03/11/2021
Tuyển Tập Nhạc – Nhạc Tiền Chiến – Sóng Vàng – Nhạc và Thơ: Văn Chung

Sóng Vàng – Nhạc và Thơ: Văn Chung

Ca sĩ trình bày: Quỳnh Giao & Mai Hương

 

Đọc Thêm:

Nhạc sĩ Văn Chung (Mai Văn Chung)

(Nguồn: bcdcnt.net)
VĂN CHUNG – NHẠC SĨ CỦA DÂN CÀY

Ông là một trong những tác giả tân nhạc đầu tiên mơ màng thưởng nguyệt say hoa, nhưng chỉ ít lâu sau tên tuổi ông lại gắn vào một biệt danh chắc nịch: “nhạc sĩ của dân cày”. Ông là một trong các vị cao niên nhất của nền nhạc mới Việt Nam, ấy vậy mà cho đến cuối đời, và cả mai sau nữa, “nhân vật cựu trào trong làng nhạc Việt” vẫn chẳng bao giờ già bởi ông măi măi là “nhạc sĩ của tuổi thơ”. Vẫn chưa đầy đủ và không công bằng nếu nói đến Văn Chung mà quên nhắc đến những đóng góp mang ý nghĩa tiên phong trong buổi b́ình minh của nền nhạc mới: ông rất sớm ý thức về việc kế thừa nhạc cổ trong sáng tác mới. Thế nên có “câu truyền miệng” giữa anh em làng nhạc với nhau về bộ tứ trụ cột đề cao tính dân tộc trong nhạc mới: Nhuận – Khoát – Chung – Duy. Thêm nữa, Văn Chung c̣ũng là người dựng múa ngay từ cái thuở “trứng nước” của lĩnh vực nhạc đàn Việt Nam. Quê gốc ở Tiên Lữ, Hưng Yên, nhưng cậu bé Mai Văn Chung chào đời tại một làng nhỏ ngoại thành Hà Nội vào ngày 20 – 6 – 1914. Nhà cậu quanh năm nghèo túng. Người cha giỏi chữ Nho, chẳng may bị mất, thành thử gánh nặng gia đ́ình dồn cả lên đôi vai người mẹ. Không những khéo tay với nghề dệt thảm, người mẹ c̣òn có tài lẩy Kiều, có tiếng hát ru dịu ngọt chẳng ai trong xóm ngoài thôn sánh được. Những điệu dân ca, những chuyện Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai… qua lời ru giọng kể của mẹ ngấm dần và đọng măi trong ký ức tuổi thơ như bài học đầu tiên về vốn cổ truyền dân tộc cho một tâm hồn say nhạc mê thơ. Cậu bé thường đưa bà ngoại đi lễ chùa. Vì bà tóc trắng, mắt sáng, gót son, nhà lại bán cao Bồ Tát nên sư săi và các bạn cùng đi lễ chùa vẫn gọi bà là “cụ Bồ Tát”. Vốn liếng chữ Nho học được từ bố qua từ quyển Tam tự kinh đủ để cậu đóng vai ông giáo nhỏ dạy “cụ Bồ Tát” đọc kinh Phật. Thực ra cậu bé chẳng tin vào đức thần thánh linh thiêng nào hết. Mỗi lần hộ tống bà ngoại tới chùa, cậu lại leo trèo vặt quả phá phách vườn chùa, ăn vụng oản chuối đồ cúng ngay trên bệ thờ Phật mà chả thấy bị quở phạt ốm đau ǵì cả. Những tṛò nghịch ngợm tinh quái chưa phải là cái mà cậu bé ham thích nhất. Điều tuyệt diệu nhất nơi cửa Phật này chính là âm nhạc. Cậu thông tỏ tất tật âm sắc và “vai vế” các nhạc cụ khác nhau trong dàn gơ. Đôi lúc thiếu người, cậu cũng được các sư cho vào thế chỗ gõ mõ hoặc chũm chọe.

Thấy nhà cậu bé túng quá, ông cậu ruột nhận nuôi cháu làm con, thế là cậu bé cũng được đi học ở Hà Nội. Cậu được ông bố nuôi dạy chơi đàn thập lục và đàn tam các bản Kim tiền, B́nh bán, Long đăng, Đối ngũ, Lâm khốc, Tứ đại cảnh... Không khí sinh hoạt đàn hát trong gia đ́nh, trong ngơ phố Hà Nội thời đó đă tích dần cho cậu bé một vốn nhạc cổ khá phong phú. Bao nhiêu bài Xẩm ở đầu đường góc chợ bến tàu xe cứ thấm đọng mỗi ngày, nào là Hành vân, Sa mạc, Bồng mạc, Xẩm chợ, nào là Thập ân, Nhị thập tứ hiếu… Cậu hiểu được cái hay cái độc đáo trong các làn điệu Chèo nhờ quen thân gần gũi với các nghệ nhân như cụ Nghị, bà Lư, bác Dịu Hương, bác Năm Ngũ, vợ chồng kép Phẩm, bác Vũ Tuấn Đức… Ở trường, cậu bé tiếp xúc với dân ca Pháp và nhiều bài hát Hướng đạo, cậu c̣òn tập đánh mandoline. Một hôm đem bạn về nhà ḥát nhạc với nhau bị ông bố nuôi ghét Tây ghét luôn nhạc Tây bắt gặp, thế là cậu bị ăn một trận đ̣òn tơi bời. Bẽ mặt với bạn, cậu bỏ về ở với mẹ, cam chịu cuộc sống cơ cực thiếu thốn. Sống với mẹ ở khu Đấu xảo tuy kham khổ nhưng được tự do tiếp xúc t́m hiểu về nhạc phương Tây. Pháp quốc Viễn Đông nhạc viện mở ngay khu Đấu xảo có lực hút mạnh mẽ như nam châm đối với những thanh niên tân tiến lúc bấy giờ. Chàng thiếu niên nghèo đứng ké bên ngoài say sưa nghe người ta học nhạc học đàn, rồi về tự tập xướng âm, ṃò mẫm các sách lý thuyết. Vốn hiểu biết về khúc thức vững dần c̣ũng nhờ mối quan hệ thân thiện với những người thổi kèn trong dàn nhạc kèn nhà binh, trong đó có nhạc trưởng Đinh Ngọc Liên. Hàng tuần chàng trai trẻ đều đặn đến nhà kèn xem lớp ballet của trẻ con Tây, vỡ ra dần khái niệm về một lĩnh vực mới mẻ: nhạcmúa.

Từ kinh nghiệm đặt lời mới cho các điệu Chèo, Cải lương, bài hát Tây Tầu để kiếm tiền cộng với vốn kiến thức nhạc Tây tự tích lũy, chàng trai 21 tuổi đă viết bài hát đầu tiên mang tênTiếng sáo chăn trâu hay c̣òn gọi Tiếng sáo mục đồng (năm 1935), rồi tiếp đến Cười trong nắng xuânKhúc ca ban chiều, Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm, Hồ xuân và thiếu nữ, Những phút vui, Sóng vàng (1939 – 1940) Cùng với việc tự sáng tác, nhạc sĩ trẻ t́ìm mọi cách để phổ biến bài hát mới của người Việt. Nhờ đă từng kiếm sống bằng nghề in, Văn Chung rủ người bạn đồng cảnh đồng chí hướng là Lê Yên, sau thêm Doăn Mẫn, thành lập nhà xuất bản TRICÉA – ba chữ C và ba chữ A (Colection des Chants Composée par des Artistes Annamites Associés). Nhà xuất bản TRICÉA lần lượt in Vườn xuân và Bẽ bàng của Lê Yên, Gió thu và Biệt ly của Doăn Mẫn, Nhớ quê hương của Phạm Ngữ, Khúc ca ban chiều và Cười trong nắng xuân của Văn Chung… Với mục đích truyền bá âm nhạc Việt Nam, nhà xuất bản này c̣òn là nơi dạy nhạc, bán sách nhạc, tổ chức ḥòa nhạc, trao đổi các sáng tác mới của người Việt với các nhóm nhạc khác như ban Myosotis của Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước, nhóm Hoàng Quý ở Hải Pḥng, các nhóm của Nguyễn Đ́nh Phúc, Lê Thương, Hoàng Giác, Hùng Lân ở Hà Nội và Đặng Thế Phong ở
Nam Định.

“vừa cấy cày vừa đánh giặc giữ làng”
Năm 1946 Hà Nội nổ súng chống Pháp. Vợ chồng Văn Chung gửi con lại cho mẹ để cùng một số văn nghệ sĩ lặn lội lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến. Gắn bó với cuộc sống vừa chiến đấu vừa sản xuất, nhạc sĩ toàn tâm hướng tới đề tài nông nghiệp trong một loạt bài hát động viên người dân “vừa cấy cày vừa đánh giặc giữ làng” phục vụ bộ đội “ăn no đánh thắng”. Tập bài hát Lúa vàng được in li tô năm 1947 gồm những bài hát liên quan tới việc đồng áng, trong đó có mấy bài đi đâu cũng thấy dân và quân ca hát là Lỳ và Sáo, Trâu ơi, Tôi đi cấy. Vào một đêm chống càn nằm giữa trời sao, nhạc sĩ xót xa thương nhớ đứa con gái nhỏ vừa được tin đă chết. Mới ngày nào c̣òn dạy con bập bẹ tập đếm theo cách dân gian: một ông sao sáng, hai ông sáng sao…, bé mà lẫn lộn sao sáng thành “sang sáo”, hay sáng sao thành “sáo sang” th́ hai bố con cùng đếm lại từ đầu. Rưng rưng trong nỗi đau mất con, một giai điệu sáng trong đă thành h́ình. Bài hát Đếm sao về sau được nhạc sĩ dựng múa cho thiếu nhi và tiết mục này đă được ghi lại trong những thước phim tài liệu quí giá của thời kháng chiến chống Pháp. Cuối năm 1947 cả hai vợ chồng chính thức ṭòng quân. Thấm thía khẩu hiệu “Dân tộc – khoa học – đại chúng”, nhạc sĩ cố gột bớt chất mềm mại ủy mị đặc trưng của trí thức thành thị để ḥa ḿình vào cái khỏe khoắn giản đơn của cộng đồng những người nông dân mặc áo lính. Cùng sống chết bên người lính, nhạc sĩ càng ư thức hơn với nguyên tắc sống và viết vì mục đích chung, vì quyền lợi tập thể. Ngày vợ trở dạ, ông chỉ kịp ghé qua nhà đưa vợ đến quân y, dặn nếu con gái lại lấy tên Thụy Liên của đứa con đă mất coi như trời thương lại trả con về nhân gian, c̣on trai th́ì đặt Trung Du – tên chiến dịch bố đang đi rồivội vă lên đường. Chiến dịch cũng là nơi ông đă “hoài thai và sinh hạ” những đứa con tinh thần: Ḥò dân cày, Đợi anh về (thơ Simonov, theo bản dịch của Tố Hữu), Quân Trung du, Ăn no đánh thắng, Ṕ noọng ơi, Vào Đông Khê… Ḥò dân cày được bộ đội rất yêu thích và, như một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của âm nhạc trong chiến tranh, bài hát biến thành khẩu lệnh chiến đấu của một đại đội trong chiến dịch Biên giới năm 1950. “Khi nào Tây kéo đến làng th́ì ta dùng gậy tầy lựu đạn súng trường giết Tây, này anh em ơi!” – các chiến sĩ vừa hát vừa xông lên và cùng với lời ca b́nh dị ấy, họ đă đánh lui các đợt tấn công của hàng ngàn lính Tây.

………………..

(Trích: Nhạc sĩ Văn Chung của Nguyễn Thị Minh Châu)