03/13/2019
Nguyên Lạc: NHỮNG KHUẤT LẤP GIỮA MÃ VIỆN VÀ HAI BÀ TRƯNG

Đá – Tranh: Mai Tâm

VĨ NHÂN HAI BÀ TRƯNG

 Như chúng ta đã biết trong sử Việt: Tô Định (nhà Đông Hán) sang xâm lấn Việt Nam, đụng phải sự khôn ngoan, kiên cường của hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, hắn phải bỏ của chạy lấy người, “cắt râu, cạo tóc lẫn vào hàng bại binh chạy về Hải Nam” trốn thoát, vọt về lại Phương Bắc.

Trưng Trắc kết hôn với con trai Lạc tướng ở Chu Diên là Thi Sách, hai nhà cùng có chí hướng chống Hán. Khoảng năm 39-40, nhằm trấn áp người Việt phản kháng, Thái thú Tô Định giết Thi Sách. Trưng Trắc và các Lạc tướng căm thù.

Tháng 2 năm 40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị chính thức phát động cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng của nhiều đội quân và nhân dân các nơi, thuộc Âu Lạc và Nam Việt cũ. Quân Hai Bà đánh hãm Luy Lâu. Tô Định phải chui trụ đồng trốn chạy về Trung Quốc. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam.  Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương (hay Trưng Vương).

Hai Bà đuổi xâm lăng, dành độc lập dân tộc trong 3 năm (40 – 43) Hai Bà Trưng cầm quân khí thế đến nỗi Nhà Hán đă thống nhất nước Tàu, thâu tóm nước Ngô Sở, sau thâu tóm các giòng Việt thuộc Việt Câu Tiễn, trừ đất Lĩnh Nam của dân Lạc đă có văn hóa riêng. Hai Bà đánh đau và dữ dội đến nỗi mà các tỉnh lân cận đều sợ. Vua Hán phải điều Mă Viện và các tướng dạn dày chinh chiến ở chiến trường Tây Bắc, lính chính quy, lực lượng tổng trừ bị mang quân qua đàn áp. Mã Viện phải mất gần ba năm (40 – 43) chuẩn bị, huấn luyện đánh phối hợp thủy bộ với đạo quân nữ giới này.

Không những thế mà họ huy động đạo quân đông đảo và đã để lại đất Lĩnh Nam 20 ngàn dân công đầu trộm đuôi cướp. Cứ trung bình một dân công phục vụ cho 10 người lính. Tính ra thì đạo quân này ít nhất trên dưới 20 vạn quân (hai trăm ngàn). Đông hơn dân Lạc thuở ấy.

Hai nữ Anh hùng đang đánh với quân chủ lực của một nước Tàu xem như Đại Cường trên thế giới, bên cạnh đế quốc La Mã (Roma). Hai Bà thua trận vì tiềm lực quốc gia ta nhỏ bé quá, trong khi Tàu quyết tâm huy động toàn lực lượng dân tộc Hán.

Mã Viện anh hùng chỗ nào? Anh hùng là hai Bà đấy, dám lấy sức “châu chấu đá  voi”.

 

NHỮNG KHUẤT LẤP LIÊN QUAN ĐẾN MÃ VIỆN

Năm 1838 Vua Minh Mạng đi tuần du, cùng đoàn “trí thức “nhà Nguyễn, đã ở lại Hội An và khen tặng các chùa Tàu là Vật báu quốc gia? Hội An là nơi duy nhất của đất nước mà chùa Tàu dày đặc. Nơi chùa Tàu có bài minh ngợi ca Mã Viện (trong bài minh không nêu đích danh Mã Viện nhưng ca tụng công đức của Phục Ba tướng quân, kẻ đã dựng cây trụ đồng ở đất nước ta). Phục Ba tướng quân chính là Mã Viện, kẻ đã bức chết Hai Bà Trưng.[1]

Vậy là Chùa thờ Mã Viện (Phục Ba Tướng Quân hay Mã Phục Ba) được bảo kê bởi chính vị vua thời Nguyễn. Thế nên Lê Ngộ Cát mới viết Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca (tác phẩm trường thi, sử thi, diễn đạt Việt Sử bằng thơ Lục Bát, từ đời Hồng Bàng đến cuối đời Tây Sơn) ngợi ca Mã Viện đánh giá thấp Hai Bà Trưng. Trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca có 22 câu thơ nói về cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng:

 

Hai Bà Trưng Dựng Nền Độc Lập

Bà Trưng quê ở châu Phong

Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.

Chị em nặng một lời nguyền,

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân,

Ngàn Tây nổi áng phong trần,

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.

Hồng quần nhẹ bức chinh yên,

Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành.

Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

Ba thu gánh vác sơn hà,

Một là báo phục, hai là bá vương.

Uy danh động đến Bắc phương,

Hán sai Mã Viện lên đường tiến công.

Hồ Tây đua sức vẫy vùng,

Nữ nhi chống với anh hùng được nao?

Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo,

Chị em thất thế cùng liều với sông.

Phục Ba mới dựng cột đồng,

Ải quan truyền dấu biên công cõi ngoài.

Trưng Vương vắng mặt còn ai?

Đi về thay đổi mặc người Hán quan.

(Lê Ngô Cát)

Câu thứ 16:  “Nữ nhi sánh với anh hùng được nao?”

Trong câu này, có 2 danh từ chung kép: “Nữ nhi” và “Anh hùng”. Điều chắc chắn rằng người đọc ai cũng hiểu: “Nữ nhi” chỉ HAI BÀ TRƯNG, còn “Anh hùng” chỉ viên tướng Tàu tên Mã Viện. [2]

Mã Viện anh hùng chỗ nào?

Nguyễn Du viết 250 bài thơ chữ Hán. Bài Mă Viện với độ mỉa mai rất thâm:

Câu 1:  Mã Viện làm trò khỉ cho Vua Hán, xin xung phong đi đánh nước Lạc Việt:

Sáu mươi còn sức ngựa phi

Trên ngai vua Hán cười khì. Còn ngon!

Qua bài thơ Quỷ Môn Quan, NGUYỄN DU mỉa:

Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt,

Kỳ công hà thủ Hán tướng quân.*

 

Bên đường gió lạnh luồng xương trắng,

Hán tướng công gì kể bấy nay?  (Quách Tấn dịch)

……………………..

*Hán tướng quân:

Chỉ Mã Viện. Mã Viện đem quân đánh hai bà Trưng, tuy đắc thắng nhưng quân lính chết dọc đường không biết bao nhiêu. Như thế có gì là chiến công đáng khen ngợi. Cũng có ý nói: kỳ công của tướng quân nhà Hán không có chi hơn là “đống xương trong gió lạnh bên đường”.

Quỷ Môn Quan ở phía Nam xã Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn, địa thế hiểm trở, có núi hình như đầu quỷ mà mệnh danh là Quỉ Môn quan. Cổ thi có câu: “Quỷ Môn Quan! Quỷ Môn Quan! / Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn”. Người Việt đi sứ Trung Quốc có câu: “Rạng ngày đến Quỷ Môn Quan /  Tiếng xưa thập khứ nhất hoàn là đây.”

Tượng Mă Viện xây mặt về phương Nam, nơi ông khi vơ vét đã chở xe Ý dĩ (thuốc quý của dân tộc VN ta) đem về tư dinh dấu vua Hán. Vua Hán giận ông già vợ (Mã viện dâng con gái làm bé vua Hán để hưởng lợi), vua Hán giận vì tranh ăn hột châu báu Giao châu mà không nộp, cấm Mă Viện khi chết không được chôn nơi hoàng thành!

…………………..

Suy gẫm bài Quỷ Môn Quan của NGUYỄN DU, ta thấy Cụ xem Mã Viện là tên tướng giặc nhà Hán, không là Anh Hùng như ông Lê Ngô Cát gọi. Có chăng, anh hùng chỉ ở nước Tàu của hắn mà thôi.

Tiếc thay, bài thơ Lịch Sử hay và rất phổ biến mà dùng từ không chuẩn, đã làm giảm giá trị bài thơ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tuổi trẻ sau này! Lỗi tại ai ?

Thiển nghĩ, với những tên ngoại nhân đã xâm lăng nước ta, hoặc ý đồ xâm lăng nước ta, chúng ta không thể xưng tụng chúng là anh hùng, mà là những tên giặc, ngoại tặc như Mã Viện, Tô Định, Trương Phụ, Tôn Sĩ Nghị, Đặng Tiểu Bình  v.v.. (2)

THEO DẤU CHÂN NGƯỜI 

(Giới thiệu với độc giả bài biên khảo của tác giả Lê Nghị)

 Mã Viện: Dưới cách nhìn của người Trung Hoa

Dưới cách nhìn của người Trung Hoa, Phục Ba tướng quân Mã Viện của nhà Đông Hán là một danh tướng có công với đất nước của họ, được lưu danh sử sách. Tên Mã Viện trở thành một điển tích được ca ngợi, thậm chí ngay cả trong văn chương Việt cũng có nhắc đến như hình ảnh một chiến tướng oai hùng:

Vân Tuỳ Giới Tử liệp Lâu Lan

Tiếu hướng Man khê đàm Mã Viện

 

Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử

Tới Man Khê bàn sự Phục Ba

(Chinh phụ ngâm khúc)

Quả vậy đối với cuộc xâm lược phương Nam của Trung Hoa là người có công lớn nhất. Mã Viện chẳng những chiến thắng nước Lĩnh Nam của Hai Bà Trưng mà còn thiết lập một cơ chế hiệu quả mở đường cho Trung Hoa cai trị suốt 1000 năm đô hộ nước ta, tóm tắt vài ý sau, sẽ làm rõ hơn trong các bài lịch sử:

– Chia để trị, dễ dàng phân hoá mua chuộc, chia rẽ dân tộc.

– Lĩnh Nam chia làm 4 quận: Hợp phố nay đã thành Quảng Đông Trung quốc. Riêng 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nay phần lớn của Việt Nam ta chia làm 21 huyện, mỗi huyện đều có thành đóng quân.

-Bóc lột triệt để nhằm không để dân Nam không ngóc đầu dậy, không cho người bản xứ đi học.

-Lai chủng tộc bằng cách bắt trai trẻ sung lính viễn chinh, chết ở xứ người.

– Lập đồn điền và chủ điền là người Hán, độc quyền ruộng muối và ngoại thương.

-Về văn hoá: xoá bỏ văn minh Lạc Việt.

Du nhập tập tục, thờ cúng thần thánh và vua chúa, lễ hội… như Trung Hoa.

 

  1. Mã Viện: Dưới cách nhìn của thi hào Nguyễn Du

Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán dưới góc nhìn của đại thi hào NGUYỄN DU trong Bắc Hành Tạp Lục: Nguyễn Du với góc độ nhân văn ông chê bai Mã Viện trong bài “Quỷ môn quan” mà tôi đã giới thiệu:

Nghìn năm gió buốt xương khô

Nên công tướng Hán vạn mồ không chôn.

Nay giới thiệu thêm hai bài của thi hào Nguyễn Du nhìn Mã Viện dưới góc độ vừa nhân văn vừa bày tỏ lòng yêu nước. Đối với ông Mã Viện là con người: tham danh, tham lợi, không tiếc máu xương đồng loại và kết cục không được chôn ở quê nhà, ăn nhờ hương hoả xứ người. Quả nào do nhân nấy mà ra.

Trong trang Thi Viện có nhiều bài dịch của các danh sĩ Việt Nam, bạn đọc nên đọc để thưởng thức và tìm hiểu thêm. Tôi cũng cố gắng đưa ra hai bản xem như là tập dịch, nhằm bổ sung thêm cho các bài lịch sử cho trẻ em, đang đăng trong giai đoạn ngàn năm nô lệ.

 

Giáp Thành Mã Phục Ba miếu

Lục thập lão nhân cân lực suy,

Cứ an bị giáp tật như phi.

Ðiện đình chỉ bác quân vương tiếu,

Hương lý ninh tri huynh đệ bi.

Đồng trụ cận năng khi Việt nữ,

Châu xa tất cánh luỵ gia nhi.

Tính danh hợp thướng Vân Đài hoạ,

Do hướng Nam trung sách tuế thì.

 

Dịch nghĩa:

Người già tuổi sáu mươi thì gân sức suy.

Ông còn mặc giáp nhảy lên ngựa nhanh như bay.

Chỉ chuốc một nụ cười của nhà vua nơi cung điện.

Ðâu biết anh em nơi quê hương thương xót cho ông!

Cột đồng chỉ dối được đàn bà con gái Việt.

Chứ như xe ngọc châu chở về, thì lại để luỵ cho con cháu ông.

Tên tuổi ông (đáng lẽ) được ghi nơi bức hoạ Vân Ðài.

Sao lại đòi nước Nam hằng năm phải cúng tế?

 

Chú thích:

Mã Viện cho thu trống đồng của tộc Lạc Việt, văn hoá Văn Lang nấu chảy, dựng một cột đồng ngạo nghễ ghi: Đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt. Ngầm nói văn hoá Việt đã bị diệt. Còn lại đúc thành con ngựa đồng kéo về Trung Hoa, đồng thời kéo một xe thuốc Nam chữa bệnh phong thấp, vua nghi ngờ ông chở châu báu dấu riêng, bắt làm quan ở kinh đô. Khi chết vợ con chôn công khai tại chân thành, vì sợ đem về quê chôn sẽ bị đào mả truy tìm châu báu, liên luỵ vợ con.

Có thuyết nói Mã Viện chết năm 49, vì nhiễm bệnh khi đánh giặc Ô Hoàn. Vua nghi ngờ ông biển thủ sừng tê, ngà voi, thực chất ông có chở một xe bo bo về dùng!

Dù thuyết nào cũng thấy rõ vua quan Trung quốc có đặc điểm hay nghi kỵ công thần.

 

Đề Đại Than Mã Phục Ba miếu

Tạc thông lĩnh đạo định Viêm khư,

Cái thế công danh tại sử thư.

Hướng lão đại niên căng quắc thước,

Trừ y thực ngoại tẫn doanh dư.

Ðại Than phong lãng lưu tiền liệt,

Cổ miếu tùng sam cách cố lư.

Nhật mộ thành Tây kinh cức hạ,

Dâm Ðàm di hối cánh hà như.

 

Dịch nghĩa:

Ðục xuyên qua đường Ngũ lĩnh, bình định cõi Nam

Công danh trùm đời ghi trên sử sách

Già lớn tuổi rồi còn khoe quắc thước

Ngoài cơm áo ra, mọi thứ là thừa

Sóng gió Ðại Than còn để dấu công oanh liệt thời trước

Cây tùng, cây sam ở ngôi miếu cổ xa cách quê nhà

Chiều tà dưới đám gai gọc phía tây thành

Nỗi hận ở Dâm Ðàm, sau cùng ra làm sao?

 

– Giáp thành: nơi ranh giới Việt Nam và Trung Hoa.

– Mã Phục Ba: Tên Mã Viện hiệu phục ba tướng quân, 60 tuổi còn đi đánh giặc lập công. Vua thương tuổi cao không nỡ cho đi, Mã Viện liền mặc áo giáp nhảy lên yên ngựa tỏ ra mình còn khoẻ mạnh. Vua cười nói: “Ông này quắc thước lắm”.

–  Vân Đài: Đài Mây, nơi khắc tên 28 công thần Trung Hoa nhưng không có tên Mã Viện.

( Nguồn văn bản và chú thích thơ : Thi viện. Nguồn biên soạn lịch sử: Viện Sử Học Việt Nam )

 

Lê Nghị phỏng dịch:

Bài 1:

Miếu Phục ba ở giáp ranh giới.

Sáu chục tuổi rồi gân cốt suy

Giáp mang quất ngựa để mà chi

Điện đình được tiếng quân vương khoái

Làng xóm quên lời em út khi

Đồng trụ dọa hù đôi gái trẻ

Xe châu tai ách đám thê nhi

Mặt mày chẳng vẻ Đài Mây ấy

Sao cậy người Nam đốt giấy chi ?

(Lê Nghị)

 

Bài 2 :

Ghi về miếu Mã Phục Ba ở Đại Than.

Đục thông núi Lĩnh chiếm phương Nam (1)

Sử sách ghi công thấy mà ham

Tuổi lớn thân già khoe cứng cỏi

Cơm no mặc đủ tỏ tham lam

Thác to công cán ghi trên nước

Am nhỏ quê người dưới bụi sam

Gai góc thành Tây chiều khói sậm

Hay chăng như thuở hận Dâm Đàm ?(2)

(Lê Nghị)

…………

Chú thích:

  1. Ý nói Mã Viện xâm lược đã cho đục đá, phá thác ghềnh để quân bộ và quân thuỷ đi qua.
  2. Dâm Đàm: tên gọi khác là Lãng Bạc , vùng Hồ Tây Hà Nội nay; nơi Mã Viện có trận thắng quyết định quân Hai Bà Trưng.

 

***

Trong Nam Phong tạp chí số 8, tháng 2 năm 1918, ở mục Vịnh sử có bài thơ ký tên là Vô danh thị, như sau:

Trèo non vượt bể biết bao công,

Một trận hồ Tây chút vẫy vùng.

Quắc thước khoe chi mình tóc trắng,

Cân thoa đọ với gái quần hồng.

Gièm chê đã chán đầy mâm ngọc,

Công cán ra chi mấy cột đồng.

Ai muốn chép công ta chép oán,

Công riêng ai đó oán ta chung.

(Mã Viện – Vô danh thị)

 

LỜI KẾT

Đừng tin hoàn toàn những gì họ (Đại Hán) nói và viết (Ví dụ bộ sử Minh Thực Lục chuyên viết xấu các anh hùng VN). Hãy suy nghĩ cẩn trọng, chỉ giữ cái hay và loại cái dở, cái không hợp với VN ta. Không phải cái gì cũng răm rắp làm theo. Hãy học rõ Sử Việt Nam để trân trọng công ơn giữ và dựng nước của các anh hùng dân tộc. Văn Học Việt Nam ta có rất nhiều áng văn thơ bất hủ, như Nguyễn Du, Cao Bá Quát .v.v..

Nhật (Japan), Hàn Quốc (Korea) đã THOÁT TRUNG và trở thành ÔNG CHỦ của công nhân Trung Quốc hiện nay. Còn Việt Nam ta thì sao?

Nguyên Lạc  

………………

Nguồn tham khảo: Thơ chữ Hán Nguyễn Du,Truyện Thủy Hử, Truyện Cười Nhân gian, Đại Việt sử ký toàn thư, Laiquangnam, TS Phạm Trọng Chánh, Nguyễn Minh Thanh,Lê Nghị…

Ghi chú:

(1) Laiquangnam:

“PHỤC BA LÃO GIA”

http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/tamtinhnhanngaycuacha.htm

(2) Nguyễn Minh Thanh-Sao Gọi kẻ Thù Dân Tộc Là Anh Hùng ?

http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=14588