phan Khôi có bài Cái loa, thì ông Tú Sót Chu Thành có bài Cục tẩy

Càng ăn lắm, càng bé đi
Mềm như cái lưỡi chuyên nghề sửa sai
Người sai mình cọ mình mài
Khi mình khuyết phạm đố ai sửa mình?

Đang vun chuyện đến đây, khi không lão ngừng ngang xuơng và giơ tay ới người phục vụ như gọi đò sang sông…gọi cái chả chìà. Gã lúi húi lâm râm đọc tiếp:

“…Năm 1988, lúc ấy những người có chút lòng ưu thời mẫn thế tự nhiên cứ tìm đến nhau, rất hồn nhiên và vì trong nhóm chưa ai bị gây khó khăn. Tú Sót đến tôi chơi. Ông thử tôi bằng một vế đối: Bác bôi tôi, không bằng tôi bôi bác.

Ông chơi chữ thật hóm ở hai chữ cuối: bôi bác. Bôi bác là hai chữ rời thì nghĩa khác, là một từ kép thì lại nghĩa khác, bácbác nọ lại là bác kia. Tôi hỏi đã ai đối chưa. Tú Sót bảo Hữu Loan đối rồi, và đọc: Mày ăn dân hết nước, dân ăn mày.

Thú thật nghe xong tôi khoái trá lạ lùng. Quan hệ bác với tôi đã được Hữu Loan chuyển thành mày với dân. Đem chữ mày (ông Hồ) đối lại với chữ bác (ông Hồ). Chữ hết nước đã tài, nhưng “mày ăn dân, dân ăn mày” khiếp quá. Chữ ăn mày là thần bút, ăn mày là một từ kép thì nghĩa đã hay, nhưng là hai chữ rời thì quá tuyệt. Quan hệ ăn thịt nhau (Œil pour œil, dent pour dent mà!) thì chính là quan hệ kẻ thù. Đúng là Hữu Loan.
Từ đấy tôi với Tú Sót thành thân thiết. Một ông đồ Nghệ rất thâm nho. Cái thâm nho đã gửi vào đấy, vào cái hồn nhiên. Trong một xã hội mà con người đã mất hẳn sự hồn nhiên, cười không ra cười, khóc không ra khóc, thì mơ ước đơn giản của Phùng Quán chỉ là “Yêu ai cứ nói là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét” trở thành ảo vọng, nên chẳng trách Tú Sót. Ông “dấn thân” theo cách riêng của ông. Ông “phản kháng” vừa với sức của ông, nên ông cứ vững vàng túc tắc đi tới, không quá sức nên không phải lùi.

Tôi giữ mãi hình ảnh cuối cùng của ông trong lần tôi đến bệnh viện Hữu nghị thăm ông trước ngày ông mất ba tuần. Tôi ghé tai ông, đọc ông nghe mấy lời tôi vừa cảm tác:
Tú còn Sót lại hôm nay
Cũng vùng đất chở trời che, đừng buồn
Văn chương, chữ nghĩa có hồn
Nghìn năm nghiên bút không mòn Tú ơi

Được tin ông mất tôi buồn, vừa buồn, vừa nhớ, vừa tiếc. Thi hài ông được hoả táng theo đúng nguyện vọng của ông: “Thác làm than củi cho đời ấm thêm!”. Ông thành than củi cho đời ấm thêm. Vĩnh biệt Tú Sót, hằng mong non sông mình còn để “sót” lại những ông “tú” như thế, những cậu tú, cô tú trên khắp non sông cẩm tú này.

***

Gặp buổi nắng không ưa mưa không chịu, lại tới tuổi tịch dương vô hạn hảo, bỗng dưng mang cái tâm thái sĩ tử Văn Miếu một thời văn học trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia rượu vẫn còn trơ trơ. Có đĩa chả chìa, thế là gã làm một chai rượu Làng Vân. Trong phiêu bồng, gã râm ran với lão cũng muốn có một văn bài có văn có truyện về những người xưa năm cũ như Nguyễn Bá Trác, Chu Thiên. Bởi gã thống khoái bản Hán văn Hạn mạn du ký trong đó có bài Hồ Trường. Với cái chết Nguyễn Bá Trác cũng là một nghi án trong văn học sử với công và tội. Ông là chủ bút phần Hán văn của Nam Phong tạp chí do Phạm Quỳnh sáng lập. Tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, ông bị xử bắn ở Quy Nhơn, Phạm Quỳnh bị xử bắn ở Huế.

Còn Chu Thiên, gã tâm đắc Bút NghiênNhà Nho, nhưng khác với Nguyễn Bá Trác, vì hợp tác với Việt Minh, nhờ Bút Nghiên và Nhà Nho nên lên như diều gặp gió và được tôn là “Chu Thiên, gương sáng nhà nho chân chính”. Lão ậm ừ rằng gã cũng nho táo quá lắm với thiên trời địa đất, cử cất tồn còn, tử con tôn cháu, lục sáu tam ba…Tiếp, lão khủng khẳng rằng cũng “tồn nho, tồn cổ” như Chu Thiên, tuy nhiên cụ Đồ Tố, hay cụ “Đầu Xứ Tố”, xứ Bắc Ninh lại khác, nhưng ấy là chuyện sau.

Tiếp đến lão hỏi vậy chứ gã có biết tác giả của bộ Hán Việt tự điển không?

Nói xong lão đưa thêm cho gã một…cái thuyền:

“…Thiều Chửu tên thật là Nguyễn Hữu Kha, tự Lạc Khổ, sinh năm 1902, xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Trung Tự, phường Đông Tác, nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Thân phụ của ông là Nguyễn Hữu Cầu, quen gọi là cụ cử Đông Tác, một trong những người sáng lập phong trào Đông Kinh nghĩa thục, vì tội chống thực dân Pháp nên bị đày đi Côn Đảo.

clip_image006

Tử thuở nhỏ, ông bẩm sinh là người đa sầu đa cảm, chính ông từng kể về tuổi thơ của mình rằng: “Nhà nghèo quá, lúc đó mẹ tôi đã sinh đến 6 con. Nhiều con càng túng thiếu nhiều. Chị em tôi 7, 8 tuổi đã phải tập làm rồi: chăn bò, cắt cỏ, gánh nước, thổi cơm, nấu cám lợn, chả làm được cũng phải làm, con đàn ai chiều? Mười tuổi đã phải tát nước, 12 tuổi đã tập cày bừa… Năm tôi 14 tuổi, bố bị giặc Pháp bắt, khép án 10 năm, bị đày ra Côn Lôn… Mẹ tôi lúc này khổ quá, đẻ được 3 ngày đã phải đi làm, đi thăm bố tôi…

Năm 16 tuổi, ông một mình xuống Đồ Sơn bán thuốc Nam và bánh kẹo kiếm sống, nhưng vì tin người nên mất hết vốn, nên suốt 2 năm trường đành phải làm phu kéo thuyền, đẩy xe, thậm chí có lúc phải đi ăn mày, nhưng cũng nhờ khoảng thời gian ấy mà ông ngày càng tin yêu triết lý cứu khổ cứu người của đạo Phật. Ông bắt đầu dịch kinh Phật, lấy bút hiệu Lạc Khổ (vui trong cảnh khổ), ít năm sau đổi thành Thiều Chửu (cây chổi bông lau quét sạch mọi thứ rác nhơ trong tâm thức).

Ông dịch nhiều kinh Phật căn bản như: Kinh A Di Đà, Thủy Sám, Địa Tạng, Kim Cương Bát Nhã,…Tây du ký (1933-1934). Riêng bộ Hán Việt Từ Điển ở lời nói đầu, ông đã viết lên thao thức của mình về Nho học: “Tôi tự nghĩ rằng Hán học thời nay đang ngày một mất dần, chỉ nhờ có học Phật thì may ra mới duy trì được ít nhiều..” . Thiền sư Lê Mạnh Thát từng nhận xét về bộ Hán Việt Từ Điển của Thiều Chửu: “Những người Việt học Hán Văn không thể không cúi đầu tri ân công trình văn hóa bất hủ mà Cụ đã để lại cho đời”. Mặc dù từ điển của ông đơn giản hơn cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, nhưng uu điểm từ điển của ông là cách tra chữ được xếp theo Bộ Thủ, đếm chữ theo số nét. Ngoài ra còn có bảng tra các chữ khó đếm nét, cách tra theo mẫu tự A,B,C rất tiện lợi cho người học, sau này còn có cách tra theo phiên âm Bắc Kinh.

Năm 1945, ông Hồ mời ông ra làm bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong chính phủ Lâm thời, ông từ chối. Nhưng tiếc thay, năm 1954 trong khi ông và đoàn tế sinh đang cư ngụ tại xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, thì miền Bắc tiến hành phong trào cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản địa chủ, làm cho không ít nông dân bị hàm oan, thống khổ. Thêm sự kiện “tai bay vạ gió” là lời vu cáo ông thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Thậm chí ông còn bị “xỉa xói mắng nhiếc luôn ba bốn giờ, vu cho đủ các tội ác, dùng những lời nói rất khinh bỉ hà khắc, chỉ khác với đấu tố là chưa phải quỳ mà thôi”.

Để chứng minh cho sự thanh bạch của mình, ông viết một bức gởi ông Hồ:

“Cái án “mạc tu hữu” (tức vu cáo, ông viết chữ Nho) mà Nhạc Phi phải chịu còn có lẽ, ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn biết van vỉ làm sao được nữa”.

Đêm 15 rạng ngày 16 tháng 6 năm Giáp Ngọ 1954, tức cuối ngày giỗ cha, sau khi từ biệt học trò, lễ tạ bốn phương, ông ra thác Huống trên sông Cầu tại xã Vạn Thắng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên gieo mình xuống sông. Cái chết “Thiên cổ kỳ oan” của ông đã gây tiếc thương vô hạn trong dân chúng địa phương, một học trò của ông, kể ông có dặn đừng vớt xác ông, nhưng các học trò không ai nỡ làm thế.

Môt nhà phê bình văn học trong nước đánh giá: “Thiều Chửu là một con người chân chính, một nhà trí thức lớn của dân tộc” và tặng ông câu đối: “Nửa kiếp trầm luân, bác cổ thông kim, lòng bốn bể – Trăm năm phù thế, cứu dân báo quốc, phép muôn đời…”

***

Những cái chết thiên cổ kỳ oan nằm trong những chiếc thuyền giấy được lão thả xuống triền cát. Theo triền dốc thoai thoải, chúng lay lắt theo ngọn cỏ gió đùa có hai ba chiếc thuyền vướng lại đám cỏ gà. Bỗng không gã liên tưởng đến phố Hàng Mã với vàng mã, hai ba chiếc thuyền kia là những chiếc quan tài giấy. Gã không biết ai đấy còn nằm trong chiếc quan tài đó. Trong một ngày đất trời như trùng hẳn xuống, gió thổi mây xoắn tít, bốc những chiếc thuyền kia như cánh diều theo gió bay đi về mạn sông Hồng.

Những chiếc thuyền giấy sẽ theo dòng nước trôi ra biển rồi trôi dạt về đâu. Ắt hẳn là theo con nước đậu về cảng Phòng có đảo Cát Hải với Khái Hưng, với mộ gió, mộ chôn những người mất tích, trong quan tài hình nhân thế mạng cho xác người là hình nhân bằng giấy ở phố Hàng Mã. Hay bến bờ Trà Khúc ở Quảng Ngãi có ông Tú Sót. Mà dám cũng có chiếc thuyền nào đó lạc về sông Cầu có thác Huống với ông Thiếu Chửu, với đám ma khô cúng cho người chết vì sông nước.

Bỗng không gã lại tư lự, vì lại thêm một ông đồ nữa,

Đầu sông bến bãi thì gã đang lạc vào một bến sông để hoài cổ, hoài cố nhân, hoài cố quận những ông đồ sa cơ lỡ vận, thảng như “ông đồ” Khái Hưng do gã…tìm thấy. Còn lão đây với ông đồ Vũ Đình Liên, Tú Sót, nay thêm Thiếu Chửu, làm như lão muốn đập cổ kính ra tìm lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi với một thời nghiên bút. Hoặc lão đang tìm về lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương qua nghìn năm gương cũ soi kim cổ, cảnh đấy người đây luống đoạn trường cùng nước còn cau mặt với tang thương…Cùng tang thương ngẫu lục, bến ngộ đâu không thấy chỉ thấy bờ mê bến lú, gã lú lẫn nhìn lão mắt tròn dấu hỏi (?). Lão ừ à. Lão vỗ vai gã đứng dậy, người thẳng đứng như cái chấm than (!). Gã thầm nhủ đã đến lúc phải chia tay…

Những con thuyền giấy đang theo gió bay đi chia tay lão về một bến vắng.

Lúc này gã mới ớ ra chưa biết danh tính lão. Gã đứng lên thủ lễ vấn danh. Lão gật đầu và gật gừ rằng quên không kể cho gã nghe chuyện một người làm văn sách:

“…Gần ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, Hội Văn nghệ họp trên đồi Nhã Nam. Cuộc đấu tố văn nghệ sĩ diễn ra gay gắt căng thẳng. Người ta đã vu cáo những chuyện tày trời, quyết liệt dồn người làm văn vào tận chân tường. Tác giả Lều chõngViệc làng đã phạm tội phục cổ nhằm mục đích gì? Và, ông đã qua đời vào đêm 20 tháng 4 năm 1954 bằng cách thắt cổ tại nhà riêng ở Yên Thế, Bắc Giang. Cái sự chết của người làm văn khắc nghiệt đến mức nghĩa trang ở địa phương từ chối không cho chôn…”

Lão nhìn gã xa vắng. Rồi tắt lặng. Trong không gian ắng lặng, gã mường tượng đến trên ngọn đồi Nhã Nam ở núi đồi Yên Thế như Đỉnh gió hú có một căn gác u ám. Gã hình tượng trong căn gác lạnh lẽo có một cái ghế đẩu, cái sà ngang. Gió thổi rì rào. Chui vào đầu gã là cái thòng lọng giây thừng lủng lẳng, lủng lẳng. Lão đập nhẹ vai gã cái nữa, miệng giật giật như muốn nói… Một cơn gió lạnh lùa vào phòng, mang theo tiếng âm u, u vắng của người xưa vừa xa, vừa gần của…ông đồ Ngô Tất Tố: “Đừng đánh tôi…Tôi bị oan… Đừng đánh tôi…Tôi bị oan…”

clip_image008

Gã giật mình vì giọng nói của cụ Đồ Tố mang âm hưởng của lão thì phải. Mà lão nào phải là Khái Hưng với Liêu trai chí dị. Ấy là đừng nói đến Bồ Tùng Linh, vì vừa rồi gã vừa “hoài cổ”, hoài đồng vọng gì đó thì nghe chuyện cụ Đồ Tố vì “phục cổ” mà phải tìm cái chết. Thêm vài chuyện gã định gọi lão lại để hỏi thì bóng lão đã khuất nẻo gần cuối con đường Nhật Tân. Bờ vai còm cõi, dáng đi gù gù như chúi người về phía trước. Lão và cái bóng “Ông đầu xứ Tố” xa dần. Gã muốn hỏi cho ra chuyện phải chăng người đời gọi ông vậy vì ông đỗ đầu kỳ thi khảo hạch ở Bắc Ninh năm 1915 chứ chưa đỗ thi Hương. Người đọc sách biết ông qua Tắt đèn, Việc làng, Lều chõng, Kinh dịch. Ngoài ra ông còn chú giải và dịch Hoàng Lê nhất thống chí. Hai cái bóng ngả nghiêng xa dần. Cả hai nhập làm một như hai cái chấm (:) mất hút ở một góc đường không một bóng người.

Gã bần thần trong phút chốc, gã bâng khuâng trong giây lát với câu thơ “Chữ nghĩa của người này – Là cái bóng của người kia”. Với gã thì cụ Đồ Tố không ngoài “Bao năm tháng thân chìm vào bóng – Thân về trời bóng vẫn ngồi im”. (thơ Hoàng Vũ Thuật)

***

Đến tao đoạn này vừa lúc gã kể hết chuyện…Nhấp một ngụm Courvosier, gã Ngộ Không hấm húi với mụ chữ tôi là: “Bạn già đừng để chiếc thuyền giấy trôi đi, nếu nó trôi đi thì nó sẽ trôi đi mãi”. Mấy ngày dăm bữa qua mau, trước ngày trở về thổ ngơi bản quán, tôi bày thịt nướng giả cầy ướp mắm tôm cũng đầy đủ lễ bộ riềng, lá mơ. như ở quán thịt chó Nhật Tân để tống tiễn gã. Bốc điện thoại viễn liên báo đời…với bạn đời ở phương bắc là gã đã hồi cố quận rồi. Nhân tiện mụ chữ tôi bày tỏ “cảm gác” chuyện những chiếc thuyền giấy ma quái sao ấy nên không biết gã kể có thật không! Vì gi mà với đám ma khô làm như đám ma thật với xôi gà, oản chuối. Lại thêm mộ gió, trong quàn tài không có xác người, nên phải thay bằnh hình nhân hàng mã xanh xanh, đỏ đỏ. Cách rách thêm lão ông rách giời rơi xuống phải chăng là hồn ma bóng quế cụ Phùng Quán? Và quái ngại gã bạn của bạn đời từ lỗ nẻ chiu lên là ông cố nội nào vậy?

Bạn đời cười cái hậc mà rằng: “Gã Ngộ Không “hiện thực giả, hư cấu thật” đấy, bởi thời buổi này làm gì có cà phê gánh với cà phê xe”. Bạn đời bòn mót tiếp: “Chuyện của gã Ngộ Không trong cái thật có cái giả, trong cái giả có cái thật”. Và dóng dứ: “Thật ra gã và lão thả thuyền giấy là…một, là…khi hai người gặp nhau, họ chỉ còn một bóng.

***

Ngày đó, mặc ông bạn đời phương bắc rách chuyện…

Bây giờ quay quả trở lai với khươm mươi niên trước gặp buổi mưa chiều gió sớm, mụ chữ tôi nổi trôi theo những chiếc thuyền giấy với những người đã đi vào quá vãng. Ngày ấy theo con thuyền lặng lẽ trôi mang theo người trăm năm cũ đang đi vào quên lãng. Bao năm trầm luân trong bể phù sinh, ấy vậy mà trong mụ chữ tôi vắng bóng những tác giả vang bóng một thời, cùng một thời vang vọng với một vũng tang thương nước lộn trời. Và rồi khi không mụ chữ tôi có những cảm hoài mang mang gió nồm rồi lại gió hanh, bể dâu thì đành bể dâu, thuyền ai phiêu bạt ví dầu à ơi…À ơi qua những ngày tháng đắp đổi, nay mụ chữ tôi đang nhập hồn nhập vía vào gã Ngộ Không với bài tạp văn mập mờ nhân ảnh mịt mùng gió mây này đây với kết luận:

“Rồi ra còn ai? Còn ai nữa trên những chiếc thuyền giấy…”.

Nói cho ngay, kết cấu thể loại này chỉ là bồng bềnh trên sóng nước với giấy khô mực cạn để bạn đọc hụt hẫng…Ừ thì hay là hãy vay mượn chữ nghĩa của một người viết trong nước Thái Doãn Hiếu qua loạt bài Chuyện bây giờ mới kể

“…Những người bị giết đều là những người làm văn học, có thành tựu văn hóa cho nền văn hiến nước nhà. Họ chết mỗi người mỗi cách đau xót và hàm oan khác nhau:

Lan Khai bị xô xuống vực, Ngô Tất Tố bị bức tử nên treo cổ tự vẫn, Phạm Quỳnh bị xử tử, Dương Quảng Hàm ra khỏi nhà đi mãi không về, Khái Hưng bị bỏ rọ trân sông, Thiếu Chửu bị bức hại nhảy xuống sông tự vận, v…v…. Cái án “mạc tu hữu” (giết rồi sau sẽ biết) của thời trung cổ vẫn đeo đẳng đến tận bây giờ! Đó là tất cả sự thực về những cái chết tức tưởi oan khuất của các nhà làm văn học! Nguyên tắc bất di bất dịch nằm trong ý thức hệ tư tưởng của những kẻ giết người này là: “Mày không đi với tao, mày là kẻ thù của tao. Đã là kẻ thù thì mày không có quyền tồn tại!”

Tôi viết “Chuyện bây giờ mới kể” từ những cái chết tức tưởi của những nhà làm văn học…là để làm gì? Để gửi tới bạn đọc và cả những ai đó đang chực lăm le bắt bẻ tôi. Tôi nghĩ mọi người Việt cần ôn lại bài học này, kể cả những kẻ giết người. Xin đa tạ…”

Nói gì đến người viết lách chậm chân mụ chữ tôi, là đến như nhà phê bình văn học Thái Doãn Hiếu cũng phải nhờ một bạn đọc cũng ở trong nước nói dùm mình:

“…Ôn lại không phải để oán trách hận thù. Ôn lại để từ thế hệ chúng ta trở đi không bao giờ còn vấp phải sai lầm của một thời mê muội…”.

Thạch trúc gia trang

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Nguồn: Nguyễn Thị Ấm, Nguyễn Hữu Kha, Nhật Chung,

Trần Khánh Triệu, Viên Linh, Lê Chánh Thiêm.

Phụ đính :

(1) Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh năm 1906 tại xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Năm 12 tuổi, ông bắt đầu tập làm thơ, viết văn và sớm bộc lộ năng khiếu hội họa. Năm 18 tuổi, ông về Hà Nội theo học trường Bưởi. Sau khi học xong bậc thành chung, ông thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau, vì tham gia vào tổ chức bí mật kháng Pháp do Nguyễn Thái Học lãnh đạo, Lan Khai bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội).

Năm 1938, ông bắt đầu viết cho Tiểu thuyết thứ Bảy, đồng thời còn cộng tác với các báo: Loa, Ngọ báo, Đông Tây, Phổ thông bán nguyệt san…Tác phẩm thành danh của ông là Truyện đường rừng, Ai lên Phố Cát, Cái hột mận, Trăng nước Hồ Tây. Lan Khai để lại một tác phẩm có thể sánh ngang với Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan. Ấy là cuốn Lầm than.

Trong một ngày gần cuối năm 1945, Lan Khai bị VM thủ tiêu tại Tuyên Quang. Nhà văn của những người lầm than Lan Khai chết thật mờ ám. Đang ăn trưa cùng gia đình, ông được giấy của ủy ban xã kêu lên có việc. Ông bỏ bữa ra đi, đi mãi, đi luôn đến 60 năm sau thân nhân mới tìm được hài cốt ở một vực sâu con suối giữa rừng Tuyên Quang.

Lan Khai bị xô xuống vực chỉ vì ông là đảng viên Quốc dân đảng!

(Những cái chết tức tưởi của nhà văn, chuyện bây giờ mới kể – Thái Doãn Hiếu)

clip_image010

(2) Dương Quảng Hàm hiệu là Hải Lượng, là nhà nghiên cứu văn học. Tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu, do ông dày công biên soạn, được xem là cuốn văn học sử phổ thông bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta

Ông sinh trong một gia đình có truyền thống nho học tại làng Phú Thị, tỉnh Hưng Yên. Thân phụ là Dương Trọng Phổ, anh cả là Dương Bá Trạc, một trong những người sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, trường học cách mạng đầu tiên của thành phố Hà Nội.

Thuở nhỏ ông học chữ Nho, sau ra Hà Nội học chữ Quốc ngữ. Năm 1920, tốt nghiệp thủ khoa trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương, rồi làm Hiệu trưởng của trường Bưởi.

Hơn 20 năm (1920-1945), Dương Quảng Hàm vừa giảng dạy, vừa viết sách giáo khoa văn học và sử học. Hai cuốn sách có giá trị nghiên cứu nhất của ông là Việt Nam văn học sử yếu (1941), Việt Nam thi văn hợp tuyển (1942).

Riêng tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu được Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa chính thức dùng làm sách giáo khoa chương trình lớp Đệ Tam (tức là lớp 10).

Dương Quảng Hàm chết khi còn đang tại chức vào đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, tại Hà Nội, ở tuổi 48. Dương Quảng Hàm mất tích bởi ông là đảng viên Quốc dân đảng.

(Những cái chết tức tưởi của nhà văn, chuyện bây giờ mới kể – Thái Doãn Hiếu)