04/28/2011
Ngộ Không : Nhắm Từ Lỗ Chiếu Môn Qua Đỉnh Đầu Ruồi

Tháng Tư là tháng độc ác nhất ( April is the cruellest month . . . T.S. Eliot, The Wasteland) . Tháng của kẻ thù hành hạ kẻ thù và bạn bè hành hạ bạn bè. Tháng của những người chết đội mồ sống dậy và những nỗi đau vùi lấp từ lâu được đào lên để chúng đua nhau gào khóc. Tháng của những ngộ nhận và những lời chửi rủa của những anh em đã từng một thời đứng chung với nhau một chiến tuyến. Tôi đọc đâu đó có người viết rằng tháng Tư , cho dù khắc nghiệt, đã đi qua. Nhưng chiến tranh thì chưa.

Hình như chúng ta chưa sẵn sàng quên lãng những cuộc chiến của quá khứ mà những cuộc chiến của tương lai đã bắt đầu.

Với nỗi ám ảnh đó, tôi đọc “Nhắm Từ Lỗ Chiếu Môn Qua Đỉnh Đầu Ruồi ” mà tâm trạng cứ thẫn thờ. Vì có lẽ, đó là điều tôi mong ước ngay từ khi cởi bộ quần áo trận tại chân cầu Bến Lức ngày 30 tháng 4 năm 1975 chăng ?

Dù sao, cũng rất trân trọng giới thiệu Ngộ Không Phí Ngọc Hùng qua “Nhắm Từ Lỗ Chiếu Môn Qua Đỉnh Đầu Ruồi “.

T.Vấn

28 tháng 4 năm 2011

 

Nhắm Từ Lỗ Chiếu Môn Qua Đỉnh Đầu Ruồi

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 

Kẻ thù ta ơi những đứa xăm mình
Ăn muối đá mà điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo ….
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi..

(thơ Nguyễn Bắc Sơn)

Trong một bữa nhậu quán vắng chiều hôm…

Tôi gặp một thằng Nam Kỳ uống rượu ngọt như bưởi Biên Hòa. Nó uống rất đẹp, khoan thai cầm cái ly tay trái, xoay xoay đưa lên từ từ, điềm đạm từng ngụm nhỏ như cân đo đong đếm. Mép khẽ nhếch lên nhấp một tí, rồi lại thong thả đưa cái ly xuống. Cùng lúc, tay phải nó quẹt cái bật lửa Zippo vào đùi cái “tách” mồi điếu thuốc lá. Lờ đờ nhả khói. Xong từng ấy thủ tục. Bèn lừ đừ nhắp một miếng mồi, đưa cái ly lên ngang miệng và cũng từng động tác chậm chạp ấy, không thừa không thiếu. Mà nó uống thì thần sầu, lặng lờ như một cái bóng, độ này qua độ khác, từ lúc nhập trận đến khi tan hàng, càng uống càng tỉnh, mặt không hề đổi sắc. Chẳng thấy bao giờ nó ôm địa bàn hay cho chó ăn chè, ngồi một chỗ đóng chốt từ lúc tới cho đến khi nửa khuya đèn vàng. Tôi chịu đèn nó nhất ở cái khỏan uống rượu qua sông không màng…vén quần này.

Nó khật khưỡng uống, càng về khuya, hình như càng không mảy may đắm chìm trong thế tục, qua tiếng ồn ào, ngập khói thuốc lá dầy đặc. Và nó bao giờ cũng vậy, khuất nẻo và tĩnh lặng như…Bồ Đề Đạt Ma.

Nó không như mấy tửu đồ khác, rượu vào lời ra, bắng nhắng như nhặng vào cầu tiêu. Nếu nó có phải vén môi cho phải đạo tiêu giao thì cũng ở cái thế chẳng đặng đừng, chừng mực vừa phải. Bao giờ cũng vậy, nheo nheo cái đuôi mắt, buông từng tiếng, giọng trầm và chắc nịch. Nếu tay ngang nào ồn ào quá lắm thì nó chỉ cười mỉm chi, cầm ly rượu, như suy nghĩ và làm một hơi, gắp một miếng mồi, mắt đăm chiêu vẫn nhìn thẳng vào người đối thọai. Nhưng hình như có một chút nào lơ là, buông thả. Qua khuôn mặt phẳng lì, có hơi một chút lợn cợn nét khinh đời khinh bạc.

Quái hơn nữa là: Nó gần như không nói gì về nó.

Trong khi một lũ điếc không sợ súng, thổ ngơi thằng nào cũng gần kho đạn Gò Vấp. Cậu thiếu úy sư đòan 1, mặt búng ra sữa, qua đến Guam lên trung úy, tới camp Pendleton, đặc cách lên đại úy. Khỉ một cái là mỗi lần đổi trại, là mỗi lần đổi quân binh chủng có lửa, như lực lượng đặc biệt chốn biên thùy, hay biệt kích bên kia vĩ tuyến, ông cố nội ai mà mò ra. Nghe tức như bò đá, giữa đám ba quân chẳng lẽ lật tẩy nhau ra, nhờ cậu tí. Cậu chơi khó anh em quá, bộ nghĩa quân với địa phương quân để cho chó gặm à. Chuế hơn nữa, uống thuốc liều và bán trời không văn tự là quan ba tầu bay L 19, ngày 30 tháng Tư đáp máy bay nhấp nhổm xuống xa lộ Biên Hòa, người tình lái xe Honda đuổi theo sau, vèo một cái, đu lên lửng lơ giữa trời như chị James Bond 007. Tôi nghĩ trong đầu, mẹ kiếp, bốc vừa phải thôi quan anh, quan anh lái máy bay như đạp…xích lô không bằng. Một khứa khác nốc một phùa, mặt đỏ như con gà chọi, say men chiến thắng nổ như tạc đạn, miểng văng tứ tung rằng là pilot A 37, lấy máy bay làm quan tài bay, ăn cơm dưới đất làm việc trên trời, cầy mệt nghỉ. Nhưng khứa này thì hết thuốc chữa, tôi muốn chửi thề nhưng cũng ngọng luôn vì như áo liền quần, khứa quên béng nó mất …cái kính cận to tổ bố. Mệt khứa này quá, chịu trời không thấu.

Kẹt một nỗi, cố tật của mấy ông cố nội là hay…quên. Vì rằng phịa quá nhiều rồi nên làm sao…nhớ. Khổ là khổ cho mấy thằng nghe, lúc nào cũng như ở trên trời rơi xuống ấy! Như…lính nhẩy dù vậy!

***

Khỏang thời gian ấy là giữa năm 75 và 80, vừa mới đứt phim, một lũ tụi tôi như những cánh chim tan tác gọi nhau họp đàn. Cứ chiều thứ sáu, đi làm về là tạt qua cái quán nằm ở góc đường, nằm tuốt luốt trong trung tâm thành phố. Thằng nào ra sớm thì ngồi đấy, làm một hai chai dằn bụng cho ấm lòng kẻ tha hương người lữ thứ, nhìn trời nhìn đất, buồn nhiều hơn vui. Càng về chiều, lũ trôi sông lạc chợ ới nhau tới càng ngày càng đông, quán mì hủ tiếu do anh Tầu Chợ Lớn làm chủ, ban ngày ban mặt vắng như chùa Bà Đanh, món nhậu chính danh, danh trấn giang hồ là síu quách. Như một thông lệ bất thành văn, vào độ, mỗi khứa thay nhau làm một “round” bia, tiền chao cháo múc, ăn nhậu tự nhiên, cười nói vung vít, nước miếng văng mệt nghỉ. Cuối tuần lương, tay nào chịu chơi thì bắt đĩa bò lúc lắc dai như đỉa đói, ai sâm mình lắm thì xách theo một chai rượu mạnh. Và mỗi chai rượu đều có tình sử riêng của nó, vì tất cả nằm trong những ngày tháng chân ướt chân ráo, cùng đất khách quê người, tha hương ngộ cố tri.

Trôi sông lạc chợ và tôi đã gặp nó ở cái quán vắng đìu hiu này.

Nó hơn tôi hai tuổi, tạng người phảng phất như có một cái gì đó hơi khác người qua đôi mắt chìm sâu và nhất là cái miệng uống rượu rất có nét cùng cái cười nhếch mép và…đặc biệt hơn nữa, nó lại chuyên ngành…thợ tiện. Chẳng phải vô tri bất mộ gì, xét nét về cái thằng tôi với quá khứ vị lai thì tôi vốn dĩ là thiếu úy quân lực Việt Nam Cộng Hòa, sĩ quan biệt phái. Cuốn vó qua đây, xách được cái thẻ quân nhân giữ như giữ mả tổ, lâu lâu lại nhòm tí chơi thấy mặt mày búng ra sữa, chân tay học trò trói gà không chặt. Trong khi khuôn mặt nó có vẻ ngầu hơn, chân tay nó cũng to khỏe hơn. Cho đến lúc tôi biết nó là thiếu tá Dù, như bị tự kỷ ám thị, cái nhìn của tôi về nó lại chệch qua một góc độ khác. Ở cái tuổi tam thập nhi lập, tôi đang tay bồng tay bế nó đã tang bồng hồ thỉ, sách quân xuống đông đông tĩnh, lên đòai đòai tan tự hồi tám kiếp nào rồi. Nói cho cùng thì vàng bạc có giá, rau cá theo buổi chợ, cũng phải né nó một chút chứ, không ít thì nhiều đường đường cũng là tiểu đòan trưởng, giang hồ nửa gánh non sông một chèo. Ấy là chưa tính nhằm vào cái thời buổi láo nháo mới qua đây xin nhận nơi này làm quê hương, lại mới tàn cuộc binh đao, những thiên hùng ca với “con ễnh ương ngồi trong nón sắt” hay “anh còn viên đạn đồng để lại cho em làm kỷ vật cho em” đang vất vưởng đâu đó trong những ngày nhạt nắng. Thế nên mẫu người hùng ngã ngựa của nó rất dễ để tôi yếu lòng và ngưỡng mộ nó trong những ngày vất vưởng ấy.

Càng ngày tôi càng gần gũi nó hơn vì nghe hơi nồi chõ, trên răng dưới lựu đạn, làm được đồng nào là gửi qua trại tị nạn giúp đám đàn em đang nằm ăn vạ ở bên đảo. Tên nào qua được bên này, hay từ tiểu bang khác tới là nó mang về nhà nuôi báo cô. Một lần mò tới căn chung cư của nó, tôi phải bước qua cả ba, bốn cái thân xác nằm ngủ ngổn ngang dưới sàn nhà như chết rồi. Để rồi tôi lại càng mến mộ nó hơn nữa, khi tôi biết nó là dân Võ Bị Đà Lạt khóa 19, sau đấy tôi với nó gần gũi nhau như bóng với hình. Chuyện cũng chẳng có gì lạ, nhiều khi trong cõi người ta, bạn bè thân quen và thân thiết qua một nhân vật thứ ba, ấy là thằng bạn đời của tôi khóa 21 mà nó là huyng trưởng. Mỗi khi nhắc đến thằng bạn chung, giọng nó trầm hẳn xuống, mặt như có hồn, mắt như có khói, bằng vào cái chép miệng: ” Ông thần này cũng bậy thật, khi không rửa chân lên bàn thờ ngồi cho sớm sủa làm chi chẳng biết nữa”.

Sau đấy tôi hay ghé phòng nó “lỳ một lam, làm một ly”. Cùng những ngày tháng qua mau, để rồi ngôn ngữ như cơn nước thủy triều, từ ông tôi qua mày tao lúc nào không hay. Tôi lại càng nghiêng mình “thành kính phân ưu” nó hơn nữa, khi nghe lóang thóang, trong một trận thư hùng với Bắc quân, nó đã đơn phương độc mã, quyết định tha tào một đám tàn binh đào thóat qua bên kia biên giới. Chuyện cứ như thật, nghe như chuyện phong thần, nhưng tôi vẫn chưa có dịp hỏi nó những uẩn khúc bên lề. Ngày rộng tháng dài, tôi rình rình một một ngày nào đó sẽ hỏi cho ra nhẽ.

Tôi cũng chẳng thấy bao giờ nó lận súng trong người. Tôi thì khóai súng, nhất là khẩu Colt 45 của quân đội Đại Hàn, hai cái má cán bằng gỗ vân nâu đỏ, chỉ to bằng ba phần tư khẩu của Mỹ. Mê hơn nữa là cái mầu thép xanh lè và lạnh mát, cầm vừa tay lại nhẹ hều. Tôi muốn thửa khẩu này để góp mặt với đời, phòng khi những lúc tai bay vạ gió. Hỏi nó, nó lắc đầu quầy quậy: “Dẹp đi cha! Bộ cha tính đóng tuồng người hùng cô đơn hả?”. Một lần, hai thằng tôi ngồi ở một cái quán quen dưới phố, không như mọi lần, nó nhè phơi cái lưng như cánh phản ra cửa. Vậy mà nó làm như mả lắm, trong buổi hỗn quân hỗn quan, nhiều lần dậy khôn tôi: Ngồi thì phải trấn ngay lối ra vào, để dễ bề…di tản chiến thuật. Nếu cần kéo cái ghế trống để xéo bên cạnh…như đắp mô. Thủ chai bia không để đấy nằm trong tầm tay, cần lắm thì quăng…lựu đạn. Rồi biến cho nhanh…

Bố khỉ, khôn ba năm dại một giờ, gần khuya bỗng dưng có bốn thằng bung cửa ập vào như gió cuốn, thằng nào thằng nấy chùm mặt kín mít bằng cái vớ đàn bà, súng ống trang bị ngập răng. Thằng chặn cửa, thằng bay vào quầy tính tiền. Hai thằng còn lại chia nhau hai bàn có khứa, tay quơ súng lọan cào cào châu chấu, miệng hò hét lung tung như bị động kinh, nhìn thấy hoa cả mắt, chóng cả mặt như trời sập. Thằng du đãng nhí ào tới bàn tôi, kê súng ngay thái dương nó, vừa quát tháo vừa chửi thề bằng tiếng ta lẫn tiếng tây để áp đảo tinh thần…địch. Tôi nhìn thấy nguyên con cánh tay sâm xanh lòm hình chữ Vạn của nhà Phật. Thằng con dường như lần đầu lâm trận, cái đầu ruồi rung rung thấy rõ. Tôi còn nhớ như in trong đầu với ý nghĩ: Lỡ mà nó cướp cò thì…vỡ mặt. Còn nó tỉnh bơ, khẽ nhích cái đầu sang một bên để tránh nòng súng. Lơ đễnh nhìn thằng du đãng rồi dằn từng tiếng một:

– Mày bắn tao không chết. Mày…chết.

Thằng con khựng lại đến mấy giây, rồi đột nhiên hô hóan ầm ĩ :

– Đủ má…Lộn rồi tụi bay!

Và nó cũng không quên la bải hải:

– Dọt!

Tụi nó quậy um cả lên, rồi đánh mau rút lẹ và thu dọn chiến trường không đầy hai phút phù du. Ít lâu sau, tôi mới biết thằng con tên Vạn, biệt danh là Vạn Việt Cộng,16 tuổi bụi đời đăng lính. Nhưng chưa bắn được một phát súng nào, thay vì nhẩy dù cố gắng, nó…tan hàng cố gắng, chạy theo tiểu đòan khơi khơi leo lên tầu chiến từ Vũng Tầu để lớ ngớ qua cái thành phố này. Mấy tháng sau khỏang 5, 6 giờ sáng. Nó dựng đầu tôi dậy để lái xe vào nhà tù đóng tiền thế chân cho thằng con ra. Chuyện cũng dễ hiểu thôi, thằng con vốn sáng say chiều sỉn, khuya lái lủi vào hàng rào nhà người ta, rồi ngất ngưởng lái xe về với cái số con rệp, để lại…cái bảng số xe ở góc vườn mới điên cái đầu. Chuyện nó cứu bồ cho thằng nhóc cũng dễ hiểu thôi, vì cái tình huyng đệ chi binh, cái thằng con dại cái mang một lần dỡn mặt với nó ấy cũng là dân mũ đỏ. Mỗi lần có ai nhắc đến…sự cố này, nó chỉ nhếch mép: “Chuyện nhỏ, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ”.

***

Chiều 30 tháng Tư, nó lôi tôi ra cái quán mới mở gần nhà. Tôi mang cái tháng Tư đen này vào đây để thành chuyện, không phải vì muốn than vắn thở dài cùng ôm mối sầu hòai cố quốc, để mà rối rắm thêm. Mà vì nó ới thì tôi có mặt, bình thường như mọi ngày, chứ chẳng phải làm dáng gì cho bài viết. Xách chai Cognac .75 còn non nửa tới để làm duyên, tôi thấy nó đã ngồi đồng ở đấy, lù lù trên bàn như cái mả Đạm Tiên thêm một chai vàng khè một lít nữa. Tôi nghĩ thầm trong đầu, bỏ mẹ, với mảnh đời rách nát còn lại, từ giờ đến khuya, đại bác không giật 75 đụng với gà cồ 105 gáy cho vài quả thì chỉ có thác, từ chết đến bị thương, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ nên làm nản lòng chiến sĩ cái thằng tôi biết mấy.

Nó ực và chịu nói nhiều hơn mọi khi, nhưng tuyệt không có những chuyện tan hàng lẩm cẩm hay di tản chiến thuật vớ vỉn. Nửa chừng nó luận về chuyện Tam Quốc vì nó chịu ông mặt đỏ râu dài với cây thanh long đao, con ngựa xích thố và cái dũng, cái nhân của ông thần này, hiểu theo nghĩa là không bỏ của chạy lấy người. Chợ chiều vắng khách, bỗng tôi chợt nhớ ra tích Quan Công tha Tào Tháo ở cái chỗ khỉ ho cò gáy nào đó ở tận mãi bên Tầu…Bắt qua chuyện cũ, tôi nhủ thầm thằng này có ăn gan giời mới dám thả nguyên một tiểu đòan Bắc quân. Và tôi hỏi nó về tích ấy.

Nó gật đầu ậm ừ: “Ừ thì kể”. Lại vẫn mửng cũ, lại lơ đãng nhấp một ngụm nhỏ, thằng này diễn xuất hơi nhiều, tôi nghĩ vậy, chỉ thiếu cái ho húng hắng là có bài bản. Rồi thì cóc mở miệng và nó ừ ào như…cho có chuyện vậy thôi:

“…Chuyện cũng chẳng có gì, tao vừa mới đi hành quân về, chưa kịp cởi đôi “bốt-đờ-sô” đã có lệnh họp khẩn. Lệnh lạc mắc dịch gì kệ tía tụi nó, tao tà tà tắm một cái cho đã và nghĩ trong bụng, chuyến này lại bị sài sể nữa vì cú đụng trận vừa rồi, tiểu đòan tao bị một vố nặng, mất hơn chục con. Vào đến phòng họp, tao thấy một đống quan to súng dài, nào đại diện cho sư đòan 5 bộ binh, không đòan 23 chiến thuật thuộc sư đòan III không quân. Có cả mấy tay biệt kích dù với nhóm nha kỹ thuật nữa, họ lon lá cùng mình, tao biết thân biết phận ngồi với tụi quân báo và khí tượng. Sau khi sếp thuyết trình, chấm tọa độ trên bản đồ hành quân, phân phối trách nhiệm từng đơn vị, hết phần ban huấn lệnh, đến màn sếp lớn hỏi có ai théc méc gì chăng? Nực cò một cái là, đơn vị tao không được nhắc nhở đến tên, tao cũng hơi sì nẹc. Tao đâu có quởn ngồi đây nghe mấy thằng khí tượng thì thầm hoặc nghe mấy mấy thằng quân báo hú họa. Mà dại gì mó dế ngựa và tao chỉ biết là đang có đụng trận khỏang từ phi trường sông Bé đến phía tây thị trấn Lộc Ninh, sát biên giới Căm Bốt vậy thôi. Mặc dù là cuộc họp hành quân thu hẹp, nhưng tao thấy mấy ông thần nha kỹ thuật bu ở đấy khí đông, thì cũng đóan chừng, đụng độ cỡ cấp trung đòan trở xuống và không hơn. Chuyện nhỏ mà mày…”.

Nó ngừng lại một chút, đốt điếu thuốc lá rồi lập lòe:

“…Họp xong, tao được được sếp lớn đưa cho cái phong bì lệnh hành quân to tổ chảng, ngòai đóng dấu hai chữ “Tối Mật” đỏ chót, sếp còn nói khi nào ra tới trận địa mới được móc ra xem. Mụ nội cha này chứ! Tao nhủ thầm trong bụng, làm chó gì mà quan trọng dữ thần vậy, cứ như Khổng Minh bầy binh bố trận không bằng, túi da với túi vải buộc giây này kia cho chắc ăn. Sếp còn giữ tao lại dặn dò, kể từ giờ phút này, lệnh ứng chiến 100% và có thể bốc đi bất cứ lúc nào trong đêm. Tao lại nghĩ tiếp, kệ cha chúng nó chứ, hậu cứ còn tới hai tiểu đòan trừ bị lận đang phè cánh nhạn. Mắc mớ chi lại dí tiểu đòan tao. Hay là sếp lớn muốn chơi màn dương đông kích tây, hay khích tướng để tao đái công chuộc tội. Nhưng đến lúc sếp lớn yêu cầu tao, cũng kể từ giờ phút này, không được liên lạc với gia đình, ngay cả điện thọai, tuyệt đối không được tiết lộ một chi tiết nào, thì tao linh tính là có chuyện. Lại chột dạ cứ như sắp hành quân quy mô chiếm…đài phát thanh đến nơi. Dân dù chuyên viên đảo chánh mà mày.

Đứng chào ở thế nghiêm, tao thóang thấy khuôn mặt sếp như bần thần, lo lắng, như muốn nói gì nhưng lại thôi. Vừa quay ra, sếp dặn với theo, trang bị nhẹ, ghé kho vũ khí lấy thêm mìn Claymore và súng phóng lựu M 79 càng nhiều càng tốt và đừng quên trang bị mỗi đứa con thêm chục “trái na” M67, M41. Tao thấy quái, hay là tụi tao đi đóng đồn gác chợ như…nghĩa quân hay địa phương quân đây.

Y như rằng, chiều tối vừa mới ập xuống là tiểu đòan tao được bốc đi ngay tức thì và được thả xuống cánh rừng phía tây thị trấn Lộc Ninh, cửa ngõ qua bên kia biên giới. Trong khi cánh rừng phía đông, pháo 105, 175 ly ì ầm vọng lại, đều đều xa vắng như tiếng chầy giã gạo, hỏa châu le lói, phụt lên một cái rồi tắt ngúm như ma chơi, âm u và lạnh lẽo. Mở lệnh hành quân quân ra thì tụi tao được lệnh án binh bất động, tất cả điện đàm đều được đình chỉ, ngay cả bộ tư lệnh hành quân…Đợi tụi Bắc quân chém vè là “ra- phan”…làm gỏi, mới liếc qua thì thấy ngon như óc chó. Nhưng…”.

Tôi ngắt lời nó lại, hỏi:

– Rồi sao nữa, nghe hồi hộp quá mạng mày!

– Từ từ cha nội, để tao diễn giải cái kẹt giỏ của tụi tao cho mà nghe.

Sửa ghế cho ngay ngắn. Móc cái bật lửa Zippo để đấy. Nó tiếp:

“…Cho con cái đào hầm hố ẩn nấp ngụy trang xong, đọc lại lệnh hành quân một lần nữa, tao đâm lạnh cẳng. Vì rằng tụi nó nguyên cả một công trường 9, vừa mới vượt Trường Sơn đổ xuống đây. Tụi nó trang bị rất…hiện đại với hỏa tiễn 107, đại pháo 130. Tụi trừ bị là công trường 5 và 7, có cả T 54, Sam 7 còn nằm ở hậu cần, lẩn khuất đâu đó bên kia Căm Bốt. Thầy trò nó à ơi gọi nhau tạo cài cái thế gọng kìm, không bung ra được là tụi tao bị chặt đẹp. Tụi nó ăn gỏi tụi tao là cái chắc. Tao như hiệp sĩ mù nghe gíó kiếm, đâm lo ngay ngáy. Vì bây giờ tao mới hiểu ra qua cái mặt chằm bằm của sếp lớn hồi chiều khi họp hành quân: vì  không biết mấy ông tướng mặt trận bên kia đầu rừng đánh đấm làm sao, mà lỡ dại để cái công trường 9 rút nguyên con về đây, tàng tàng đi bộ dẫm lên tiểu đòan tao…bẹp dí là cái chắc, không có đất mà chôn, khi không làm cỗ cho ma sơi là vậy. Nhất tướng công thành vạn cốt khô đâu không thấy…Chỉ thấy mấy chữ cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi như vật vờ vất vưởng đâu đây. Mụ nội nó! Cũng ớn chứ đầu có đùa mày.

Đó là chưa kể tiểu đòan không mã số của tao đang nằm lạc lõng bên ven rừng sát biên giới, vùng oanh tạc tự do. Lại vừa mới được thảy vào chiến trường ở cái giờ thư hai mươi lăm, với cái điện đài bị khóa họng, nằm như cục sắt rỉ dưới gốc cây đằng kia. Các quan lại bày đặt chơi trò ú tim, như mèo dấu cứt, lỡ lát nữa mấy ông pháo binh mới ra trường táy máy bấm cò quân bạn bắn quân ta thì…Nghĩ thì nghĩ vậy, cho đến gần sáng, tao cẩn thận đếm từng gốc cây, dặn dò từng đứa con về hiệu lệnh và nghe cú kêu nhát một như cú nhìn nhà bệnh, nghe muốn…bịnh luôn. Tao tin dị đoan, cú trước đã banh càng, hòm gỗ cài hoa cả chục cái, thì như cái rớp, cú sau sẽ không khá. Bụng dạ tao bấn xúch xích và chưa bao giờ tao mót tiểu bằng lúc này, lại thèm một hơi thuốc nữa. Mắc dịch gì đâu, đang xè xè bắn cầu vồng, chần chừ có nên làm một điếu hay chăng thì lạy Chúa ơi, có tiếng gọi nhau ơi ới, tiếng chân rõ mồn một hướng về phía cánh quân tao, cành lá gẫy kêu xào xạc và càng ngày càng gần hơn.

Cùi không sợ lửa, tao vừa cài cúc quần, vừa nhắm mắt niệm Phật khấn Chúa. Canh bạc đã lật ngửa, tao “ta-pi” cú này, được ăn cả ngả về không.

Qua ống nhòm, dưới những lùm cây, một đám bại quân đông như đĩ, quần áo lếch thếch, máu me đầy người, đứa chống gậy, đứa đi cà nhắc, thằng này dìu thằng kia, rên la khóc lóc. Áng chừng hơn trăm thước, sát hơn một chút nữa, lố nhố những người là người, tụi nó trẻ măng, thằng băng đầu, thằng băng tay, vừa cõng vừa cáng…Ngay lúc ấy, không hiểu tại sao tao liên tưởng đến cảnh rút quân của Hồng Quân trong phim “Chiến Tranh và Hòa Bình”, như rõ mồn một từng nét, ngay trước mắt tao.

Rồi gần năm mươi thước…Mày biết không, tao muốn té đái ra quần, mắc dù vừa mới…tè xong. Tía tụi nó chứ, len lỏi theo tàn cây, lúc nhúc như dòi. Mày đừng ngóac mồm hỏi tao bao nhiêu thằng? Ngực tao đang đánh lô tô, đang sợ thọt dái lên cổ đây thì đầu óc đâu mà đếm. Thứ quân nhân biệt phái như mày biết chó gì đánh đấm. Như tao đã luận với mày vừa rồi, chỉ cần một nửa công trường 9, mặc du chém vè đấy, nhưng theo quy luật chiến trương, bên nào có nhiều tay súng hơn là chiếm thế thượng phong. Trong khi tiểu đòan tao thiếu quân số, chưa bổ sung. Thế mới đổ nợ”.

Nó ngừng lại thở ra. Tay nhón cọng khô mực nướng bỏ vào miệng nhấm nhấm như xỉa răng. Giọng đều đều như tụng kinh trước khi ăn:

“…Để rồi tao mừng húm vì tao chợt bắt gặp thằng đi đầu, ngang hông thằng này đeo khẩu K 54. Tao đóan là thằng K trưởng, nó đầu đội nón cối lệch sang một bên như muốn rơi xuống đất, một tay sốc thằng cán binh như kéo lê. Một tay bị thương, đeo ngang cổ là tấm vải ố vàng buộc chéo giống như…cái tã.

Tôi bộp chộp:

– Cái tã,

Nó nhíu này: “Đừng ồn, thằng con. Để tao cân thằng này…”

“…Thế là tao cân được, độp được thằng này là tụi nó như rắn mất đầu. Tao đợi gần đến khỏang 30 thước. Khẩu Colt 45 tao nhắm thẳng vào mặt nó. Rồi thì 20 thước. Cánh tay trái tao đưa lên trời. Tay phải tao nắm chắc cán súng. Ngón tay chỏ khẽ đặt lên cò súng. Chỉ một cái bấm nhẹ hều. Thêm một cái phất tay nhẹ hẫng ra hiệu lệnh cho đàn em với một dàn claymore mắc thiên la địa võng là xong. Là xong…một cái rụp…”

Tôi ngồi há hốc mồm ra mà nghe. Trong khi nó bình thản đưa cọng khô mực vào miệng nhai nhai. Thong thả tớp một ngụm. Nó lừ đừ óc ách:

“…Nói mày không tin thì kệ mụ nội mày, trong những cái giây phút thập tử nhất sinh vừa rồi, cái đầu người ta lạ lắm. Như tao đây chẳng hạn, mắc chứng gì lại nhớ đến chuyện xưa tích cũ. Chuyện là hồi mới ra trường, tụi tao đụng một trận tàn canh gió lốc, thầy trò cong lưng…chạy. Tao bị Việt Cộng đuổi chạy bán sống bán chết, vậy mà tao cũng còn thì giờ ngoái cổ lại bắn cho nó đẹp. Chỉ trong khỏang 20 thước ngắn ngủn như lúc này, chắc như bắp luộc, tao quất êm tụi nó nguyên một gắp đạn không thiếu một viên. Tổ cha chúng nó chứ, đíu hiểu tụi nó ăn cái giống gì mà vẫn…sống nhăn, vẫn hè nhau hùng hục rượt tao tiếp mới…kỳ. Còn thằng nón cối đây chắc tới số. Vì tao đứng ở thế xạ thủ hai chân khùynh khùynh và thằng nón cối kia đang đi tà tà đi bước một chứ không…chạy mới ngon ăn, ngon như chó ăn trứng luộc.

Vẫn chưa hết…Đột nhiên, ma dẫn lối quỷ đưa đường, tao lại liên tưởng đến cảnh tướng Loan với thằng đặc công trong trận Mậu Thân. Rồi một cái “bụp”. Thằng đặc công nằm vật ra, máu ri rỉ chẩy đỏ lòm từ thái dương. Để rồi tòan thân tao như nổi gai ốc, cánh tay tao đang dơ lên…

Đám Bắc quân, hàng một lê lết qua mặt tao…

Và tao nghe được cả những tiếng chân dẫm trên lá xào xạc…Như những con nai vàng đạp trên lá vàng khô”

Sao hôm nay thằng này văn vẻ quá đỗi, tôi chặn nó lại:

– Mày sợ?

Nó nhíu mày, sua tay, giọng nhát gừng:

– Tùy mày! Mày muốn hiểu sao thì hiểu.

“…Mẹ, thằng này sui tận mạng hay sao ấy, tao lại nghĩ đến lần làm một lúc chín viên mà chẳng thằng nào chịu về thăm bác Hồ. Thấy thằng tà lọt đang cầm khẩu M16 nhìn tao thăm dò, tao bèn quơ khẩu súng của nó. Nấp nửa người sau thân cây, mở khóa an toàn, tao đứng nghiêng theo thế tác xạ, báng súng tựa vai, thân súng song song với mặt đất. Tao ghì má súng. Tao nheo mắt nhắm một đường đạn đạo thẳng băng từ lỗ chiếu môn qua đỉnh đầu ruồi…”

Mồi điếu thuốc. Mắt nó lơ đãng nhìn…mặt tôi.

– Mày còn nhớ lúc tập bắn ở xạ trường Thủ Đức của mày không? Lúc cái bia “cạc-tông” từ từ nhô lên: Cái nón cối có ngôi sao đỏ.

Nó dí dí điếu thuốc là đỏ rực ngay trán tôi:

– Ấy đấy, thế là cái đầu ruồi tao nhắm y tróc vào ngay giữa trán thằng nón cối bấy giờ…Chỉ cần nín thở, nhè nhẹ bóp một cái tách thật ngọt là rồi. Thế nhưng giữa cái lúc chết người này, đầu tao dở chứng bật ra câu thơ của thằng biệt kích nửa mùa bạn tao: “Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo  – Xem cuộc chiến như tai trời ách nướcTa bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phướcVì căn phần ngươi xui khiến đó thôi…”.

Nó nhòai người với cái chai, rót cho mỗi thằng một ly mới. Vừa rót, nó vừa nhìn ra ngòai của kính, như có gì trầm tư mặc tưởng khiếp lắm trong bộ óc chật chội của nó. Bóng chiều nhạt nắng đang buông xuống, nó quay lại….Lại nhìn thẳng vào tôi và chậm rãi từng tiếng một:

– Tao hỏi thực mày, suy nghĩ kỹ trước khi trả lời: Có bao giờ mày hình dung đến một khỏang cách thật gần, như ngay trước mặt mày bây giờ đây, từ đây ra đến cái xe đậu đằng kia thôi…Và mày có đang tâm phất tay, để mấy trăm tay súng nhả đạn vào những cây thịt đang ngất ngư con tầu đi như…bắn bia không? Lúc nhập trận, đang say thuốc súng, đạn thì nhau nổ, hòa lẫn la hét rùm trời thì tao không tính. Lúc ấy, tất cả đều phẳng lặng giống cái bãi đậu xe kia. Tao nhắc lại, tất cả không gian và thời gian, ngay cả cái đầu của mày và tao đều bình bình như lúc này…Thì mày….

Không đợi tôi trả lời, nó rít một hơi thuốc lá:

– …Bỗng nhiên trán tao lấm tấm mồ hôi…Ngay lúc đó tao có nghĩ thêm, mình đang trên chân tụi nó. Chẳng phải quân tử Tầu gì với đánh kẻ ngã ngựa, dồn tụi nó vào chân tường thì tụi tao cũng gẫy một mớ. Cái gì cũng có cái giá phải trả của nó và thú thực với mày: Tao sợ thật!…Mắt tao hoa lên. Khẩu súng cứng đơ như khúc gỗ…

Như để chạy trốn câu hỏi của thằng trời đánh này, tôi cầm ly rượu xoay xoay…như nó. Mỗi thằng đều theo đuổi những ý nghĩa riêng tư cả một lúc lâu. Nhìn ra ngòai bãi đậu xe có phẳng lặng thật với người đi đi lại lại như những chiếc bóng. Ở trong quán trống rỗng, cả hai đều bình bình… Ở trong tôi, ngay lúc ấy cũng đã có câu trả lời…

Cũng như nó, tôi lại vướng mắc thêm một hình ảnh khác với bầu không gian cô đọng này. Nhấp một ngụm cho có lệ, tôi hỏi nó:

– Mày bị ám ảnh vì cái tã con thơ của thằng chỉ huy?

Nó như nói vào khoảng không. Như tôi không có mặt:

Ngón tay trỏ tao tê cứng. Rồi thì tự nhiên cái nòng súng chúc xuống. Tao buông xuôi….Và tao không thấy cái đầu ruồi đâu nữa…

Ngừng lại một chút, làm hết ly rượu, nó miên man:

– Cho đến lúc tao bị tạm giam ở cục an ninh quân đội, tao cứ bị dằng co bởi cái mảnh vải ấy…Mày có con thì mày hiểu!

– Mày đi tù bao lâu?

Nó cười buồn, nhả khói thuốc lá và giọng như chậm hẳn lại: “Cũng cả năm, nhưng tụi nó kêu tao lên, kêu tao xuống như cơm bữa để điều tra, có sao tao khai tuốt luốt: Ở Huê Dương tiểu lộ, ông Quan Công chịu ơn với ông họ Tào với tình nghĩa dây dưa. Chứ gia đình tao địa chủ bốn đời, đâu có ai đi tập kết, ông già tao là ông huyện Phước theo Pháp, sau bị tụi du kích nó chặt đầu, bêu ngòai chợ ba ngày ba đêm, lúc tao mới năm tuổi. Lớn lên tao vào Võ Bị là vậy.

Tao cũng không quên khai với tụi anh ninh quân đội, cùng những cảm nghĩ của tao về tướng Loan với tên đặc công…như tao đã kể với mày. Mày hỏi tao anh em có ai giúp đỡ tao không ấy hả? Đau một cái sếp lớn quay lưng, bạn bè làm ngơ, ai lại dây với hủi lúc ấy. Duy nhất là ông già thằng Vạn Việt Cộng chạy thuốc cho tao, mặc dù ông ấy chỉ là thượng sĩ Dù, đang nhùng nhằng, chưa đâu vào đâu. Cuối cùng thì chính cái ngày 30 tháng Tư nó cứu tao. Cũng may…”

Gẩy gẩy cái tàn thuốc lá, vừa rót rượu thêm nó vừa buông thõng:

– Và tao dấu biến chuyện…cái tã. Trừ mày.

***

Sau cái buổi tửu lạc vong bần hôm đó, nó không “nghèo” một ly ông cụ nào, con đường công danh phú qúy của nó cứ tất bật đi lên như diều gặp gió, từ thợ tiện làm mấy cái “valve”, nó leo lên tới hàng chuyên viên giám định thuộc bậc sư nhờ nói tiếng Mỹ như gió. Tử vi lại có cung thiên di, thôi thì nó đi khắp nơi, đi Nam Mỹ, Trung Đông, Nga, Tầu như đi chợ, chỗ nào có ống dẫn dầu là nó có mặt. Một cái “valve” hòn bi của hãng nó to bằng cái đầu xe ô tô, trên dưới cả trăm ngàn chứ ít ỏi gì, sủa chữa hay thay thế nằm trong tay nghề của nó, nghe cha thật chứ đâu có bỡn. Cóc chết ba năm quay đầu về núi, mới bang giao là nó đã có mặt ở Việt Nam.

Từ thành phố mang tên bác về nó ới tôi ngay. Nó mới mua nhà, bàn ghế rặt đồ gỗ Nam Dương thô kệch. Riêng cái chai Louis 13 nó mang ra thì cái giá không thô chút nào. Còn cớ sự gì nó cắt cổ chai rượu cho bữa phùng trường tác hí cuối chầu tôi mới vỡ bọng cứt. Nói cho ngay, tôi là thằng mềm môi uống rượu mẻ ly thiên hạ, nhưng thú thực chưa nếm cái thứ rượu vua chúa này bao giờ. Nó hỏi tôi uống có…đã không? Tôi gật gù vậy thôi vì XO với Louis 13 cũng cá mè một lứa, có khác nhau khỉ gì đâu. Riêng món “tôm sỉn” mà nó mới học lóm từ mấy quán nhậu thì nhất. Cũng nhẹ nhàng thôi, nó mua tôm bằng ngón tay cái còn bơi trong hồ. Mang về bỏ vào cái vại cối bằng thủy tinh rồi tưới rượu vang vào, tôm uống rượu ngất ngư quậy lung tung, trông thật vui mắt đáo để, con nào “sỉn” thì cái thân đỏ như…tôm luộc. Cái nồi điện giữa bàn, rượu “vốt-ka” pha dấm, vài mảnh chanh thái mỏng, cứ vậy mà nhúng từng con là thấy phẻ rồi.

Nó bắt đầu kể chuyện quê nhà, ở đám đông nó câm như hến, ngồi với tôi nó hót như khướu. Bương bả đã nhiều, tôi học được một lẽ là gặp thằng Nam kỳ mà xạo thì chỉ có nước thầy chạy, vì vậy lâu lâu tôi phải nghe ngóng, thăm chừng:

– Xuống Vũng Tầu thăm dàn khoan xong, về Sài Gòn tao bắt cái taxi và kết “mô-đen” với thằng tài xế đội nón cối đến hói đầu lái xe rất…lụa.

Tiện tay tôi rút điếu thuốc Davidoff của nó ra hít thử. Bố khỉ, thuốc lá Nga Sô cũng ngon ra phết, hay tại thuốc chùa có mùi nhang va tôi gỉa vờ ngây thơ cụ:

– Mẹ kiếp, kết “mô-đen” là mốc khô gì mày?

Nó đáp “Thôi cha” rồi cười cười tiếp: “Tên này tao chịu một cái là đúng giờ và hình như “có cơ sở văn hóa cao”. Hôm ấy, tao mua tờ Tuổi Trẻ cầm tay để…đập ruồi, đúng vào dịp cha con tụi nó đang sửa sọan bầu cử quốc hội”.

Thấy tao cầm tờ báo, nó hỏi:

– Đố anh quốc hội là gì nào?

Tao ngáo người ra, vốn liếng tao như mày biết, không ngòai cái Quốc Hội cũ trắng hếu nằm ở đường Catina. Cũng chẳng hiểu thằng này nó định gài độ mình cái chì đây. Còn đang chộn rộn thì thằng nón cối diễn nghiã:

– Quốc hội là hội của những con cuốc kêu.

Tao bật cười, thấy thằng này cũng đổi mới tư duy và hỏi:

– Trước anh làm gì?

– Thưa anh…

Nó ngừng một chút như suy nghĩ. Tao “nghĩ” tiếp cho nó, tía nội anh chứ, đúng là “mô-típ” cán bộ, thưa với gửi. Nó lẳng lặng tiếp:

– Thưa anh, đang đi học thì nghe tin con ông Đồng trong khâu pháo phòng không ở Thanh Hóa bị bom Mỹ cày chết. Cả Hà Nội xôn xao và làm lễ truy điệu rầm rộ. Phản ánh vì chuyện ấy, tôi bỏ học, đăng cai vào bộ đội.

Tao chộp liền một khi. Học thói Bắc kỳ đểu của mày, tao kê tủ đứng nó:

– Anh đi nghĩa vụ quân sự không phải vì bác và đảng?

Nó lờ đi như không nghe câu móc lò của tao, xuống giọng:

– Sau 75, tôi mới biết con ông thủ tướng đang phe phẩy ở Đông Đức.

Nó xin tao điếu thuốc, làm một hơi và thở hắt ra:

– Ai chẳng một lần nhầm lẫn trong đời…Thưa anh!

Rồi nó lắc đầu:

– Anh hỏi thì tôi trả lời: Bác thì không dám đâu! Chúng tôi đã “lộng kiếng” từ sau 75. Cũng vô tư thôi. Với tụi nó bây giờ thì chỉ “nhất phe, nhì đảng”, mà rỗi hơi nói chúng nó làm gì cho rách chuyện.

Tao nghe quá đã. Nhưng tao vẫn chọc quê nó:

– Rồi anh …”sinh Bắc tử Nam.

– Vâng, tôi thuộc công trường 9. Bị thương ở Lộc Ninh, sau phục viên.

Tao chột dạ nghi nghi nhưng chưa dám hỏi.

Nó bập bập điếu thuốc:

– Trận đó, chúng tôi bị tụi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bán độ cho các anh, để mong co hòa đồng hòa giải dân tộc gi gì ấy. Các anh huy động tổng lực mọi thứ quân trên trời, dưới đất. Máy bay lên thẳng, quân rằn ri, biệt kích nhẩy túa ra, đạn vãi như vãi trấu, cối cá nhân bắn như mưa lửa, chúng tôi bị mất chủ động từ đầu đến cuối. Nhưng các anh thiếu điều nghiên, nếu cho quân chặn đường rút của chúng tôi ở của rừng thì…

Không dằn được, tao vỗ vào vai nó và độp liền:

– Tay trái anh bị thương và quấn bằng cái tã?

“…Không để nó kịp trả lời. Tao đổi thế ngồi, nghiêng người một chút, tay trái thân mật quàng qua ghế nó. Nó tròn xoe mắt ngó tao….Tao từ từ kể cho nó nghe những gì như tao vừa kể với mày. Chi tiết lúc đầu gay gấn nhất là cái khỏang cách 20 thước với khẩu Colt 45, cái khỏang cách ngắn nhất của sinh tử giữa tao và nó. Tao cũng không quên diễn xuất rất…cải lương: Chĩa hai ngón tay giả làm súng vào ngay thái dương nó, cho có chút…hồi hộp. Và hồi hộp thật…Vừa nghe xong câu chuyện, bất thình lình nó bẻ gắt tay lái 45 độ, tạt xe vào lề đường một cái réc, nhìn tao trân trối.

Nó nhìn tao…

Tao nhìn nó…

Tao cố gắng sua đuổi cái hình ảnh thằng nón cối, mắt ốc nhồi, răng vẩu đã từ lâu nằm chết dí trong đầu tao. Qua khuôn mặt như mất thần của nó, cặp môi mấp máy như muốn nói một cái gì nhưng bị kềm hãm, không phát ra được thành tiếng. Ngay lúc ấy, hình như cả hai đều sống dậy với những hình ảnh của một cuốn phim mờ nhạt, quay thật chậm và kéo dài cũng đến cả mấy chục giây. Sau một lúc lắng đọng, như có thúc đẩy mời gọi của bản năng…

Nó bắt tay tao…

Tao bắt tay nó…

Cái bắt tay của nó thật chặt và cũng thật lâu. Cái bắt tay của tao như không muốn rời. Chẳng dấu gì mày, trong tao dâng tràn những cảm xúc và bồi hồi, mà tao không biết diễn tả với mày như thế nào. Ghé vào một cái quán nước ngay gần đấy, nó cho tao coi hình vợ con nó. Ấy vậy mà thằng con nó bây giờ đã lớn, trông giống bố y trang. Rồi cả hai lan man chuyện này qua chuyện kia như hai thằng bạn cũ lâu ngày không gặp”.

Nó ngừng lại với chai rượu và rót đầy hai ly. Tôi biết sắp có chuyện, cái tật của nó bao giờ cũng thế, mầu mè quá lắm, đúng là thằng Nam Kỳ, có tâm sự vụn buồn nhiều hơn vui là bắt một ly thấm giọng. Nó nhìn tôi như thăm dò phản ứng và y như rằng, mặt mày méo xẹo và đầy sự cố:

– Tao vừa kết nghĩa anh em với nó.

Tôi muốn phì cười với thằng cà chua cà chớn này, với tôi thì, bất cứ chuyện gì cũng có thể sẩy ra dưới áng sáng mặt trời. Trừ cái chuyện không đâu của mấy bố nửa nạc nửa mỡ, già cái đầu rồi, còn bày đặt chui vào Vườn Đào với ông phó cối Lưu Bị, nghĩa huynh với nghĩa đệ. Mà tôi cũng chẳng rỗi hơi, nghĩ cho cùng thì chuyện là chuyện của nó. Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng vừa nghe xong, như một phản ứng bất chợt, gió cuốn đò đưa, không hẹn mà gặp, cả hai thằng đều đưa ly lên cụng một cái “cốp” và làm một cái “óc”…nhẵn tuốt. Bố khỉ rượu vườn đào kết nghĩa của nó quả tình có ngon thật. Mắt nó như sáng lên nhìn tôi và cười thành tiếng. Chưa bao giờ tôi thấy nó cười thỏa mái, hồn nhiên đến như vậy.

***

Lái xe về nhà, tôi lặng lờ bâng khuâng để rơi vào khỏang không trống rỗng đến hụt hẫng như đánh mất một cái gì. Miệng hơi khô, theo quán tính đốt điếu thuốc lá thở ra khói. Cũng tiện tay nhấn cái nút nhạc theo thói quen một ngày như mọi ngày, tiếng hát Khánh Ly trầm bổng và bồng bềnh như cánh vạc bay: “Từ quê nghèo lên phố lớn, bàn tay ta nắm – Biển xanh sông gấm, nối liền một vòng tủ sinh…”

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 

©T.Vấn 2011