02/07/2019
Ngộ Không: Thổ ngơi ký sự    

     

     Ảnh (Lưu Na)

 Tạp bút được vụng câu vụng chữ khươm mươi niên trước trong tâm thái vong gia thất thổ, tôi như xẩm tìm gậy tìm về đất quê với hương ước, thần phả này nọ. Một ngày, bạn cũ trường xưa tếu táo hãy mọt sách ăn giấy về làng Kẻ Noi của bạn.

Bởi lạ thung lạ thổ, tôi lang thang như thần hoàng làng khó trên mạng lưới vì chả hay biết Kẻ Noi ở đâu? Cuối cùng bòn gio đãi sạn được một đọan…

Ở Hà Đông có làng chữ Nôm là Kẻ Noi, chữ Nho là Cổ Nhuế tục truyền rằng:

Vào thời Lý, Đông Chinh Vương đi đánh giặc ghé qua làng được tiếp đón nồng hậu. Trước khi ra trận, già làng hỏi nếu Vương “bãi sa tràng thịt nát xương tan” hãy cho làng lập đền thờ. Vương không thuận, vì thấy đất đai làng ở vùng đầm lầy lội ngòi noi nước không canh tác được nên phải lấy phân về ủ cho hoai để bón ruộng vườn.

Từ đầm lầy “lội ngòi noi nước”, với “noi” là “lần theo” vì vậy có tên Kẻ Noi. Từ gánh phân, dân gian có câu  “Đào Nhật Tân, phân Cổ Nhuế” nói về nghề này.

Năm 1469, vua Lê Thánh Tông vi hành tới Hà Đông thăm miếu thần hoàng thờ quang gánh và đôi đũa cả gắp phân. Vua ta ban câu đối chữ Hán cho làng “Thân trụ nhất nhung y, năng đảm thế gian đa năng sự – Thủ trì tam xích kiếm, tận thu thiên hạ trí nhân tâm” với nghĩa Nôm ”Khóac tấm áo bào, giang tay gánh vác thiên hạ – Vung ba thước kiếm, tận thu lòng dạ thế gian”.

Ngày đó mới chân ướt chân ráo trong chốn làng văn xóm chữ nên ngộ chữ tôi vung tán tàn về thần hoàng bản thổ Kẻ Noi của bạn. Thảng như biểu tượng thần hòang là cặp xương trâu dài ngoằng để gắp phân ngự trong miếu thổ thần. Còn bản thổ Kẻ Noi nằm ở thế đất “hoàng xà thính cáp” tức rắn vàng rình con cóc.

Qua máy vi tính có đọan khác về nghề hót phân, vì “hàng” độc nên hặm hụi đưa vào bài viết..Làng đầm lầy, muỗi bay như rắc trấu nên đâu canh tác được. Lão làng quảy gánh, trong thúng có đồ nghề gắp phân bằng cật tre gộc. Thúng kia có con dao, cuộn giây gai, bình vôi để dịt vết thương, ấy bởi nghèo túng quá nên lão làng làm thêm nghề hoạn lợn. Cùng hót phân như Kẻ Noi, làng Phương Lưu, Hải Phòng có người làm nghề đạo chích. Tên đạo chích khoét vách vào nhà người ta khoắng một mẻ để ăn têt. Vì tháng củ mật, gia chủ hờm sẵn cái cày phập xuống ngọt lịm. Vì chết vào giờ linh nên được làng rước vào đình thờ là…thần hoàng ăn trộm.

Từ ông “đương cảnh thần hòang thượng đẳng thần”…ăn trộm, ngộ chữ tôi mót chữ són câu tục thờ “thành hoàng” có từ đời Tam Quốc. Thành hoàng với từ thành chỉ thành quách, hoàng là cái hào bao quanh ghép lại là “thành hoàng” chỉ vị thần coi giữ cái thành. Vì vậy thành hoàng gốc gác ở bên Tàu. Ở bên Ta việc thờ “thần hoàng” được ghi chép khi vua Lý Thái Tổ dời đô, mộng thấy một cụ đầu bạc phảng phất trước bệ rồng…Sau khi hỏi rõ lai lịch là “thần” sông Tô Lịch, vua phong làm Quốc đô Thăng Long thần hoàng. Nay thần hòang…làng Hà Nội ở ngôi đền số 76 phố Hàng Buồm.

Vì Kẻ Noi nên mắc nợ với chữ “kẻ”, ngộ chữ tôi ăn mày chữ nghĩa thêm…

Người Việt cổ sống nhờ nghề nông rồi đưa nông phẩm đến mảnh đất trống để trao đổi, tiếng Hán “kỳ” là mảnh đất, ta đọc trại là “kẻ”, sau là làng. Có làng có chợ, cuối đời Trần, ngọai thành Thăng Long có nhiều làng bao quanh được gọi tên “Kẻ Chợ” để phân biệt Kẻ Sặt, Kẻ Lủ ở vùng quê…Đất quê chợ búa ở đầu làng, chợ hàm ý gần đó có chùa, chợ búa không có chùa, không phải đóng thuế chợ.

Xong, đưa bài viết “có trọng lượng” để bạn cưỡi ngựa xem hoa: Vừa thấy tựa đề (xem tr 8), cứ như đùa, bạn nhăn răng nói lộn, quê không phải Kẻ Noi mà là…Kẻ Nứa. Mặt tôi nhăn quéo lại không biết hết “kẻ” này đến “kẻ” kia, còn “kẻ” nào nữa chăng?

 

***

Ngày bạn về thiên cổ, ngộ chữ tôi cong lưng gò gẫm viết về bạn với thú chơi đồ cổ có câu: “Quái thật! Làng mình tên gì chả hay thì khỉ thật! Hay bạn nỡm mình cũng nên?”. Trong bài viết ngộ chữ tôi rối như canh hẹ hết Kẻ Noi ở Hà Đông đến Kẻ Nứa ở Sơn Tây xa tít mù. Nhưng hãy để đấy tính sau. Bài gửi đi ngỡ biến mất tiêu!

Bỗng nhận được điện thư của cô Chân Phương rách giời rơi xuống:

(…) Xin cảm ơn vì chú gửi bài viết về tình bạn qua bạn bè giữa chú và chú Thiệp qua bao nhiêu năm đã dành cho nhau. Cảm động lắm khi biết được các chú từng chia sẻ và nhường “đồ chơi (đồ cổ)” quý giá của mình cho nhau. Cháu đọc được sự gần gũi trong văn phong và bút pháp của chú và chú Thiệp như có nhiều điều hòa quyện lẫn nhau trong tính cách của các chú. Cháu không khỏi bật cười thành tiếng khi chú thuật lại câu chuyện chú Thiệp giả ngây, giả ngô: Ban đầu xưng tên làng mình là Kẻ Noi, nhưng sau đó lại chối phăng như không biết tên Nôm của làng mình vì giai thoại nổi tiếng không được thơm tho của làng Cổ Nhuế…(…)

Hoá ra cô Chân Phương là cô cháu của bạn…Trước kia tôi bụng bảo dạ “còn kẻ nào nữa không?”. Nay mặt tôi căng như mặt trống, bởi nhẽ…

(…) Cháu xin được trích lại một phần ghi chép của bố cháu (bố cháu lấy bút hiệu là Minh Văn) để lại về các làng Chi Quan (Kẻ Săn, bên nội của chú Thiệp), Đụn Dương (Kẻ Đụn, bên ngoại của chú Thiệp và bố cháu) (…)

Đến tao đoạn này, tôi ngớ ra: Một là làng của bạn ta là…”Kẻ Săn”. Hai là bố con cô đều một lò nhà văn, cô có bút hiệu Chân Phương, tên cúng cơm: Đỗ T. Tú.

(…) Lịch sử chưa bao giờ Kẻ Noi được sát nhập như một phần của tỉnh Sơn Tây. Vì thế, nhận làng mình là Kẻ Noi, ắt chú Thiệp đã đọc qua giai thoại Ba Giai Tú Xuất,…để mà phá chú đấy! Quê chú Thiệp ở Thạch Thất, Sơn Tây. (…)

Ngộ chữ tôi bèn lấy ngắn nuôi dài qua địa dư chí thời Lý…

Theo Lê Quý Đôn, năm 1172 đời Lý Anh Tông đã có quyển Nam Bắc phiên giới địa đồ. Như vậy sách địa lý đã xuất hiện ở nước ta từ đời nhà Lý. Vào thời này, Kẻ Noi nằm trong đất Từ Liêm trấn Sơn Tây. Thời Nguyễn, Hà Đông nguyên là làng Cầu Đơ, thuộc huyện Thanh Oai, Sơn Tây, Năm 1832, Minh Mạng sát nhập Từ Liêm vào Hà Đông (xem Sơn Tây, tr 3), vì vậy từ thời Minh Mạng, Kẻ Noi thuộc Hà Đông

Qua các nhà biên khảo: Minh Mạng đặt tên Hà Đông dựa vào sách Mạnh Tử (Thiên Lương Huệ Vương) từ địa danh ở bên Tàu có Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc… Theo tôi Lê Thánh Tông đặt tên địa danh theo đông, tây, nam, bắc nên Minh Mạng không có lý sự gì đặt tên làng Đơ ở phía tây Hà Nội với tên Hà Đông. Thêm nữa, tên Hà Đông là tên một huyện thuộc tỉnh Quảng Na. (nay là Tam Kỳ).

Hà Đông nào khác gì chuyện đất đai Hà Nội rối rắm như vày:

“Tỉnh” Hà Nội được thành lập tháng 10 năm 1831 với cuộc cải cách hành chính theo nhà Thanh của Minh Mạng. Thời Pháp, tỉnh Hà Nội (tỉnh bảo hộ – để khác biệt với Nam Kỳ) là địa bàn của thành phố Hà Nội (đất nhượng địa – xem Đồng Khánh tr 3). Ngày 26-12-1896, người Pháp chuyển tỉnh Hà Nội về làng Cầu Đơ. Ngày 3-5-1902, họ tách thành phố Hà Nôi ra khỏi tỉnh Hà Nội và để tránh trùng tên, người Pháp đổi tên tỉnh Hà Nội thành tỉnh Cầu Đơ. Năm 1904, họ đổi tỉnh Cầu Đơ là tỉnh Hà Đông.

Ngộ chữ tôi đang rối tinh với Hà Nội là…Hà Đông, chợt nhớ cô nói quê chú cô ở Kẻ Sắn…Bèn bật ra ý nghĩ  “gà cỏ trở mỏ về rừng”, đưa cô về lại bản lai cố quận.

Tức thì một già, một trẻ bay về Hà Nội, hai chú cháu thuê chiếc “xe con”. Tôi nói với “lái xe” đi Sơn Tây. Lái xe…lái xe tới ngay chóc…phố Sơn Tây (tên Tây là phố Mehl). Chạy thêm khúc nữa Sơn Tây đổi tên thành phố Kim Mã. Ngừng lại ở ngã ba Sơn Tây – Kim Mã và Nguyễn Thái Học, lái xe chỉ trỏ: Bên này là nhà hát cô đầu Kim Mã (xem tr 6), bên kia là bến xe ca Kim Mã. Ngồi trong xe tôi búi bấn đi xe ca chăng vì chắc mẩm cứ đi ngược phố Sơn Tây là tới…Sơn Tây. Tôi vun chuyện với lái xe rằng anh em cải tao trong Nam ở Hàm Tân khi ra trại…”nghe nói” có người như Từ Thức về trần vị được đi “xe than”. Còn ở ngòai Bắc là nhất vì với 4000 năm văn hiến, anh em cải tao được ngồi xe trâu nhưng ít ai được cưỡi xe bò. Nghe tội quá, lái xe…lái xe thêm một đọan nữa có bến xe Chuồng Bò. Lái xe xắng xả bến xe Chuồng Bò có ba hãng xe ca Mỹ Lâm, Chí Thành, Cư Dương…chạy bằng than. Tôi chưa kịp ú ớ, cô cháu nhà văn lụng bụng rằng cả đời chưa bao giờ ngồi xe lửa đốt than hay là …là bây giờ hai chú cháu đi xe than để mai này viết Thổ ngơi ký sự cho…bốc khói.

Rất thật, cả đời tôi cũng chưa thấy xe than bao giờ nên gật đầu và lõ mắt dòm…

Bên phải sau xe gắn lò than cao hơn đầu người. Lò ống hình tru đường kính khỏang tám mươi phân. Ống dẫn “gas” bò lên mui xe tới đầu xe như ống dẫn dầu ở Mỹ. Sát bên lò than là chỗ ngồi của lơ xe. Chú bước xuống moi hết tro than hôm trước bỏ đi. Xong, chú khệ nệ lôi bao than khỏang trăm ký để sẵn trên mui, ngay trên đầu bác tài vác xuống đuôi xe. Đổ than vao lò, thọc kỹ cho chặt, mồi lửa bằng dầu hôi rồi bật quạt gió ngồi chờ. Tôi cũng ngồi chờ, hóng mắt chiếc xe bự sự và vặn óc nghĩ không ra sao hơi than đốt có thể đẩy xe lăn bánh đây? Đang tậm tịt với cái xe…kỳ cổ, lơ xe vẫy kêu: “nhõm rồi’”, ngỡ…“ngỏm rồi”. Mắt tròn dấu hỏi. Chú cười tũn…xong rồi. Bèn hỏi nữa quê chú ở đâu, chú cho hay ở Thạch Thất, Sơn Tây. Thế là mừng húm vì không…bị lạc. Hỏi tới nữa trước làm gì để…làm quen. Chú trả lời: “Thằng cốc”. Tôi mắt trơ như mắt ếch, chú ngay tình, ngay đơ thằng cốc là…“Thằng mõ”.

Xe lăn bánh rời Hà Nội, tôi thu vén với cô cháu bạn ắt sẽ gặp Quang Dũng đang ngồi ở cầu Đơ lợp ngói bắc qua sông Nhuệ đợi Dương Nghiễm Mậu vừa…”về quê”, vì Quang Dũng và Dương Nghiễm Mậu đều quê ở Đan Phượng, Hà Đông. Rời Hà Đông, vất vưởng với cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương, không thể không nhắc tới Nguyên Sa cỏ hoa lạc lối với chữ nghĩa theo Phan Lạc Tiếp về Kẻ Nứa. Cùng bách quế quy vu kỳ thất, là trăm năm bạn cũng về nhà. Trong một cõi đi về…bạn về lại mảnh đất cảnh cũ vì vậy đi tiếp nữa vào vùng núi Thách Thất, Sơn Tây có nhà báo Phan Lạc Phúc và bạn ta đều ở…Kẻ Nứa, như bạn nói với tôi năm nào.

Gặp Quang Dũng ở Phùng, ngộ chữ tôi lêu bêu ít ai hay ông người Hà Đông hay Sơn Tây, bèn bám như cua theo Phan Lạc Tiếp với Bốn mươi năm trở lại

(…) Quang Dũng vẫn được biết đến là một nhà thơ Sơn Tây. Anh đã mang hình ảnh Sơn Tây vào đầy ắp những thi phẩm của mình. “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn. Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng …”. Nhưng thực ra quê hương Quang Dũng ở huyện Đan Phượng, mặc dầu thuộc tỉnh Hà Đông, nhưng lại là nơi giáp ranh với Sơn Tâỵ (…)

Ăn ngay nói thật, tôi thật thà như đếm với cô cháu vốn liếng địa dư của tôi không ngòai…tây giáp địa dư, đông giáp địa chí thì: huyện Đan Phượng ở ngã ba sông Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy. Huyện được lập lên từ thời Trần thuộc châu Từ Liêm. Sang thời hậu Lê, huyện Đan Phượng lệ thuộc về phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Năm 1888, Đồng Khánh cắt Hà Nội cho Pháp: huyện Đan Phựợng được nhập vào phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Quang Dũng được sinh ra tại thôn Phượng Trì, nay thuộc thị trấn Phùng. Nhưng nói cho cùng nhờ vua Lê Thánh Tông, năm 1469, cụ vua đang phất phơ ở mảnh đất đầm lầy, ruồi muỗi đông như tổ đỉa, dân làng lại gánh phân thối hoăng để tìm câu đối cho làng Cổ Nhuế. Khi không nghiệp ngão thế nào chả biết nữa, cụ vua lạc hoa lưu thủy bước qua cầu Phùng trên sông Đáy và nhòm mấy ngọn núi ở vùng đất nằm ở phía tây Thăng Long nên cụ vua đặt tên là thừa tuyên Sơn Tây. Năm 1832, Minh Mạng ngồi ở Huế nhẩy bổ vào vùng núi này đổi tên là…tỉnh Sơn Tây.

Xe than vừa ho khục khặc, vừa thở như kéo bễ trên Quốc lộ 21 tới huyện Thạch Thất. Bèn tỉ tê chữ nghĩa với cô cháu cụ vua Lê Thánh Tông tới phủ Quốc Oai thấy một vùng có núi đá, cụ vua tính đặt là Thạch…gì ấy. Bởi sơn là núi, cụ đã đặt tên cho Sơn Tây rồi. Nho táo mãi cụ tìm ra “thất” cũng là núi. Nên cụ chi ghi vào sổ bộ: Thạch Thất. Mặc dù chả nhìn thấy thành Sơn Tây (Minh Mạng xây năm 1823), dòm mảng khói lùng nhùng như mây của xe than, bởi cô là nhà văn, ngộ chữ tôi thở ra thơ “Em từ thành Sơn chạy giặc về – Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm”. Được thể ngộ chữ tôi nhờn môi nói chữ: Trấn Sơn Nam đất nhà Trần khởi nghiệp, nhà Lê vì hục hặc với nhà Trần chia Trấn Sơn Nam làm hai trấn: Trấn Sơn Nam hạ gồm Nam Định, Thái Bình và Trấn Sơn Nam thượng có Hưng Yên, Hà Đông, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam. Năm 1890, Thành Thái ghép chữ của Hà Nội, chữ Nam của Nam Định đặt tên là Hà Nam.

Từ huyện Thạch Thất, dọc theo tả ngạn bờ sông Tích Lịch, cả hai nom dòm…săn tìm làng Kẻ Săn nhưng cố lý thốn thổ vẫn biệt tăm. Dừng lại bên đường, lơ xe xuống hỏi bà bán quán và mang về một rổ khoai. Ngồi trên xe chỉ nghe óc bóc …“bủ” với…“khoai trứng”. Người Hạ Chí Trương đeo cứng sau lưng “Trẻ lãng du già về cố xứ – Giọng không thay pha tuyết mái đầu”. Bèn bất sĩ hạ vấn, nôm là không mất sĩ diện gì mà không hỏi. Lơ xe cho hay bủ là…bà, khoai trứng là…khoai sọ. Theo “bủ” bán quán làng Kẻ Săn bị cháy năm 1939 nên cả làng rời qua bên kia sông. Xe phải tiếp tục chạy tới nữa, tới phủ Quốc Oai để vòng lại. Nhờ đổ dốc nên xe chạy êm ru…“bủ” rù.

Tới phủ Quốc Oai, xe vòng lại chạy dọc theo hữu ngạn bờ sông Tích Lịch, dòm thấy cái cầu gỗ mái ngói bắc qua con rạch bên đường, ngộ chữ tôi leo heo ở phủ Quốc Oai có hai cây cầu mái ngói do Phùng Khắc Khoan dựng năm 1602, cái này là cầu ông Cống, còn cái kia là cầu ông Nghè ở chùa Thầy. Ngắm ruộng vườn, chả thấy “mía re” (thổ ngữ về mía) đâu chỉ thấy “rạch ngô” (ruộng ngô). Được thể ngộ chữ tôi gà gưỡng làng Mía (Kẻ Mía), tên nôm của làng Đường Lâm (1) là một làng có hai vua: là Phùng Hưng (761-802) và Ngô Quyền (898-944).

Từ rạch ngô, ngộ chữ tôi bắt qua Phùng Khắc Khoan ở Phùng Xá, tục gọi làng Bùng, huyện Thạch Thất. Cụ đi sứ qua đất Ngô thời Tam Quốc. Cụ nhét hạt gì đó vào…”cốc đạo” mang về, ta gọi là ngô cho…ra ngô ra khoai. Từ kỳ cổ này, các cụ ta cấm chỉ không mang ngô cúng trên bàn thờ. Theo ngộ chữ tôi, cụ trạng Bùng chả dại nhét hạt ngô vào cốc đạo cho…lùng bùng, lỡ rơi ở dọc đường thì sao. Thêm nữa, ngộ chữ tôi đồ là chuyện cụ trạng đi sứ mang ngô về nước để trồng trọt chỉ là giai thọai.

Thêm giai thọai trạng Bùng lần thứ nhất gặp công chúa con trời vịnh thơ với nhau bên quán rượu ở Tây Hồ. Lần thứ hai trở lại, công chúa…biến mất, để lại tên nàng là: Quỳnh Hoa. Trạng Bùng lập đền thờ ngay trên nền quán rượu cũ thờ bà. Những nơi thờ mẫu gọi là đền, nhưng những nơi có liên quan đến mẫu Liễu Hạnh (nơi sinh, nơi hiển thánh) gọi là phủ. Nay Phủ Tây Hồ được dựng lên sát ngay mép nước đầu làng Tây Hồ, trên doi đất ăn lạm ra hồ Tây như một bán đảo. (xem tr 7)

Ngộ chữ tôi bắt gặp cô cháu gái nhà văn đang ngộp chữ với các giai thoại dường như “giả”, là không thật của các nhà biên khảo. Nên nghe rồi cô nhòm con dốc và thở ra…Xe đang leo lên dốc cũng thở ra khói thì…tịt.  Chú lơ xe nhẩy xuống mang theo thanh gỗ đập thùng thùng vào bụng lò than. Tro than vung vãi rơi khắp mặt đường. Khói từ ống trên nóc xe xả mịt mù khói mây, sợ quá nên dẫu mồm hỏi. Chú cho hay than “đểu” không cháy nên khói mới mù mịt như vậy. Nói xong chú leo lên mui xe lấy thanh sắt dài thọc thọc vào lò than cho lửa cháy lại. Vừa tàn một điếu thuốc, bác tài nhấn “gas”, chiếc xe than nổ máy như con trâu già lừ đừ leo lên dốc, vừa lăn bánh vừa ho…“khục khặc”, leo hết con dốc. Bác tài cho xe ngừng một lát đợi máy nguội.

Qúa quan trời vắng chân mây địa đàng (TCSơn)…từ trên mỏm dốc nhìn xa xa trên ngọn núi có chùa Tây Phương, bởi lây dây từ cảnh núi rừng đến ruộng vườn, từ xe ca, xe đò, đến chùa Tây Phương, ngộ chữ tôi rị mọ khúc văn này đây…

(…) Sau cải tạo, nhớ dạo “nín thở qua sông”, tôi (Phan Lạc Phúc) sống như cỏ cây trong một khu vườn ở Lái Thiêu. Thỉnh thoảng có bạn đi xe đò lên thăm. Một hôm ông Cung Trầm Tưởng lên chơi. Chúng tôi ngồi dưới gốc chôm chôm, chuyện phiếm. Ông Cung Trầm Tưởng lai rai đọc thơ Quang Dũng, bài Đôi mắt người Sơn Tây: “Vừng trán em vương trời quê hương – Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương”. Nhà thơ tác giả Tiễn em vốn ngày xưa học ở bên Tây, chợt nghiêng đầu hỏi: “Sao lại buồn Tây Phương, sao lại có beauté grecque (vẻ đẹp Hy Lạp) ở đây kìa”. Và tôi trả lời: “Tây Phương là chùa Tây Phương ở Sơn Tây quả có một vẻ đẹp đến từ Tây Phương thật” (…)

Nói dấu sau lưng hương linh cụ Phan Lạc Phúc chứ…chứ cụ dậy “chùa Tây Phương có vẻ đẹp đến từ Tây Phương” nghe không…“đã” nên ngộ chữ tôi mọ mẫm vào Sơn Tây danh thắng tích bị khảo, chùa tên Sùng Phúc Tự. Theo truyền tích chùa là nơi người Tàu dấu cổ vật. Cuối thời Tây Sơn, Phan Huy Ích cho người trùng tu chùa, để lại câu thơ: “Tục truyền Bắc quốc đan thanh cổ – Cảnh chiếm Tây phương thảo thụ u”. Vì vậy có thể tên chùa Tây Phương từ tích này?

Chiếc xe thổ tả từ từ khoai cũng nhừ tới thổ ngơi bản quán của chú cô…Thêm một lần cố lý thốn thổ Kẻ Săn vẫn biệt tăm. Mặt như bánh đa sũng nước, bỗng không cô hỏi: “Tại sao có tên Kẻ Săn”. Thôi thì tôi cũng đành ăn mày chữ nghĩa qua kỳ tích cụ vua Lê Thánh Tông sau khi bước qua cầu Phùng lạc chốn chân ai vào núi rừng thấy hoang dã, hoang thú ở Thăng Long thành mỏi mắt tìm không ra! Ấy là: dê núi và lợn rừng. Thế là cụ vua vác cung đi săn nên dân gian mới có tên: Kẻ Săn.

Rời Kẻ Săn, lơ xe nói ghé phủ Quốc Oai (tên cổ Quảng Oai, do vua Lê Thánh Tôn đặt năm 1469) xem cầu có mái là cầu ông Nghè (trạng Bùng dựng thời nhà Mạc) bắc qua chùa Thầy, thăm chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng rồi từ đây về Hà Nội gần hơn. Trong đầu ngộ chữ tôi lẫn đẫn qua thư kinh: Chùa Thầy ở trên núi Sài Sơn, tên nôm là núi Thầy nên có tên “chùa Thầy”. Chùa dựng thời nhà Đinh, chùa là nơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh nên còn được gọi là chùa Phật Tích.

Lơ xe hặm hụi ở làng Thanh Mai, hay làng Mơ có “rượu Thanh Mai, cờ Mông Phụ” (Mông Phụ ở Phú Thọ) (2)  Lơ xe đắng đãi uống rượu mơ chỉ uống với mơ xanh, tươi, giòn. Ngộ chữ tôi mặt…xanh lè nghĩ từ chùa Hạ, chùa Trung, leo lên chùa Thượng trên đỉnh núi Sài Sơn cũng hốc người nên về quách cho rồi.

Trên đường về lại Hà Nội, từ chuyện leo lên chùa, ký ức như sương khói ngộ chữ tôi đong đảy một nhớ hai quên về…“xí sở” ở căn nhà số 26 phố Chợ Đuổi. Đẩy cửa vào xí sở, nỗi buồn chạm mặt là cái bệ gạch. Những ngày còn bé tẹo leo lên ba bốn bậc tam cấp, ngồi trên hai hòn gạch như ếch ộp, thả nợ đời xuống…cái thùng tôn.

Ký ức về…cái xí sở hay…cái “chuồng xí” những ngày còn bé chỉ bấy nhiêu. Sau này tôi góp nhóp sỏi đá thêm: Chuồng xí có cái bệ xây bằng xi măng cao khỏi mặt đất hơn một thước. Bước mấy bậc có hai moếng xi măng u lên hình hai bàn chân để ngồi xổm mà ị. Dưới bệ xi măng là cái thùng tôn đựng phân. Qua ký ức mù sương của tôi, thùng dầu hôi của hãng Shell in hình nổi con sò. Trong ngõ nhỏ thâm u của ký ức, những người đổ thùng mở cổng sau vào, họ dùng que sắt có móc kéo thùng tôn ra đổ vào cái thúng trám hắc ín rồi gánh đi. Những người đổ thùng ở Hà Nội bấy giờ thường đi thành hàng dài 5, 6 người. Mỗi người đều có đòn gánh trên vai, hai đầu hai cái thúng. Phân và nước tiểu sóng sánh, nhỏ giọt trên vỉa hè…36 phố phường Hà Nội.

Xe than theo quốc lộ 32 từ Sơn Tây về Hà Nội, đến Đan Phượng, Hà Đông, bỗng không cô hỏi ở đây có gì lạ không? Thêm một lần quang gánh chữ nghĩa quay qủa trở lại ở đây có cầu Đơ lợp ngói bắc qua sông Nhuệ. Nơi mà Quang Dũng, mỗi lần về Đan Phượng đều ghé “thượng gia hạ kiều” này uống bát chè xanh, làm cữ thuốc lào, và làm thơ “Tiền nước trả em rồi . nắng gắt – Đường xa xa mờ mờ núi và mây”.

Thế là tôi đùm đậu nếu đình làng là nơi chỗ quan viên họp việc làng, thì cầu mái ngói âm dương như mái đình là nơi dân làng nghỉ chân, tránh nắng những trưa hè gay gắt. Bởi thế trong cầu có quán nước chè xanh nên còn được gọi là cầu quán. Quán có chõng tre bày một dãy bát uống nước chè xanh, bánh dầy, bánh gai, vài quả bưởi, dăm nải chuối. Và vài gói thuốc lào nên chả thiếu cái điếu cầy gác bên thành cầu. Tối khuya, khách lỡ đường ghé qua khoèo một giấc, vì vậy mới có câu dân gian “bơ vơ điếm cỏ, cầu sương”, hay “nằm cầu gối đất” là cái cảnh này đây.

Làm như nương theo nhà văn Trần Dõan Nho, con chữ phải có âm thanh, hình ảnh và bốc mùi, như nhà thơ Nguyễn Đình Thi vung chữ với thổ địa nhân làng Cổ Nhuế: Anh bước đi đầu không ngoảnh lại – Sau lưng anh cứt đái văng đầy. Vì vậy cô dựa dẫm theo Tô Hoài kể lể phu phen Kẻ Noi đẩy xe bò, những chiếc thùng tôn rỗng kêu “lanh canh, lanh canh”. Đó là chiếc xe ba gác một người kéo, một người đẩy. Trong đêm khuya thanh vắng, tiếng bánh xe gỗ cót két lăn trên đường phố trong gió heo may. Tới cửa nhà, sau tiếng đập cửa thình thình vọng vào nhà là hai tiếng…“đổ thùng…đổ thùng”. Lát sau trong khuya khoắt, bánh xe gỗ rền rĩ như khóc, như hát…hát khúc nam ai nam oán lạc loài, lạc lõng vào bóng đêm.

Từ ngòai phố, cô ngụp lặn vào ngõ ngang ngõ dọc. Ngõ là nơi ẩn chứa những bất ngờ chưa có ai kể cho nghe trong con ngõ uốn lượn, quanh co, ngoằn ngoèo như con đường làng sẽ bắt gặp cái…cổng tam quan. Nếu hát cô đầu thường thì tới phố Bông Đỏ, Hà Đông (xem tr 7), phố có tên này vì những nhà hát cô đầu phải treo đèn lồng đỏ trước cửa. Nhưng để hoài niệm, để lắng nghe tiếng gọi của làng từ ngàn xưa, không có gi thú bằng đi hát cô đầu trong ngõ cống Đơ hay ngõ Noi.

Không có mây sao có mưa, tôi len chân vào chuyện phố Khâm Thiên là nơi chốn cụ núi Tản sông Đà thường lui tới để hát ả đào. Nhưng trước đó ở phố Hàng Giấy (từ phố Hàng Đường qua chợ Đồng Xuân) đã có xóm đào nương, còn gọi là xóm Bình Khang. Nhà hát ả đào phố Hàng Giấy theo sử gia Trần Quốc Vương có từ thời Lê Cảnh Hưng (1740-1780). Thêm với Nguyễn Tuân, hồi còn nhỏ ông được cụ thân sinh dẫn tới phố Hàng Giấy để chầu rìa, sau này ông mới…“tom chát”,…“chát  tom”.

Nếu Sơn Tây có nhiều thắng tích, chùa cổ và…sư ông thì Hà Đông có nhà hát cô đầu với…tao nhân mặc khách chứ không phải Hà Nội. Ở Hà Đông, ngòai ngõ Noi, phố Bông Đỏ còn có phố Khâm Thiên. Dây mơ rễ má vì Khâm Thiên thời đó có động mãi dậm, vòm hút thuốc phiện nên người Pháp (1905-1914) sát nhập phố cô đầu vào huyện Hoàn Long thuộc Hà Đông (4). Vì vậy một số nhà hát cô đầu dọn về ngõ Vạn Thái, Chùa Mới, Văn Điển, Cầu Giấy, Kim Mã. Rất thật, tôi rửa óc nghĩ không ra ngõ Noi, ngpai nhà hát cô đầu mắc mớ gì nhiều nhà thơ trẻ…chui vào ngõ làm thơ, hết “Thuơng ai về ngõ vắng…” đến “Ngõ cũ chiều nay, em lại về…”. Đến như Hoàng Cầm ở sông Đuống cũng đưa ngõ Noi vào kịch thơ Kiều Loan thời Lê Trịnh: “Tôi đứng chờ thu trong biếc ngõ – Thấy ông ôm mặt khóc Tần phi”. Mặc dù tôi không biết “ông” ôm mặt khóc là ai? Tần phi là bà nào? Tôi chỉ biết ngõ Noi dài nhất Bắc kỳ nhì Đông Dương ngoằn ngoèo len lỏi qua ba làng cách quãng nhau cả mấy cây số: Làng Dậu, làng Nghĩa Đô từ Hà Đông tới  làng Bưởi làm giấy, Hà Nội và ngừng lại ở Hồ Tây.

 

***

Nghe đến Hồ Tây như gợi nhớ, cô cháu nói muốn tới nền quán rượu xưa kia trạng Bùng lập đền thờ bà chúa Liễu Hạnh. Tôi bèn đưa cô tới doi đất ăn lạm ra hồ Tây, sát ngay mép nước đầu làng Tây Hồ. Ở đây không có rượu của trạng Bùng, tôi ới bia Trúc Bạch, bánh tôm Cổ Ngư. Tôi ngó quanh chẳng thấy phường Thụy Khê dệt lụa, phường Ngũ Xá làm đồng đâu mà chỉ thấy…Mai Thảo qua một thoáng Tây Hồ…

“…Trở về những mảnh tôi xưa. Trúc Bạch dưới trăng vàng. Thiếu thời ấy là một Nghi Tàm lồng lộng. Lưu thủy cộng trường thiên nhất sắc. Cổ Ngư đêm mùa hè. Làng Láng mầu cốm đậm và những hình ảnh muôn thuở của Hà Nội chưa tiều tụy. Ánh lửa khuya dưới vàm ô Quan Chưởng. Mầu đỏ khé cầu Thê Húc. Tiếng tỳ bà Ngã Tư Sở đìu hiu lau lách. Tiếng phách Khâm Thiên…”

Từ Mai Thảo, ngộ chữ tôi vắt qua Thạch Lam với Hà Nội 36 phố phường:…

“…Hà Nội đã thay đổi nhiều lắm, những phố cũ hẹp và khuất khúc, với những nhà ống thụt ra, thụt vào, mái nhà ngói âm dương…Chúng ta không biết được mấy về dĩ vãng, về phố sá kinh thành hồi cụ Lãn Ông, một túi thơ, một bồ thuốc, từ Bát Tràng đến Thăng Long thành, bốc thuốc ở Vạn Thảo Đường, và bây giờ ở phố Hàng Đường cũng có ba chữ Vạn Thảo Đường, nhưng những gì còn lại khác xưa nhiều “

Thăng Long xưa, phố Hàng Đường cũ như thế nào, tôi lễnh đễnh đưa cô cháu về lại thời Nguyễn với Phạm Đình Hổ (3), ông phóng bút Nhà ta ở phường Hà Khẩu…Hà Khẩu đây là phố Hàng Buồm. Qua ông, ngộ chữ tôi phóng bút theo: Đã bao nhiêu mùa gió thổi, cho đến một đêm mưa, mặc kệ cho gió mưa choàng lên phố thị, Qua “Vũ trung tùy bút”, ông để chữ nghĩa trào ra ngọn bút lông tùy hứng dẫn đi, nét ngang, nét sổ, nét móc thấp thoáng hồn người bên phố đông người qua. Hồn người đã đem những viên gạch lá nem lát lên phố cổ. Lá vàng rơi trên giấy: Phố đã đi vào văn học…

Phạm Đình Hổ cho hay: Nhà ta ở phường Hà Khẩu…Thì Hà Khẩu đây là phố Hàng Buồm, gần sông Nhị và sông Tô Lịch, ở đây người Tàu sống bằng nghề làm buồm. Mới sang nước ta, người Tàu ở phố Việt Đông, phường Đường Nhân (phố người Tàu – nay là Hàng Ngang) rồi họ ở lan sang mấy phố chung quanh rồi mới đến Hàng Buồm. Với phố Hàng Ngang, ngộ chữ tôi…ngộ chữ với: thời Lê-Trịnh người Quảng Đông đến làm ăn ở phố Việt Đông: Buổi tối vua Lê chúa Trịnh cho kéo ngựa ngỗ chắn ngang hai đầu phố Việt Đông nên mới có tên là phố Hàng Ngang..

Ngày là lá tháng là mây, ngộ chữ tôi góp nhặt thêm…

Thời Lê, hai phố (phố là tên sau này) đầu tiên trong phố cổ là phố Hàng Bừa, phố Hàng Cuốc (nay là phố Lò Rèn). Gọi là phố nhưng chỉ là con đường đất cát bụi, con đường chỉ độc một căn nhà mái rơm vách đất là gian hàng buôn bán cày bừa, cuốc xẻng sau thành phố. Từ đó có ba con phố dẫn vào phố cổ Hà Nội là phố Hàng Đào, phố Hàng Ngang và phố Hàng Đường. Theo Phạm Đình Hổ:  “…Phố Hàng Đào nhà mái lá, mái ngói nhô ra thụt vào, không có vỉa hè. Đường đất gồ ghề, rất hẹp, ngày nắng bụi mù, ngày mưa lầy lội, không có cống, nước tụ lại chảy thành rãnh hai bên vệ đường. Đêm khuya hàng đàn chuột chạy hai bên đường tìm nước uống. Phố Hàng Đường, là phố nằm trên con đê cũ có chiếc cầu xây bắc ngang qua gọi là Cầu Đông và một ngôi chợ họp ở cạnh cầu gọi là chợ Cầu Đông…“ (nay là chợ Đồng Xuân).

Người Pháp bỏ ra ba năm đập phá một phần Bắc Thành (nay còn dấu tích mảnh tường nhỏ của cổng Tường Phù ở số 38B phố Hàng Đường) và những con phố của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút. Tiếp, họ vừa lát nhựa đường, làm vỉa hè, ống cống cho những con phố này vừa xây dựng phố sá Hà Nội. 100 năm sau sĩ phu Bắc Hà gọi là…“phố cổ” và “Hà Nội 36 phố phường” (có nguồn cho là tên từ Thạch Lam). Về tên 36 phố phường, dựa vào năm 1748, Lê Hiển Tông chia Thăng Long thành 36 khu vực gọi là phường (thời Lê chưa có tên phố). Hay theo Đại Nam nhất thống chí  đời Tự Đức chép tên 21 phố (không có phường). Năm 1883, sau khi đánh chiếm thành Hà Nội, quân đội Pháp cử thiếu úy Lai Nay vẽ bản đồ Hà Nội và thêm một số tên phố mới. Khỏang năm 1910, có hai ba người trong đó có ông Nguyễn Văn Uẩn, họ nương theo 36 phường thời Lê và Trương Vĩnh Ký: tên phố nào còn thiếu cho tên phường vào. Thí dụ phố Hàng Muối chưa có, họ lấy phường Hàng Muối từ Trương Vĩnh Ký – 1876 để có con số tròn trịa: 29 phố và 7 phường. Vì vậy mới có: Hà Nội 36 phố phường

Trở lại với phố cổ Hà Nội, một số nhà được người Pháp xây hai tầng theo kiểu “Tây”, nay vài nhà còn dấu tích năm xây cất 1886. Nhà cửa đều cùng một kiểu “hình ống” sâu hun hút, giữa là sân trống để lấy ánh sáng với bể nước mưa và…“chuồng xí”. Gió nồm rồi lại gió hanh, bể dâu rồi lại bể dâu, từ đó người Hà Nội ngàn năm văn vật mất đi cái thú thứ nhất quận công, thứ nhì…ị đồng. Từ văn hóa “Hà Nội chuồng xí” ngồi lúi húi như cóc nhẩy…nhẩy qua văn hóa “Hà Nội đổ thùng” chỉ trong mộr sát na.

 

***

Xe rời Hồ Tây, về đến bến xe Chuồng Bò, lơ xe hô hoán “nhõm rồi”, tôi biết tỏng nhõm là đến nơi rồi, là…hết. Hết chuyện bèn leo lên máy bay ngồi ôm rổ “khoai trứng”, tỉnh giấc hoè đã có mặt ở Hiu-tân. Bèn hiu hắt xa gần Hà Đông, Sơn Tây, miếu mạo, cầu quán chỉ là giấc hương quan mơ luống mẫn canh dài qua giấc mơ hoang ấy thôi.

 

      Trúc gia trang

  Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

  (viết xong 2003, tựa đề cũ: Kẻ Noi

    với Lê Thiệp, viết lại 2016, 2019)

 

(1) Nguồn khác cho là Đường Lâm ở Phú Thọ.

(2) Còn câu khác: “rượu Hòang Mai, cờ Mộ Trạch”

(Hòang Mai ở Hà Đông, Mộ Trạch ở Hải Dương)

(3) Phạm Đình Hổ (1768-1839).người Cẩm Giàng

tỉnh Hải Dương. Ông sống vào thời Minh Mạng..

(4) Phố Khâm Thiên nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội

Nguồn: Phạm Xuân Độ, Lê Minh Hà, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Quốc Trụ, Hàn Sĩ, Nguyễn Bá Trạc, Trần Ngọc Thêm, Đan Nguyên, Bùi Xuân Đính, Ngự Thuyết, Nguyễn Ngọc Tiến, Nguyễn Hưng Quốc, Lý Khắc Cung, Phan Kế Bính, Bùi Thụy Đào Nguyên.

 

.

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2019