07/23/2019
Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 161)

 

Tục ngữ Tầu

Thượng bất thượng, hạ bất hạ

(Trên chẳng ra trên, dưới chẳng ra dưới)

Đây là một hình thức chơi chữ của người Tầu vì “Thượng bất thượng, hạ bất hạ” là chiết tự của chữ “nhất”.

(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)

 

Tự lực văn đoàn

 Tự lực văn đoàn mới đầu thật ra chỉ có ba anh em ruột gồm: Nhất Linh, Thạch Lam và Hoàng Đạo. Họ họp nhau ở Thái Hà. Lúc bấy giờ tiền thân của Tự lực văn đoàn là tuần báo Phong hóa 1932. Phong Hóa bị đóng cửa, tuần báo Ngày Nay ra đời 1939.

Theo Di bút đời làm Báo của Nhất Linh, nhóm “thất tinh” gồm có Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu.

Các tác phẩm văn chương của nhóm đóng một vai trò lớn trong công việc mô tả tranh chấp mới cũ, đề cao đời sống mới. Trên căn bản chấp nhận tinh thần tự do, dân quyền của những nhà tư tưởng đã làm thành cuộc cách mạng tư bản 1789 của Pháp. Lý thuyết gia chỉ đạo của Tự lực văn đoàn là Hoàng Đạo viết: Mười điều tâm niệm, Nhất Linh đã viết Đoạn tuyệt, Khái Hưng viết Nửa chừng xuân. Trên phương diện xã hội đã đưa ra phong trào Ánh Sáng. Sau cùng nhóm thành đảng Hưng Việt hoạt động cách mạng, kéo liền theo đó, Khái Hưng chết. Nhất Linh bỏ ghế bộ trưởng chạy sang Tầu, Hoàng Đạo chết ở Tầu, Tú Mỡ, Thế Lữ ở lại với Cộng-sản, còn một mình Nhất Linh bơ vơ, lạc lõng ở Miền Nam đề cao văn chương vượt thời gian không gian…

(Đầu năm 1941, cả Phong Hóa và Ngày Nay đều đã đình bản. Tờ Chủ Nhật ra được mấy số cũng bị rút giấy phép. Nhóm Tự Lực không còn báo trong tay, đành ra sách gọi là Sách tết Đời Nay. Lạ một điều là trong cuốn sách 48 trang khổ to như báo ấy, các tác giả Thế Lữ, Khái Hưng, Thạch Lam đều không ký tên thật của mình sau các bài viết. Người đọc chỉ căn cứ vào giọng văn và nội dung bài viết để suy ra tên tác giả).

Vào Nam, Nhất Linh ra tờ Văn Hóa Ngày Nay trong số 1 số ra mắt đề ngày 17 tháng 6 năm 1958, trong đó có tên các tác giả sau đây là thành viên mới của Tự lực văn đoàn:

Đỗ Đức Thu, Nguyễn Thành Vinh, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Duy Lam, Tường Hùng, Trương Bảo Sơn.

 

Những từ vựng mới

 Cuốn Từ điển từ mới tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học ở trong nước, trong “Lời nói đầu” có một số “đơn vị” như sau:

Có hai con đường cơ bản dẫn tới sự xuất hiện từ mới: Đó là, cấu tạp từ mới và vay mượn. Trong thể thao cũng có khá nhiều từ ngữ mới, đặc biệt là bóng đá như: bàn đốt lưới nhà, trợ lý trọng tài, cầu trường…

(Nguyễn Hữu Trí – Sự biến đổi từ vựng…)

 

Thơ Đường

 Trong bộ Toàn Đường Thi ấn hành vào năm 1707 thì thơ Đường lên đến 48.900 bài thơ của hơn 2.200 thi nhân gồm 900 quyển họp thành 30 tập. Trải qua hơn ngàn năm từ đời vua Đường Cao Tổ hiệu Vũ Đức (618) đến thời kỳ Thịnh Đường (713), Trung Đường (766), Vãn Đường (905) của Đường Chiêu Tuyên Đế, thời điểm kết thúc của Thơ Đường. Trải dài trong thời gian sử liệu Đường Thi đó, còn lại bao nhiêu thi tài lỗi lạc được đa số người đời nhắc nhở, ngưỡng phục và đánh giá như những nhà thơ vĩ đại. Những thi phẩm của họ đã thuộc về những gia tài quý báu tuyệt hảo của nhân loại. Lý Bạch được tôn vinh là Thi Tiên, Bạch Cư Dị là Thi Hào, Thôi Hiệu là Thi Bá, Đỗ Phủ là Thi Thánh, Vương Duy là Thi Phật…

 Đường Thi tuyệt tác lưu truyền vượt qua thời gian gần cả ngàn năm nay. Đó là Lộc Trại của Vương Duy, Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế, Đằng Vương Các của Vương Bột, Hồi Hương Ngẫu Thư của Hạ Tri Chương, Đề Tích Sở Kiến Xứ của Thôi Hộ, Bạc Tần Hoài của Đỗ Mục, Tùng Hạ Vấn Đồng Tử của Giả Đảo, Tương Tiến Tửu, Tĩnh Dạ Tứ của Lý Bạch, Phục Sầu của Đỗ Phủ, Thạch Hào Lại của Đỗ Phủ…

(Thái Tú Hạp – Thơ thiền Việt Nam, Đường thi Trung Hoa)

 

Văn hóa mới

Trên hệ thống truyền hình, trả lời câu hỏi:

– Xin cho biết Tự lực văn đoàn là gì? Và Nhất Linh là ai?

Một giáo viên Đại học sư phạm Hà Nội trả lời:

– Tự lực văn đoàn là một đoàn văn nghệ.

– Nhất Linh là một kép hát.

(Nguyễn Thanh Ty – báo Sài Gòn Nhỏ)

 

Truyện cực ngắn  hay truyện chớp: Đời sống

 Con người ta sống trên đời, vô danh thì dễ.

 

Tầm chương trích cú

 Khoảng những năm 1945 ở nhà quê miền Bắc khi đi xem kịch đêm ở đình làng, dân làng treo cây đèn đất để xem kịch.

Đèn đất là một loại đèn thắp sáng bằng “khí đất”. Nó là một thứ khoáng chất giống như đất cho vào bình kim khí, trên có bình nước. Nước nhỏ xuống ngăn “khí đất”, gặp nước, khí đất bốc hơi lên gặp lửa là cháy.

(Hoàng Hải Thủy – Chín tầng gươm báu trao tay)

 

Thành ngữ ta và Tầu

Ta có câu “đo lu nước mắm, đếm củ dưa hành”. Với Tầu là “sổ mễ nhi xuy”, nghĩa “đếm gạo mà thổi cơm”, ám chỉ thứ người như vậy thì “khả trị gia bất khả trị quốc”.

 

Văn hóa cà phê

 Ở Hà Nội, trước đây cũng có những quán cà phê ra đời từ những năm 50s như cà phê Giảng, cà phê Nhân. Cà phê Giảng, theo lời những người lớn tuổi, là điển hình cho cà phê phố cổ Hà Nội.

Cà phê Nhân, năm 1954 đã di cư vào Sài Gòn, và mở lại ở một căn nhà nhỏ xinh xắn mặt tiền đường Lý Thái Tổ, kế bên tiệm phở Tàu Bay và gần nhà thờ Bắc Hà.

Sau này, theo giới sành điệu cà phê của Hà Nội, đất ngàn năm văn vật có thêm các quán cà phê đầy “phong cách văn hóa trữ tình và lãng mạn” như cà phê Ánh ở đường Quán Sứ, chung quanh tường được trang trí bằng những bức ảnh của nhiếp ảnh gia Hòai Linh, hay cà phê Lâm, cà phê Tùng Hậu cũng trang trí bằng những bức tranh của các họa sĩ nổi tiếng Việt Nam. Và cũng như Sài Gòn, Hà Nội không thiếu những quán cà phê nhạc sống, dưới hình thức nhạc thính phòng.

(T.Vấn – Văn hóa cà phê)

 

Ca dao thành ngữ

 Câu “Vẽ rắn thêm chân” là của Tầu.

Thêm một câu khác đồng nghĩa là “Vẽ rết thêm chân” của Ta.

Trong hai câu thì câu “Vẽ rết… “ của Ta nghe hợp lý hơn vì con rết đã có cả trăm chân, nay nếu vẽ “thêm” chân nữa…thì mới thành chuyện.

 

Chữ nghĩa thập niên 20

 Hành – Hành là bài văn vần, số câu không nhất định, có khi từ đầu chí cuối chỉ dùng nguyên một vần, hay cách mấy câu lại đổi vần. Những bài hành thường dùng để tự thuật một sự tình, như Tỳ bà hành, Đào nguyên hành, Trường can hành.

(Phan Mạnh Danh – Đắc Đông Tự)

 

Ôn cố tri tân

Tầu có câu “dủ học dủ ngu” hiểu theo nghĩa là càng học càng ngu, học ít ngu ít, học nhiều ngu nhiều.

Kết luận, chữ nghĩa thánh hiền dậy rằng:

– Không học thì không…ngu.

 

Báo và tạp chí 1945-1954

Tại Hà Nội, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam ra báo Thiết Thực đấu tranh với Việt Minh.

Nhóm Hàn Thuyên với Trương Tửu ra tờ Dân Mới đối đầu với Cộng Sản. Trương Tửu còn thành lập nhóm Tân Văn Nghệ, xuất bản sách Tương Lai Văn Nghệ Việt Nam để phê phán nền văn nghệ Cộng Sản.

Trong khi Việt Minh thành lập nhà xuất bản Văn Hóa Cứu Quốc năm 1946, phát hành tạp chí Tiền Phong.

(Mặc Giao – Văn học Việt Nam)

 

Tác phẩm cuối cùng

Nhà văn Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu vào đêm giao thừa Tết nguyên đán năm Đinh Hợi 21-1-1947 và ném xuống sông tại bến đò Cựa Gà, Nam Định.

Tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng là Bóng giai nhân mà Nguyễn Thách Kiên (1966) sưu tầm được đưa vào bộ sách lấy tên là Kỷ Vật Đầu Và Cuối Cùng.

Các truyện ngắn gồm: Bóng giai nhân, Lời nguyền, Hổ, Tây xông nhà, Quan công xứ, Nhung, Khói hương, Người anh hùng, Tiếng người xưa. Và ba vở kịch: Câu chuyện văn chương, Khúc tiêu ai oán, Dưới ánh trăng.

(Trọng Đạt – tập san Tân Văn)

 

Vũng lội đường Ngang

Cụ Nguyễn Khuyến với thơ văn chữ Hán để lại cho đời sau có trên dưới 350 bài nhưng nay chỉ có 23 bài do chính cụ tự dịch lại thơ mình ra quốc âm (thơ nôm).

Một trong số những bài thơ đó có bài Vũng lội đường Ngang:

Đầu đường ngang có một chỗ lội
Có đền ông Cuội cao vòi vọ

Nguyên bản bài thơ chữ Hán là Vũ phu đôi  tức Đồng ông cuội.

 Con đường ngang hư cũ  trong câu đầu là con đường nối liền quốc lộ vào quê hương ông (làng Vị Hạ ,Vị Thượng), nếu dân muốn đi tắt về nhà thì phải lội qua một vũng nước sâu. Đây là một con đường băng ngang qua cánh đồng của làng Phú Đa. Dọc đường có những nấm mồ vô danh. Người ta đắp hay vun đá cuội lên thành gò, gò mả nằm bên đường. Mả bấy giờ được gọi là “mả cuội”, “đống ông cuội”. Nếu khúc đường có “mả cuội” mà có lời đồn là linh thiêng, người ta sẽ thắp nhang trên mả ấy, lâu ngày ai đó xây một cái am nho nhỏ, mả trở thành “miếu ông cuội”, và ông Thần Cuội ra đời.

(Lai Quang Nam – tạp chí Tin Văn)

 

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

 Nếu biết rằng em đã lấy chồng

Anh về bắt vịt nhổ sạch lông

Tiết canh làm đại vài ba đĩa

Mượn rượu cho nguôi vết thương lòng

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2019