02/21/2020
Ngộ Không: Thổ ngơi ký truyện

      

     Ấm trà thiu – Tranh: Thanh Châu

  Mươi niên trước với tâm thái vong gia thất thổ, tôi tậm tịt về đất quê qua hương ước, thần phả chẳng đâu vào đâu. Ấy vậy mà bạn cũ trường xưa xúi dại hãy viết về quê của bạn có gì hay hớm chăng. Ngày ấy vì lạ thung lạ thổ, tôi lang thang như thần hoàng làng khó trên mạng lưới bởi không biết làng Cổ Nhuế của bạn ở đâu? Rồi cũng xong. Mươi năm sau, tôi mọt sách ăn giấy thêm Thổ ngơi ký truyện này đây…

Ăn ngay nói thật qua tự điển, tôi ăn mày chữ nghĩa thổ ngơi là nơi chốn có đất cát ruộng vườn. Lần mò theo phong thổ địa chí với thổ là đất, thổ ngơi có gốc tích, tích này tích nọ. Ấy là chưa kể thổ âm, thổ ngữ, thổ thần, thổ địa tôi sẽ…thổ lộ sau.

Trước sau gì ở Hà Đông có làng chữ Nôm là Kẻ Noi, chữ Nho là Cổ Nhuế tục truyền với tích: Thời Lý, Đông Chinh Vương đi đánh giặc ghé qua làng được tiếp đón nồng hậu. Trước khi ra trận, già làng hỏi nếu vương bãi sa tràng thịt nát xương tan hãy cho làng lập đền thờ. Vương không thuận, vì thấy đất đai đầm lầy “lội ngòi noi nước” không canh tác được phải lấy phân về ủ cho hoai để bón ruộng vườn.

Từ “lội ngòi noi nước” với “noi” là “lần theo” vì vậy mới có tên Kẻ Noi. Từ gánh phân, dân gian có câu  “Đào Nhật Tân, phân Cổ Nhuế” nói về nghề này. Năm 1469, vua Lê Thánh Tông vi hành tới “Hà Đông” thăm miếu thần hoàng thờ quang gánh và đôi đũa cả gắp phân. Vua ta ban câu đối chữ Hán cho làng “Thân trụ nhất nhung y, năng đảm thế gian đa năng sự – Thủ trì tam xích kiếm, tận thu thiên hạ trí nhân tâm” (xem nghĩa Nôm, khúc kết, tr 7)

Nói cho ngay ai chả biết thổ địa, thổ công ngồi chết dí trong miếu mạo nên được gọi là thổ thần. Cũng là thần, ngự ở đình được gọi là thần hòang. Như tích cùng nghề hót phân như Kẻ Noi có làng Phương Lưu, Hải Phòng. Gặp năm đói kém có người phải…gánh thêm nghề đạo chích. Tên đạo chích khoét vách khoắng một mẻ để ăn têt. Vì tháng củ mật, gia chủ hờm sẵn, cái đầu vừa chui vào, cái cày phập xuống ngon ơ. Vì chết vào giờ linh nên được làng rước vào đình thờ là…thần hoàng ăn trộm.

Từ ông đương cảnh thần hòang thượng đẳng thần…ăn trộm, tôi mót chữ với tích này tích nọ thì thành hoàng có từ đời Tam Quốc. Từ thành chỉ thành quách, hoàng là cái hào bao quanh ghép lại là thành hoàng chỉ vị thần coi giữ cái thành. Vì vậy thành hoàng gốc gác ở bên Tàu. Ở bên Ta việc thờ thần hoàng được ghi chép trong sử sách: Vua Lý Thái Tổ dời đô, nằm mộng thấy một cụ đầu bạc phảng phất trước bệ rồng…Vua hỏi rõ lai lịch là thần sông Tô Lịch, bèn phong làm Quốc đô Thăng Long thần hoàng. Nay thần hòang…làng Hà Nội ở ngôi đền số 76 phố Hàng Buồm.

Vì Kẻ Noi nên mắc nợ với chữ “kẻ”, tôi mót chữ thêm…

Người Việt cổ sống nhờ nghề nông, đưa nông phẩm đến mảnh đất trống để trao đổi được gọi là kỳ, sau đọc trại là…kẻ, rồi thành…làng (tùy theo thời đại, nhỏ hơn làng là châu, giáp, hương, v…v…). Ngọai thành Thăng Long có nhiều làng bao quanh được gọi là Kẻ Chợ để phân biệt ở vùng quê với Kẻ Sặt, Kẻ Lủ, Kẻ Noi.

Xong, đưa bài viết “có trọng lượng” để bạn thưởng lãm: Vừa thấy tựa đề, cứ như đùa, bạn ta nhành mồm ra nói…nói lộn, không phải Kẻ Noi mà là…Kẻ Nứa.

Tôi ớ ra không biết hết kẻ này đến kẻ nọ, còn kẻ nào nữa chăng?

Ngày bạn về thiên cổ, tôi với một ngón tay mổ chữ trên bàn gõ như cò mổ ruồi viết về bạn qua thú chơi đồ cổ có câu: “Quái thật. Làng mình tên gì chả hay. Hay bạn nỡm chăng”. Trong bài viết, tôi rối như canh hẹ hết Kẻ Noi ở Hà Đông đến Kẻ NứaSơn Tây xa tít mù. Bài gửi đi, bỗng nhận được điện thư rách giời rơi xuống:

(…) Xin cảm ơn vì chú gửi bài viết về tình bạn qua bạn bè giữa chú và cậu cháu cùng bao nhiêu năm đã dành cho nhau. Cảm động lắm khi biết được các chú từng chia sẻ “đồ cổ” quý hiếm của mình. Cháu đọc được sự gần gũi của chú và cậu cháu như có nhiều điều hòa quyện trong tính cách của các chú. Cháu không khỏi bật cười thành tiếng khi chú thuật lại chuyện cậu cháu giả ngây, giả ngô: Ban đầu nói tên làng mình là Kẻ Noi, nhưng sau chối phăng như không biết tên Nôm của làng mình vì giai thoại nổi tiếng không được thơm tho của làng Cổ Nhuế…(…)

Trước đó, tôi bụng bảo dạ “còn kẻ nào nữa không?”. Nay dều người ra, vì…

(…) Cháu xin được trích lại một phần ghi chép của bố cháu (bố cháu lấy bút hiệu là Minh Văn) viết về làng Chi Quan (Kẻ Săn, bên nội của cậu cháu), Đụn Dương (Kẻ Đụn, bên ngoại của cậu cháu và bố cháu) (…)

Đến đây, tôi ngớ ra: Một là làng của bạn ta là…Kẻ Săn. Hai là bố con cô đều một lò nhà văn, cô có bút hiệu Chân Phương, tên cúng cơm: Đỗ T. Tú. Cô lẩn đẩn thêm: “Lịch sử chưa bao giờ viết Kẻ Noi được sát nhập như một phần của Sơn Tây…”

Lịch sử gì mà rối ren quá thể, tôi đành rối chữ vềđịa chí với tích này tích nọ.

Theo Lê Quý Đôn, năm 1172 đời Lý có quyển Nam Bắc phiên giới địa đồ. Thời này, Kẻ Noi nằm trong đất Từ Liêm trấn Sơn Tây. Minh Mạng sát nhập Từ Liêm vào Hà Đông (tên cổ là làng Đơ), vì vậy thời Nguyễn, Kẻ Noi thuộc Hà Đông.

Tôi rối tinh với chữ nghĩa về Hà Nội và Hà Đông qua các nhà biên khảo rối rắm với Minh Mạng đặt tên “Hà Đông” dựa vào sách Mạnh Tử (Thiên Lương Huệ Vương) từ địa danh ở bên Tàu có Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc. Bởi đời Lê đặt tên địa danh theo phương hướng đông, tây, nam, bắc nên Minh Mạng không có lý do gì đổi tên làng Đơ ở phía tây Hà Nội với tên Hà Đông. Tôi đồ chừng Minh Mạng biết đã có địa danh khác: Hà Đông là tên một huyện thuộc tỉnh Quảng Nam (sau là Tam Kỳ). Năm 1904, người Pháp đổi tên làng Đơ là…Hà Đông, chứ không phải Minh Mạng.

Minh Mạng chỉ đổi tên Bắc thành…thành Hà Nội năm 1832.

Đang rối chữ với Hà Đông, chợt nhớ cô đơm chuyện quê cậu cô ở Kẻ Săn thuộc Sơn Tây…Tôi bật ra ý nghĩ gà cỏ trở mỏ về rừng, đưa cô về lại bản lai cố quận.

Tức thì một già, một trẻ bay về Hà Nội, hai chú cháu thuê “xe con”. Tôi nói với “lái xe” đi Sơn Tây. “Lái xe”…lái xe tới ngay chóc…phố Sơn Tây (tên Tây là phố Mehl). Tôi lạc lối chân ai vì ngỡ cứ đi thẳng phố Sơn Tây là tới…Sơn Tây. Chạy thêm khúc nữa phố Sơn Tây đổi tên thành phố Kim Mã có bến xe ca Kim Mã. Tôi vun chuyện với lái xe hồi nhỏ tôi đã đi xe ca từ Hải Dương ra Hải Phòng rồi. Được dịp tôi huếch với lái xe tôi đi cải tao được ngồi xe trâu, nhưng chưa được cưỡi xe bò. Nghe tội quá, lái xe…lái xe thêm một đọan nữa tới bến xe Chuồng Bò và xắng xả có xe ca…chạy bằng than. Tôi chưa kịp u ơ, cô cháu nhà văn lụng bụng là …là hai chú cháu đi xe than để mai này viết bút ký Thố ngơi ký truyện cho…bốc khói. Nghe có lý quá thể.

Rất thật, cả đời tôi cũng chưa thấy xe than bao giờ nên lõ mắt dòm…

Sau xe gắn lò than cao hơn đầu người, đường kính khỏang tám mươi phân. Ống dẫn “gas” bò lên mui xe tới đầu xe. Chú lơ xe đang moi hết tro than hôm trước bỏ đi. Xong, chú khệ nệ bê bao than khỏang trăm ký đổ vao lò, thọc cho chặt, mồi lửa bằng dầu hôi rồi bật quạt gió ngồi chờ. Tôi cũng ngồi chờ, hóng mắt chiếc xe bự sự và vặn óc nghĩ không ra sao hơi than đốt có thể đẩy xe lăn bánh đây? Đang tậm tịt với cái xe…kỳ cổ, lơ xe vẫy kêu: “Nhõm rồi”, ngỡ…“ngỏm rồi”. Mắt tròn dấu hỏi. Chú lơ xe ngay đơ…”Xong rồi”. Bèn hỏi quê ở đâu, chú cho hay ở Thạch Thất, Sơn Tây.

Chợt nhớ ra cậu cô vừa về với núi. Thế là có chuyện để nói…

Xe tới Hà Đông, tôi nói với cô ắt sẽ gặp Quang Dũng ngồi ở cầu Đơ (ở làng Đơ) đợi Dương Nghiễm Mậu vừa…về quê, vì hai nhà văn đều quê Hà Đông. Cùng bách tuế quy vu kỳ thất, thấtnúi, trăm năm ai chẳng về núi như nhà báo Phan Lạc Phúc. Số là bạn ta vừa về cõi, về lại đất quê, theo Phan Lạc Tiếp nếu đi tiếp nữa vào vùng núi Thách Thất, Sơn Tây, thế nào bạn ta chẳng gặp ông nhà báo ở Kẻ Nứa.

Với tích Quang Dũng ở Phùng, ít ai hay nhà thơ người Hà Đông hay Sơn Tây, nhân có ông Phan Lạc Tiếp ở đây, tôi đeo theo ông với Bốn mươi năm trở lại

(…) Quang Dũng được biết đến là nhà thơ Sơn Tây. Anh mang hình ảnh Sơn Tây vào đầy ắp thi phẩm của mình. “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn. Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng …”. Nhưng thực ra quê Quang Dũng ở huyện Đan Phượng, Hà Đông (…)

Đất sinh cỏ già sinh tật, tôi tất tật với cô huyện Đan Phượng đời Lê thuộc trấn Sơn Tây. Đồng Khánh sát nhập vào Hà Đông. Quang Dũng sinh ra tại thị trấn Phùng, Hà Đông. Cụ vua Lê Thánh Tông đang phất phơ ở làng Cổ Nhuế, nghiệp ngão thế nào chả biết nữa, vua ta lạc hoa lưu thủy bước qua cầu Phùng, dòm mấy ngọn núi xa xa ở vùng đất phía tây Thăng Long nên đặt tên là thừa tuyên Sơn Tây. Minh Mạng ngồi ở sông Hương, nhẩy bổ vào vùng núi sâu thẳm đổi tên là…tỉnh Sơn Tây.

Xe than thở như kéo bễ trên Quốc lộ 21 tới huyện Thạch Thất…

Bèn tỉ tê chữ nghĩa với cô: Vua ta tới phủ Quốc Oai gặp vùng núi đá tính đặt Thạch…gì ấy. Vì sơn là núi đã đặt tên cho Sơn Tây rồi. Nho táo mãi vua ta tìm ra “thất” cũng là…núi nên đặt tên là Thạch Thất. Mặc dù chả nhìn thấy thành Sơn Tây (Minh Mạng xây năm 1823), dòm xe than thở ra khói lùng nhùng như mây, bởi cô dầy chữ, tôi thở ra chữ  “Em từ thành Sơn chạy giặc về – Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm”. Tiếp, tôi nhờn môi nói chữ: Trấn Sơn Nam đất nhà Trần khởi nghiệp, nhà Nguyễn chia làm hai trấn: Trấn Sơn Nam hạ gồm Thái Bình, Nam Định (Minh Mạng đặt tên năm 1833), Trấn Sơn Nam thượng có Hưng Yên, Hà Đông, và mảnh đất của cụ Nguyễn Khuyến chưa có tên. Năm 1890, Thành Thái ghép chữ của Hà Nội, chữ Nam của Nam Định đặt mảnh đất chưa có tên, nhưng có huyện Bình Lục của cụ là…Hà Nam.

Từ huyện Thạch Thất, dọc theo tả ngạn bờ sông Tích Lịch, nom dòm…săn tìm làng Kẻ Săn cố lý thốn thổ vẫn biệt tăm. Xe dừng lại chợ bên đường, lơ xe nhẩy xuống hỏi bà bán quán và mang về một rổ khoai. Ngồi trên xe chỉ nghe óc bóc …“bủ” với…“khoai trứng”. Bèn bất sĩ hạ vấn, nôm chả mất sĩ diện gì mà không hỏi. Lơ xe cho hay bủ là…bà, khoai trứng là…khoai sọ. Theo…“bủ” bán quán: làng Kẻ Săn bị cháy nên đã rời qua bên kia sông. Xe phải tiếp tục chạy tới phủ Quốc Oai để vòng lại.

Chợt nhớ điện thư hôm nào của cô có đoạn…

(…) Về nguyên quán của cậu cháu, cháu xin thưa điều sau đây: Ngay từ ngày còn bé, cháu được người lớn cho nghe bài vè “Cô gái Sơn Tây”. Cháu thấy bài vè có một số dị bản với hai câu đầu: “Gái Sơn Tây yếm thủng tày dần – Răng đen hạt nhót chân đi cù lèo”.  Hai câu này bị hai lỗi chính tả liên quan đến các đồ dùng hàng ngày của nhà nông: Vật dụng đầu tiên là cái “giần” dùng để đãi cám và trấu ra khỏi gạo sau khi giã. Vật dụng thứ hai là chiếc “cù nèo” giống như chiếc liềm nhưng có cán dài dùng để cắt cỏ. Vì thế, nguyên thủy hai câu trên của bài vè, thật ra như sau: “Gái Sơn Tây yếm thủng tày giần – Răng đen hạt nhót chân đi cù nèo” (…)

Trong khi ấy tôi bắt gặp cô gái Sơn Tây qua cái tạng của cô lất phất từ tiền kiếp hết “Trên đầu chấy rận như sung – Rốn lồi quả quýt, má hồng trôn niêu”. Đến “Bánh đúc, cô nếm nồi ba – Mía re tráng miệng, hết vài trăm cây”.

Vừa lậu bậu tới “mía re”, vừa lúc tới phủ Quốc Oai…

Xe vòng lại chạy theo bờ sông, dòm cái cầu bắc qua con rạch bên đường, tôi leo heo với cô ở phủ Quốc Oai (tên cổ Quảng Oai, do vua Lê Thánh Tôn đặt năm 1469) có hai cây cầu mái ngói do Phùng Khắc Khoan dựng năm 1602, cái này là cầu ông Cống, cái kia là cầu ông Nghè. Ngắm ruộng vườn, chả thấy “mía re” (thổ ngữ về mía) đâu chỉ thấy “rạch ngô” (ruộng ngô). Tôi gà gưỡng Kẻ Mía, tên nôm của làng Đường Lâm, một làng có hai vua: là Phùng Hưng (761-802) và Ngô Quyền (898-944).

Từ rạch ngô, tôi vắt qua Phùng Khắc Khoan ở Phùng Xá, hay làng Bùng nên có tên khác là trạng Bùng. Trạng đi sứ qua Tàu nhét hột gì đó vào cốc đạo (hậu môn) mang về xứ sở, trạng vào “xí sở” (chuồng xí) ị ra, con cháu gọi là ngô cho…ra ngô ra khoai. Theo tôi, cụ trạng Bùng chả dại nhét hạt ngô vào cốc đạo cho…lùng bùng, lỡ rơi ở dọc đường thì sao. Từ kỳ cổ này, các cụ ta cấm con cháu không được mang ngô lên bàn thờ cúng các cụ. Thêm giai thọai trạng gặp công chúa con trời vịnh thơ bên quán rượu ở Tây Hồ. Lần sau trở lại, công chúa…biến mất. Trạng lập đền thờ ngay trên nền quán rượu cũ để thờ bà. Từ đó nơi thờ mẫu gọi là đền, nơi bà (Liễu Hạnh) hiển thánh gọi là phủ. Như phủ Tây Hồ ở đầu làng Tây Hồ.

Nghe thủng một, hai giai thoại cứ như thật ấy, cô nhòm con dốc và thở ra…Xe đang leo lên dốc cũng thở ra khói mù mịt thì…tịt.  Chú lơ xe nhẩy xuống lấy thanh sắt thọc thọc vào lò than khơi cho lửa cháy lại cũng không xong. Vừa lúc có khứa đạp xe đạp cọc cạch trờ tới, chú lơ xe ới lại đưa cái siêu nước: “Ê thằng cốc, cầm cái tụ ghé chợ mua dùm tớ ít dầu hôi nhá”. Khứa cưỡi xe đạp ngược về phía chợ. Ngu lâu đần dài cách mấy tôi chắc mẩm cái tụ là…cái siêu nước. Nhưng còn thằng cốc là giống giuộc gì. Bèn chõ mồm hỏi. Chú lơ xe óc ách thằng cốc là…thằng mõ. Có dầu mang về, xe ho…lục khục nổ máy, lơ xe bật quạt gió ngồi chờ.

Ngồi chờ ở mỏm dốc, xa xa lờ đờ qua rặng cây rừng, trên núi phảng phất có mái chùa như ở miền tây phương cực lạc bên…Tây Tạng. Bèn lọ mọ khúc văn dưới đây…

(…) Sau cải tạo, nhớ dạo “nín thở qua sông”, tôi (Phan Lạc Phúc) sống như cỏ cây trong một khu vườn ở Lái Thiêu. Thỉnh thoảng có bạn đi xe đò lên thăm. Một hôm ông Cung Trầm Tưởng lên chơi. Chúng tôi ngồi dưới gốc chôm chôm, chuyện phiếm. Ông Cung Trầm Tưởng lai rai đọc thơ Quang Dũng, bài Đôi mắt người Sơn Tây: “Vừng trán em vương trời quê hương – Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương”. Nhà thơ tác giả Tiễn em vốn ngày xưa học ở bên Tây, chợt nghiêng đầu hỏi: “Sao lại buồn Tây Phương, sao lại có beauté grecque (vẻ đẹp Hy Lạp) ở đây kìa”. Và tôi trả lời: “Tây Phương là chùa Tây Phương ở Sơn Tây quả có một vẻ đẹp đến từ Tây Phương thật” (…)

Nghe không xuôi, từ lỗ tai chui qua lỗ miệng, tôi dẫu chuyện với cô tích Sơn Tây danh thắng tích bị khảo, chùa tên tự là Sùng Phúc Tự. Theo truyền tích chùa là nơi người Tàu dấu cổ vật nên họ mò sang đao xới nên bị hư hại nhiều. Cuối thời Tây Sơn, Phan Huy Ích quê phủ Quốc Oai, Sơn Tây, ông cho người sửa chữa chùa, ông để lại câu thơ: “Tục truyền Bắc quốc đan thanh cổ – Cảnh chiếm Tây phương thảo thụ u”. Vì vậy tên chùa Tây Phương từ tích u u minh minh này.

Từ tích này qua tích kia, tôi vun chuyện với cô về tên làng Kẻ Săn. Chuyện là qua kỳ tích cụ vua Lê Thánh Tông khi bước qua cầu Phùng lạc chốn chân ai vào núi rừng thấy hoang dã, hoang thú ở Thăng Long thành chả có. Ấy là: dê núi và lợn rừng. Thế là cụ vua ta vác cung đi săn nên dân gian gọi là: Kẻ Săn.

Đến đây chưa biết lấy ngắn nuôi dài thế nào, vì xe “hâm” máy khí hơi lâu, lơ xe hâm hâm ở làng Thanh Mai, có “rượu Thanh Mai, cờ Mông Phụ”. Nói cho ngay tôi không biết Sơn Tây có làng Thanh Mai với rượu Thanh Mai hay không? Nhưng tôi chắc như cua đinh làng Hòang Mai ở Hà Đông hay làng Mơ có câu “rượu Hòang Mai, cờ Mộ Trạch”. Lơ xe huếch tiếp uống rượu mơ chỉ uống với mơ xanh, tươi, giòn. Trộm nghĩ lơ xe đào xới đâu tích này vì từ thời Tam Quốc: Tào Tháo và Lưu Bị luận thế sự, cả hai uống rượu mơ với mơ xanh.

Vừa lúc xe lục khục nổ máy rồi xuốg dốc, lơ xe nói ghé chùa Thầy xem cầu có mái là cầu ông Nghè, thăm chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng rồi từ đây về Hà Nội gần hơn. Trong đầu củ sắn tôi lẫn đẫn qua thư kinh: Chùa Thầy ở trên núi Sài Sơn, tên nôm là núi Thầy nên có tên “chùa Thầy”. Chùa dựng thời nhà Đinh, chùa là nơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh nên còn được gọi là chùa Phật Tích. Tôi ngẫm nguội từ chùa Hạ leo lên chùa Thượng trên đỉnh núi Sài Sơn cũng hốc người thì về quách cho rồi.

Trên đường về Hà Nội, từ chuyện leo lên chùa, ký ức như sương khói tôi lây dây  tới cái chuồng xí ở căn nhà số 26 phố Chợ Đuổi. Đẩy cửa vào có cái bệ xi măng cao cỡ một thước. Những ngày còn bé tẹo leo lên ngồi trên hai hòn gạch như cóc nhẩy, thả nợ đời xuống cái thùng tôn đựng phân. Qua ký ức mù sương của tôi, ấy là thùng dầu hôi của hãng Shell in hình nổi con sò. Tôi nhớ mài mại người đổ thùng mở cổng sau vào, họ dùng que sắt có móc kéo thùng ra đổ vào cái thúng trám hắc ín rồi gánh đi. Những người đổ thùng bấy giờ thường đi thành hàng dài 5, 6 người. Mỗi người đều có đòn gánh trên vai, hai đầu hai cái thúng. Phân và nước tiểu sóng sánh, nhỏ giọt trên vỉa hè…36 phố phường Hà Nội.

Gánh phân làng Cổ Nhuế

(tranh từ bản khắc mộc bản của Henri Oger 1908)

             Xe than theo quốc lộ 32 từ Sơn Tây về Hà Đông, bỗng không cô hỏi ở đây có gì lạ không? Thêm một lần quang gánh chữ nghĩa quay qủa trở lại ở Hà Đông có cầu Bình Vọng (tên cũ cầu Đơ) lợp ngói bắc qua sông Nhuệ. Nơi mà nhà thơ Quang Dũng, mỗi lần về Đan Phượng đều ghé thượng gia hạ kiều này uống bát chè xanh, làm cữ thuốc lào. Nhả khói đâu vào đấy rồi, ông ngóng cổ qua bên kia cầu về hướng Sơn Tây và gật gù làm thơ “Tiền nước trả em rồi . nắng gắt – Đường xa xa mờ mờ núi và mây”.

Thế là tôi đùm đậu với cô nếu đình làng là nơi chỗ quan viên họp việc làng, thì cầu mái ngói âm dương như mái đình là nơi dân làng nghỉ chân, tránh nắng những trưa hè gay gắt. Bởi thế trong cầu có quán nước chè xanh nên còn được gọi là cầu quán. Quán có chõng tre bày một dãy bát uống nước chè xanh, bánh dầy, bánh gai, vài quả bưởi, dăm nải chuối, hũ kẹo dừa. Và vài gói thuốc lào nên chả thiếu cái điếu cày gác bên thành cầu. Chiều về, khách lỡ đường ghé qua làm hai, ba điếu. Tối khuya khoèo một giấc cho đã điếu, vì vậy mới có câu dân gian “bơ vơ điếm cỏ, cầu sương”, hay “nằm cầu gối đất” là cái cảnh này đây.

Vào tới Hà Đông, trên đường 4 cây số nữa tới Hà Nội, từ cái thùng tôn, tôi dựa dẫm theo Tô Hoài kể lể phu phen Kẻ Noi đẩy xe bò, những chiếc thùng tôn rỗng kêu “lanh canh, lanh canh”. Đó là chiếc xe ba gác một người kéo, một người đẩy. Trong đêm khuya thanh vắng, tiếng bánh xe gỗ cót két lăn trên đường phố trong gió heo may. Tới cửa nhà, sau tiếng đập cửa thình thình vọng vào nhà là hai tiếng…“đổ thùng…đổ thùng”. Lát sau trong khuya khoắt, bánh xe gỗ rền rĩ như khóc, như hát…hát khúc Nam Ai, nam óan lạc loài, lạc lõng vào bóng đêm.

Hà Đông có phố và ngõ, thời ông Tô Hoài, ông có câu danh ngôn…“nhà không số, phố không tên”. Ông cho biết thêm nếu hát cô đầu thường tới phố Bông Đỏ, phố có tên này vì những nhà hát cô đầu phải treo đèn lồng đỏ trước cửa. Nhưng theo ông, không có gi thú bằng đi hát cô đầu trong ngõ cống Đơ hay ngõ Noi ở Hà Đông. Với Hà Đông, tôi bỗng ớ ra nhà thơ Nguyễn Đình Thi bốc nhằng chữ là nghĩa với thổ địa nhân làng Cổ Nhuế: “Anh bước đi đầu không ngoảnh lại – Sau lưng anh cứt đái văng đầy”.

Để ”đầy đặn” hơn,  tôi vay mượn ai đấy nát chữ thế này đây…

Xe qua cầu Phùng, tới ngọai ô Hà Đông gặp chợ cứt làng Cổ Nhuế nằm trên bãi đất hoang. Để có cứt mang về chợ, những chàng trai làng Cổ Nhuế với chiếc xe đạp thồ có hai chiếc sọt được lót lá chuối đã miệt mài đi tìm cứt khắp nơi đem về bán phiên chợ đêm. Trên những con đường Hà Nội, những chàng trai quần xắn móng lợn, đầu đội nón cối, áo bộ đội bạc màu. Chàng cắm cúi đạp xe với 2 thùng hai bên, cây sào chọc cứt dài cả thước, đầu là chiếc gáo hình nón bằng tôn, chàng đi đến đâu, người dân bịt mũi dạt ra đến đấy. Đó chính là chàng trai Cổ Nhuế đã lừng lững đi vào văn học: “Thanh niên Cổ Nhuế xin thề – Chưa đầy hai sọt, chưa về quê hương”.

Chợ cứt không đông, chỉ có ba bốn chục người vừa mua vừa bán. Họ vốn đã quen biết nhau, đều bán mua, mua bán âm thầm. Không có ai nói to tiếng hoặc mặc cả như ở các chợ khác. Họ họp chợ từ hai ba giờ sáng, khi trời đất còn tối tăm nhập nhoạng. Dù có đốt đèn, đốt đuốc họp chợ cũng chỉ mờ mờ ảo ảo, người người âm thầm, lầm lũi đi lại trong bóng đêm như những bóng ma.

Tôi mài óc nghĩ không ra: Năm 1986, Hà Nội có chợ cứt.

Với cô cháu nhà văn có hòai bão viết bút ký Thố ngơi ký truyện cho…bốc khói,  cho ăn gan giời trứng trâu, tôi không dám ba điều bốn chuyện nhà thơ bốc chữ đến độ cứt đái văng đầy. Ấy là chưa kể chợ cứt theo phát triển của đô thị hóa bây giờ là…chợ tình. Gần như chợ cứt, khách hàng tìm đến đây đầu đội nón cối, chân đi dép lê, dắt chiếc xe đạp cà tàng, nhìn trước nhìn sau thậm thụt đi vào ngõ.

Nếu Sơn Tây có nhiều thắng tích, chùa cổ và…sư ông thì Hà Đông có nhiều nhà hát cô đầu chứ không phải Hà Nội. Ở Hà Đông, ngòai ngõ Noi, phố Bông Đỏ còn có phố Khâm Thiên. Vì Khâm Thiên thời đó có động mãi dậm, vòm hút thuốc phiện nên người Pháp (1905-1914) sát nhập phố cô đầu vào huyện Hoàn Long thuộc Hà Đông.

Rất thật, tôi rửa óc nghĩ không ra ở ngõ Noi, mắc chứng gì nhiều nhà thơ trẻ…chui vào ngõ làm thơ, hết “Thuơng ai về ngõ vắng…” đến “Ngõ cũ chiều nay, em lại về…”. Đến như Hoàng Cầm ở tận sông Đuống, Bắc Ninh, cũng mò về Hà Đông để đưa ngõ Noi vào kịch thơ Kiều Loan thời Lê Trịnh: “Tôi đứng chờ thu trong biếc ngõ – Thấy ông ôm mặt khóc Tần phi”. Tôi chả biết “ông” ôm mặt khóc là ai trong…biếc ngõ? Tần phi là bà nào của vua Lê? Tôi chỉ biết ngõ Noi dài nhất Bắc kỳ nhì Đông Dương ngoằn ngoèo len lỏi qua ba làng kéo dài cả mấy cây số: Làng Dậu, làng Nghĩa Đô từ Hà Đông tới  làng Bưởi làm giấy, Hà Nội và ngừng lại ở Hồ Tây.

***

Hai chữ Hồ Tây như gợi nhớ, tôi đưa cô tới nền quán rượu xưa kia trạng Bùng lập đền thờ bà Liễu Hạnh. Vì chả thấy hơi hám…quán rượu đâu, đành ới bia Trúc Bạch, gọi bánh tôm Cổ Ngư. Xong bữa, tôi nói lái xe…lái xe đảo qua phố cổ để tìm lại Hà Nội một thóang hương xưa, nhà cửa “hình ống”, giữa là sân có bể nước mưa, cái chuồng xí. Năm 54 di cư vào Nam, cố hương nan khứ hậu nan quy, thôi thì cũng đành ngậm ngùi để lại trong văn học làng Cổ Nhuế với đôi gánh thúng, cặp đũa cả, và câu đối của vua Lê cách đây 500 năm “cấu” vào hồn người với: “Khóac tấm áo bào giang tay gánh vác thiên hạ, vung ba thước kiếm tận thu lòng dạ thế gian”. Để lại Hà Đông, Hà Nội chiếc xe bò chở những chiếc thùng tôn với tiếng…“đổ thùng…đổ thùng”. Sau đấy bánh xe bò gỗ rền rĩ như khóc, như hát, tôi lại hòai đồng vọng đến Huyền Trân công chúa làm khúc Nam Bình để hoài cố quốc với nước non ngàn dặm ra đi.

Với ra đi. Ừ thì cũng đến lúc trở về với quê hương thứ hai.

Xe về đến bến xe Chuồng Bò, lơ xe hô hoán “nhõm rồi”, tôi biết tỏng nhõm là đến nơi rồi, là…hết. Hết chuyện bèn leo lên máy bay ngồi ôm rổ khoai trứng, tỉnh giấc hoè đã có mặt ở Hút-tân. Bèn hiu hắt xa gần Hà Đông, Sơn Tây, miếu mạo, cầu quán chỉ là giấc hương quan mơ luống mẫn canh dài qua giấc mơ hoang ấy thôi.

 

  •                                                                                  Trúc gia trang
  •                                                                               Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
  •                                                                          (viết xong 2003, tựa đề cũ: Kẻ Noi
  •                                                                           với Lê Thiệp, viết lại 2016, 2019)

 

Nguồn: Phạm Xuân Độ, Đan Nguyên, Hàn Sĩ

Nguyễn Bá Trạc, và Bùi Thụy Đào Nguyên.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2020