05/10/2019
Hòang Quân: Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau: Chuyện Ba Người (6)

Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau – Tranh: Thanh Châu

Kỳ 1  Kỳ 2  Kỳ 3  Kỳ 4

Chuyện Ba Người

Ô! Đây không phải là Chuyện Ba Người  của nhạc sĩ Quốc Dũng. Chuyện ba người của nhạc sĩ có những khúc mắc khó gỡ, có những tình huống khó xử.

Hai người vui biết bao nhiêu

Một người lặng lẽ buồn thiu đứng nhìn.

Không! Chuyện ba người của vườn Uyên không khó gỡ, chẳng khó xử, mà chỉ khó quên. Ba người ấy rất tâm đầu ý hợp. Họ cùng có trái tim lãng mạn ngất trời. Họ cùng miệt mài những trang tiểu thuyết một thời để yêu và một thời để… ngồi quán cà phê. Nhắc đến bộ ba, bên Âu, người ta liên tưởng ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ. Bên Á, người ta nghĩ đến ba ông Phúc Lộc Thọ. Trong tiểu thuyết vườn Uyên, bộ ba tam lang đã viết những trang truyện ngan ngát mộng mơ.

Sự xuất hiện của bộ ba tưởng như tình cờ, nhưng lại có sự xếp đặt theo thứ tự hợp lý. Nhất Lang say mê Nhất Nương. Nhị Lang tương tư Nhị Nương. Tam Lang để ý Tam Nương. Nhẽ ra, họ là bộ bốn. Bốn người bạn đi chung với nhau. Người thứ tư, Tứ Lang, đành đóng vai người ngoại cuộc, dẫu vườn Uyên có bốn cô nương. Bởi, Tứ Nương đang là học trò tiểu học. Điệu bộ ngồi vắt vẻo trên cây ổi với mấy đứa nhóc khác, Tứ Nương không những là con nít, mà còn mang vẻ con trai. Sau này, tình cờ thấy lại “đứa bé con giai” ngày xưa, giờ trở thành giai nhân kiều diễm, Tứ Lang tiếc hùi hụi. Ôi, phải chi hồi ấy mình kiên nhẫn một tí, nhẩn nha chờ, có công mài sắt, sẽ có ngày nên… dao chứ. Nhưng nghĩ kỹ, Tứ Lang ngài ngại. Nhỡ thành chuyện bốn người, đám bạn rắn mắt sẽ dán cho bộ bốn cái nhãn anh em nhà Daltons trong truyện tranh Lucky Luke. Thế thì không gian bàng bạc thơ văn của các chàng ắt đầy tiếng súng đì đoành của anh cao bồi và tiếng xích sắt lèng xèng của tứ quái.

Theo thang bậc tuổi tác, người lớn tuổi nhất trong tam lang là Nhất Lang. Nhất Lang văn hay, chữ tốt từ thuở còn xài bút mực ở tiểu học. Một người bạn học chung với Nhất Lang năm lớp nhất, kể rằng, Nhất Lang viết những bài tập làm văn hay thần sầu. Thầy giáo khen xuýt xoa, những bài luận của Nhất Lang, văn phong bay bổng, ý tưởng già dặn. Mỗi lần chấm bài xong, thầy giáo đọc bài Nhất Lang cho cả lớp nghe, như khuôn mẫu để học trò noi theo. Thầy giáo đã nhắn nhủ, học trò nhất nhất vâng lời. Học trò lắng nghe lời vàng, ý ngọc. Nhưng chữ nghĩa vào tai này, khi tiếng trống giờ ra chơi thùng thùng, chữ nghĩa ào ào ra tai kia, giống như bầy học trò nhào ra khỏi lớp, chạy ngay đến hàng cà-rem sát cổng trường. Thầy giáo là hướng đạo sinh trẻ, rất thương yêu, gần gũi với bầy học trò. Sau giờ học, thầy giáo thường ở lại trường, dắt đám học trò ra sân sau của trường, hướng dẫn cách cắm trại. Đám học trò trẻ con lau chau, thích thú trong sinh hoạt ngoài trời với thầy giáo. Nhất Lang chẳng hề quan tâm đến không khí nhộn nhịp của lớp. Nhất Lang đứng thơ thẩn đâu đó, ngoài hàng hiên, cạnh bờ tường, ngắm trời đất bâng quơ.

Những năm lên trung học, Nhất Lang vùng vẫy bơi lội thỏa thuê trong giờ kim văn, cổ văn. Nhất Lang như con cá mắc cạn trong giờ toán, lý, hóa… Lên trung học đệ nhị cấp, tất nhiên, Nhất Lang theo ban C, để vui vầy với văn chương, thi phú. Nhất Lang có nhiều bạn bè, đa số dân ban C. Cũng có một số bạn bên ban A, B. Các bạn này, giữa những bài vở dài lê thê, khô khan của vạn vật, toán, lý hóa, cũng có đôi phút cùng Nhất Lang sôi nổi bàn về cuốn sách Tâm Tình Hiến Dâng, Ngàn Cánh Hạc. Nhất Lang rất thân với hai người bạn cùng ban C nhưng nhỏ hơn vài tuổi.

Nhất Lang vẫn cùng chúng bạn ngồi quán cà phê đây kia. Ngày nọ, Nhất Lang lạc bước đến vườn Uyên. Giữa nơi chốn của núi Ấn, sông Trà, thấp thoáng bóng dáng núi Ngự, sông Hương. Nhất Nương, với mái tóc mượt mà, ánh mắt kiêu kỳ, đã làm Nhất Lang hồn xiêu, phách lạc. Nhất Lang bỗng nghe tim mình chao nghiêng:

Em có phải từ nghìn xưa hoài vọng,

Giấc khuynh thành. Ôi! Quốc sắc thiên hương.

Từ đó, vườn Uyên là tiểu vương quốc thơ mộng nhất trong mắt Nhất Lang. Ngắm trăng vàng, chàng làm thơ. Nghe gió thổi, chàng làm thơ. Nhất Lang mong gặp Nhất Nương, để gởi gắm đôi lời:

Có phải em ngồi hong tóc xuân,

Mà anh sông, suối chảy quanh hồn.

Hình như em ghé vào trong mộng,

Mà có nghe lời anh gọi không?

Nhất Lang không cưỡng lại được sức hút của vườn Uyên. Những khi, vì lý do bất khả kháng, không thể đến vườn, Nhất Lang quay quắt:

Hỡi em! Một giấc tình sầu

Nhớ không dao cắt mà sao xé lòng

Với những dự định dời non, lấp biển trong trí, Nhất Lang khoác lên mình chiếc áo ngông nghênh, ngang ngạnh. Nhưng trong tim Nhất Lang, là những lời êm dịu:

Tôi có tôi từ khi yêu em

Là coi như đã nhận thiên đường

Cho nên đi suốt mùa thương nhớ

Những ngã ba mà đợi vóc hương

 Nhất Nương vào đại học Sài Gòn, chỉ về thăm gia đình ở thị xã vào mùa hè, hoặc tết lễ. Nhất Lang đến vườn Uyên. Thiếu bóng Nhất Nương, vườn Uyên vừa buồn, vừa vắng:

Quán sầu nghiêng nắng tây hiên,

Em ơi! Men khói nào quên bây giờ?!

Mỗi năm, các trường trung học trong tỉnh có cuộc thi bích báo. Mùa xuân năm xưa ấy, thầy Nguyễn Văn Đồng, tức nhà thơ Hà Nguyên Thạch, giáo sư Việt Văn của trường Nữ Trung Học tổ chức cuộc thi báo tường. Thời đó, thầy Đồng làm bạn với nhà thơ Luân Hoán và một vài nhà văn, nhà thơ, nhà báo ở trọ nơi dãy nhà Trùng Khánh trên đường Phan Bội Châu. Một số nam sinh ban C, trường Trần Quốc Tuấn hay lân la làm quen với các cây đa, cây đề ở đây. Cuộc thi bích báo năm ấy rất xôm tụ. Toàn trường nô nức tham gia. Chả biết ai mách nhỏ, các nữ sinh lớp của Nhị Nương đánh tiếng nhờ các nam sinh ban C trường Trần Quốc Tuấn giúp đỡ. Khi những tiểu thơ áo trắng chúm chím cười, thỏ thẻ đôi lời, dẫu các nàng bảo hái sao trên trời, các chàng vẫn sẵn sàng. Huống hồ, các nàng chỉ nhờ phụ làm bích báo. Đích thị là nghề của chàng. Bởi vậy, các chàng vui lắm, mở cờ trong bụng. Các cao thủ cầm, kỳ, thi, họa của mấy lớp ban C tụ tập ở nhà Tam Lang, miệt mài với cọ, với bút. Góc này, vài chàng đang đăm chiêu tìm ý văn, nét thơ. Góc kia, vài chàng nắn nót kẻ nhạc, vẽ hình. Các chàng lười ăn, biếng ngủ, toàn tâm, toàn trí chăm chút đứa con tinh thần cho các nàng. Ngày các nàng đem tờ bích báo đi nộp, các nàng hồi hộp một, các chàng lo âu đến mười. Lỡ, báo không được giải gì, tiếng dữ đồn xa, người ta biết đó là báo của nam sinh ban C, xấu hổ để đâu cho hết. Đau khổ hơn, e các nàng sẽ dứt đường tơ, không thương xót. Lạ thật, các chàng chẳng có tật, mà sao lại có lắm tài. Tờ bích báo được giải nhất toàn trường. Giữ lời hứa, Nhị Nương thay mặt lớp, mời các chàng nghệ sĩ gầy rạc, mắt trởm lơ vì thiếu ngủ trong những ngày cật lực làm báo, đến Café Uyên đãi chầu cà phê. Thế là, cùng một lúc có hai tia sét chớp sáng giữa vườn Uyên, dẫu đêm xuân ấy, trăng sáng hiền hòa.

Khi nghe đám bạn rủ nhau làm báo cho trường bạn, Nhị Lang đồng ý, vì thích làm báo, chứ không quan tâm ai nhờ. Thật may mắn, làm báo xong, Nhị Lang mới thấm thía nỗi niềm phút đầu gặp em tinh tú quay cuồng. Chứ gặp trước, tờ báo có nguy cơ bị đánh rớt, vì Nhị Lang chẳng viết gì, ngoài những ngôn từ ca tụng nàng. Nhị Lang mê viết văn và bàn bạc về triết học. Vào giờ triết, Nhị Lang thường tranh luận, một mất, một còn, với giáo sư triết. Có lúc giáo sư phải dời cuộc thảo luận tay đôi sang giờ chơi, để đủ thì giờ dạy cho kịp chương trình. Ấy thế, mà đối với Nhị Nương, chàng khoan nhượng tuyệt đối. Nhị Lang không làm thơ. Nhưng Nhị Lang yên tâm, thi sĩ Nguyên Sa đã nói hộ lòng chàng:

 Tôi không biết rằng lạ hay quen

Chỉ biết em mang theo nghê thường

Có lần, sau cơn bão nhỏ rớt xuống thị xã đêm trước, Nhị Lang đi ngang Café Uyên, thấy Nhị Nương đứng trong vườn. Nhị Lang ân cần:

– Cơn bão có gây thiệt hại gì không?

Nhị Nương chỉ mấy nhánh hoa giấy bị gãy:

– Nhờ anh mang đi được không?

– Nhà tôi không có vườn.

– Vậy trong phòng học, chắc có chỗ cho nhành hoa giấy chứ?

– Không! Không có! Chỗ nào cũng đầy ắp hình bóng của cô nương rồi.

Nhị Nương bối rối, mắc cỡ quày quả vào nhà. Nhị Lang nói với theo:

Cho nên cặp mắt mờ hư ảo

Cả bốn chân trời chỉ có em

Mà thật vậy, giữa bầy tiên áo trắng của trường Nữ Trung Học tung tăng trước cổng trường, Nhị Lang chỉ thấy mỗi dáng khuê quế của Nhị Nương. Giữa tiếng nói cười vui nhộn của các thiếu nữ, Nhi Lang chỉ nghe mỗi giọng cười trong vắt của Nhị Nương. Nhị Lang vốn đã giống triết gia. Giờ mang bệnh tương tư, ngôn từ của Nhị Lang lại càng bí ẩn, cao siêu. Nhị Lang chẳng màng ai hiểu mình hay không. Chỉ cần Nhị Nương nhoẻn miệng cười, là tim của Nhị Lang lại đập những nhịp… biết yêu em rồi tôi biết tương tư.

Trên trường, Tam Lang đà ra dáng văn nhân, thi sĩ, là một trong những khuôn mặt văn chương nổi bật, bạn bè mến mộ. Tam Lang đã nhiều lần lang thang trên đường Phan Bội Châu, đi sau những tà áo trắng, viết dăm câu thơ học trò. Có lúc, bạn bè thấy Tam Lang sánh bước với nữ sinh trường Nữ Trung Học. Thế mà, sau lần được khoản đãi cà phê ở vườn Uyên, gặp con bé tuổi mười ba, Tam Lang bỗng khám phá ra sở thích mới của mình. Tam Lang thích trồng cây… si. Trong khi Nhất Lang, Nhị Lang xôn xao lời văn, tiếng thơ để mê hoặc Nhất Nương, Nhị Nương, Tam Lang chỉ lặng lẽ nhìn Tam Nương. Nhất Nương có lúc tặng một nụ cười kiêu sa, khi Nhất Lang bắt chuyện. Nhị Nương có lúc gởi một nét cười đài các, khi Nhị Lang hỏi han. Tam Nương chỉ cười hăng hắc, khi nói chuyện với anh chị em trong nhà. Nhưng lúc giáp mặt với các chàng nghệ sĩ trẻ, Tam Nương mặt mày nghiêm trang, y hệt bà cụ non. Tam Nương nhìn ai cũng như nhau, không hề dành sự đặc biệt nào cho Tam Lang. Bạn bè xuýt xoa, khen không hết lời những câu thơ mượt mà của Tam Lang. Vài đứa bạn đã “mượn” Tam Lang dăm ba bài thơ để đi “tán đào” và đã “công thành danh toại”. Vậy mà, Tam Nương chẳng hề có biểu hiện tình cảm nào, khi đọc những vần thơ của Tam Lang gởi gắm. Tam Lang tâm sự với người bạn thân:

Đọc kinh ngàn vạn quyển

Không hiểu nổi một người

Ta bắt đầu nghi hoặc

Hay thánh hiền nói chơi

Bạn an ủi:

– Thôi, để tâm chi cho mệt. Con oắt tì bây giờ hỉ mũi còn chưa sạch. Làm sao hiểu nổi thơ với văn. Chờ vài ba năm nữa, nó nhổ giò…

Người bạn, đồng bệnh tương lân, chia sẻ nỗi sầu cùng Tam Lang. Bởi, người bạn có tâm sự riêng, khắc khoải dữ lắm:

Đành rằng vậy tâm hồn em khép cửa

Mà sao anh cứ gõ dập bàn tay

Mà sao anh cứ mơ chuyện trăng bay

Khi đời sống không bao giờ nguyệt thực…

Nhất Lang lắm lúc ái ngại vì sự im lặng đầy cam chịu của Tam Lang, đâm ra bực bội khuôn mặt khó đăm đăm của Tam Nương. Sự thầm lặng của Tam Lang dần dà tích tụ thành thơ. Những câu thơ thật tra trắng của thanh niên chưa đến tuổi đôi mươi.

Trên nhánh cây tiền kiếp

Chim nhỏ máu luân hồi

Có bao giờ em biết

Ta buồn không hé môi

Nói cho ngay, Tam Nương vẫn đang tuổi đọc báo Tuổi Hoa. Mà chỉ hoa xanh, hoa đỏ, chứ Tam Nương nào đã có giấy phép đọc Tuổi Hoa tím. Những vần thơ tuyệt mỹ của Tam Lang e không làm con bé cảm động như truyện Chiếc Xe Thổ Mộ của Bích Thủy. Những ý thơ phiêu diêu, e không hấp dẫn con bé bằng truyện Mật Lệnh U Đỏ của Hoàng Đăng Cấp.

Chuyện ba người lửng lửng, lơ lơ được vài năm. Tam lang đã viết biết bao bài thơ đẹp, biết bao đoạn văn hay. Tưởng tượng, chuyện ba người trở thành chuyện sáu người của vườn Uyên. Đấy sẽ là chuyện cổ tích có hậu, với happy ending. Nhưng cơn lốc khốc liệt 1975 đã đẩy xua những hồn thơ, hồn mộng của thị xã nhỏ bé tan tác. Tam lang, tam nương trôi dạt về những phương trời xa lạ và mất hẳn tin tức của nhau.

Gần nửa thế kỷ trôi qua. Nhất Lang thôi không còn sánh bước với bộ ba thuở nào. Nhị Lang đâu đó trên trái đất tròn vo này. Nhưng biền biệt, không nghe một lời, không thấy một chữ của nhau. Tam Lang đã giã từ cõi tạm vài năm trước.

Tình cờ, nghe nhắc đến vườn Uyên, Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau, những kỷ niệm thơ dại, của những tâm hồn vừa thơ, vừa dại thuở nào, ùa về, vây kín hồn Nhất Lang. Nhất Lang chiêu một ngụm trà:

 Từ đó nghìn trăng biêng biếc mộng,

Ta qua sương khói hợp tan này.

Hỡi ơi! Vạt áo em ngày nọ,

Giờ vẫn còn nguyên vẹn đắm say.

Nhất Lang hỏi thầm: “Nhị Lang ơi, Tam Lang hỡi! Hai bạn có nhớ đến ngày xưa như thế này không hở?”

Hoàng Quân

Tháng Tư 2019

 

Tái bút:

Nhân vật và sự kiện có thể là tiểu thuyết. Nếu có sự trùng hợp, chỉ là tình cờ dễ thương.

Nhân đây, người viết xin cám ơn rất nhiều bạn bè đã góp lời, góp ý, để người viết có thể thêu dệt những ngẫu nhiên đáng yêu này. Đặc biệt, xin cám ơn thi sĩ Bùi Tuấn Kiệt và thi sĩ Nguyễn Minh Phúc cho phép người kể chuyện trích dẫn nhiều câu thơ. Nhất là đã nhắc nhớ nhiều kỷ niệm với cố thi sĩ Trầm Thụy Du.

Các tiểu đoạn đã đăng trong “Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau: Café Uyên”:

(Còn tiếp 4 tiểu đoạn)

 

Những câu nhạc in nghiêng trích trong bài hát:

Chuyện Ba Người của nhạc sĩ Quốc Dũng

Biết Đến Thuở Nào của nhạc sĩ Tùng Giang & Trường Kỳ

Bao Giờ Biết Tương Tư của nhạc sĩ Phạm Duy & Ngọc Chánh

 

Những câu thơ in nghiêng trích trong bài thơ:

Tương Tư của thi sĩ Nguyên Sa

Riêng trời nguyệt tận của thi sĩ Trầm Thụy Du

Tạ Ơn Em của thi sĩ Nguyễn Minh Phúc

Hẹn, Hỏi, Đêm, Dương Cầm, Mộng, Người, Ngồi Quán của thi sĩ Bùi Tuấn Kiệt

 

Những câu thơ in nghiêng trích trong bài thơ Tương Tư của thi sĩ Nguyên Sa và các bài thơ khác của thi sĩ Bùi Tuấn Kiệt, Nguyễn Minh Phúc, Trầm Thụy Du dưới đây:

 

Riêng trời nguyệt tận

Ngậm ngùi thân lá mục

Rớt xuống hồ thu xưa

Em ngồi bên song nguyệt

Đàn mấy nhánh tay mưa

Trên nhánh cây tiền kiếp

Chim nhỏ máu luân hồi

Có bao giờ em biết

Ta buồn không hé môi

Em xanh lời mưa hoa

Đau hồn ta một thuở

Ôi mắt người thiên thu

Xanh màu xanh cuối mộ

Một đời em vóc hạc

Áo trắng trời mưa xa

Đêm tàn canh vừa rụng

Bầy dế khóc thương ta

Ôm huyết hoa cười ngất

Nghe trổ khắp vô thường

Đóa kim quỳ nghiêng cánh

Ta về khuya gióng chuông

(Riêng trời nguyệt tận -Trầm Thụy Du)

 

Tạ Ơn Em

Em yêu dấu đó đời anh em biết

Mấy mươi năm xòe bấm đốt được gì

Cuộc tình kia anh cũng lỡ mất đi

Gánh đau đớn chỉ một mình anh hiểu

 

Đời là phút vèo qua đầy dâu bể

Kẻ ngu si đâu thấu lẽ thường tình

Em đâu cần mơ giấc mộng phiêu linh

Nên phút cuối anh giật mình, vỡ lẽ…

 

Anh đắng đót những buổi chiều rớt lệ

Giấu chua cay vào tận trái tim mình

Chỉ một mình ngồi với bóng lặng thinh

Tiếc hạnh phúc đã xa tầm tay với

 

Em yêu dấu bao điều chưa kịp nói

Mà bâygiờ ta lặng lẽ xa nhau

Khi tình yêu là con nước qua cầu

Chút kỷ niệm cũng chìm vào mưa nắng

 

Kệ đời anh mắc mớ chi em đến

Vất vưởng đời anh mắc mớ chi em

Ai biểu em định nghĩa về bóng đêm

Ai biểu em nhắc nhở về trời sáng

 

Khi anh đâu hiểu được điều đơn giản

Cần có em như áo mặc cơm ăn

Tội nghiệp anh vẫn không nhận ra rằng

Vắng em hơi thở mình còn có nửa

 

Đành rằng vậy tâm hồn em khép cửa

Mà sao anh cứ gõ dập bàn tay

Mà sao anh cứ mơ chuyện trăng bay

Khi đời sống không bao giờ nguyệt thực…

 

Suốt một đời anh ôm tình buốt nhức

Đóng đinh mình trên thập giá chung thân

Tạ ơn em người yêu dấu vạn lần

Đã cho anh trái tim nhiều đau đớn…

(Tạ Ơn Em-Nguyễn Minh Phúc)

 

Hẹn

Người về nghe sao mưa bay
Đâu đông mà buốt bàn tay đôi mình?
Có gì trong mắt thu xanh
Mà quên màu nhớ trên cành cúc hương

Tình ơi! Ai nhớ mà thương
Ai trông mà đợi; ai mong mà chờ
Môi xin đừng nụ ơ thờ
Mắt xin mắt nhắm đôi bờ mi ơi!

Tôi về hẹn với tương tư
Ngủ quên trong muộn màng tôi yêu người

(Hẹn -Bùi Tuấn Kiệt)

 

Hỏi

Có phải em ngồi hong tóc xuân,
Mà anh sông, suối chảy quanh hồn.
Hình như em ghé vào trong mộng,
Mà có nghe lời anh gọi không?

Có thấy bóng chiều rơi cuối phố,
Những nhớ nhung tràn ra lối đi.
Những bóng đời câm từ kiếp trước,
Cùng anh ngồi tiếc mộng cuồng si.

Lòng chẳng vách ngăn tình ở lại
Để gió mùa qua buốt lạnh hồn,
Còn đây nguyên vẹn lời thu cũ
Anh ngồi kể chuyện với cô đơn.

Để nhớ mùi hương xưa viễn phố,
Cung trời còn đẹp bóng hoàng lan.
Hai tay bấu chặt vào hư ảo,
Dẫu bóng thời gian đã úa tàn.
(Hỏi-Bùi Tuấn Kiệt)

 

Đêm

Đêm ẩn giấu một chút tình thơ bé,
Có con trăng khua động dưới khuya tà.
Ta lạc lõng giữa muôn trùng kỷ niệm,
Tình vẫn đầy trong mắt nhớ bao la.

Em có phải từ nghìn xưa hoài vọng,
Giấc khuynh thành. Ôi! Quốc sắc thiên hương.
Ta phơ phất gió đời hiu hắt lá,
Trái tim đau có lạnh thấu thiên đường?

Nên nỗi nhớ mang gởi vào hư ảo,
Cho trăm năm trải tuổi dưới chân người.
Lời gấm lụa, ý ngọc ngà vẫn đó,
Nên nghìn sau xuân vẫn thế; xuân tươi.

Đêm chợt vỡ tan hoang màu phế tích,
Đời còn chi ngoài ảo vọng trùng lai.
Ta vấp phải tình ta đêm bí sử,
Chợt vô tình liếc thấy bóng mây qua.
(Đêm – Bùi Tuấn Kiệt)

 

Dương Cầm

Lòng trót cuồng điên bởi nhớ thương
Em ơi! Dẫu mộng đó vô thường
Dẫu cho nhật nguyệt còn hay mất
Thì vẫn riêng lòng đây ngát hương
Thì vẫn biển trời kia thánh mộng
Cùng lắm đời thêm gã thất thường

Tôi có tôi từ khi yêu em
Là coi như đã nhận thiên đường
Cho nên đi suốt mùa thương nhớ
Những ngã ba mà đợi vóc hương

Con đường ký ức dài theo mộng
Tìm từng vết nhớ dấu chân nhau
Cô đơn chôn kín trong lồng ngực
Rượu buồn có cạn thấu nghìn sau!

Tha thiết hương xưa một đoá hồng
Phím ngà còn đẹp ngón tay em
Con trăng dại dột vì thương nhớ
Đậu hoài song nguyệt đợi tàn đêm

Em xoã tóc qua trời đại lục
Ta đứng cô liêu một hải tần
Tiếng kêu nào động hồn non bể
Hay tiếng bàn tay chạm xuống đàn.
(Dương Cầm -Bùi Tuấn Kiệt)

 

Mộng

Một nửa vòng tay sầu lục địa,
Mây núi nghiêng vai dấu hải tần.
Xót ta chút nỗi niềm dâu bể,
Mộng đời xô dạt áng phù vân.

Vết cắt thời gian hằn cổ sử,
Lệ núi phai màu xưa áo xanh,
Ta đau một nét mi huyền bí,
Mười năm hồn vướng bụi kinh thành.

Người đi qua nhớ màu thu trước,
Ta đứng trăm năm một kiếp sầu.
Vệt lệ chảy xuôi trời ảo vọng,
Mà cả hành tinh rợn nỗi đau.

Từ đó nghìn trăng biêng biếc mộng,
Ta qua sương khói hợp tan này.
Hỡi ơi! Vạt áo em ngày nọ,
Giờ vẫn còn nguyên vẹn đắm say.
(Mộng -Bùi Tuấn Kiệt)

 

Người

Người cho tôi nỗi nhớ rồi

Cảm ơn em với ngậm ngùi ngày xưa

Một đời quán lạnh thu mưa

Biết đâu cõi mộng mà đưa nhau về

Hỡi người một nhánh nến khuya

Cháy giùm tôi giữa cơn mê sảng này

Sông Hàn cóng ngọn mưa bay

Đôi bờ hư thực khi đầy khi vơi

Ta ơn người khóc giùm tôi

Những dòng lệ ấy một đời riêng tây

Người ơi! Giọt nước mắt này

Phải chi muối mặn gừng cay buổi đầu

Hỡi em! Một giấc tình sầu

Nhớ không dao cắt mà sao xé lòng

(Người-Bùi Tuấn Kiệt)

 

Ngồi Quán

 

Ngồi đây ngoài mộng nhân gian,

Vàng rơi những giọt điêu tàn em ơi!

Một thương nhớ, vạn rã rời,

Bàn tay nắm chặt, tình ơi vô thường

Riêng đời sợi tóc ai vương,

Cô đơn đến cả nỗi buồn đó em.

Quán chiều nghe lạ tiếng quen,

Lời Hoài Cảm chạm mà thêm buốt hồn

Lạnh lùng nghiến chặt môi hôn,

Căm căm nỗi nhớ hàm ơn muộn phiền.

Quán sầu nghiêng nắng tây hiên,

Em ơi! Men khói nào quên bây giờ?!!

(Ngồi Quán –Bùi Tuấn Kiệt)

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2019