04/09/2020
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: Ải Nam quan (xưa) ở đâu?

clip_image008

Ải Nam Quan năm 1910

Chuyện là khi trưa phơi sách khi chiều tưới cây, mụ chữ tôi cứ đàm hoa lạc khứ cùng mây ở đầu ô, mây lang thang cuối núi nơi biên cương mồ viễn xứ mà các cụ ta xưa đi sứ…như đi vào đất Thục với cỏ hoa lạc lối. Ấy vậy mà các cụ không chịu viết du ký, ký sự như Hải thượng lãn ông viết Thượng kinh ký sự để đám hậu sinh thực mục sở thị.

Với biên cương, biên giới, tôi phải về Thăng Long xưa một chuyến để gặp cụ.

Thêm cỏ hoa lạc lối trong văn sử đầy cỏ dại, mụ sử tôi cứ lẫn đẫm về những dấu tích của một phế tích đang ẩn khuất đâu đó. Bởi sử gia nhà Nguyễn trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi chép: “Ải được tiền nhân dựng lên từ bao giờ, không tìm thấy trong sử sách cũng như truyền thuyết dân gian”. Khó hiểu một cách vừa phải ở chỗ tiền nhân dựng lên từ bao giờ, lại nữa như truyền thuyết dân gian với nhĩ văn vi hư, nôm là chỉ nghe không thôi chả hẳn là khả tín. Vì dây quấn quần, mụ chữ tôi lại lây dây với Vân Đài loại ngữ, cụ Lê Quý Đôn ghi: “Thời Lê Trung Hưng ải quan đổi thành Trấn Nam quan, nôm gọi là ải Nam Quan. Tại sao đổi tên và đổi vào niên đại nào, dưới triều vua nào, chưa rõ”.

Với quan ải, quan san, tôi phải hồi cố quận để nhất kiến như cựu thức với cụ Nguyễn.

***

Về tới Tây Hồ, lần mò tới Cổ Nguyệt đường, bấu vào mắt tôi là bà chúa thơ Nôm đang hầu trà cụ Nguyễn. Còn cụ áo đính thẻ ngà, mắt đeo kính đen, dáng khóm róm đang đọc Băc hành tạp lục. Cái đầu tôi tối như đêm, dầy như đất cách mấy biết ngay là…người trăm năm cũ. Chưa kịp thủ lễ vấn danh, mắt như mắt thầy bói, cụ đong đẩy mụ chữ tôi tính đong chữ như đong thóc gì đây? Hay là lại mụ sử nữa!

Nghe vậy mụ chữ tôi dối già với cụ là lập thân tối…”dạ” thị văn chương nên cũng muốn qua Tàu một chuyến để có một tập lưu cảo như Băc hành tạp lục. Nhưng bụng dạ cứ nhốn nháo không có người dẫn đường bị lạc thì khốn. Nào khác gì người Việt Thường vác chim trĩ qua Tàu, khi về vua Tàu phải cho xe “cải tiến” dẫn đường. Nghe đến xe pháo, gấp tập cổ thư lại, móc cái “điện thoại thông minh” Galaxy S6 Edge, cụ ới hãng xe Hoa Thêm bắt cái xe con đi thăm…ải Chi Lăng trong một ngày mây ong ong nắng đơ đơ.

Cụ thở ra như trâu hạ địa là các quan ta xưa sợ “thứ nhất đi sứ, thứ nhì di quan”.

Bởi đi sứ cả hai ba năm, lỡ mất ở bên ấy thì cũng mệt, Như thời Lê-Mạc, có một sứ thần vừa mới tới Bằng Tường đã mất tại đây. Từ đây khiêng quan tài xuống thuyền, lên thác xuống ghềnh về Thăng Long rồi đưa về xứ nên hành nhân ta vất vả không phải là ít. Cụ ậm ừ thì cũng nên đi Tàu một chuyến nữa để có thêm Băc hành tạp lục tập 2. Cụ nhắc nhớ tôi chớ dại bỏ xác ở…biên cương mồ viễn xứ với mây ở đầu ô, mây lang thang cuối núi chỉ tội cho cụ thân già vác dùi nặng, vất vả lắm chứ không đùa. Cụ dậy vậy.

Vậy là một ngày không có mây sao có mưa, cụ và tôi ngược lên phương Bắc.

Trên xe, cụ ngẫu sự cái nạn chữ nghĩa với biên cương, quan ải là người Tàu dùng từ khác nhau để chỉ nơi chốn qua lại giữa hai nước đó là “quan”, và “ải”. Cả hai cùng có nghĩa là cửa ngõ. Nhưng “quan” có tầm vóc hơn “ải”, vì quan có cổng, ải thì không.

Nghĩa địa lý của từ ải là đường hẹp giữa hai núi. Xưa, đi bộ, ngồi ngựa, cưỡi lừa, hay cáng võng, muốn vượt qua núi người ta tìm cách len lỏi theo chân núi và hẻm núi để đi qua. Vì vậy ải Chi Lăng không có thành quách mà là con đường hóc hẻm nối liền núi Kai Kinh và núi Bảo Ðài. Nhưng với thi trung hữu quỷ, vì có nhà biên khảo, biên chép nào đó cho rằng “Ải Chi Lăng” là…“Quỷ Môn Quan”. Cớ sự quỷ quái này, tôi phải hỏi cụ mới xong.

Cụ mà rằng khi qua đây, trong Bắc hành tạp lục, cụ làm bài Cửa ải quỷ môn có câu khí chướng bốc đầy, ma quỷ tụ họp, gió lạnh suốt đời xưa thổi vào xương cốt trắng. Cụ đắng đót Chi Lăng có hai cửa, cửa phía bắc là Quỷ môn quan, ý nói bọn giặc quỷ phương Bắc qua cửa này…chỉ có chết, cửa nam là Ngõ thề, là…thề không cho giặc quỷ qua ngõ này.

“Xe con” trên đường “cao tốc” bon bon tới Lạng Sơn…

Mụ chữ tôi chợt hoắng huýt tới câu ca dao Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa nhưng chả thấy phố Kỳ Lừa đâu? Bèn hỏi. Cụ cơm niêu nước lọ là Lạng Sơn rách giời rơi xuống với người thổ thồ lừa qua…cầu bắc qua sông Kỳ Cùng nên có tên…Kỳ Lừa . Kỳ cục ở chỗ vì âm vận của câu ca dao, nên các cụ ta khiêng phố Kỳ Lừa từ Lạng Sơn lên Đồng Đăng ấy thôi. Cụ nói nhịu ca dao còn sai bét nữa là…là sách vở với tận tín thư bất như vô thư.

Đến Lạng Sơn, bỗng không cụ bậm bạm khi xưa cụ phải ghé dịch trạm xem xét hành trang trước khi sang Tàu. Dịch trạm cũng là nơi sứ thần phương Bắc trước khi đến Thăng Long cũng phải đợi ở đây chờ người của ta đưa đường. Chỉ sông Kỳ Cùng, cụ giục giặc khi con sông chảy “xuôi” xuống địa phận nước ta có rất nhiều ghềnh thác, chỉ có thể đi bằng thuyền độc mộc hoặc bè tre giang. Bỗng dưng cụ âm ỉ nỗi nhớ nhung kỳ quặc dễ đứt đoạn thôi, trong tráp này ta có ngòi bút sắc tựa dao. Hỏi ra mới biết với bút trong tráp cụ đã làm bài Lạng thành đạo trung tức “Trên con đường Lạng Sơn”.

Trên đường Lạng Sơn lên biên giới, cụ dẫn dắt tôi đi vào mê lộ qua bút ký De Hanoi à la Frontière du Quang-si tức từ Hà Nội đến Quảng Tây của M. Aumoitte. Ông là người trong phái bộ Pháp tả cảnh con đừong mòn đi tới ải Nam Quan năm 1881 thế này đây…

(…) Từ Ðồng Ðăng đến biên giới con đường chỉ còn là một con đường mòn nhỏ, đá lởm chởm, chạy quanh những ngọn đồi hầu như là trọc và không có người ở. Ði khỏi Ðồng Ðăng được 10 phút là không còn một bóng người. Con đường mòn này mỗi lúc một hẹp và đi mãi mấy ngày đường dẫn tới trước một cửa cổng có hai cánh bằng gỗ. Cửa được gắn với một bức tường làm bằng gạch nung, xây dài lên tới đỉnh đồi, có độ cao chừng 50 mét. Hình thức của cổng và hai bức tường xây lên núi tạo thành như một cái phễu (nguyên tác viết là cuống họng, gorge). Trên hai cánh của gỗ có vẽ rồng, phụng mầu sắc rực rỡ. (…)

Theo Đại Thanh nhât thống chí, 1726, năm thứ 2 triều Ung Chính: Cổng có từ đời nhà Nguyên 1579. Triều Gia Tĩnh, thời Minh năm 1558 theo ban chỉ kiến tạo:

(…) Cửa quan dài 110 trượng, có đề 3 chữ Trấn Nam Quan, là cửa quan để phòng giữ phương Nam. Phía nam là ải Phả Lũy của An Nam. Trấn Nam Quan phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá tên Kim kê, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, có cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Ðằng sau bên tả bên hữu, có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ. (…)

Năng nhặt chặt bị với tôi qua ông M. Aumoitte đi mãi mấy ngày đường mới tới ải Nam Quan và ải chỉ là bức tường gạch. Theo ông Anute cũng là người trong phái bộ Công Ước Thiên Tân (1881) miêu tả chi tiết hơn: Ải cũ là cái tường “biên giới” dựng chắn ngang một khe núi sâu, hai bên là núi đá cao, gần đó có con suối cạn. Giống như Dr Néis tả: “Cổng Tàu” được dựng trong một khe núi cạn ở ngọn đồi dốc đứng. Biên giới hai nước được thỏa thuận là con suối nhỏ ở dưới đồi, cách cổng khoảng 150 mét.

Từ con suối tôi đắng đãi chuyện sứ thần về đến đây…tóc đã bạc trắng:

Cụ Ngô Thì Nhậm đi sứ ba lần trong một năm dưới thời Quang Trung có câu thơ: nhất niên tam độ đáo Nam Quan, mai tuyết xâm nhân mấn dĩ ban, giản thạch mãn trang du tử thá… một năm ba lần trở lại Nam Quan, tuyết bám người tóc đốm bạc, đá suối đầy túi lãng tử…Hốt nhiên cụ mắng mụ chữ đọc không thông vì…tuyết trắng chứ chả phải …tóc trắng.

Với “tuyết trắng”, tôi ngẫm nguội ắn hẳn ải Nam Quan nằm sâu lắm trong đất Tàu vì lạnh lắm. Nói cho ngay Lạng Sơn, Đồng Đăng làm quái gì có…tuyết. Nhưng ải Nam Quan xưa thật là xưa nằm ở đâu thì chỉ có trời biết và cụ biết nên tôi phải theo bước chim di…của cụ.

Nếu như cụ Ngô Thì Nhậm làm thơ mô tả tới ải Nam Quan chỉ rhấy…sỏi đá. Thì trên đường đi đến ải Nam Quan, có một ông Tàu “làm văn” chỉ thấy… rắn rết, bò cạp.

Thôi thì ốc vào cua ra bằng vào bút ký có tựa đê: Itinéraire de Hanoi à Canton par Lang-Son, le Kouang-Si et la rivière Si-kiang, đăng trong Ecole De Langues Orientales Vivantes do E. Leroux của ông Tàu tên Tsai-Tin-Lang: Tác giả bị đắm tàu tại vùng biển An Nam. vào thời Tự Đức năm 1837. Vì không muốn gặp nguy hiểm nữa nên ông quyết định trở về Quảng Đông bằng đường bộ từ Huế đến Quảng Tây qua ải Nam Quan để về nước.

(…) Ông rời Hà Nội ngày 15 tháng 3 năm 1837, đến Chi Lăng ngày 18, ông Tsai gặp Quỉ Môn Quan. Ngày 19, ông nghỉ đêm tại trạm Huan-lang (Văn Lang?) sau khi đi qua 7 trạm khác có quan quân canh gác. Ngày 20, ông Tsai đến Quỉ Môn Quan. Truyền thuyết địa phương cho rằng mười người đi vào cửa Quỉ Môn thì chỉ có một người sống sót đi ra

Ngày 21, ông Tsai đến Lạng Sơn vào lúc xế trưa. Viên quan trấn thủ Lạng Sơn, theo thông lệ, gởi mã phu mang công văn sang Quảng Tây để hỏi quan phủ Thái Bình lúc nào thì cho phép ông đi qua cửa ải. Mã phu trở về Lạng Sơn mang tin ông được phép qua cửa ải vào ngày 8 tháng 4. Từ Lạng Sơn đến biên giới ngày 3 tháng 4 sau khi qua sông (sông Kỳ Cùng), ông Tsai đi qua chợ Tsoi-moi-pou (Kỳ Lừa), thương buôn tại đây toàn là người Tàu từ Quảng Tây và Quảng Ðông. Sau khi đi từ sáng sớm đến quá trưa ông đến Văn Uyên (Ðồng Ðăng). Ðường đi là đường mòn nhỏ, đi vòng vo quanh núi. Khắp nơi không thấy bóng dáng một người nào. Không nghe tiếng gà gáy cũng như tiếng chó sủa.

Sau khi rời khỏi Đồng Đăng, ông thấy đường sá cũng khó đi như phía bên kia vì toàn là núi non hiểm trở. Toàn vùng này núi cao hoang vu bao phủ, đôi lúc có con đường mòn cắt ngang qua, xen lẫn bụi rậm gai góc là cỏ dại mọc cao đến 10 trượng. Ðường đi lúc thì núi đá hiểm trở, lúc thì vực thẳm tối tăm. Không thấy một dấu vết con người. Mặc dầu là mùa xuân, cây cối trong rừng đều vàng vọt và khô héo. Các tảng đá rêu mốc phủ đầy. Tuy nhiên, hai bên bờ của con sông chảy qua vùng này thì cây cối um tùm, rậm rạp. Trên sông có những con công đang bơi lội. Trên đường mòn, mà những con công theo đó đến đây, cây cối che phủ dầy dặc, kín mít, không một tia nắng xuyên lọt qua. Rắn rết, bò cạp khắp nơi…

Ði được khỏang 30 cây số vì toàn đường rừng, leo đèo lội suối, ông Tsai ngừng chân ở một trạm nghỉ ngơi thuộc huyện Hia Che (Hạ Thạch?). Rời đây ông tới Nan-Kouan (Nam Quan) thuộc Quảng Tây. Như vậy là mất 5 ngày đường. Mặc dù ông đã được quan phủ Thái Bình cho phép ông qua cửa ải. Nhưng vào lúc cuối, ải quan xét lại và không xem Tsai-tin-lang là người Hán nên không được qua ải”. (…)

Chuyện đi 30 cây số qua rừng núi mất 5 ngày đường chả có gì đáng nói, nhưng cái đáng nói là ải quan không cho ông…”nhập quan” vì ngờ ông không phải là…người Tàu. Vì vậy ông trở thành…”khách trú” của ta nên mới có ký sự Itinéraire de Hanoi à Canton par Lang-Son…với chuyện muốn qua ải phải…qua ải quan xét nét giấy tờ. Nhưng ải quan coi “quan phủ Thái Bình” chả ra củ khoai gì sất nên mới thành chuyện, thưa bạn đọc.

Đến trần ai khoai củ này vừa lúc “xe con” tới Ðồng Ðăng.

Cụ bảo “lái xe”…lái xe tới chợ biên giới vừa ăn, vừa nghỉ ngơi để vãn cảnh. Ở chợ trời lộ thiên trước cổng biên giới từ bên này nhìn qua bên kia toàn khu vực cửa khẩu cao hẳn lên như một ngọn đồi. Dòm cửa khẩu nào thấy có dáng rêu phong cổ xưa của nó. Vì nó ngự trên “ngọn đồi” đá lát sáng bóng, cây cổ thụ gần đó cũng được xây bệ tròn bao quanh. Qua cột mốc 100 thước dòm cái cổng có ba chữ Tàu to đùng. Cụ diễn dịch ba chữ trên là Trấn Nam Quan. Năm 1956, với môi hở răng lạnh, Lê Thanh Nghị cầm đầu Ủy ban kế họach nhà nước “lên kế hoạch” đặt tên là…Hữu nghị quan. Cụ hòm hõm: Lạ thật! Năm Quí Dậu 1813 cụ đi qua nơi này làm quái gì có cái cọc mốc và cái thành hoàng bản thổ kia.

Nào tôi có hơn gì cụ, dòm cái cổng, tôi lại um thủm với một hai bài viết của ai đấy: “Nếu Ải Nam Quan của ta sao không viết chữ Việt mà là chữ Tàu”. Thêm ai đó phăm phở: “Nếu người Việt xây cửa ải giữa mình và Tàu thì ải đó là ải Bắc hay Bắc Quan chứ sao lại Nam Quan?”. Bèn thưa thốt với cụ ngẫu sự ấy. Cụ nhìn tôi bằng nửa con mắt rùa mà rằng chuyện vậy mà cũng hỏi. Cụ dấm dẳn ấy là chuyện hậu sự, cứ đi theo cụ sẽ hay.

Chưa biết đi đâu thì cụ dẫn đi qua nhà vệ sinh trong đồn biên phòng có bảng tiếng Việt to đùng: “Nhà xí”, nhìn lên có hàng chữ: “Do đó nhập”, tôi ớ ra, cụ khẽ khàng ấy là “Lối vào”. Dòm xuống sàn, cấu vào mặt mảng chữ: “Chỗ tiêu độc đế giày”, lại u ơ nữa với…“tiêu độc”, cụ rọ rạy đó là…cái thảm chùi chân. Qua phòng làm thủ tục, tôi chớ phở ra chỉ có người mang hộ chiếu nước CHXHCNVN “tiên tiến” mới được “tham quan”, hộ chiếu Việt kiều phải xin visa ở Hà Nội. “Lái xe” nảy sinh cho tôi mượn thông hành, nhưng phải đóng15 đô la, cụ được miễn vì là…người cõi trên. Ở cổng biên giới, tôi đang ngẫn ngẫn với đám xe ôm và cửu vạn nửa ta nửa Tàu đang xí xố với nhau. Thay vì bắt xe ôm, cụ lại leo tót lên xe thồ chở hàng với con lừa, ắt hẳn cụ muốn nhắc nhớ tôi về…cầu Kỳ Lưa ở sông Kỳ Cùng chăng?

Cụ và tôi trực chỉ đi Bằng Tường…Trên xe, cụ bật rật ngày xưa cu.đi sứ cũng nhiêu khê lắm, như cụ Lê Quý Đôn với Bắc sứ thông lục:

(…) Năm Canh Thìn 1760, sứ bộ đi đường bộ lên Lạng Sơn, rồi tới bến đò tỉnh Quảng Tây. Ta tới Nam Quan, gặp quan Tuần Kiêm họ Tra đưa thơ thách họa. Tiếp đến gặp các quan liêu đặt những câu hỏi hóc búa, họ bắt bẻ tranh luận như là kẻ địch. Họ dùng tiếng Di ngôn Di sứ (lời mọi, sứ mọi) mà chỉ chúng ta. Sứ bộ gửi tờ trình cho viên tuần phủ Quảng Tây xin thôi dùng chữ “Di”. Tờ tình họ xem xét đến tận năm 1761. Sứ bộ tưởng trước Tết sẽ về đến nhà, nhưng phải đợi gần một tháng ở ải quan, họ mới chịu mở cửa quan. (…)

Nghe thủng mảng chữ: ”…đi đường bộ lên Lạng Sơn, rồi tới bến đò tỉnh Quảng Tây. Ta tới Nam Quan…”, vừa lọt lỗ tai chui qua lỗ miêng, tôi rọ mồm hỏi phải chăng ải Nam Quan nằm sâu trong Bằng Tường, tỉnh Quảng Tây? Cụ ầm ừ “Ở bến đò Minh giang”.

Sau đấy, cụ dón chuyện cụ Mạc Đĩnh Chi đi sứ, do ngập lụt ở sông Minh trước khi đến ải Nam Quan, sứ bộ đến ải chậm một ngày. Viên quan giữ cửa ải không cho mở cửa, ném từ trên cửa ải xuống một vế câu đối, bảo hễ đối được sẽ mở cửa cho qua. Vế ra đối viết:Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quannghĩa là qua cửa quan chậm, cửa quan đóng, mới khách qua đường qua cửa quan…

Cụ cười nhín và bảo chuyện này do các nhà học giả, học thật bịa như…thật ấy.

Cụ văn chương thiên cổ sự thất đắc thốn tâm tri rằng…rằng văn chương tự muôn thuở, hay dở tự mình biết thôi. Bởi nhẽ các cụ nhà nho ta học chữ Hán theo dạng từ chương, làm được bài thơ Đường nào các cụ ngâm cho nhau nghe bằng tiếng Tàu giọng Việt. Qua Tàu họ nói tiếng Quảng, tiếng Tiều nên các cụ…tiêu điều trông thấy nên phải bút đàm.

Thêm một lần mụ chữ tôi trộm vía cụ chứ…chứ cụ là “ông đô xứ Nghệ”, cụ nói giọng Nghệ Tĩnh, tôi ăn ngay nói dối…nói dối như thật là nghe hay đáo để. Thảng như cụ đi sứ, chỉ tội nghiệp cụ khi nghe Tàu ngâm Phong kiều dạ bạc của Trương Kế bằng tiếng Tiều, tiếng Quảng nghe “oen oét” như chim lợn kêu như thể như thế này đây: .

Dề pun chúng xéng tui hạc xuỳn

Cu Xu xình ngồi Hàn Xán xừ

(Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San)

Với thơ đảo vận, đảo ngữ trên mụ chữ tôi chắc như gạch nung, cụ nghe…đảo điên và chả thấy Đường thi, đường mòn hay hớm ở khổ nào? Thế nhưng với thuyền ai đậu bến Cô Tô, tôi vất vưởng chuyến qua Tàu này, cụ và tôi cùng một lứa bên trời lận đận như Bạch Cư Dị gặp người kỵ nữ già ở “Tầm Dương giang đầu” cùng một con thuyền và một bến đò.

Vừa nghe đến: bến đò, trong một thoáng đi về cụ ngâm nga bài Nam Quan đạo trung có câu muôn dặm một chiếc xe vượt qua trấn Hán, từ Minh giang lên bắc sẽ thấy tỉnh Trường An, với nghĩa Hán quan là trấn Nam Quan (*), Minh giang là sông Minh trên đường đi Trường An (Yên Kinh).

(*)clip_image002

Phụ đính: Năm 2018, từ Bằng Tường tới khúc sông Minh cắt ngang đường đi Yên Kinh Vì tôi chắc mẩm đây là bến đo mà cụ đã đến. Như cụ Lê Quý Đôn từ Lạng Sơn vừa qua bến đò trên sông Minh là tới ải Nam Quan (**): Tôi đo bản đồ từ bến đò tới Bằng Tường khỏang 30 cây số. (Vì bài viết sắp đến Bằng Tường)

(**) Bài viết hòan tất đã lâu, cũng năm 2018, về ải Nam quan tôi tìm được tài liệu ở trong nước

“…Người Việt Nam gọi là “ải”, với người Trung Quốc “ải” qua (1910) chỉ là cái cổng như cái nhà. Nhưng phần dinh cơ của quan giữ ải đằng sau cổng được dựng như thành quách hay cung điện để tiếp tổng đốc Quảng Tây hay quan bộ lễ từ Bắc Kinh tới tiếp sứ thần. Theo biên bản ghi chép: Trấn Nam Quan (thuộc châu Bằng Tường) tọa lạc trên “quan lộ” (la route mandarine), là cửa thông thương chính thức giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, chỉ mở cửa khi có “quốc sự”. Sứ thần chính thức hai bên đều đi qua cửa này…”.

Xe thồ chạy qua Tân Thanh để đi Bằng Tường.

(ở trang 3, tác giả bút ký Tsai-Tin-lang gọi Tân Thanh là Hia Che)

Xe lóc cóc qua phố Trại ở Tân Thanh (thị trấn Tân Thanh cách biên giới 30 cây số), phố có nhiều loại hàng “độc” như đĩa phim sex, thuốc kích dục, bao cao su. Phố Trại do người Choang từ trên núi xuống lập nghiệp mà thành, người Tàu gọi họ là Pò Chài. Họ hàng ngày chạy xe ôm, những cô xe ôm này người to đùng, chân đi ghệt, đội mũ bảo hiểm, họ đứng túm vào nhau nơi góc chợ đón khách. Khi tôi đưa máy ảnh lên, các cô xua tay nói: “xí muội…xí muội…”. Tôi hiểu ngay đơ là: “em xấu xí lắm…em xấu xí lắm…”, mà nhìn mặt các cô nào khác gì cục xí muội, da nhăn quéo lại như…táo Tàu khô.

Trong khi đợi lừa ăn cỏ, nhân trời chiều đang muốn ngả về tây, tôi cầm máy hình hướng về phía đông…Thấy vậy cô Tàu có khuôn mặt như trong phim bộ Hồng Kông chỉ tay về phía tôi cầm máy líu lo với tôi: ”Tche-Nan-quan. Dòm mặt một tôi như chúa Tàu nghe kèn, cụ dậy mình gọi Trấn Nam Quan thì người Tàu kêu là Tche-Nan-quan, mình kêu Nam Quan họ gọi là “Nan-Kouan“. Cụ kheo khảy nào khác gì Hồ Dzếnh của mụ chữ tôi ngâm Phong kiều dạ bạc bằng tiếng Quảng, tiếng Tiều “Cu Xu xình ngồi Hàn Xán xừ” đâu! Hốt nhiên cụ nhòm con lừa đang ăn cỏ và dĩ thiểu kiến đa là lấy ít hiểu nhiều thì con lừa và con bò khác nhau ở…bó cỏ. Cả hai mỗi ngày ăn ba bó cỏ để kéo xe, con bò cho ăn hai bó thì nó ì ra, còn con lừa ăn hai bó, nó vẫn kéo cái xe thồ để cụ và tôi đi tìm…ải Nam Quan. Chợt từ một khoảng xa có con bò bự sự nhưng chỉ nhỏ bằng con bê, nhòm con bò như…con bê. Cụ ước tính bằng mắt, và ước chừng ải Nam Quan cách đây một dặm đường…

Với một dặm đường nhưng lối mòn xưa cũ đã mất dấu, từ xa chỉ thấy núi rừng trùng điệp. Tôi để hồn đi hoang, lát nữa đây sẽ len lỏi theo chân núi, qua một con suối…, ở đấy tôi hình tượng đến vị sứ thần đi sứ về đến đây thì tóc đã nhuộm mầu quan san. Tôi mường tượng ngược lên hẻm núi với cỏ hoa lạc lối là dăm ba dấu tích của một phế tích đang ẩn khuất trong ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng, một vũng tang thương nước lộn trời
Trong khi mụ chữ tôi lạc nẻo đường trần với lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương. Thì cụ dường như chìm trong tâm thái khác, cụ đang đắm chìm trong mảng núi rừng dạt dào nỗi quan hòai của người muôn năm cũ về lại chốn xưa. Cụ đang thẫn thờ về một bến đò của dòng Minh giang ngày nào... Nay ở đấy có thế còn cái thuyền chơ vơ trên bên đò, mái chèo gác một bên đang chòng chành trên sóng nước đợi đưa cụ về một bến nước. Chợt lay lắt về bến đò Minh giang năm xưa mà cụ đã đi qua, tôi ậm ừ câu cổ phong của cụ: Vạn lý đan xa độ Hán Quan – Minh giang bắc thướng thị Trường An…

Trong một chiều trên bến nước, mụ sử tôi cao không tới, thấp không thông với cụ ải biên giới có liên quan đến biên cương, biên thùy. Vì trong An Nam chí lược của cụ Lê Trắc có ghi thời nhà Nguyên, người Việt ta vượt biên cương chiếm 5 huyện của họ vì vậy có cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa vua Trần, vua Minh trong vòng 3 năm. Cụ Nguyễn Văn Siêu trích sử Minh thực lục đưa vào Phương đình dư địa chí những chiếu thư trao đổi giữa hai bên…

Ngày 1 tháng chạp năm Hồng Vũ thứ 29, nhằm ngày 31-12-1396,

Chiếu thư Minh Thái Tổ:

Giao Chỉ xưa, có người đàn bà tên Trắc làm lọan. vua Quang Vũ sai Mã Viện sang bình định, bèn xây Đồng Trụ làm trong ngòai. Gần đây, An Nam đưa binh mã vào từ 100 tới 300 dặm đánh phá 5 quận, chẳng phải thừa lọan lạc nhà Nguyên ta mà chiếm được ư. Vua tôi đều nói đất này thưộc An Nam đã lâu, nhưng không biết do hai đời Lý, Trần hay đời nào đặt ra, cứ nói theo đời trước bảo đây là đất của tổ tiên mà không trưng bằng cớ.

Chiếu thư vua Trần Thuận Tông:

Xét cho kỹ thời Hán Vũ thứ 19 sai Mã Viện đến Giao Chỉ đánh dẹp họ Trưng lập Đồng Trụ. Tính đến nay đã hơn 1.350 năm, dưới một nghìn năm gò lũng đã biến đổi, ai mà biết được Đồng Trụ ở đâu? Bảo hạ quốc vượt Đồng Trụ cả trăm dặm để xâm chiếm 5 huyện. Nhậm chức cho vẽ địa dư cùng sự kiện trong Kiến Vũ chí, địa chí thư từ đời Hán, Đường của qúy quốc. Nếu hạ quốc xâm chiếm thì trả lại có khó gì, nay không xâm chiếm có gì để thóai hòan. Năm huyện này là của hạ quốc, đời truyền đời, đất để lại phải giữ vững. Đâu để đất đai của tổ tiên giao cho qúy quốc, vì vậy hai bên cứ giữ biên giới đã định sẵn.

Văn thư bộ Lễ nhà Trần gửi bộ hộ nhà Minh.

Trước đây thiên sứ mấy lần đến tiểu quốc cứ đòi dừng lại ở Đồng Đăng. Việc nghênh tống và cương giới không liên quan gì đến nhau. Vì Đồng Đăng là chỗ hoang dã, không có huyện quan lo việc khỏan đãi, nên không tiện lập trạm. Việc nghênh tống hai bên gặp nhau tại cương giới, không phải tại địa điểm hiện nay tại Đồng Đăng, mà là tại đất Bằng Tường.

Làm như xẩm vớ được gậy vì mụ sử tôi nắn no ở đâu đó: Năm 1428, sau khi Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, vua cấm chỉ người Tàu không được đến phố Kỳ Lừa. Theo Ðại Thanh nhứt thống chí trong mục các ải biên giới thì cách 30 dặm từ biên giới là nơi người Việt ta chuẩn bị đồ đạc triều cống mà ta gọi là Biện sự sứ. Ngay như Tuần phủ Lý Công Phất nhà Thanh viết trong bài Trùng tu Nam Quan ký cũng nói đến dịch trạm này…

(…) Tỉnh Quảng-tây ở miền nam của Trung-quốc, núi cao, rừng tre nứa rậm là nơi hiểm trở. Riêng cửa Trấn-Nam, phía nam trông sang Giao Chỉ, thật là nơi hiểm yếu. Nhà nước oai đức rộng khắp, thiên hạ thần phục, người An Nam đến xin vào nộp cống phẩm, trong ngoài một thể thống cung thuận: do thế, cửa quan này, từ lâu không được sửa sang, ngày càng đổ nát. Sứ bộ sang cống, hàng năm phải đi về đường ấy. Cửa quan này, tường cao lầu kín; nơi khám xét, nơi đóng quân, nơi canh phòng đều đầy đủ chỉnh tề. (…)

Bắt qua cụ sử thần Nguyễn Văn Siêu, mụ sử tôi như xẩm tìm gậy và mọ mẫm ra…

(…) Cửa Trấn Nam được mở vào thời nhà Tống, thuộc động Bằng Tường, phủ Tư Minh. Theo Ðại Nam nhứt thống chí thì Trấn Nam Quan ở trong nội địa nước Tàu, dựng dưới thời Gia Tĩnh nhà Minh 1522-1566. (…)

Mụ sử tôi lang thang như thành hoàng làng khó lạc đường vào sử nhà mới thông sử: Cả trăm năm trước, sử quan ta đã hay biết ải Nam Quan trong nội địa nước Tàu. Và nhờ văn học sử mới thông hanh có con suối nằm ở phía nam ải. Vậy là coi như bòn gio đãi sạn xong.

Thế nhưng lẩm cẩm như xẩm chống gậy thì ải Nam Quan cách Đồng Đăng bao xa? Bèn thưa thốt với cụ bắt cua bỏ giỏ dùm. Cụ cười cái bép rằng ai biết quan đái mà hạ võng vì mụ chữ tôi chưa đọc Vân Đài Loại Ngữ của cụ Lê Quý Đôn biên soạn năm 1760:

(…) Sáng hôm sau, tôi lên núi Liên-Hoa; lớp lớp trùng điệp, cây cối âm u; người đi không phân biệt được đông tây, như lạc vào đường mê. Tôi ngồi nghĩ ở chỗ bậc đá; chợt thấy ánh sáng mặt trời, người đi theo giục đi. Nửa bộ, nửa xe, khi lên khi xuống, ước khoảng 30 cây số mới đến đồng bằng. Thế đất bằng phẳng, khoáng đãng, không núi cao, rừng sâu hiểm trở; chỉ trông cậy vào cửa quan này thôi. Đến đây, ngoảnh cổ lại trông, thì các ngọn núi đều ở trong đám mây cả. Ngày mồng một tháng ba, đi từ phủ Thái-Bình, đến mồng 6 đến quận. Tới đó, với quan Thái thú quận là ông họ Đồ, trước hết đi duyệt Trấn-Nam-Quan ở đất Bẳng-Tường. Xét ra Trấn-Nam-Quan cách phủ trị Đồng Đăng 4 ngày đường. (…)

Và rồi cụ mắng mụ chữ tôi là nhĩ văn mục đồ, là tai nghe mắt thấy nhưng chả thấy khỉ mốc gì sất.. Cụ lực đực rằng ông Tây M. Aumoitte viết bút ký về ải Nam Quan: Ra khỏi Ðồng Ðăng đi mãi mấy ngày đường dẫn tới trước một cửa cổng có hai cánh bằng gỗ, cụ lụi đụi vì ông Tây đây cưỡi…ngựa Tây. Cụ hay hớm thêm cụ Lê Quý Đôn…”nửa bộ, nửa xe” nên mất 4 ngày là hợp với lẽ trời quá rồi. Còn ông Tsai-tin-lang rời Đồng Đăng ngày 3 tháng 4, đến Ải Nam Quan ngày 8 tháng 4 là 5 ngày thì cãi vào đâu được, vì ông này…đi bộ. Nhòm tôi ngay mặt như cán tàn ra cái điều hiểu biết lắm, cụ mắng như vặt thịt là cụ đang nói chuyện với người chả biết tính tóan gì sất. Bởi nhẽ theo như các sử gia hiện đại, tân hình thức hôm nay tính ra đại quân của cụ vua Quang Trung từ Nghệ An kéo ra bắc đánh quân Thanh chỉ mất 20 ngày với tốc độ 15 cây số một ngày nhờ hai người cáng võng môt người và…cưỡi voi. Vì vậy những hành nhân đi sứ như cụ len lỏi trong rừng, chèo núi, vượt sông nên đi 10 cây số là hết đất. Thế nên cụ nhắm chừng từ Đồng Đăng đến ải Nam Quan trên 30 cây số là ít.

Tôi bèn đong đảy cụ đi từ Đồng Đăng đến ải Nam Quan thì sao. Cụ bí rị cũng luôm nhuôm lắm vì đồ cống do bộ Lễ lo cho vua Tàu. Là sứ thần, cụ phải lo quà cáp cho quan ải cái chày, cái cối nếu không thì nó đưa thơ thách họa rồi giữ lại ở quan ải cả tháng không cho về như cụ Tam nguyên Lê Quý Đôn thì khốn. Ấy là chưa kể cụ ghé chỗ này, thăm chỗ kia nhăm ba ngày để làm thơ vịnh cảnh trong phiêu lãng quên mình lãng du nên từ Đồng Đăng tới ải Nam Quan bao lâu cụ cũng chả nhớ nữa, vì lâu quá rồi bố ai mà nhớ nổi.

Với cái chày cái cối của cụ, mụ sử tôi hồi nhớ vua Trần Thuận Tông cãi chày, cãi cối ai mà biết được Đồng Trụ ở đâu? nên mụ sử tôi lấy ngắn nuôi dài bằng vào sử phẩm dưới đây:

Năm 1886-1887, cuộc đàm phán giữa đặc sứ tòan quyền Pháp Constant và tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Chi Động. Ông Chiniac de Labastide, một người trong phái bộ viết:

(,,,) Khi tôi cho ông chủ tịch phân giới Trung Hoa biết rằng, mặc dù đã nhiều nỗ lực tìm kiếm, vẫn không tìm thấy núi Đại Phân Mao Lãnh mà dưới chân núi có trụ đồng của tướng Mã Viện. Ông này im lặng, vài ngày sau, ông chỉ tôi trên bản đồ phía nam Pi Lao một dẫy núi và cho đó là nơi chôn đồng trụ. Khi tôi la lớn vì mạo nhận phi lý này, ông ta mới trịnh trọng cho tôi hay là sách Đại Nam nhất thông chí của nước ông…ghi sai, trụ đồng ở ngay Tiểu Phân Mao Lãnh đây. Ít lâu sau, tôi vô tình gặp và hỏi một cụ già An Nam núi Đại Phân Mao Lãnh ở đâu?. Cụ chỉ về phía bắc và nói ở đằng kia, nhưng xa lắm. Vậy là trên một khỏang dài 40 km, người ta đã cắt bỏ biên giới của người An Nam. Việc này An Nam đã mất 7 xã rưỡi thuộc tổng Kiến Trang và 2 xã thuộc tổng Kiến Duyên (…)

Từ trụ đồng của tướng Mã Viện, mụ sử tôi rị mọ qua đình thờ Phục Ba tướng quân vì gần đây với Tàu: “Sách Trung Nam Bán đảo Dân tộc viết vào triều Thanh, người Kinh đến Đông Hưng từ đời Hậu Lê cách đây 400 năm. Tổ tiên họ nguyên cư trú ở vùng Cát Bà, thấy làng xóm ở đây vắng vẻ không người ở, bèn định cư hẳn không về nữa. Năm 1958, họ không còn được gọi là Kinh tộc, để có tên mới là “Đông Hưng các tộc tự trị huyện”.

Qua nhà biên khảo trong nước đi “thực tế” cho hay: “Làng có chùa và đình miếu, chùa có chuông đồng đúc năm 1787, đình thờ Phục Ba tướng quân…Dân làng viết được ít chữ Nôm, người Trung Quốc gọi là Tự Nam và hát quan Họ, người Trung Quốc gọi là hát Muội”.

Lần này (2018) tôi đo tỷ lệ xích trên bản đồ thì: Bến đò sông Minh mà gần đó là ải Nam Quan (theo cụ Lê Quý Đôn) cách biên giới 38 km. Địa danh Đông Hưng có 3 làng người Việt cách biên giới 8 km. Đến đây tôi nghệt ra như ngỗng đực vì những người Kinh trên đất Tàu cách đây 400 năm tức năm 1617 mà có chuông đồng đúc…năm 1787, dân làng với 11,600 người lại còn biết hát quan Họ nửa!? Vì vậy tôi đồ là làng Đông Hưng nằm trong đất Tàu vì việc chia cắt biên giới giữa Pháp và nhà Thanh qua Hòa ước Thiên Tân 1886-1887.

clip_image004

Từ đình thờ Phục Ba tướng quân tôi lay lắt đến Hòa ước Thiên Tân với ông đặc sứ Chiniac de Labastide đã viết vào bản tường trình việc cắm mốc phân định biên giới: “Người ta đã cắt bỏ biên giới lịch sử của An Nam và rời xa về phía nam…”.

(nguồn: Le Tour du Monde (1888) của Dr Néis)

Với biên giới, biên cương trong bài bút ký được công bố năm 1888, bác sĩ P. Neis viết:

“Vấn đề đặt ra cho chúng ta là: đường biên giới tại khu vực ải Nam Quan có từ lúc nào? Và đường biên giới cũ (l’ancienne frontière) đã thay đổi bao nhiêu lần kể từ đó đến nay?”.

“Đến nay”…tôi mò ra ải Nam Quan nằm trong đất Tàu khỏang 38 cây số trùng hợp với ông Chiniac de Labastide! Vẫn chưa hết, đầu trỏ xuống cuống trở lên từ trang 5 khi tôi tới phố Trại ở Tân Thanh nghe mấy cô người dân tộc Pò Chài líu lo: ”Tche-Nan-quan tức Trấn Nam Quan ở đâu đó. Ở đâu thi trở lại trang 3, khi ông Tsai ngừng chân tại trạm nghỉ thuộc huyện Hia Che (phố Trại, Tân Thanh). Ông vừa rời đây là tới Nan-Kouan (Nam Quan) thuộc Quảng Tây. Như cụ đã nhắm chừng từ Đồng Đăng đến ải Nam Quan trên 30 cây số là ít.

 

Vừa nhắc đến tên cụ…thì cụ xuống giọng tắp lự: Ải Nam Quan đã thuộc vào cổ sử.

Thông sử nhưng không thông hanh, mụ sử tôi bèn hỏi cụ “Ải Nam Quan xưa thật là xưa thuộc vào cổ sử ra sao?”. Nghe rồi, cụ mặt mũi héo don…

Tất cả bằng vào cuộc chiến Trung-Pháp từ1884 đến năm 1885…

Thiếu-tướng Francois Oscar De Négrier được cử làm tư lệnh vùng biên giới Hoa-Việt. Trong lúc giao thời Pháp-Việt, ải Phả-lũy (tức Lạng Sơn) bỏ không. Quân Thanh tràn sang phá ải, rồi phá vùng Đồng-đăng. Ngày 24 tháng 3 năm 1884, Négrier mở cuộc hành quân đánh đuổi quân Thanh, Tổng-binh Sầm Quang Anh bị giết. Năm 1985, Tổng-binh Nùng Mặc Sơn, đem một trung đoàn chiếm ải Phả-lũy. Négrier đem 3 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn Pháo-thủ, một Tiểu-đoàn bộ binh thuộc địa) đánh đuổi quân Thanh, giết Nùng Mặc Sơn.

Ngày 5-1-1885, chiếm ải Nam-quan, để thị uy, De Négrier cho đặt chất nổ san bằng.

Cũng trong năm trong 1885, hai phái đoàn Pháp-Trung gặp nhau để phân định biên giới, cột mốc biên giới cách cổng Nam Quan 150 m về phía nam, cổng được xây lại ở chỗ cũ một cách “đồ sộ”, như một công sự chiến đấu, bằng đá đẻo (có lỗ châu mai), với hai bức tường hai bên xây thẳng lên đỉnh núi. Ải xây từ năm 1885 đến 1887 mới hòan tất

clip_image006

Kỵ binh Pháp đang tiến tới cổng Nam Quan từ Lạng Sơn

 

Ải nằm trong đất Tàu bị phá sập ngày 5-1-1885 rôi xây lại.

Ải bị phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn phát động chống nhà Thanh năm 1907 và được dựng lên năm 1910. Nhân dịp giải phóng Quảng Tây, Mao Trạch Đông đặt tên với tên cũ từ thời Ung Chính nhà Minh là Trấn Nam Quan.

clip_image008

Ải Nam Quan năm 1910

Dòm hình ảnh, tôi hấm húi với cụ:ảnh dưới phía sau không có dãy núi, đồng thời khỏang đất trước ải không bằng phẳng giống ảnh trên. Thêm trong Vân Đài Loại Ngữ cụ Lê Quý Đôn viết năm 1760: “khi lên khi xuống mới đến đồng bằng. Thế đất bằng phẳng, khoáng đãng, không núi cao, rừng sâu hiểm trở, v…v..” (trang 7). Tôi búi bấn với cụ phải chăng Tàu đã dời ải về địa điểm mới mà gần đây ta gọi là ải Nam Quan, Tàu kêu là Trấn Nam Quan.

Cụ không trả lời ngay mà dậy biên cương, quan san cùng nghĩa với lạnh lẽo nơi đèo heo hút gió. Như ngày xưa cụ Nguyễn Trãi tiễn đưa cụ Nguyễn Phi Khanh ở ải Nam Quan đã khóc lóc chốn ải Bắc lạnh lùng gió thổi, kính lạy cha, con cúi giã từ.

Sau khi cụ bất ngôn nhi dụ, ý là không nói ra cũng hiểu được, là cụ…thăng.

***

Ba điều bốn chuyện với bài văn khảo mà mụ chữ tôi vừa trang trải thì “văn”, với chữ là nghĩa, là…lãng đãng, lễnh đễnh. Cũng vì vậy mà mụ chữ tôi dều người trong tâm thái dè dặt nên có và cần phải có với sai hay đúng chỉ cách nhau một sợi tóc. Tuy nhiên theo thiền ngôn lơ mơ lỗ mỗ thì cái sai của hôm nay biết đâu là cái đúng của…100 năm sau, thưa bạn đọc.

Thạch trúc gia trang

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

(2003, 2010, 2017, 2018)

Nguồn: Trương Nhân Tuấn, Lê Thước, Trần Lam Giang, Trương Chính, Hoàng Nguyên Nhuận, Hoàng Ngọc Lễ, Mai Thái Ninh, Chân Mây, Chu Tất Tiến, Vũ Kiêm Minh, Trần Công Nhung, Nguyễn Thị Hậu, Nguyễn Duy Chính, Mai Thanh Liễn, Hoàng Ngọc Liên.

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2020