08/03/2020
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: Thần, người và đất Việt (1)

Phố Cổ – Tranh: Mai Tâm

Ừ thì hãy hậm hụi với nhà văn Võ Phiến: “Bánh tráng nướng (bánh đa) bẻ từng mảnh, nhai cúc cắc cho vui miệng, Cũng lại bánh tráng nướng, đem giã vụn ra, trộn với thịt đầu heo, hoặc rắc lên dĩa tiết canh, v…v… Chính vì thế mà có thể ngờ rằng lối ăn ấy có dính líu đến quân Tây Sơn khi kéo ra Thăng Long đánh quân Thanh. Binh sĩ di hành hàng vạn mà nấu cơm, nấu đồ ăn cho xong một bữa thì dình dàng khá lâu. Ðàng này, gặp lúc cần kíp, chỉ cần nhúng bánh tráng vào nước, cuốn lại, là rồi”.

Rồi…từ đĩa tiết canh, cái thủ lợn vắt qua…“ực“, tôi bám như cắp theo sử gia Tạ Chí Đại Trường: “Vùng đất này có thành Chà Bàn của vương triều Vijaya cũ có ghi 3 địa danh “Thì“: Thì Ðôn, Thì Lượng, Thì Ngạn. “Thí“ là phiên âm tên đất Chàm ở Ðập Ðá“. Từ “đá“, tôi…ngộ chữ qua rượu Bàu Đá mà dân gian gọi là rượu Tây Sơn. Rượu đế thừa hưởng từ những hộc đá ngầm ở ngọn nguồn sông Kôn (sông Côn).

Từ đất Chàm, tôi mọc ra chuyện cả ngàn năm trước…

“Đời nhà Tần, vùng đất ở đây là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam. Năm 137 có người tên Khu Liên giết viên huyện lệnh chiếm đất, tự phong là Lâm Ấp vương. Năm 803, nhà Đường bỏ đất ở đây vì quá xa và nước Chiêm Thành ra đời“. Mỗi thời Lý, Trần, Lê, mỗi mang quân đánh Chiêm Thành, năm 1602, đến thời chúa Tiên…

Ngồi không đến dột người, bác ngẫn ngẫn rồi sao nữa?

Chả là khươm mươi niên trước, ngộ chữ tôi ôm giấc mộng từ chương qua bài khảo chữ Mỗi năm hoa đào nở, lại nhớ cánh mai vàng, tôi đàm hoa lạc khứ theo chân chúa Tiên Nguyễn Hòang Từ độ mang gươm đi mở cõi – Trời nam thương nhớ đất Thăng Long (Huỳnh Văn Nghệ). Ngộ chữ tôi hẻo chữ về cây mai của miền Nam mưa nắng hai mùa. Số là họ hàng nhà mai có tên cũ xưa là Lạp Mai, xuất xứ từ Chân Lạp. Theo chân nhà chúa đi mở cõi, người di dân mang cây mai vàng từ núi Hòang Mai thuộc Bình Định vào trồng ở Cù lao Phố có tên là lãnh mai, tức mai gầy vì cành lá đều nhỏ.

Tôi muốn kỳ cổ với người trăm năm cũ nặng nợ với mai, thưa bác.

Đời Tự Đức, nhân quy kỳ hà nhật thị, lão tận cố hương mai, cụ Cao Bá Quát ghé thăm bạn đồng liêu là cụ Đào Tấn ở Đào mai viên, thuộc Bình Đinh. Cụ Đào Tấn là người chuộng mai, cụ để lại bộ Mộng mai từ lục, bút hiệu Mai Tăng. Trong đó cụ đề cao nét thanh nhã của mai với tứ đức: Cao, tú, nhã và đạm. Mai biểu hiện tình bằng hữu qua tuế hàn tam hữu: Mai, tùng và trúc. Mấy lần trước, đã bao thu nơi chốn này, cụ Cao lưu lại câu thơ “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm – Nhất sinh đê thủ bái mai hoa“.

Khi cụ Cao Chu Thần về lại chốn cũ, cụ Cao cố viên hồi thủ bất tăng bi, vì bạn xưa không còn nữa, với nồi buồn hiu quạnh qua những gửi gấm niên nào của cụ Đào Tấn “Mai mốt non mai ta gửi xác, để cho mai dỗ giấc mai tăng”. Cụ Cao tìm đến chân núi Hòang Mai viếng mộ chí (2) của cụ bạn già đã quá vãng có câu di cảo trên mộ bia: “Mai sơn tha nhật tàng mai cốt – Ưng hữu mai hoa tác mộng hồn”.

Cùng địa nhân địa sử, nhà tiền Lê (Lê Đại Hành) không nghĩ đến việc mở mang bờ cõi, đánh Chiêm Thành rồi rút về. Thời Lý, Trần, Lê cũng vậy, phải đợi đến chúa Nguyễn Phúc Tần chiếm Quy Nhơn. Sách Lê Quý Đôn dật sử chép: Sau Nguyễn Nhạc chiếm đất của chúa Nguyễn đổi là thành Hoàng Đế, lập kinh đô. Với hai chữ “Bình Định” có nghĩa gì? Theo Đại Nam nhất thống chí (sách sử địa nhà Nguyễn), Nguyễn Ánh chiếm lại Qui Nhơn đổi tên là Bình Định có ý đã…“bình định” được.nhà Tây Sơn

Trộm vía bác, vời Thần, người và đất Việt, ngộ chữ tôi bòn mót vu vơ “thần” có thần đất, thần bếp, thần chợ, “người” có ông Đào Duy Từ ở khúc sau. Với “đất Việt”, tôi ôm rơm rặm bụng năm 1888 người Pháp đặt Kon Tum thuộc về Bình Định, năm 1905 người Pháp thành lập Pleiku, Daklak cũng đặt thuộc Bình Định. Vì vậy Bình Định lớn lắm, lớn như Quảng Nam vậy. Ở trong nước họ có thói cắt tên thẻo chữ địa danh như Hà Đông, Nam Định, Ninh Bình là “Hà Nam Ninh”, tôi ngẫm nguội khi nào họ cuồng chữ đổi Kontum, Pleiku, Daklak là…”Kon Ku Lắc” đây?! Thưa bác.

Quay quả với “người và đất Việt” theo cuộc Nam tiến, người di dân gồm dân nghèo, tù binh của chúa Trịnh, đào binh của chúa Nguyễn và tội đồ. Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, lớp sĩ phu Bắc Hà ỏ Thừa Thiên (gốc Đông đô và Tây đô) bất mãn với triều đình Huế nên họ tìm về Quảng Nam. Vì vậy Hội An có những ngôi nhà cổ kính hao hao giống phố cổ Hà Nội. Chúa Nguyễn Phúc Tần đưa dân từ Quảng Nam vào Quảng Ngãi, trong đó có tội đồ, họ mang tâm trạng của những kẻ bị đi đày, vì vậy họ hay lý sự, tranh cãi nên mới có câu Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co là thế. Thời Nguyễn Phúc Khoát, từ Quảng Ngãi, nhà chúa đưa tội đồ lưu ngoại châu (châu xa gần biên giới) đi qua Bình Định, đưa thẳng tới biên giới Miên. Đến trần ai khoai củ này, bác cười cục cục như con gà trống ra cái điều… biết rầu (xem cuối tr 2).. ”Ai” khác biết…chết liền.

Thêm lớp di dân trốn chạy trả thù của triều đại trước.

Đầu tiên là họ Lý, khi nhà Trần lên ngôi, để tránh bị diệt vong (Trần Thủ Độ), Lý Long Tường phải phiêu dạt qua Cao Ly. Họ Lý phải thay tên đổi họ trong đó một số đổi qua họ Bùi, họ Phí. (theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên). Tiếp đến họ Mạc sợ bị trừ khử (Trịnh Tùng), họ Mạc đổi họ với “khử túc bất khử thủ” là lấy họ khác ghi thêm “bộ thảo” trên đầu để đánh dấu nhận ra nhau sau này. Đến nay có 37 họ: Bùi, Hoàng, Lê, Phan, Vũ…Phụ thêm đổi theo họ mẹ, nên họ Mạc có hơn 200 hệ, chi, phái: Cao, Đào, Đình, Đoàn, Hồ, Lều, Phúc, Thái, Tô…từ Cao Bằng xuống tận Hà Tiên. Họ Thái ngừng chân ở Quảng Ngãi (Thái Hữu Xưa) sau một thời gian con cháu đi ghe bầu xuống Bến Tre (để sau này có Thái Hữu Kiểm, tức Ông già Ba Tri).

Với họ Đào ở Bình Định; thọat kỳ thủy một nhánh tiên tổ họ Mạc từ Hải Dương thiên di xuống Thanh Hóa (Đào Duy Từ) rồi tới Bình Định (để sau này có Đào Tấn). Tiếp đến một chi, một hệ nào đấy họ Đào (xem kết cấu tr 5) xuôi Nam nhưÔng già Ba Tri. Họ Hồ di dân vào Nghệ An có ông tổ 4 đời của Nguyễn Huệ. Có thể cùng họ với Hồ Quý Ly, vì con cháu của Hồ Hán Thương đã lánh nạn vào đây. Những người họ Hồ ấy, do lệnh của chúa Nguyễn Hoàng di dân vào Bình Định có Hồ Phi Phúc. Ông này lấy vợ tên Nguyễn thị Đồng, người xã Phù Lạc, gần trang trại Tây Sơn. Hồ Phi Phúc đặt tên 3 con theo họ vợ là: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.

Rõ chán mớ đời, cái đáng hỏi bác lại không hỏi?

Chuyện là khởi đầu chúa Nguyễn Hoàng đã đưa lưu dân tới giải đất từ đèo Cù Mông đến đèo Cả. Nhà chúa dựng lên huyện, dưới huyện có thuộc, nhỏ hơn thuộc là phường, nậu. Phường là làng nghề. Nậu là một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứng đầu được gọi là…đầu nậu. Nậu có “Nậu nguồn” khai thác rừng, “Nậu nại” làm muối, “Nậu vựa” làm mắm, “Nậu rổi” nuôi cá, ca dao có câu Tiếc công anh đào ao thả cá – Năm bảy tháng trời nậu lạ tới câu. Năm 1726, “thuộc” và “nậu” bị xóa bỏ. Nậu biến nghĩa dùng để gọi người, đại danh từ nhân xưng ngôi thứ ba. Ở Bình Định, Phú Yên, nậu được phát âm là…nẫu. Thảng như kệ nẫu: kệ người ta. Phương ngữ khác vần “ê” nói thành “ơ” như quê hương: quơ hương. Vần “em” nói thành “im” như ăn kem; ăn kim. Hoặc vần “ôi” nói thành “âu” như biết rồi: biết rầu. Vần “ay” nói thành “ê” như cay quá: quá. Âm “ăm” nói thành “em”: số năm (5); số nem. Và còn nhiều nữa, thưa bác.

Bác quắn đầu, gì mà lạ nhẩy!

Chả có gì lạ sất, thưa bác, bởi theo cuộc di dân với ngôn ngữ có câu: “Giọng Thanh Hoágiọng miền Bắc…phải đi. Giọng Bình Địnhgiọng miền Nam…sắp sửa”. Dựa vào cuốn Có 500 năm như thế ở trong nước: “Nhiều người không hiểu giọng nói của người Bình Định xuất phát từ đâu, trong khi các gia phả đều ghi thủy tổ của họ là người Hải Dương (xem cuối tr 5), Thanh Hóa vào đây”. Tôi hỏi sử gia Trần Quốc Vượng, ông đáp “Thì các cụ ta vào đây đâu có đem vợ con đi được nên lấy vợ Chàm rồi sinh con đẻ cái là chuyện hết sức bình thường. Vấn đề là các bà mẹ Chàm nói tiếng Việt ấy đã truyền lại cho con cái mình giọng của người Chàm nói tiếng Việt.

Ngồi hổng người ra, bác dòm dỏ lại…Thanh Hóa nữa?

Chả là Bình Định xưa là nơi đất lành chim đậu qua chuyện cách đây hơn 4 thế kỷ, có một người con nhà ca kỹ “xướng ca vô loại” ở làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, Thanh Hóa. Vì luật lệ hà khắc không cho phép con nhà xướng ca ứng thí khoa trường, ông quyết chí tìm đường lập thân ở xứ Đàng Trong. Con người chí lớn đó là Đào Duy Từ (1572-1634), hiệu Lộc Khê. Vào Bình Định (chăn trâu, làm công) ông khởi nghiệp và dựng nghiệp cùng chúa Nguyễn. Ông xây đồn đắp lũy để chống quân Trịnh. Người ta thường gọi lũy ấy là Lũy Thầy (Quảng Bình), là lũy của Đào Duy Từ đắp lên.

Giai thọai Đào Duy Từ cũng nhũn não lắm, bác ấy ạ…

Vì theo nhà biên khảo nào đó biên chép từ Truyện cổ tích (1952) của nhà văn Sơn Nam có tựa đề Truyện Đào Duy Từ: “Chúa Trịnh sai người mang quà vào Bình Định biếu Đào Duy Từ, kèm câu thơ: Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc – Em có chồng anh tiếc lắm thay. Ông phúc đáp: Bây giờ em đã có chồng – Như chim vào lồng như cá cắn câu”. Thế là khi không trong văn học dân gian ta có bài ca dao Trèo lên cây bưởi hái hoa đâm ra…nhức nhối, thưa bác. Vì cây bưởi cành đặc những gai sao mà…leo.

Lang thang như thành hòang làng khó trong làng văn xóm chữ có cụ Ngộ Không. Cụ luận chứng Đào Duy Từ mượn bài thơ Tiết phụ ngâm với tích Trường Tịch và Lý Sư Đạo cùng một hoàn cảnh, tâm trạng giống mình để thoái thác. Trương Tịch trả lời Lý Sư Đạo có câu: “Quân tri thiếp hữu phu” (em có chồng, chàng đã biết) và: “Hận bất tương phùng vị giả thi” (phải chi gặp gỡ lúc chưa chồng). Cụ hủ nho, hủ nút Ngộ Không dựa vào chuyện xa mặt cách lòng nên bê bừa vào bài khảo văn của cụ ta tích Tương tư của Lương Ý Nương đời Đường có câu “Tương tư bất tương kiến cùng quân tử chi giao đạm nhược thủy” vơi “Thiếp tại Tương Giang vĩ, quân tại Tương Giang đầu”.

Nhiễu sự nữa với Trèo lên cây bưởi hái hoa. Cớ ông lang Tây qua câu nụ tầm xuân nở ra xanh biếc, ở Mỹ, ông tìm ra cây tầm xuân xanh rờn mọc đầy rẫy ở đất Bình Định

Đụng bát đụng đũa đến ca dao, tôi mao muội thưa với bác chuyện này nhá…

Như bác biết đấy, trong văn học dân gian ta có bài ca dao Tát nước đầu đình: Áo anh sứt chỉ đường tà – Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu. Nay có thêm bài ca dao Tát nước đầu đình khác nữa mới phát hiện ở Bình Định năm 1986 (sic): Áo anh đã rách hai tay – Cậy nàng so chỉ vá may cho cùng. Đặc biệt câu 5 và 6 Giúp cho một quả xôi vò – Một con heo béo, một vò rượu tǎm, người Bình Định không nói “lợn” mà nói “heo”.

Nhẽ này cụ Ngô Không ba điều bốn chuyện trong bài khảo chữ Theo chân người đi mở cõi thì “Con lợn tiếng Bắc cổ gọi là “con heo” (hay con cúi) qua câu “Nói toạc móng heo”. Di dân vào miền Trung, miền Nam, con lợn được người Nam kêu lại với tiếng Việt cổ là…con heo”. Cũng theo cụ Ngộ Không rối chữ: “Con heo khác con lợn ở chỗ con heo ăn…bắp, con lợn ăn… ngô.

Tiếp đến câu 7 và 8 Giúp cho nửa dạ hột mè – Nửa ang tiêu sọ, nửa ghè muối khô, tôi mài óc nghĩ không ra nửa “ghè” muối khô, nửa “dạ” hột mè là lý sự gì đây hở giời. Nói vậy chứ tôi nhân sinh quý thích chí: Một là câu ca dao Bình Định Gío đưa mười tám lá xòi – Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi. Hai là Bỏ cửa bỏ nhà vì ma…hát bội.

Quên tuốt không thưa với bác ấy tế quán (vợ) của ông Đào Duy Từ họ Cao. Bởi có mở có đóng mới có tích cụ Cao Bá Quát ghé thăm cụ Đào Tấn ở Đào mai viên. À mà một tôi nhoáng cái mới nhi bất hoặc đã cổ lai hy, nên cũng quên tuốt tuột ông Đào Duy Từ (1578-1684) là “cửu huyền thất tổ” của cụ Đào Tấn (1844-1907) đấy, thưa bác. Cửu huyền là chín thế hệ: cao, tằng, tổ, cha, mình, con, cháu chắt, chít. Thất tổ là bảy đời: cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ. Hay nói một câu tròn vành rõ chữ cụ Đào Tân thuộc dòng dõi Lộc Khê hầu Đào Duy Từ.

Bác gì ấy thao láo như mắt răn ráo Bình Định có…hát bội sao? (xem phụ chú tr 6)

Chuyện đâu hãy còn đó, bởi ăn cơm mắm ngắm về sau với bình thơ tác phú của đất Bình Định, không thể không nhắc đến một Đào Tấn văn sĩ, một Đào Tấn thi sĩ. Thơ cụ có cả 1000 bài gồm Mộng Mai thi tồn, Mộng mai từ lục, Mộng Mai ngâm thảo, Mộng Mai văn sao viết bằng chữ Hánị. Với một Đào Tấn văn sĩ, cụ để lại tản bút qua tập Hý trường tùy bút. Cụ tên đầy đủ là Đào Tăng Tấn, tự là Chỉ Thúc, hiệu là Tô Giangi. Cụ người làng Vinh Thạnh, huyện Tuy Phước, Bình Định.

clip_image002

Năm 22 tuổi, là một trong 18 người đỗ cử nhân khoa thi Hương 1867 tại trường thi Bình Định (bao gồm sĩ Quảng Ngãi, Phú Yên). Bốn năm sau, năm Tự Đức 1871, cụ được bổ tri phủ Quảng Trạch (Quảng Bình có Lũy Thầy), sau là tổng đốc Nghệ An. Cụ thường cùng Tự Đức bàn luận văn chương, vua tôi rất tâm đắc. Cụ mất năm 1907 vào đời Thành Thái, thọ 63 tuổi.

Bác muốn dòm dỏ thiên cổ kỳ sự về hát bội thì kỳ cổ thế này đây…

Hát tuồng, còn gọi là hát bội (*) du nhập vào nước ta từ thời tiền Lê. Một kép hát người Tàu tên Liêu Thủ Tâm đến Hoa Lư trình diễn lối hát xướng thịnh hành bên nhà Tống, được vua Lê Long Đĩnh thâu dụng, bổ là phường trưởng để dạy cung nữ ca hát. Thời Trần, Hưng Đạo Vương bắt được tù binh nhà Nguyên tên Lý Nguyên Cát vốn là kép hát. Vương tha tội chết, sai dạy lối hát đó cho cung đình.

Chả nói bác cũng hay hớm, theo Vương Hồng Sển (*) “hát bội” xuất sứ từ người Minh Hương. Cà Mau hãy đến mà coi, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh như bánh canh, vì vậy chiều chiều nhớ cố quốc, họ tụ tập trước sân nhà ở ven rừng để hát và múa may theo điệu bộ tuông tích bên Tàu. Nên mới có “hát bộ”, sau gọi là…”hát bội”.

Bác gì ấy mặt mũi héo don, gật đầu tắp lự chỉ có vậy thôi ư…

Dạ thưa hát bội khác tuồng, đời Tự Đức, cụ Đào Tấn là người đưa tuồng vào cung đình, và trong dân gian. Đặc điểm bố cục tuồng Đào Tấn rất gọn gàng, trong mỗi vở, cụ tránh dài dòng như tuồng cổ trước đó. Tuồng của cụ chỉ tóm gọn trong một số câu ngắn, và khéo léo lồng vào động tác của nhân vật. Cụ đã từng cho thả bè chuối trên kênh để diễn một trận thủy chiến. Với dân dã, có khi cụ cho diễn tuồng ngay trên đường làng Vĩnh Thạnh (làng cụ Đào Tân) để dân chúng xem. Khi diễn tuồng Tây Du ký, cụ dàn dựng một đoạn đường dài chừng một cây số. Trên đoạn đường đó cụ dựng những cái động, nhà dân, để thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh. Mỗi lần cụ Đào Tấn diễn tuồng như thế, dân trong vùng rủ nhau đem cơm nắm cơm đùm đến xem.

Bác đừng rỗi hơi hỏi…“cơm đùm” Bình Định là cơm gì. Vì tôi đang rối như canh hẹ thời cụ Đào Tấn chưa có từ “chèo” thì phải?. Hát nhà trò, chầu văn, hát ca trù từ phố thị lan xuống làng xã đàn phách trên “chiếu” nên biến âm thành “chèo” chăng?. Tôi không biết. Mà chỉ biết chèo ngòai sân đình, sân khấu chèo là chiếc chiếu trải ngoài sân, đằng sau treo chiếc màn nhỏ, diễn viên và nhạc công ngồi hai bên mép chiếu tạo dàn đế. Vì vậy mới có “chiếu chèo” chỉ gánh hát chèo (hay phường chèo). “Hề chèo” là vai diễn thường có trong các vở diễn chèo. Các cảnh diễn có vai hề là nơi để cho người dân gửi gấm những nhố nhăng trong làng xã. Từ nhố nhăng, dân gian mới có câu “đồ phường chèo”. Thảng như bác ở trong tù cải tạo, nếu bác…gọ gạy làm ăng-ten cho quản giáo. Mấy bố quản giáo chả gọi bác là ăng-ten mà gọi bác gì ấy là…“chèo”. Quá đã.

Về tuồng tích cụ Đào Tấn để lại trên 40 vở tuồng. Những vở tuồng cụ phụng chỉ vua sáng tác như: Tam bảo Thái giảm thủ bửu, Vạn bửu trình tường (năm Tự Đức 31 – 1878). Với Trương Phi cổ thành, người xem không thấy một Trương Phi nóng nảy cục cằn, mà là một Trương Phi trĩu đầy tâm trạng qua điệu múa với thanh xà mâu. Tuồng với nhân vật ngòai Trương Phi còn có Quan công (trong Quan công hồi cổ thành), hay Trụ Vương, Đát Kỷ (trong Trầm Hương Các). Phá giới Bài quan trong tuồng Hoàng Phi Hổ khi nghe tin vợ là Giả Thị bị Trụ Vương loạn dâm đã tự vẫn

Kịch bản tuồng là ngôn ngữ và diễn đạt. Vì thế động tác và ngôn ngữ cần thiết đối với người diễn viên. Nói như các nghệ nhân khi diễn tuồng Hộ sanh đàn kể lại: “Mình nói mà cũng thấy sướng tai, không thể bỏ đi một chữ nào được”. Vì trong tuồng Tiết Cương hỏi vợ kham khổ vậy lấy đâu sữa cho con bú, Lan Anh nói: có bữa có, có bữa không! Một hôm em đang cho hắn bú, không có sữa, hắn cắn cái vú em một cái, em đau hoảng đi, em phát hắn một phát, hắn nhăn răng ra cười… hi hi.

Góp nhóp tuồng tích cụ Đào Tấn để lại trên 40 vở tuồng cổ. Trong khi sọan kịch, hay chèo như Đòan Phú Tứ (6 vở kịch). Hòang Cầm, Thế Lữ, Trúc Đường (anh Nguyễn Bính với 20 vở chèo), Võ Đức Diên (ban kịch Anh Vũ), Tào Mạt (4 vở chèo), Từ Khánh Phụng (trước viết kịch ở Hà Nội, sau dịch truyện kiếm hiệp ở Sài Gòn), Trần Lê Nguyễn, Vũ Khắc Khoan (7 vở kịch). Trộm nghĩ tự cổ chí kim chưa ai có số lượng tuồng tích…”có trọng lương” như thế. Trong khi chèo chỉ hạn hẹp ở sân đình, quanh cái chiếu bé con con, thì cụ Đào Tấn dàn dựng tuồng trải dài trên kinh rạch với trận thủy chiến. Trên con đường làng, Tam Tạng đi thỉnh kinh qua nhà cửa, hang động. Ấy vậy mà người viết trong nước tôn Đào Duy Từ là “Tổ” của ngành tuồng, cụ Đào Tấn là “Hậu tổ”. Tại Thanh Hóa, ông Đào Duy Từ vì là con nhà ca kỹ “xướng ca vô loại”, phải vào Bình Định chăn trâu (tức còn nhỏ), ở đợ thì sọan hát bội ở khổ nào. Theo ngu ý tôi, cụ Đào Tấn mới là cụ Tổ của nghề tuồng nước ta. Tôn ý bác dậy sao, thưa bác gì ấy.

Dài hơi dày chữ với mảnh đất có bề dày lịch sử, có thành Chà Bàn của vương triều Vijaya cũ. Đây cũng là nơi khởi nghiệp của nhà Tây Sơn; là quê hương của các tướng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân. Thời trước có văn thi nhân Tô Giang Đào Tăng Tấn, Tăng Bạt Hổ. Thời nay với Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Yến Lan, Quách Tấn, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Tạ Chí Đại Trường, Khuất Đẩu, v…v…và còn ai nữa.

***

Đến tao đọan “còn ai nữa”, bác tên gì ấy búi bấn thấy rõ, tôi độ chừng bác muốn hấm húi với tửu lạc vong bần chi đây. Dạ kính bác sơi một cối đế Bàu Đá…Bỗng không bác hỏi ngộ chữ tôi viết khảo chữ khó ở chỗ nào? Khó ở chỗ kết. Kết như thế nào thì…Thì như xẩm vớ được gậy, vớ gậy rồi tôi quơ quơ thấy bác (Đào Vĩnh Tuấn) (3) là văn bối của đất Bình Định, bác cũng là tằng tôn bốn đời của cụ Tô Giang Đào Tăng Tấn.

Hay nói khác đi cụ Đào Tấn là tằng tổ (曾祖) bốn đời của bác đấy.

Xoi xói như thầy bói múc canh cô lý thốn thổ bác ở Hải Dương, viễn tổ (遠祖) bác họ Mạc. Bác muốn biết thuộc hệ nào, chi nào họ Mạc ư. Bác hãy hỏi cụ đồ muộn màng Ngộ Không, vì với “khử túc bất khử thủ” là lấy họ khác (họ Đào) ghi thêm “bộ thảo” trên đầu để đánh dấu. Dòm vúc vắc nét ngang, sổ dọc của bộ thảo, cụ đồ bùn chữ như trấu chát Ngộ Không chiết tự tìm ra họ hàng hang hốc bác ngay ấy mà. Dạ kính bác. .

Thạch trúc thảo lư

Canh Tý 2020

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 

Nguồn: Trần Ngọc Thêm, Hòang Kim, Trần Xuân Toàn

Thái Văn Kiểm, Nguyễn Ngọc Tuyết, Nguyễn X Quang

(1) Tựa đê vay mượn từ cố sử gia Tạ Chí Đại Trường

(2) Mộ cụ Đào Tấn ở chân núi Hòang Mai, Bình Định

 

clip_image004

(3) Đào Vĩnh Tuấn là ông bạn của người viết. Bởi người viết lúi húi với “tư liệu”, không tham khảo với bạn về cụ Đào Tấn. Ông bạn đọc xong bài sưu khảo cho hay:

1 – Làng Vĩnh Thạnh, người bản địa gọi là Vinh Thanh (không có dấu)

2 – Núi Hòang Mai, theo gia phả đọc là Quỳnh Mai.

(theo ngườ viết nếu kỵ húy, Hòang Mai (mai vàng) có thê là Hùynh Mai)

3 – Sau này có người cùng làng với cụ Đào Tấn viết tuồng hát bội.

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2020