07/05/2018
Ngộ Không: Những vết chim di

Nhung vet chan di

Những vết chim di – Tranh: Thanh Châu

Đời sống phẳng lặng hàng ngày với một số ít người có một cuộc sống rất bình thường, quá bình thường đến khó hiểu, đến một lúc nào đó chẳng hiểu nổi.

Như “nhân vật” của người viết trong chuyện sắp bươn trải dưới đây chẳng hạn.

Hồi nhớ lại sau 75, với nỗi sầu viễn xứ của người di tản buồn, đang ngẫn ngẫn nghĩ không ra lúc này mình đang có mặt ở đây để bỗng chốc thành những người Do Thái da vàng…Hay như những người Chàm vong quốc cùng những vu vơ hụt hẫng. Ngày là lá tháng là mây, vào thập niên 80, người viết đọc được một truyện ngắn về “nhân vật” trên. Truyện viết theo thể loại phiêu lưu mạo hiểm đường rừng đại loại như Đầu lâu máu của Lê Văn Trương. Cốt truyện có hai anh em lạc nhau, rồi gặp lại. Cả hai đi tìm kho vàng của ông bố người Nhật tên Watanabé với hai bản đồ ráp vào làm một như hai bánh xe răng cưa. Cuối cùng kho tàng bị gài thuốc nổ và…nổ tung.

Thêm một truyện khác và chỉ khác là truyện dài. Gần đây trong đặc san Nguyễn Trãi Chu Văn An 2009, nhà báo kỳ cựu Chính Luận Lê Thiệp cho hay đã bỏ ra 5 năm viết về “nhân vật” trên mà vẫn chưa xong. Khi viết, tác giả tra cứu lịch sử, nghiên cứu về những nhân vật của đảng Đại Việt như Trương Tử Anh, Cả Tề và Đức Thụ phu nhân. Tác giả còn cất công phỏng vấn các nhân vật theo học trường Trần Quốc Tuấn Lục Quân Học Hiệu như ký giả Nguyễn Tú, tướng Phạm Xuân Chiểu, sứ thần Bùi Diễm, tư lệnh cảnh sát Phạm Văn Liễu để lấy thêm tài liệu.

Chuyện gì đâu chẳng biết nữa với kết cục của truyện không thay đổi là kho tàng của ông đại tá Nhật Watanabé vẫn bị gài thuốc nổ và vẫn lại…nổ tung.

Bèn trộm nghĩ nổ tung với không có lửa sao có …khói?

Với cảm hứng vừa rồi, thế nên tôi (tức người viết) lụm cụm có bài viết về “nó” tức “nhân vật” khó hiểu, đến một lúc nào đó chẳng hiểu nổi.

 

***

Nó là thằng bạn đồng môn đồng tuế, nói cho ngay không thân thiết cho mấy qua một số ký ức hạn hẹp, đến độ chẳng có gì để nhớ với quên. Nhưng có một điều lạ là từ năm 75 qua đây, thỉnh thỏang tôi vẫn hoài cố nhân về nó, không ngòai cái tên, vóc dáng và nhất là khuôn mặt có nét gì đó không ổn. Nhưng vì cơm áo gạo tiền tôi chẳng có thì giờ để mà bận tâm vướng víu với khuôn mặt đắng đót ấy cả một thời gian dài. Nghe bạn bè kể lại nó chẳng giao tiếp với ai. Ngay cả những bạn bè ở xa tới, nó lánh mặt như con đà điểu rúc đầu xuống cát ngòai ốc đảo. Tôi vẫn thường gọi mẫu người này là những thằng chối bỏ dĩ vãng, với một mặc cảm tự tôn hay tự ti nào đấy.

Cho đến một ngày, một thằng bạn học cũ cũng là đương kim anh vợ nó từ Việt Nam qua và ghé thăm tôi. Nó điện thọai cho tôi nói chuyện để có chuyện mà nói. Đâu đó hai ba phùa qua điện thoại đường dài, lần nào cũng kéo…dài cả tiếng đồng hồ. Nhưng với giọng nói chậm chạp, chậm rãi nhưng thật trầm ấm và đầy ắp giao tình, có thể vì lâu ngày mới gặp lại. Vì lâu ngày không gặp nên tôi được biết ngòai giờ đi làm hoặc cuối tuần, nó hay ra thư viện đọc sách và chỉ chuyên trị một hai thể tài khó nhai, khó nuốt như dân tộc Khờ-me hay Chàm.

Chưa hết, nó còn sắm nắm tôi hãy viết về những người Chàm mất nước này. Nhưng tôi phớt đời vì rằng nào tôi khác gì họ, cũng đang mang sẵn cái mạch quê hương bản quán, vạn kiếp tha hương nghìn đời thê thảm…Nên chẳng hứng thú gậm nhấm đau thương làm cái thú giải sầu với mấy cái địa danh Châu Ô, Châu Rí này kia. Tôi cũng chẳng có thì giờ lẩm cẩm cho quá khứ với mấy cái tên Chế Mân, Chế Củ này nọ. Tất cả đã thuộc về nhang khói hương đèn với mồ yên mả đẹp. Lại nữa, tôi chẳng dại gì mần mò tra cứu sách vở, còm cõi thức đêm thức khuya để…ma Hời nó đọc, để bạn đọc chửi cho mục mả. Nhưng trong đầu tôi lúc ấy cứ lựng bựng với câu hỏi:

– Hay thằng này gốc Chàm chăng?

Ấy vậy chứ sao nó biết tôi thủ sẵn mớ sử liệu tam sao thất bản về vương quốc ấy, ắt hẳn từ thằng anh vợ của nó. Thực tình với một mớ kiến văn hạn hẹp của mình không ngòai: Năm 1069, Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành, bắt được ba nghìn tù binh mang về Thăng Long xây cung điện, nay dấu tích tìm đựơc vẫn còn ảnh hưởng văn hóa Chàm…Nói cho cùng tôi chỉ làm cái chuyện gánh bùn sang ao với “sưu tầm”, “sưu khảo”, hiểu theo nghĩa là…của người phúc ta vậy thôi và không hơn.

Và tôi nghĩ quẩn: Cũng có thể nó là hậu duệ của đám nghệ nhân này lắm ạ? Dám có thật chứ chẳng chơi. Nhưng tôi vội xua đuổi ý nghĩ…hoang đàng ấy ngay đi. Vì bài này viết về một thằng bạn cũ, bốn mươi năm không gặp, cũng chẳng nên quơ quào sử sách vào đây cho nặng nề, bạn đọc sẽ nhức đầu mỏi mắt rồi lại chửi cho sói đầu.

Thế nên tôi chẳng…dại. Và chuyện là thế đấy…

***

Chuyện kể tiếp là một ngày ghé vùng thung lũng hoa vàng, bạn cũ một thưở một thời lại có cớ để tửu lạc vong bần, để lại có dịp gặp nhau đu đưa với quá khứ vị lai. Vừa dợm bước chân vào cửa thấy nó đã có mặt. Một cái bắt tay, dăm ba câu chào đón giữa đám đông, không gần gũi mà cũng chẳng xa cách lắm. Nó không thay đổi nhiều, vẫn những dáng dấp xưa kia ngày nào. Ngồi trước mặt nó, để tạm quên những chập chọang ban đầu, tôi đốt mấy cái pháo chuột cho đậm đà hương khói. Vậy mà nó chỉ cười lủng lẳng như người cõi trên nên tôi cũng hơi e dè. Nhìn kỹ nó hơn một chút nữa để ghim vào bộ nhớ, tôi thấy nó có khuôn mặt nhạt nhạt như nước lã ao bèo. Riêng cặp mắt như tiềm ẩn sâu kín…một nỗi sầu vạn cổ muôn kiếp nào đó.

Nói chung là thằng này có “mô típ”…hơi lạ. Lạ hơn nữa là sáng hôm sau nó tới sớm rủ tôi đi uống cà phê. Chưa hết ngạc nhiên, nó lại còn nói sẽ đưa tôi đi thăm phố Tàu, phố Nhật, nếu còn thì giờ, sẽ ghé mấy tiệm đồ cổ. Tôi nhủ thầm: Quái, sao thằng này biết tôi chơi đồ cổ, trăm sự ở thằng anh vợ chẳng biết đếch gì ba cái thứ mốc meo, cũ sì mà ra. Cái thằng đương kim anh vợ bố láo của nó nào có biết chuyện mấy bà vợ già thâm căn cố đế đều thích được sờ mó, vuốt ve, thế nên đều thích mấy ông chồng…chơi đồ cổ như tôi đây chẳng hạn. Ngồi không trên xe, tôi ngắm chừng thấy nó dường như thuộc dạng…có tướng lại không có tính, nên tôi chẳng biết nó…tính gì. Trên xe, nó nhắc lại bạn bè xa gần với âm hưởng rất chân tình cùng những dấu ấn xa vắng…Và cũng qua nó tôi được biết: Nó không muốn đánh mất những hòai niệm năm tháng xưa cũ cùng thằng này thằng kia. Nên tự nó, nó tạo một khỏang cách với bạn bè. Nghe chung chiêng chống chếnh sao ấy, tôi thấy thằng này “hơi bị”…khó hiểu, nên cũng cần phải…tìm hiểu, kiểu tìm hiểu dấm dớ bờ bụi ấy mà. Nhưng của đáng tội để…“hiểu” nó thì tôi cũng đành lắc đầu chịu chết nghĩ không ra.

Ấy vậy mà nó đưa tôi đi ăn cơm Tây mới…hay. Quán tên Caffe Treste nằm bên con phố cổ của Pháp, có những xe đẩy bán hoa và trái cây, người đi qua kẻ đi lại nhàn tản…như Tây. Tôi và nó vừa vật nhau với “cù-dìa”, “phóc-sét”, thịt bò tươi ron rón, cắn ngập răng, ngon đến bối rối. Nó và tôi vừa thả rong trên đường xưa lối cũ qua những chuyện mưa không ướt đất, nắng không ấm đầu để chẳng còn xa cách nữa. Bây giờ ngồi gần, tôi bắt gặp nó có khuôn mặt thật bình thản, an nhiên tự tại, có những lúc đột biến như mây trời mỏng dần lóe sáng như…sắp sáng, như hào quang của đức Phật nhìn về bờ mê bến ngộ. Rồi chẳng được mấy nả, lại có những khi tối sầm, tối như xắt ra từng miếng u nần, như nét mặt u mặc của chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập tự giá. Lay lắt qua chuyện mỗi lần gặp một thằng bạn lâu ngày không gặp, qua làn da mặt chồng chất những nếp nhăn, vết gấp. Tôi tìm thấy chính mình…Tạm hiểu già rồi, cũ kỹ rồi, tôi trở thành cổ kính như một món…đồ cổ lúc nào không hay.

***

Từ một món…đồ cổ tôi lê la đến một đoạn trong truyện dài Lý Hợp Thiết Cương Ký Sự của Lê Thiệp lúc nào cũng không hay. Ông hậu duệ của nhà Lê bương bả…

“…Lý Hợp khệ nệ khiêng đồ đạc vào phòng. Cả ba đứa bạn tiếp tay.

– Mẹ kiếp cái va ly gì kỳ vậy.

– A, tao gọi nó là Thiết Hoa Ly. Cái va ly bằng nhôm của ông già tao để lại. Bà mẹ tao bảo cái va ly này là của gia bảo phải giữ gìn cẩn thận. Tao đếch biết tại sao…“

Rồi đang mải mê ngoạm ba miếng “dăm-bông”, “xúc-xích” với “phô-ma” đưa cay. Tôi đưa cay với nó chuyện bạn ta Lê Thiệp đang vật lộn chữ nghĩa về cái rương bằng nhôm Thiết Hoa Ly. Bỗng dưng tôi phọt miệng hỏi nó dăm câu không đâu…Để sau đấy ngụp lặn trong hồ sâu biển rộng, chẳng biết đâu là bến với bờ:

– Này, nghe nói bạn bè…luận nhiều về ông.

Nó khóa miệng tôi lại:

– Tôi cũng có nghe…như ông vậy.

Nó háy mắt cười cười:

– Ông mà nghe thằng Lê Thiệp nó hươu thì có đổ thóc giống ra mà ăn.

Nhấp ngụm vang, giọng lực đực:

– Tôi còn không biết tôi là ai nữa là…

Mắt tôi đang bè ra như cánh bướm, thì nó đã trải rộng tới đầu sông cuối bãi:

“…Đầu đuôi từ những ngày ở cư xá Minh Mạng mà ra: Tôi có cái hòm gỗ sơn son thiếp vàng với khóa đồng có từ thời Nhật đảo chính Tây. Tụi bạn nó rì rầm với nhau, thằng thì rõ ràng mắt trông thấy thanh kiếm của một ông vua nhà Nguyễn nào đó. Thằng thì rõ mười mươi là thanh kiếm của Nhật. Và tôi chẳng rỗi hơi ba cái chuyện tầm phào bá vơ ấy, nhưng ấy là chuyện cũ, thưa ông.

Chuyện mới đây là trước năm 75, tôi được bốc từ Pleiku về Bộ chỉ huy Không Quân ở Tân Sơn Nhất ngồi chơi xơi nước đợi bàn giao mấy cơ xưởng bảo trì cho Mỹ. Chưa kịp ký nhận thì miền Nam đứt phim, trong trại cải tạo, tôi khai vỏn vẹn chỉ một trang là con mồ côi, sĩ quan cạo giấy, không chức vụ, nên tự nghĩ cũng chẳng đến nỗi nào…Đùng một hôm, có một phái đòan cao cấp Bộ nội vụ tới “làm việc” với tôi.

Họ dẫn theo một cô gái người Nhật, nhỏ hơn tôi ba, bốn tuổi, cùng ông phó lãnh sự và tay thông dịch viên. Vừa ngồi xuống, ngay sau khi giới thiệu, tôi bật ngửa người ra…Ông biết không: “Cô gái Nhật ấy chính là em gái tôi…”.

Hơ! Tôi ngẩn ra nhìn khuôn mặt của nó tròn xoay, mắt đeo cái kính tròn vo. Tôi thấy nó đúng là người Nhật thật cũng nên như bạn bè vẫn thường kháo nhau.

Rồi như bị chao đảo, tôi hỏi một câu ngớ ngẩn:

– Ông là người Nhật?

Nó chưa kịp trả lời, tôi lại cật lực hỏi tới:

– Nhưng ông họ Lý mà?

Nó nhấp một ngụm cà phê và cười buồn:

– Họ Lý là họ của bà cụ tôi ở Bắc Ninh.

Và tôi lẩn mẩn tiếp:

– Rồi ông được ra sớm?

***

Đặt nhẹ ly vang xuống và bây giờ nó mới…vào chuyện:

“…Cũng chẳng sớm sủa lắm, xe chở tôi từ trại cải tạo ra thẳng phi trường. Ghé Nhật ở nhà cô em mấy tháng, vì vậy mới ký cóp thành chuyện. Mà chuyện của tôi thì nhì nhằng lắm…Chẳng là cô em tôi là ký giả, trước khi qua đón tôi cô ấy thu thập được ít sử liệu và viết thành một tập Bi Ký Sự, không hẳn là gia phả, thì tạm cứ cho là gốc gác thăng trầm của một dòng họ đi. Chiều rảnh ghé nhà, tôi đưa ông xem.

Bây giờ nhớ đến đâu, từ từ tôi kể ông nghe đến đó…

Có thể nói tất cả bằng vào với những móc nối của lịch sử khẩn hoang:

Mạc Đăng Dung xóan ngôi nhà Lê, lập ra Dương Kinh, kinh đô mới, đấy là thành phố ven biển đầu tiên ở nước ta để thông thương với ngọai quốc. Các nhà khảo cổ gần đây đã tìm thấy rất nhiều đồ cổ, nhất là tiền cổ của Trung Đông, Hòa Lan và Bồ Đào Nha ở đảo Cát Bà, để sau này Đàng Ngoài, Đàng Trong mới có Phố Hiến, Hội An. Có thể nói Mạc Đăng Dung là một Minh Trị Thiên Hòang của nước ta, nếu không có chuyện Trịnh Kiểm đánh đuổi con cháu nhà Mạc lên Cao Bằng, rồi vì quyền lực đẩy Nguyễn Hòang vào Thuận Hóa mới có nhà Nguyễn, mới có Thủy Chân Lạp…”

Nghe như đấm vào tai ấy vì cái thằng khỉ này mắc chứng gì khi không lại mang Minh Trị Thiên Hoàng với Thủy Chân Lạp vào đây!?

Rồi cũng khi không cái lưỡi tôi lại đá cái miệng và lựng bựng:

– Vậy chứ gốc gác ông họ Mạc?

Làm như không nghe câu hỏi, nó nắc nỏm:

– Ông biết tôi không phải là người chữ nghĩa như Lê Thiệp và ông. Vì trang sử đã lật qua, nhưng sử cận đại gần đây, có những khuyết sử cần được tồn nghi, thì qua tập “Bi Ký Sự”, hy vọng sẽ cẩn án được một chút nào chăng, thưa ông.

Cái đầu tôi đang láp ngáp với “cẩn án”, “tồn nghi”, “khuyết sử” thì may quá là may, vừa lúc nhà hàng mang thêm đồ ăn thức uống ra.

Nhưng cũng chẳng may gì, nó lại nhét vào đầy miệng tôi như vầy đây:

“…Theo tôi thì chúa Nguyễn Phúc Nguyên là người có có công nhất trong cuộc Nam tiến nhất. Năm 1620 chúa Sãi gả quận chúa Ngọc Vạn cho Miên vương Chey Chetta II, đổi lại cho phép di dân người Việt được vào Bà Rịa để khai khẩn đất hoang và tặng nhà chúa đất Biên Hòa làm quà cưới…”.

Bố khỉ! Tôi chả dại mồm dại miệng nhét răng với cương giới, địa giới, niên kỷ, niên đại này kia, kia nọ để làm phiền bạn bè. Vì nó rấm rẳn nên tôi đành ghi chép ra đây cho có…chuyện. Và chuyện là:

“…Theo sử của người Miên quận chúa Ngọc Vạn tức hòang thái hậu Angk-Mey, sinh được một hòang tử tên Chey Chetta III. Vua Chey Chetta II băng hà, uẩn khúc này, qua tập “Bi Ký Sự” của cô em tôi thì bà bị giằng co giữa chúa Sãi và Miên triều. Vì phía nhà chúa muốn bà ở lại đất chùa Tháp để hai nước giao hảo ít lâu, khi nào sát nhập Thủy Chân Lạp vào nước ta, thì sẽ thu đất Thổ Chân Lạp về một mối. Vì vậy bà vẫn một tay trông nom triều chính, nhưng bà mềm mỏng tách ra ngòai tầm ảnh hưởng quyền lực của cha ở Phú Xuân và xem giang sơn nhà chồng như giang sơn của mình. Nhưng phía Miên quốc không muốn có một ông vua gốc Việt theo Phật giáo đại thừa. Chẳng vì ngai vàng mà mất con, nên bà đã mang Chey Chetta III về Bà Rịa, tiếp tục khai hoang vùng đất mới này. Sau bà xuống tóc đi tu và được gọi là “cô Chín”.…”.

Đột nhiên nó ngừng lại và hỏi tôi:

– Ông nghĩ gì vậy?

Tôi lắc đầu vì có khỉ mốc gì đâu mà nghĩ? Nó nhìn tôi, chậm rãi nói từng tiếng một, âm hưởng như rơi vào chân không, trong một buổi sáng ít mây nhiều nắng:

– Tôi là hậu duệ của thái tử Chey Chetta III.

***

Tôi chưa kịp nhẩy nhổm lên, nó tháo kinh ra lặng lẽ nhìn tôi. Tôi trố mắt nhìn đôi mắt dài dại, nước da bánh mật của nó. Tôi nhận ngay ra nó đúng là…người Miên thật chứ còn gì nữa. Qua hàng cây bên đường, giải nắng vàng len lỏi qua tàng cây, sà xuống mặt bàn, bò lên một phần khuôn mặt nó. Nắng hanh ẩn chìm như buông xuôi một quãng đời vào một dòng sông định mệnh đang chờ sẵn. Trong khi tôi đang lững lờ với những địa danh, những cái tên xa xưa, cùng những người muôn năm cũ, thì…

Thì nó mênh mang xa vọng:

“…Năm 1619, Hòang thân Nhật Araki Shutaro vốn thuộc dòng dõi samurai ở Kumamoto đi thuyền mang cờ hiệu của công ty Đông Ấn Hoà Lan VOC đến cập cửa Đại Chiêm tức Hội An bây giờ. Ông mang theo quà của Mạc phủ Toyotomi gửi tặng nhà Chúa như gươm dài và dao lớn. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên phong ông tước hầu, đổi tên là Nguyễn Toro, hiệu Hiển Hùng và gả trưởng nữ là quận chúa Ngọc Liên cho Araki Shutaro để giữ giao hảo với Mạc phủ Toyotomi.

Qua tập “Bi Ký Sự” với phần phụ đính của sách Ngoại phiên thông thư (quyển 13, tr 87-88) thì quận chúa theo chồng về Nagasaki (Trường Kỳ) và mang cháu là cụ cố tổ tôi, tức thái tử Chey Chetta III theo. Sau ông Nguyễn Toro Araki Shutaro một mình trở lại phát triển thương điếm và mất ở đây…”

Đến trần ai khoai củ này, cái đầu đậu phụng như dầu tẩm bột gạo của tôi bòn mót với gia phả Nguyễn Phước Tộc thì “liệt truyện” về bốn công chúa của chúa Nguyễn Phúc Nguyên thuộc “khuyết truyện”. Vì vậy có sách ghi chép nhà chúa gả quận chúa Ngọc Hoa cho Araki Shutaro, có sách lại ghi là con nuôi nên chẳng biết đầu mà lần.

Tôi đang định nguých ngoác với nó về “khuyết truyện” trên thì nó đã hặm hụi…

“…Quận chúa Ngọc Liên có tên Nhật là Anio và rất được người Nhật ở bản quốc mến mộ, khi mất, quận chúa được thờ cúng trong đền Daiongi. Đất khách quê người, quận chúa cũng lặng lẽ nằm xuống để rồi hai mộ chí, một nằm đơn độc bên này bãi vắng, một u tịch bên kia biển đông. Một người cố quận Hội An, cảm hòai xa vắng về quê ta xa mãi bên kia biển và có câu thơ: Hiên chùa cỏ mộ ban sơ, vọng âm vô lượng chia bờ cõi em, con đường “Phải Phố” Hội An, ta ra biển ngóng ngày tang bồng về. Sau khi quận chúa mất, cụ cố tổ Chey Chetta III tôi lưu lạc về làng Asaba tỉnh Iwata gần Tokyo rồi lập gia đình sinh con đẻ cái ở đây.

Với phong trào Đông Du, cụ Phan Bội Châu qua Nhật tạm trú ở làng Asaba. Mới đây, cô em gái tôi vận động với thị trưởng Shiyouka tỉnh Iwata để mang những hiện vật của cụ Phan về trưng bầy tại nhà từ đường của giòng họ Phan tại Huế. Trong đó có tranh truyền thần của cụ cố tổ tôi, và một số văn bản viết tay. Một trong những văn bản ông cụ tôi có là bài thơ Hồ Trường của…”

Tôi đang ngẫn ngẫn gì mà thân già vác dùi nặng, nó mang: Mạc phủ Toyotomi gửi tặng nhà Chúa gươm dài và dao lớn vào đây. Ấy là chưa kể thơ thẩn: Hiên chùa cỏ mộ ban sơ… Trong khi lúc nãy nó quanh quéo là nó không phải là người chữ nghĩa như Lê Thiệp và…tôi

Được thể, tôi rọ cái mồm vào…nhà thơ Hồ Trường:

– Dương Bá Trạc.

Năm ngày bảy tật, cái tật của tôi cứ đụng tới rượu là ư hử Hành Phương Nam với Hồ Trường. Thế là tôi lao tứ khổ tâm, vuốt râu nhả thơ:

Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường

Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương

Chưa ngậm vần nhả chữ xong, nó khinh khỉnh nhìn tôi và mắng tôi mấy mắng:

– Nguyễn Bá Trác, thưa ông.

Rồi nó vả miệng cắt lưỡi tôi như thế này đây:

– Bẻ cột chứ không phải “bẻ cật”.

Tha hương chứ chẳng phải là “tha phương”.

Thế là tôi đi tướt và ngọng trông thấy. Vậy mà nó vẫn chưa tha:

“…Năm 1945 ở Quảng Nam, cụ Nguyễn Bá Trác bị Việt Minh mang ra bắn ở sông Trà Khúc. Trước mặt đám đông dân chúng tỉnh lỵ, trong những giây phút giữa sự sống và sự chết, thì được ông cụ tôi cho người tới giải cứu nhưng không kịp. Trong bài viết Cụ tuần Trác-Duy hữu ẩm giã lưu kỳ danh năm 2003, tác giả cho hay người Nhật tên Anmomad là nhân chứng đã nhắc đến chuyện này, thưa ông…”.

Cái đầu tối như đêm, dầy như đất của tôi nghĩ không ra sao nó mang chuyện cụ Nguyễn Bá Trác vào đây cho rôi chuyện. Hay là nó muốn nhúc nhắc tới ông cụ nó. Thế nên tôi ngúc ngắc cái đầu:

– Lúc ấy, ông cụ làm gì?

Nó đắn đo một lát, rồi đăm chiêu:

“….Cụ Kỳ Ngọai Hầu Cường Để thuộc dòng dõi của hòang tử Cảnh. Như ông biết đấy, cụ được thủ tướng Nhật Khuyển Dưỡng Nghị và chính phủ Pháp sắp xếp để về kế vị Khải Định vì ông vua này không có con. Chẳng may Khuyển Dưỡng Nghị bị ám sát, nên chuyện không thành…”.

Nó khẽ khàng nói, khẽ khàng đứng lên vào trong ới đồ ăn thức uống ra nữa, cứ đi ra đi vào làm tôi rối cả mắt. Bất chợt có một cơn gió lạ, gió thổi muôn chiều khiến tôi có cái nhìn khác về nó: Nó là người không có tướng mà lại có tinh…đứng ngồi không yên như con lật đật, con đường hoạn lộ ắt hẳn lên thác xuống ghềnh. Chẳng như tử vi nó trong Thiết Cương Ký Sự của nhà văn hóa cổ đại Lê Thiệp với thiên cơ bất khả lậu qua bạn bè: “Hai mươi mốt tuổi đã hiển đạt, có ấn triện trong tay…” .

Đụng đến…ấn triện, tôi mon men làm quen với ông cựu hoàng Bảo Đại mà thấy ngán ngẩm: Ông làm vua có cái bảo kiếm và cái bảo ấn, biểu hiệu cho vương quyền cả mấy trăm năm. Vậy mà trước khi mất, không ai biết hai vật quốc bảo này luân lạc ở đâu để cụ Vương Hồng Sển bổ nháo bổ nhào đi tìm. Chưa hết, mới đây hoàng tử Bảo Long qua Quận Cam, Nguyễn Phước Tộc nêu lên chuyện thanh bảo kiếm ấy với ông ta. Ngay như tôi với với thú chơi đồ cổ cũng đang há miệng chờ sung đây…Nhưng ấy là chuyện sau. Đang cùm nụm cùm nựu về thanh kiếm cổ, vừa lúc nó ra.

Vừa ngồi xuống nó đã hì hục chum củi đốt lò hương cũ:

“…Ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính Pháp, lúc bấy giờ ông cụ tôi là lá bài tẩy của họ, mặc dù bề ngòai là Đại tá Hiến binh Nhật. Nhưng thực sự ông cụ tôi là nhà sử học, vì vậy không muốn đi theo chân của Lê Chiêu Thống cõng rắn gà nhà. Còn đang nhùng nhằng, ông cụ tôi đa mang với bà cụ tôi rồi sinh ra hai anh em tôi. Nhật đầu hàng đồng minh, ông cụ tôi ở lại giúp Trương Tử Anh của đảng Đại Việt lập ra Trường Quốc Tuấn Lục Quân Học Hiệu.

Vì thời cuộc ông bà cụ tôi mang cô em gái tôi về Asaba chăm lo mồ mả gia tiên. Chuyện tôi không đi theo cũng dễ hiểu thôi, vì dòng họ tôi là “samurai”, là con trai phải ở lại để sau này tiếp tục con đường đang dở dang của ông cụ. Bằng chứng là ông cụ để lại cho tôi cái hòm gỗ, để ông Lê Thiệp có cớ nhét vào đấy Cái bình cổ Huyết Bò – Sang du Boeuf – đời Thanh rất hiếm, giá cũng cả nghìn lạng vàng”.

Hoặc giả như tụi bạn tôi nó rỉ tai nhau trong đó có thanh kiếm Sharya được rèn đúc lại từ thời Phủ Chúa ToKugawa. Hoặc là thanh kiếm Thái A Kiếm (*) của Gia Long. Nói cho ngay, nếu trong đó có thanh kiếm thật, thì đó là thanh Kenma Inazuma Tou của trường Chấn Võ Lục Quân Đông Kinh mà ông cụ tôi vẫn mang theo bên mình qua lời bà ngoại tôi kể lại. Và chuyện chỉ có vậy và không hơn! Thưa ông…”

Cái thằng lạ cứ thưa với gửi, cứ như dân qúy tộc không bằng. Mà nó qúy tộc thật mới đau, vừa cầm con dao Tây cắt cắt miếng…thịt bò “Sang du Boeuf” vừa tỉnh như “Ăng lê” buông một câu: “ Và chuyện chỉ có vậy! Thưa ông…”. Nhưng với tôi thì khác, chuyện nó kể thần kỳ như truyện dã sử, có kể lại bằng miệng cũng chẳng ai tin. Vì vậy, ngay lúc ấy trong đầu tôi đang manh nha hình thành một bài viết với lối hành văn “trong sáng, dễ hiểu”, và một bố cục “chặt chẽ, gẫy gọn” về câu chuyện của nó.

Tôi mường tượng truyện này sẽ rất có “kích thước” của chiều dầy 500 năm lịch sử. Với hồn thiêng sông núi, cùng một vũng tang thương nước lộn trời của những bước chim di: Chúa Tiên đi vào nơi gió cát Thuận Hóa. Quận chúa Ngọc Vạn thân gái dặm trường ở Thổ Chân Lạp. Thái tử Chei Chetta III bôn ba qua Nhật. Ông cụ nó qua Hà Nội, lập gia đình, rồi trở lại quê nhà. Riêng nó sau khi ra tù, chọn thung lũng hoa vàng làm đất dung thân và hiện đang ngồi trước mặt tôi lúc này đây.

Lại học mót từ một nhà văn ngoại quốc: “Truyện là hư cấu, nhưng phải dựa vào chuyện có thật, thêm bớt một chút không sao. Nếu không, sẽ là một tác phẩm chết”. Nên tôi trộm nghĩ với tất cả những tư liệu sống ấy, cùng niềm hứng khởi đang dâng tràn của mấy ly rượu vang, như những lớp sóng thủy triều. Rượu thịt đánh thẳng rốn xong, trong cõi mụ mị tôi vén mồm xáo cuội nếu chịu khó gọt câu đẽo chữ, ắt hẳn sẽ gửi gấm được một cái gì đây qua bài viết. Vì vậy tôi hoắng huýt:

– Hay là ông để tôi căng óc nặn chữ vặn óc véo câu xem sao?

Nó gật gưỡng và bật rật:

– Ừ, ông dầy chữ thì viết…Nhưng đừng…lạc đường vào lịch sử đấy!

Vẫn chưa xong, nó đe nẹt tôi:

– Thì như ông đã hay biết, theo Nguyễn Văn Trung trong tiểu luận Vấn Đề Nhân Vật Lịch Sử: Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh và Những Cách Tiếp Cận. Ông Nguyễn Văn Trung muốn nhắn nhủ với Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao, Trần Vũ rằng: Không nên sử dụng lịch sử một các tùy tiện.

Nó tháo kính ra lau lau, và vừa chèn ngang một câu:

– Ông đừng tùy tiện bóp méo lịch sử mà hãy…vo tròn lịch sử, thưa ông.

Nó đeo kính lại. Bố khỉ! Bây giờ nó không còn là Chàm, là Miên, là Nhật nữa. Trông nó y trang như một nhà sử học với gọng kính tròn vo. Như ông cụ nó vậy.

***

Nhìn đồng hồ cũng quá trưa, nó giục tôi ghé tiệm đồ cổ trước, thực ra không phải là tiệm mà là nhà riêng, có quen biết hoặc được giới thiệu, họ mới tiếp. Bước vào trong, tôi cứ hoa mắt cả lên, vì có quá nhiều cổ vật mang từ Việt Nam qua. Nhiều nhất là đồ gỗ, đồ đồng, xó xỉnh nào cũng bày la liệt như bày hàng đồng nát, từ phòng khách qua hành lang, xuống cầu thang, tới tận dưới tầng hầm sâu thun thút.

Tôi săm soi ngắm nghía, tẩn mẩn sờ sọang từng món, đắm đuối với cái đẹp của lạc tinh, lên nước. Trong khi nó vẫn lờ đờ nhìn đâu đâu, đến cặp trống đồng, nó sà xuống ngồi gõ gõ một hai cái nghe kêu “bụp, bụp” làm như người sành sỏi lắm. Tôi liếc qua, trong bụng rủa thầm, trống đồng gì mà rẻ như bèo, chỉ có mấy trăm, hay hơn nghìn một cái. Lại không phải nguyên khối, những mảnh hoa văn rời rạc, được ráp nối bằng mấy vết hàn, cũng hoen rỉ đồng xanh, nhưng trông thô thô làm sao ấy.

Cho đến lúc tôi mầy mò đến mấy cái triện cổ. Trong đó có một cái triện đầu một người đàn bà bằng đồng. Đầu đội vương miện, trán có nốt ruồi. Tai dài và dái tai dầy như tai Phật nhưng lại đeo khoen. Tôi không rõ là đầu bà Phật hay nữ hoàng. Bèn hỏi. Gia chủ lắc đầu chẳng hay và chỉ biết là cái triện của người Khờ-me.

clip_image002clip_image004

Trộm thấy chủ nhà lắc đầu tức không thông hanh lắm, tôi được thể “hươu”…

Ấn triện đồng với hình tượng là đầu nữ hoàng Khờ-me vì đầu đội vương miện, dái tai đeo khoen. Dưới đáy triện được khắc với chữ triện văn tự lục thư tượng hình của Nặc Ông anh, Nặc Ông em ở đất Thổ Chân Lạp. Hơn là khoa đẩu văn (hình con nòng nọc) từ ông quan Tàu tên Thương Hiệt (2700 trước TC) thời Phục Hy-Hoàng Đế. Thời này chưa có nước Khờ-me.

Và như lân thấy pháo, tôi lỗm bỗm thêm những hiểu biết về triện qua sách vở, nào là triện vua bằng ngọc hay vàng với rồng năm móng. Triện quan nha bằng ngà voi hoặc đá qúy với rồng bốn móng hay kỳ lân phủ phục. Triện phủ huyện, quan viên bằng đồng hay gỗ cùng ấn khắc kiểu chữ triện như Khoa đẩu văn, Ngư thư, Tuệ thư…

Dòm chủ nhà mặt nghệt ra như chúa Tàu nghe kèn nên tôi không động đậy tới ông Tàu Thương Hiệt thời Phục Hy-Hoàng Đế mà trở về với An Nam ta với ấn triện và ấn kiếm chả phải chuyện phù phiếm. Vì vậy viết sưu khảo là đào sâu chôn chặt để làm cho sự việc rõ ràng hơn. Chứ không phải để làm rối rắm thêm

clip_image006

Thế là cái đầu đất tôi lại mượn cớ đào xới với gia chủ về chiếc “Ấn truyền quốc” của nhà Nguyễn, nguyên thủy và lâu đời nhất vẫn là chiếc “Đại Việt Quốc Nguyễn chủ vĩnh ân chi bửu” (1) của Nguyễn Phúc Chu. Rồi bắt qua “Việt Nam Quốc vương chi ấn” của Gia Long (2). Được thể tôi khoe mẽ sự hiểu biết về cái ấn triện “Hòang Đế chi bửu” (3) là của Gia Long hay Minh Mạng?

Nhưng tôi lại…không biết bây giờ cái ấn ấy đang ở đâu và ai cất giữ, v…v…

Và nó đứng sau lưng tôi tự lúc nào không hay, mắt nó dán chặt vào mấy cái triện Tầu, triện Việt của các quan lại hay làng xã, chùa chiền mới gần đây. Nó khoanh tay chăm chú lắng nghe, và mím môi không chịu nhăn răng cạp đất cho một tiếng.

Để rồi, tôi há hốc mồm ra. Như ngộp thở vì thèm…một hơi thuốc lá.

Mở cửa ra ngòai, vừa thả bộ dọc theo triền dốc vừa suy nghĩ mông lung: Với nó, hình như tôi vừa thấy có một cái gì hơi bị…“khó hiểu” thì phải. Như trên tôi đã mào đầu, là như cuộn chỉ rối, vừa mới đây nhắc đến thanh kiếm trong cái hòm gỗ, nó gánh bùn sang ao: Theo bà ngoại nó thì đó là thanh Kenma Inazuma Tou.

Nhưng theo tôi đóan chừng…Nói cho đúng ra thì tôi chắc như gạch nung là…là dường như nó đang có trong tay thanh bảo kiếm của…cựu hòang Bảo Đại.

clip_image008

Với thanh bảo kiếm này cái đầu đất cứt trâu hóa bùn của tôi lại nhão nhoẹt qua những bài biên khảo thì thanh bảo kiếm của Thái thượng Hoàng Khải Định, vua cha của Bảo Đại có khắc hàng chữ trên vỏ kiếm: “Khải Định niên chế”. Nó được rèn đúc vào năm Khải Định lên ngôi và trọng lượng y hệt như thanh kiếm “Minh Mạng niên chế” đúc ngày mùng 4 tháng 2 Minh Mạng thứ tư năm 1823. Kiếm sắt, cán dạn ngọc, lưỡi kiếm mạ vàng, trọng lượng vàng ròng nặng 4 lạng 7 chỉ 5 phân.

Năm 1946, quân đội Pháp tình cờ tìm thấy thanh bảo kiếm của cựu hòang dấu trong thùng thiếc dầu hỏa tại căn nhà ở Hà Đông đang tu bổ. Bảo kiếm một phần bị rỉ sét, lưỡi kiếm đã bị gẫy làm đôi, sau phải hàn lại (4). Bảo kiếm được trao lại cho bà Mộng Điệp mang lên Ban Mê Thuột, dưới sự nhận diện của bà Từ Cung, mẹ của cựu hoàng. Sau đó, Bảo Đại viết thư cho bà Mộng Điệp đem qua Pháp. Đến năm 1953, bà trao cho Nam Phương hoàng hậu và Hoàng tử Bảo Long. Cũng theo bà Mộng Điệp, Bảo Long đã đem cây kiếm bán đấu giá cho một người Pháp. Bà có chụp ảnh với người mua đứng giữa cầm kiếm và hai vợ chồng Bảo Long đứng hai bên.

***

Với chuyện người chuyện ta, tôi lòi tói ra cái ý nghĩ mang chuyện tôi để…thăm dò nó cho ra nhẽ. Ý đồ tôi là muốn khoe mẽ mớ đồ cổ mốc meo mà tôi đang có trong nhà qua bài viết có tên: Nhà tôi. Về thanh gươm, tôi đã bài bản như thế này đây:

“…Chưa hết đâu bác, trước khi ra phòng ăn, tôi còn một chuyện nữa, chỗ bác đang ngồi ngay đấy, trên tường có treo cặp kiếm của Nhật. Bác ngước đầu lên, cũng chẳng có gì đặc biệt. Bác tinh như ma thật chứ chẳng chơi, vì chẳng có gì hay ho thật, chỉ là cặp kiếm để trưng, hiểu theo nghĩa trang trí không hơn không kém. Và nếu tôi có vui miệng róc đời một chút về thanh bảo kiếm của cựu hòang Bảo Đại, có bốn chữ nho “Khải Định niên chế” thì bác cũng nghe như gió thỏang mây bay. Nhưng thôi, đó không phải là chuyện tôi muốn dông dài với bác, vậy thì bác nghe cho kỹ nhá:

Nhà tôi bị cướp hai lần, lần đầu thằng ăn cướp nó vồ lấy bộ gươm Tàu mà tôi thửa ở tiệm cầm đồ cũng khá bộn bạc. Sau tôi tậu bộ kiếm Nhật khác đã hoen rỉ ở chợ trời. Lần thứ hai nó viếng nhà tôi nữa và cũng chỉ xách bộ gươm nặng ký ấy đi, ngòai ra không thuổng một thứ gì khác…Ắt hẳn là tôi không có duyên với kiếm cung chi đây, nên lần này tôi phải treo cặp kiếm Nhật…giả. Như bác đã thấy đấy.

Cũng chả dấu gì bác, mặc dù nghĩ là không có túc duyên với gươm đàn nửa gánh, giang sơn một chèo. Nhưng mỗi lần lạng quạng vào tiệm đồ cổ, thấy thanh kiếm nào lạ, tôi lại loay hoay xoay tới xoay lui đi tìm ba chữ nho nhe “Khải Định Niên Chế” vì ai biết đó là đâu. Biết đâu của lại chẳng đi tìm người…”.

Với đoạn văn trên đọc lên đã thấy rất…“hoàn cảnh”, gần xa với nhất cổ nhì quái, chẳng qua tôi có ý đồ khàn khàn tịt tịt là dường như có tới hai (4) thanh kiếm Bảo Đại. Vậy chứ nó đang có trong tay thanh bảo kiếm nào đây? Nghe xong chuyện của đi thay người với ruột gan như xát muối ấy, nó cứ lờ tịt làm nên tôi đâm ra càng nghi tợn. Nhưng ấy lại là chuyện sau. Thôi thì hãy trở lại chuyện Bi Ký Sự của cô em nó, mười năm rồi nó chẳng tung hê với ai, hay là nó tung hỏa mù để sửa sọan dư luận nào đấy, chuyện này thì xưa như trái đất. Cuối cùng nó còn…ẩn dụ tôi “Viết thì cứ viết…”.

Đi mấy bước nữa xuống cuối con dốc, tất cả dây mơ rễ má của câu chuyện làm cái đầu tôi… bí rị. Bất chợt nhìn xa xa có một hồ nước như cái đầm, cạnh là cụm cây thưa như khu rừng nhỏ. Gió thổi nghe rì rào như âm vọng từ đất Bắc Ninh với hai câu sấm truyền trong dân gian: Bao giờ rừng Báng hết cây – Đầm Long hết nước Lý nay lại về. Làm xong điếu thuốc, đang định bước một quay về lại cái nhà sưu tập đồ cổ.

Bỗng tôi khựng lại vì trong cái đầu củ chuối của tôi bật ra cái ý nghĩ:

Hay là nó đang đi tìm chiếc ấn “Bảo Đại thần hàn”, vàng 15 lạng, quai hình rồng bay, đầu ngẩng, há miệng, lưng cong vồng, đuôi xòe 5 dải hình ngọn lửa. Chiếc ấn này và thanh bảo kiếm được Trần Huy Liệu mang về Bắc Bộ Phủ năm 1945 (4).

Cứ theo tôi cóc cáy thì ông cụ nó phải biết.

Tôi bối rối nhìn trời nhìn đất và sắp xếp sự kiện theo thứ tự thì Bảo Đại thoái vị ngày 6-9-1945. Và theo nó cụ Nguyễn Bác Trác bị Việt Minh xử bắn ngày 25-8-1945. Từ những ngẫu sự trên, tôi như xẩm sờ voi với ông Watanabé, bô nó, đã không cứu được cụ Nguyễn Bác Trác vì phải “đuổi” theo thanh kiếm Bảo Đại. Thanh kiếm đây theo Trần Huy Liệu được giữ trong Bắc bộ phủ. Nhưng năm 1946, Pháp tình cờ tìm thấy trong thùng dầu hỏa ở Hà Đông. Vì vậy gần đây ở Hà Nội có nguồn cho là thanh kiếm trao cho Trần Huy Liệu là giả. Trở lại bảo kiếm được Bảo Đại trao cho bà Mộng Điệp mang qua Pháp, theo bà ấn kiếm ấy có tên là “Nguyễn Triều chi bảo“ chứ không phải “Khải Định niên chế”. Với thanh kiếm tìm thấy ở Hà Đông là thanh “Khải Định niên chế”, hay là thanh kiếm giả nếu như nằm trong tay ông Watanabé thì…Thì cái đầu như cục vôi sống của tôi quái ngại tới viết sưu khảo để làm cho sự việc rõ ràng hơn. Chứ không phải để làm rối rắm thêm nên phải hỏi nó cho ra ngô ra khoai.

Tôi vội rảo bước vào nhà. Ấy vậy mà mới nhãng một chốc…

Cái triện đầu nữ hoàng Khờ-me nhoáng một cái đã biến mất.

***

Đực mặt ra nhìn cái kệ trống, tôi lại lan man tiếp rằng từ chiều tối hôm qua đến trưa nay, tôi vẽo vọt xem trộm tướng nó nào là lặng lờ, chìm sâu, khó diễn tả, tới khuôn mặt tự tin tự tại, sáng như hào quang của đức Phật, u mặc như chúa Giêsu. Thế nhưng không phải…Với y ma thần tướng, bỏ vóc dáng Khờ-me, vất khuôn mặt Nhật Bản của nó đi thì rõ ra nó có ẩn tướng của…một bậc minh quân.

Bây giờ thì đã rõ như ban ngày ban mặt, theo quẻ dịch với bát tự tứ trụ, hay hoặc giả với Sấm ký của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thì năm nay là năm Giáp Thân: Khỉ hú trời Nam cá hóa rồng, sang năm là năm Ất Dậu: Gà kêu Nam Bắc hội Hoa long, ắt phải có chuyển biến chi đây. Và tôi ngẩn ngơ đến câu Lý đi rồi Lý lại về.

Đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ, bất nghi bất ngộ. Tôi ngộ ra rằng:

Giời ạ! Hay là nó sắp làm…vua!

Thạch trúc gia trang

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Một vài “khúc măc” về thanh kiếm của Bảo Đại

Năm 1945, Bảo Đại thoái vị, triều thần ở Huế trao bảo ấn và ấn kiếm cho Trần Huy Liệu mang ra Hà Nội. Dự buổi trao ấn kiếm có Cù Huy Cận. Ông Cù Huy Cận ghi lại lưỡi kiếm bằng thép. Theo Thái Văn Kiểm (?) căn cứ vào hàng chữ khắc trên vỏ kiếm là “Khải Định niên chế”, kiếm được rèn đúc vào năm Khải Định lên ngôi và trọng lượng y hệt như thanh kiếm “Minh Mạng niên chế” đúc năm 1823. Mặc dù không ai mục sở thị thanh “Minh Mạng niên chế”, nhưng nhìn chuôi thanh Khải Định có đốc kiếm (garde) bao che tay cho người cầm kiếm thì ai ai cũng hình tượng đến thanh kiếm của Trường võ bị Saint-Cyr của Pháp.

….clip_image008[1]

clip_image010

Vì “lưỡi” thanh kiếm là của Trường võ bị Saint-Cyr Pháp. Nhưng “vỏ” là bao của một thanh gươm Việt. Ngày 03.10.1923 tờ báo Journal, đăng tin: Hôm qua, sau lúc viện bảo tàng đóng cửa, người canh giữ khám phá đã bị mất cắp bao gươm một thanh gươm An Nam. Theo Trung tướng Niox, giám đốc Viện bảo tàng Quân đội (Musée de l’Armée) tại Paris thì bao gươm không phải bằng vàng mà mạ vàng, hai vòng ngoài (chape) và đường viền đồng (bouterolle) đều nạm đá và ngọc cả hai mặt.

Gần đây, theo tác giả Trần Văn Nhật thì không phải là ‘’một thanh kiêm’’ mà là ‘’cặp ấn kiếm’’ có tên là ‘’Nguyễn triều chi bảo’’. Cặp ấn kiếm này do Bảo Đại truyền chỉ cho bà Mộng Điệp đem từ Việt Nam sang Pháp đưa tận tay bà Nam Phương. Khi bà Nam Phương còn sinh tiền đã nhắc nhở Bảo Long: Đừng bao giờ mở tủ kiến mà tách hai bảo vật này ra hai nơi. Khi Bảo Đại viết xong cuốn sách Con rồng An Nam muốn mượn con dấu để đóng lên quyển sách thì Bảo Long nhất quyết không cho, viện dẫn lý do bà Nam Phương đã dặn dò như trên. Vì thế mà có cuộc tranh chấp kiện tụng ra tòa. Tòa xử: “Bảo Đại giữ ấn, còn Bảo Long giữ kiếm.”

Bảo Đại làm giấy tờ với chưởng khế trao ấn triện cho bà vợ người Pháp. Năm 1993, một nhà báo đã chụp được tấm ảnh Bảo Đại và Monique Boudot ngồi trước bảo ấn vàng này. Ảnh chụp bửu ấn đặt trước chai rượu, và một lô ly tách. Ấn triện không lớn hơn bề ngang chai rượu bao nhiêu. Theo tính toán và tài liệu riêng riêng của Lê Văn Lân ấn triện chỉ nặng 10Kg5 chứ không nặng nặng 12Kg9 như “Hòang Đế chi bửu” của Minh Mạng (hay Gia Long). Vì vậy không biết ấn triện này tên gì.

Còn thanh bảo kiếm, Bảo Long cất giữ vào két sắt của Liên Hiệp Ngân Hàng Âu Châu (Union des Banques Europeennes) tại Paris. Tháng 4 năm 1995, hai năm sau khi có tấm ảnh Monique Boudot với bảo ấn trên bàn rượu. Vì một lý do “bất hòa” nào đó, Bảo Long (là đại tá quân đội Pháp) cho một hội đòan mượn ấn kiếm trưng bày ở Au bon Marché trong cuộc triển lãm về Việt Nam. Hiểu theo nghĩ là có nhiều người Việt nhưng không ai biết tên thanh kiếm. Và có thể vì kiếm ở trong bao, nên chẳng ai thấy “ấn dấu” như…“Bảo Đại niên chế” chẳng hạn. Như thanh Thái A Kiếm của Gia Long: Lưỡi thanh kiếm là sản phẩm Âu châu, đốc kiếm là của Á châu được làm tại Huế.

Theo Pierre Daudin, trong Sigiiographic sino-annamite viết về lễ đăng quang của Bảo Đại năm 1934. Trước mặt bà Từ Cung, những biểu tượng vương quyên trên bàn tế lễ gồm có: Một chiếc mão gắn ngọc. Áo thụng gấm vàng. Khuôn bảo ấn. Kim sách (tờ sắc phong) biểu tượng cho vương quyền. Sau buổi lễ, bà Từ Cung cất tất cả vào kho của điện Cẩn chánh. Và không thấy Pierre Daudin nhắc đến thanh bảo kiếm!

Trở lại chuyện bà Mộng Điệp khi bà này được Pháp giao trả ấn triện và ấn kiếm bị thất lạc. Bà Từ Cung nói với bà Mộng Điệp: “Bà có phước lắm bà mới thấy ấn kiếm ấy. Tôi vào làm dâu nhà Nguyễn bao nhiêu năm mà tôi có được trông thấy bao giờ đâu!”.

Theo bà Mộng Điệp, năm 1953 Bảo Long đem cây kiếm bán đấu giá cho một người Pháp kèm chứng từ có hình ảnh. Với tư liệu của bà Mộng Điệp, người đọc hiểu là Bảo Đại có cặp ấn kiếm ‘’Nguyễn triều chi bảo’’ (trùng hợp với tác giả Trần Văn Nhật).

Tuy nhiên theo Pierre Daudin và bà Từ Cung, chẳng lẽ Bảo Đại lại…không có kiếm? Như Gia Long có ít nhất 2 chiếc (Xem Chú thich ở dưới với Thái A KiếmThanh gươm quy y), Minh Mạng 1, Hàm Nghi 2, v…v…và Khải Định 2.

***

Thanh Thái A Kiếm của Gia Long được tìm thấy trong Viện bảo tàng Quân đội (Musée de l’Armée) ở Paris. Theo Nguyễn Thanh Giang, Lữ Huy Nguyên, thì thanh “Thái A Kiếm” này gốc gác từ thời nhà Tần có tên “Thái A”, và một thanh khác là “Long Tuyền”. Từ sự tích “trống, mái” bên Tàu, nên có hai thanh kiếm “trống” Long Tuyền và “mái” Thái A. Qua sách Tể tướng kiếm, trước kia mang tên Can Tương (là “dương” tức chồng – vì Can Tương là tên người thợ rèn) và Mạc Da (là “âm” hay vợ – Mạc Da là tên vợ người thợ rèn).

Tuy nhiên theo ông André Salles trong Le sabre de l’Empereur Gia Long và Đại tá Payard xác định thanh kiếm này là một sản phẩm Âu châu, chỉ khác là có gắn vào một đốc kiếm Á châu thực hiện tại chỗ (tại Huế). Thanh kiếm được đem từ An Nam về sau cuộc viễn chinh đầu tiên năm Ất Dậu 05.07.1885.

Cũng theo nhà văn Jules Boissière trong Documents A. Salles, năm 1888 khi Đồng Khánh tiếp kiến ông ở Huế. Đồng Khánh nói bắn tiếng qua nhà văn này: “Thanh kiếm là một bảo vật lịch sử và tượng trưng quan hệ đến hạnh phúc và sự bảo tồn dân tộc” và tỏ ý được hoàn lại nhưng không được chính phủ Pháp chấp thuận.

clip_image012

clip_image014

Ngoài ra Gia Long còn có một thanh bửu kiếm khác nữa thường dùng để chém đầu giặc, những kẻ phản quốc…Gia Long thấy thanh kiếm ưa giết người nên đem dâng cửa Phật và được gọi là Thanh gươm quy y. (theo Quốc Triều Chánh Biên)

Một vài góp nhặt ấn chỉ của nhà Nguyễn

1 – “Đại Việt Quốc Nguyễn chủ vĩnh ân chi bửu”: Được đúc bởi chúa Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725). Nhà chúa đút lót cho Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) xin thiên triều phong vương tước. Nhưng vua nhà Thanh không chấp thuận vì còn vua Lê. Ấn được trao truyền đến đời Minh Mạng thì mất dấu tích?.

Nhưng theo người Pháp, Nguyễn Ánh giao ấn triện cho Giám mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh mang sang Pháp để dùng làm ấn chỉ hay tín vật.

(A. Faure Mgr. Pigneau de Béhaine năm 1891, trang 124).

2 – “Việt Nam Quốc vương chi ấn”: Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước, ngay sau đó gửi sứ bộ qua Tàu xin sắc phong. Mãi đến năm 1804, vua Tàu mới sai Tề Bố Sâm sang phong vương và ban ấn cho Nguyễn Ánh tại Thăng Long. Chứ không ở Huế vì Tề Bố Sâm thấy xa quá, Nguyễn Ánh phải ra Thăng Long nhận ấn tín và sắc phong. Ấn bạc mạ vàng, hình con lạc đà quỳ tượng trưng cho sự quy phục.

Theo sử gia Phan Khoang hình tượng ấn triện là…con kỳ lân?.

Ấn triện hình vuông, mỗi bề dày 11cm, nặng 5.9kg. Trên mặt ấn chia làm hai: Bên phải khắc hàng chữ “Việt Nam Quốc vương chi ấn”. Bên trái khắc hai chữ “Mãn Thanh”. Ngày 6 tháng 6 năm 1884, ấn bị Patenotre đun chảy tại Tổng trú sứ Pháp ở Huế. Patenotre nguyên là Công sứ Pháp ở bên Tàu, vì không muốn Việt Nam lệ thuộc vào Tàu nữa nên phá hủy ấn ấy đi trước khi ký Hòa ước Giáp Thân 1884.

3 – “Hòang Đế chi bửu”: Đó là chiếc ấn lớn nhất của nhà Nguyễn, được đúc vào thời Gia Long năm Giáp Tý 1804. Tuy nhiên, năm 1804 Gia Long nhận sắc phong và ấn tín của nhà Thanh. Hai năm sau, Gia Long mới xưng “đế”.

Vì vậy phải chăng “Hòang Đế chi bửu” được đúc năm 1806?

Nguồn từ Thái Văn Kiểm, Lê Văn Lân sưu tầm thì ấn “Hòang Đế chi bửu” là của Minh Mạng. Ấn bằng vàng nặng 12Kg9, hình vuông mỗi cạnh đo được 137 mm, nuốm là con rồng cuốn hai tầng. Ấn được đúc ngày mùng 4 tháng 2 năm 1823, tức Minh Mạng thứ tư. Bửu ấn dùng để đóng dấu ban sắc thư cho người ngoại quốc. Điều đáng tiếc là một số ấn có biểu tượng cho vương quyền như ấn “Hòang Đế chi bửu”, theo một nguồn khác đã bị…“thất tán” tại Pháp. Triều Nguyễn, mỗi đời vua có cả chục ấn triện khác nhau. Như thời Gia Long (1802-1820) có 12 chiếc, thời Minh Mạng (1820-1840) 15 chiếc, v…v…Bảo Đại (1925-1945) 8 chiếc. Nhưng hiện nay tại bảo tàng ở Việt Nam vẫn còn giữ được 85 chiếc ấn bằng vàng, bạc, nhưng đa số ấn dùng cho quan nha. Hoặc những ấn được đóng vào các văn bản ban cấp, phong tặng cho thần dân.

Dựa vào tài liệu lưu trữ tại Văn khố Ngoại giao Pháp (Archives, Affaires étrangères 1887), Francois Thierry ghi nhận năm 1885 khi Huế thất thủ. Quân đội Pháp mang tài sản triều đình nhà Nguyễn 5 triệu thoi vàng bạc về Paris. Và đương nhiên có những bảo ấn, ấn chỉ, ấn tín, kim bài, kim sách bằng vàng vì trong ban kiểm kê có Devérias là người thông thạo chữ Hán. Vì khi trao trả lại cho Đồng Khánh 62 thoi vàng, Devérias nhất định giữ lai 94 phẩm vật giá trị vì có văn tự là chữ Hán. Vì vậy biết đâu chừng trong số 94 di vật quý hồ tinh bất qúy hồ đa này lại có ấn triện “Hòang Đế chi bửu”.

Vì qua những bài sưu khảo, ấn chỉ “có tên” được gọi là “Hòang Đế chi bửu”, không nhà biên khảo nào nhìn thấy tận mắt! Gần đây, nếu có thì chỉ nhìn qua “phiên bản” tái tạo qua ảnh chụp (do nghệ nhân Trần Độ ở làng gốm Bát Tràng đã bỏ công sức làm). Bửu ấn nếu còn này, chỉ được nhìn qua ảnh chụp từ năm 1937 của nhà nghiên cứu ấn triện tên Pierre Daudin. Ảnh chụp mới nhất khoảng năm 1995 chỉ là phiên bản.

 

 

 

 

©T.Vấn 2018