10/23/2020
Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 188)

 

clip_image002

Giai thoại làng văn

Suốt dăm chục năm nay, người ta nghĩ rằng tiểu thuyết Giông tố không còn! Nhưng có người cho hay bản Giông tố đang thuộc sở hữu của linh mục Nguyễn Hữu Triết. Giông tố ban đầu xuất hiện dưới dạng truyện đăng nhiều kỳ trên tuần san Hà Nội báo từ số 1(1-1-1936); sau 10 kỳ, tòa soạn thông báo chấm dứt đăng tải tác phẩm này. Hai tháng sau, từ số 18, Giông tố lại được Hà Nội báo lại lặng lẽ đăng tiếp từ số 18 (6-5-936) với nhan đề mới Thị Mịch, lần này đăng liên tục đến hết ở số 39 (30-9-1936). Đầu năm 1937, tác phẩm này lần đầu tiên được NXB Văn Thanh in thành sách.

Để đọc tác phẩm này, hồi ấy người ta phải tìm bản in năm 1951 của nhà sách Mai Lĩnh ở miền Nam. Từ 1987 Giông tố và các tác phẩm khác của Vũ Trọng Phụng được tái bản nhiều lần, song ít ai để ý rằng các bản Giông tố đang có sẵn tại các quầy sách hiệu sách hiện nay đều lấy nguồn văn bản từ một bản thứ sinh nào đó. Một điều nữa cũng ít ai biết là Giông tố thuộc vào số không nhiều những tác phẩm văn học hiện đại có nhiều dị bản đáng kể nhất xét về văn bản tác phẩm: bản đăng báo không giống bản in sách, bản in sách không giống bản in đầu.

 

Tiếng Việt tương đối thuần nhất

Dù cách diễn tả có phần khác nhau nhưng dân chúng ở ba miền vẫn có thể hiểu nhau. Ở miền Bắc người ta nói:“Nhặt hộ tôi quả bóng.”  Ở miền Nam, cũng ý nghĩa của câu nầy, người ta nói: “Lượm giùm tôi trái banh.”  Đối với người miền Bắc và miền Trung sầm uất là nơi ồn ào náo nhiệt. Ở miền Nam sầm uất là nơi vắng vẻ, âm u, có nhiều bụi bậm hay đầy dẫy bình vôi. Ở miền Trung “không có răng” có nghĩa là “không có sao”.

(Tiếng Việt – Phạm Đình Lân)

 

Chữ nghĩa làng văn

Trừ Bùi Giáng, khi nói về Tuệ Sỹ thì có lẽ không ai đủ tư cách, bằng Phạm Công Thiện: “Có sống bên cạnh Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát từ ngày này qua ngày khác, trong những hoàn cảnh khác nhau thì mới may ra cảm nhận đôi chút tác phong thiền sư kín đáo toát ra một cách tự nhiên, một cách vô công dụng hạnh từ đời sống thường nhật và tinh thần diệu nhập của hai vị. Tôi xin gọi hai vị này là thiền sư với tất cả đắn đo thận trọng, với tất cả ý nghĩa cao đẹp và như thực của một danh xưng xung thiên chí.”

(Tuệ sĩ trên ngõ về im lặng – Tâm Nhiên)

 

Chữ và nghĩa

Rất nhiều từ ngữ mà chúng ta cho là của người trong nước sau 75, thực ra là của Việt Nam trước đó. Vậy tiếng nào là tiếng của người Việt trước hay sau 75?

Cách ly – “cách ly” và “cô lập” đều được dùng ở cả hai miền ngôn ngữ. Việt Pháp Từ điển Ðào Ðăng Vỹ: “cách ly, cách biệt”

“Cách ly” và “cô lập” không đồng nghĩa hoàn toàn với nhau.

Thí dụ trong câu sau, còn nghịch nhau là đàng khác:

“Cần cách ly bệnh nhân này, nhưng đừng cô lập họ.

(Tâm Thanh – Chiêu hồi ngôn ngữ)

 

Tá: đằng cuối câu hỏi

(đí gì tá?: cái gì đó?)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

 

Thời của Quán Văn

Khu khám lớn cũ thời Pháp dựng lên là một khu đất bốn góc bao bọc bởi những con đường Nguyễn Trung Trực/Gia Long/Công Lý/Lê Thánh Tôn. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa, khu đất này được sử dụng làm nơi triển lãm các sản phẩm công nghệ gì đó. Không biết do cơ duyên nào, khu vực tứ giác này về sau trở thành bản doanh đóng đô bởi: Đại Học Văn Khoa (trường cũ) – CPS – Quán văn – Ca Đoàn Nguồn Sống – Hội Họa Sĩ Trẻ v.v.

Khu đất này đã sản sinh ra một đội ngũ văn nghệ đông đảo, thành danh, tiêu biểu cho một thời kỳ sinh hoạt thanh niên sinh viên ầm rộ của thập niên sáu mươi. Có thể kể về ca nhạc có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Nguyễn Đức Quang, Hoàng Xuân Giang, Ngô Mạnh Thu, Giang Châu; Khánh Ly, Thanh Lan, Hồng Vân, Diễm Chi, Phương Oanh, Ban Tam Ca Đông Phương, Ban Trầm Ca, Ca Đoàn Nguồn Sống, Phong Trào Du Ca v.v

(chưa kể những khuôn mặt văn nghệ nổi tiếng sinh hoạt ở những tụ điểm ngoại vi nhưng có liên quan đến Quán Văn như Lê Uyên Phương ở Thằng Bờm, Vũ Thành An/Thế Dung, Phạm Trọng Cầu ở Hội Quán Cây Tre ).

Về văn thơ, báo chí có Đỗ Quý Toàn, Hoàng Ngọc Tuấn, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Phạm Quốc Bảo, Phạm Xuân Đài, Đào Trường Phúc, Trần Công Sung, Nguyễn Đạt, Cao Huy Khanh, Đặng Phùng Quân, Cung Vĩnh Viễn, Bùi Bảo Trúc, Lê Thiệp, Đỗ Ngọc Yến, Y Dịch Lê Đình Điểu, Ngô Vương Toại, Nguyễn Huỳnh, Cao Sơn v.v.

Về hội họa có Nguyễn Trung, Đinh Cường, Trịnh Cung, Hồ Thành Đức&Bé Ký, Nghiêu Đề, Mai Chững, Lê Thành Nhơn v.v.

(Hoàng Xuân Sơn – Cái huông của thời quán Văn)

 

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Ngọng thường xuất phát từ (địa) phương ngữ, thổ ngữ có nghĩa là chỉ chi phối, chỉ có ảnh hưởng giới hạn trong một miền, vùng, địa phương nào đó. Điểm đặc biệt đáng lưu ý là “phát âm khác biệt theo vùng” và “ngọng,” xét cho kỹ, là hai vấn đề khác nhau. Nói ngọng là đặc thù của địa phương, là chuyện bình thường. Không phải bất cứ ai sống trong một vùng có người nói ngọng thì họ cũng đương nhiên phải nói ngọng. Những ghi chép sau đây chỉ có tính cách tượng trưng điển hình, không phải là tuyệt đối.

Người Huế thêm dấu “nặng” vào hầu hết các các chữ, đồng thời đổi phụ âm “t” thành “c” ở cuối chữ:

“Anh muốn cắt dài hay cắt ngắn?”

(Văn hoá ngọng – Trần Văn Giang)

 

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Ngày xưa…ngày nay…

Ngày xưa ăn mấy cũng ngon,
Ngày nay nhấm nháp hết còn muốn nhai.

 

Nguồn gốc tộc Việt (11)

Những thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam

Những thuyết về nguồn gốc dân tộc ta từ trước đến nay, dù do người ngoại quốc viết, dù do người Việt Nam viết cũng chỉ qui về hai mô hình:

Mô hình 1 căn cứ vào văn bản chủ trương người Việt là hậu duệ của những người từ phương Bắc di cư xuống.

Mô hình 2 căn cứ vào bảng tỷ lệ xương sọ thời Đồ Đá Mới do người Pháp thành lập trước kia và mới được bổ túc vào thập niên 60, chủ trương người Việt là hậu duệ những người thuộc Hắc Chủng từ Hải đảo Thái Bình Dương di vào sau phối hợp với những người Mongoloid từ phương Bắc di cư xuống mà thành.

Những khảo cứu về di truyền học DNA đều khẳng định cả hai mô hình trên là sai, là ngược lại với sự thực. Bằng vào những kết quả mới nhất của khảo cổ học về thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, về sự thuần hóa lúa nước … cũng đã chứng minh những thuyết ấy là sai sự thực.

Những chứng minh này hổ trợ cho các kết luận về di truyền học như vừa kể, tất cả đều chứng minh tộc Bách Việt đã có trước và di cư lên phía Bắc để lập ra nhiều nước khác nhau trước khi thống nhất dưới bạo lực của nhà Tần thành nước Trung Hoa như ngày nay. Văn hóa Việt cũng đã có trước rồi sau này tiến hóa thành văn hóa Hoa ăn khớp nhịp nhàng với kết luận của các khảo cứu về di truyền học vừa được công bố trong vài năm gần đây.

Thuyết của GS. Nguyễn Khắc Ngữ cũng như các GS. Đại Học Hà Nội về người Hắc chủng ở hải đảo vào lai giống với người Mongoloid là tổ tiên của người Việt ngày nay và thuyết của các học giả Pháp và các học giả người Việt lớp cũ từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đến Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim … nói về nguồn gốc người Việt là hậu duệ của người từ phương Bắc xuống phải được đảo ngược lại mới đúng với sự thực.

(Nguồn: Cung Đình Thanh)

 

Họ Mạc đổi thành nhiều họ

Khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, Trung Hưng nhà Lê (1593), con cháu họ Mạc tẩu tán khắp nước, một số lên Cao Bằng, một số chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An ẩn trốn, và một số vào Nam theo chúa Nguyễn. Con cháu họ Mạc đổi ra rất nhiều họ khác nhau.

Sách Thế phả ghi rõ là con của Mạc Đăng Doanh, em của Mạc Kính Điển là Mạc Cảnh Huống vào Nam theo Nguyễn Hoàng, sau con là Mạc Cảnh Vinh đổi là Nguyễn Hữu Vinh. Không những chỉ một họ Nguyễn, mà chắc chắn còn nhiều họ khác nữa.

(Trần Gia Phụng – Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử)

Văn hoá chửi

(Chửi…toán học)

(trích lục lại)

Hôm nay bàn đến văn hoá chửi theo kiểu toán học:
“Tiên sư đứa nào bắt mất con gà nhà bà, gà ở nhà bà con công con phượng, gà về nhà mày thành con cáo con diều hâu.
Bà … bà…bà… U cho con xin chén trà để con chửi tiếp….. bà chửi theo kiểu toán học cho mà nghe nhá…bố mày là A, mẹ mày là B, bà cho vào ngoặc bà khai căn cả họ nhà mày… Bà rủa mày ăn miếng rau mày ói ra miếng thịt, mày tắm trong ao mày chết chìm trong chậu…Bà khai căn cả họ nhà mày, xong rồi bà tích phân n bậc, bà bắt cả hang, cả hốc, ông cụ ông nội, cả tổ tiên nhà mày ra mà đạo hàm n lần.
Ái chà chà…. Mày tưởng nuốt được con gà nhà bà là mày có thể yên ổn mà chơi trò “cộng trừ âm dương” trên giường với nhau à…..Bà là trị cho tuyệt đôi hết cả họ 9 đời nhà mày, cho chúng mày biết thế nào là vô nghiệm, cho chúng mày không sinh, không đẻ, không duy trì được nòi giống nữa thì thôi…Bà sẽ nguyền rủa cho chúng mày đời đời chìm đắm trong âm vô cùng, sẽ gặp tai ương đến dương vô cùng, cho chúng mày chết rục trong địa ngục, cho chúng mày trượt đến maximum của sự vô hạn tối tăm… ờ nhỉ, thôi, hôm nay thứ 7, bà nghỉ, ngày mai bà chửi tiếp.
À, mày chơi toán học với bà à…U cho con xin thêm chén nước ạ ..Thằng khốn ấy nó là tiến sĩ toán lý, không chửi bằng toán học thì không xong với nó u a…….Vâng vâng, u rót cho con đầy đầy vào, nữa đi…để con lấy hơi chửi tiếp, con sẽ chửi từ số học lên tích phân, xuống đại số rồi sang hình học cho u xem…
Tiên sư nhà mày, mày tưởng ngày nào mày cũng rình mò tiệm cận hàng rào nhà bà là bà không biết đấy phỏng ? Bà là bà giả thiết mày ăn cắp hơn hai chục con gà nhà bà,…mày về mày vỗ béo để nhồi đường cong cho con vợ mày, à à, mày vẽ nữa đi, mày tô nữa đị. Mày tô, mày vẽ, mày nhồi cho đến khi đường cong con vợ mày nó nứt toát, nó gẫy khúc ra, chọc xiên chọc xẹo đi, rồi đi lên đi xuống nữa vào, rồi có ngày con vợ mày sẽ hạ vuông góc một mạch thẳng xuống nóc tủ….thôi con ạ ……..ái chà chà…mày tưởng mày dùng cả Topo học mày vẽ thòng lọng mày bắt gà nhà bà mà được à ?

(Trau giồi tiếng Việt – ĐatViet.com)

 

Nhớ món ngon Sài Gòn

Hủ tíu

Kể từ khi người Bắc di cư vào Nam, tiệm phở đánh bạt các tiệm hủ tíu, vốn là món ‘đặc sản’ của miền Nam. Các tiệm hủ tíu nổi tiếng Sài Gòn phải kể đến hủ tíu Thanh Xuân đường Tôn Thất Thiệp (gần chùa Chà Và), hủ tíu Phạm Thị Trước ở đường Lê Lợi (khúc gần Pasteur), hủ tíu Gà Cá ở đường Hàm Nghi gần khu Ngân hàng Quốc gia và hủ tíu Thanh Thế trên đường Nguyễn Trung Trực…

(Hồi ức một đời người – Nguyễn Ngọc Chính)

 

Hình dung từ 1

Hình dung từ trong tiếng Việt rất phong phú và gợi hình. Con mèo đen được gọi là mèo mun. Con chó đen thì gọi là chó mực. Con gà đen thì gọi là con gà ô hay con gà quạ. Con ngựa đen thì gọi là ngựa ô. Con ngựa trắng thì gọi là con ngựa kim hay ngựa bạch (Bạch mã). Con chuột trắng thì gọi là chuột bạch.

Về giống ta có: đực, cái, trốngmái. Hình dung từ đực và cái dành cho các loài có vú và thú vật to lớn như chó đực, chó cái, bò đực, bò cái. Hình dung từ trốngmái dành cho loài thú nhỏ và loài cầm vũ như cá trống, cá mái, gà trống, gà mái, chim trống, chim mái v.v…

(Tiếng Việt – Phạm Đình Lân)

 

Trường Thông Ngôn

Nhìn thấy Việt Nam nặng về Hán học, chủ tâm của người Pháp là muốn cắt đứt liên lạc văn hóa giữa người Việt với người Tàu.  Để đạt mục đích hướng tinh thần người Việt về với Pháp, chữ Hán cũng như chữ Nôm cần phải triệt bỏ và thay thế bằng chữ Pháp, còn văn tự cho tiếng nói người bản xứ nếu cần đã có chữ quốc ngữ cùng một họ mẫu tự La Tinh.  Năm 1865 súy phủ Sài Gòn cho ra đời tờ Gia Định Báo là tờ Công Báo đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ (1).  Trong tinh thần ấy, trước tiên người Pháp dựng lên những cơ sở văn hóa để truyền bá chữ Pháp và chữ quốc ngữ.

Đáp ứng nhu cầu cấp bách trong thời gian đầu Pháp thiết lập các trường đào tạo thông ngôn.  Ngày 8/5/1861 Đô Đốc Charner ký nghị định lập trường Collège d’Adran để đào tạo thông ngôn người Việt và cho cả người Pháp muốn học tiếng Việt (2).  Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) được thiết lập ở Sài Gòn năm 1864, ở Hà Nội năm 1905.  Pháp còn thiết lập các Trường Hậu Bổ (chuẩn bị bổ ra làm quan Apprenti Mandarin) ở Hà Nội năm 1903 và ở Huế năm 1911.  Đây là những bước đầu trong việc thiết lập một nền giáo dục của Pháp.

(1) Đến năm 1868 tờ Gia Định Báo được giao cho Trương Vĩnh Ký trông coi.

(2) Trường Collège d’Adran do Linh Mục Croc là thông ngôn của Đô Đốc Charner làm Quản Đốc.  Từ 1866 đến 1868 Trương Vĩnh Ký trông coi trường này

(Nền giáo dục VN dưới thời Pháp thuộc – Trần Bích San)

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2020