01/18/2013
Khuất Đẩu : TIẾNG SÁO NGƯỜI EM ÚT của Dương Nghiễm Mậu

(đọc và bình –KĐ)

Dù là một nhà văn được nhóm Sáng Tạo phát hiện, nhưng Dương Nghiễm Mậu không viết như Mai Thảo, nghĩa là không cách tân lối viết, không quá chú trọng làm sao cho mỗi chữ gõ lên nghe leng keng.

Ông có vẻ như một “phu chữ” kiên nhẫn “gánh” những con chữ như cách Hữu Loan gánh từng tảng đá, để dựng nên ngôi nhà chữ nghĩa của mình. Ngôi nhà ấy, mới trông rất bình thường nếu không muốn nói là tầm thường.

Nhưng bước vào trong, cái vừa hấp dẫn vừa làm ta ngài ngại, chính là không khí trong mỗi truyện, một không khí hơi lành lạnh, hơi u uất, hơi dằng xé. Truyện nào cũng đau đau, buồn buồn, để lại hay làm bật lên trong lòng người đọc những suy nghĩ, những băn khoăn thực khó gọi tên, nhưng rất gần và rất thực.

Như truyện có thể gọi là rất mỏng và rất nhẹ của ông mà tôi sắp nói tới đây: truyện Tiếng sáo người em út.

Truyện không hơn 10 trang in, chỉ có 3 nhân vật. Người anh cả, người em út và người cha vừa mới chết.

Người anh cả về thăm nhà không báo trước, nghe tiếng sáo của người em út không còn thô mộc mà nay đã chín, cảm thấy rất vui. Người anh vào nhà, thấy cha đang nằm, để yên cho cha ngủ. Nói chuyện với người em đang xúc lúa từ cỗ áo quan, mới biết người em gái kề đã chết. Nói về ông nội, về mẹ. Sau cùng người em út nhờ người anh cả giúp mình khiêng cỗ áo quan lên nhà trên. Người anh nhíu mày: “Mang lên làm gì?”. “Cho cha nằm”, người em nói. Người anh lặng đi đôi mắt mở lớn nhìn người em không chớp: “cha chết rồi sao?”. “Cha đi tối hôm qua”. Người anh vụt bỏ chạy lên nhà trên, tiếng bước chân, tiếng cửa va đập rồi tiếng khóc oằn lên…

Những sự việc nêu trên tưởng là rất bình thường hóa ra rất kịch tích. Từng lớp, từng lớp như những cánh cửa gỗ trong một ngôi nhà cổ mở dần ra, để sau cùng dẫn người đọc tới cái nỗi đau òa vỡ của người anh cả: sau bao nhiêu năm mới về thăm nhà thì cha đã chết! Chỉ ba chữ khóc oằn lên đã cho ta thấy được cái bất hạnh nghẹn ngào của đứa con tự kết tội mình.

Nhưng nếu chỉ để kể lại một câu chuyện buồn như thế thì chắc tác giả cũng không muốn kể làm gì. Tác giả còn muốn hơn thế nữa. Muốn qua người em út nói đến cách sống và cách nhìn đời của người cha. Một người, cả đời không làm gì quấy, không có gì phải hối hận…cha nhẹ lòng khi nhắm mắt có con ở bên. Con hãy thổi sáo cho cha nghe. Và em đã thổi sáo từ đêm qua đến giờ…

Người em út , mới đọc lướt qua, tưởng đó là một người vô tâm nếu không muốn nói là không giữ tròn chữ hiếu. Cha chết mà lại đi thổi sáo! Chẳng tẩm liệm, chẵng để cha mang theo một thứ gì ngoài những hạt thóc đựng trong ruột tượng của mẹ. Tự mình bồng cha lên đặt vào cổ áo quan, để cha gối đầu lên đó. Cũng không ma chay, chỉ có bát cơm trắng mời cha cùng ăn với hai anh em. Cũng không trống kèn ỉ eo, chỉ có mỗi tiếng sáo đơn độc của mình!

Nhưng đó là một người con trai út rất hiểu cha, yêu cha và biết nối chí cha, dù giặc giã, dù trâu không còn một con cũng cố bám lấy đất vì đất vẫn chung tình cho họ từng hạt lúa. Khi người em thổi cơm, từng hạt gạo rơi xuống gặp phải lửa thành bỏng gạo, người em nhặt lên bỏ vào miệng chứ không để cháy thành than. Và tuy người em út bảo anh về thì em sẽ đi, nhưng cuối cùng: anh nghĩ em bỏ nơi này mà đi được sao? Ai cũng bỏ đi cả thì nơi này ai coi, ruộng ai cày và những người như anh lấy đâu nơi để trở về?

Người em út qua những cử chỉ, lời nói có vẻ không còn là một người em nhỏ bé nữa. Anh ta sống bên cạnh cha từ nhỏ, chứng kiến bao nhiêu cái chết, bao nhiêu đổi thay chẳng những đã trưởng thành mà còn trở nên già dặn, sâu sắc. Ta có cảm tưởng người anh cả đang nói chuyện với cha mình chứ không phải với người em út. Hay nói cách khác, chính người em út là hình bóng còn đọng lại của người cha.

Người anh cả, thời gian và đường xa đã dạy cho anh những gì? Chị bé đã chết, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đổi thay, anh đâu có sống với những điều đó? người mà mỗi lần nhắc tới anh, cha tép miệng rồi mỉm cười: nó có còn sống thì cũng như đã chết.

Người anh trở về ít nhiều mang mặc cảm tội lỗi với gia đình. Nhưng đó không phải là một người phá gia chi tử, không đàng đúm ngược xuôi mà bỏ nhà đi vì một mộng tưởng nào đó, cho dù là lạc đường dại dột. Người cha với lòng thương con, đã bênh vực người anh cả khi nói, anh đã sống thay cho cha.

Trong truyện Gia tài của mẹ, người mẹ chính là hình ảnh tượng trưng của một nước Việt Nam nội chiến từng ngày. Thì ở truyện này, tôi cũng thấy một nước Việt Nam qua hình ảnh của người cha nghèo dù trải qua bao đời vẫn bám giữ lấy đất và truyền lại ý nguyện đó cho thế hệ mai sau.

Truyện được viết tại Sài Gòn, 1974. Gần 40 năm sau, đọc lại mà giật mình. Những ruộng đồng Việt Nam, giờ rất thiếu đàn ông, chỉ có đàn bà và các người già là còn cố bám lấy đất.

Người anh cả ấy, giả dụ như ra đi từ sau 75 liệu lúc này trở về có còn được nghe tiếng sáo của người em út? Một tiếng sáo rất nhẹ nhàng nhưng là tiếng sáo nhẫn nhục của người ở lại. Tiếng sáo không than van, không óan trách, nhưng sao nghe rất bùi ngùi.

bỏ nơi này mà đi được sao, nên tác giả sau 75 không ngờ lại là “người em út”, người sống với bao nhiêu đổi thay, bao người đã chết, quyết trụ lại nơi này dù biết rằng ô nhục, tù đày vì nếu không thì những người như các anh lấy đâu nơi để trở về?

Trên tôi đã nói, những con chữ của tác giả rất thô mộc. Không kéo lê thê với những tính từ trùng lắp không cần thiết. Tôi có cảm giác những con chữ ấy là những hạt gạo trên sàng, nghĩa là tác giả đã lọc lựa rất kỹ, nhất là những hạt sạn. Người khác, có thể vì tiếng sáo mà kết thêm hoa lá cành để có thể là tiếng sáo của Trương Lương, hay của Trương Chi. Nhưng ở đây: tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay tiếng sáo đã chín. Từ thô mộc/non nớt/chập chững đến đã chín là cả một khoảng thời gian dài. Những lần tiếng sáo cất lên, đều vui tươi thanh thoát, chỉ sau cùng, khi chôn cha xong, mới bi thiết.

Tiếng sáo ấy tuy phát ra từ hơi thở của người con út, nhưng thực sự là tiếng lòng của người cha. Vì thế, khi thổi xong, người em út đã cắm chiếc sáo trên mộ cha. Cử chỉ này gợi nhớ đến người xưa trả kiếm bên mộ. Lòng hiếu thảo của người em út thật khác người, bi tráng.

Tác giả cố ý không đặt tên cho các nhân vật. Chỉ nhắc đi nhắc lại, người cha, người anh cả, người em út. Vậy nên, người nào cũng có thể là người cha, người anh cả và người em út trong mỗi gia đình Việt Nam. Có nghĩa rằng ít nhiều người đọc bồi hồi thấy thấp thoáng hình bóng của mình trong đó.

Tiếng sáo nói lên được tiếng lòng của người cha, thì cỗ áo quan lại nói lên cả một khoảng thời gian dài từ ông nội với cái án xử bắn, với đứa con gái chết chùm một lúc bốn người không nhặt được xác để chôn, nó gợi nhớ đến một cuộc chiến tranh quá dài, dài đến nỗi không còn làm ai xúc động được nữa trước cái chết. Và tấm nhiễu đỏ, được chôn theo cha, phải chăng là máu và nước mắt từ nay hãy tan vào lòng đất để cho cây lúa lại mọc lên tươi tốt?

Nhiều người thường nói tới cái hiện sinh mà Dương Nghiễm Mậu chịu ảnh hưởng của các trào lưu phương tây. Tôi nghĩ, cũng chỉ là một chiếc áo mà chính họ cho là đẹp, là mới, muốn khoác lên tư tưởng Dương Nghiễm Mậu, thế thôi. Tư tưởng của ông rất Việt Nam, rất nhân hậu. Có ảnh hưởng chăng là cách viết, cách dùng câu chữ, cách dựng truyện của ông. Mỗi chi tiết đều phải thật cần thiết, phải sắp xếp sao cho thật khoa học. Từ chiếc sáo đến cỗ áo quan, cái ruột tượng của mẹ, bát cám lợn, bát cơm…đều được đặt đúng lúc đúng chỗ. Vì vậy, truyện không lan man mà chặt chẽ như một kịch bản phim. Trọng tâm của truyện là tâm hồn và nhân cách của người cha được bao quanh những lớp vỏ như một củ hành. Cái lõi cay nhất, nồng nhất nằm ở lớp vỏ tận cùng. Chỉ một cái ruột tượng của mẹ đựng đầy lúa để gối đầu cho cha, cũng đủ cho ta thấy ông yêu vợ đến thế nào. Và cũng chỉ có người con út mới hiểu được tình yêu đó của ông.

Tôi thấy cách viết đó phảng phất như E.Hemingway viết Lão ngư ông và biển cả. Cái bộ xương cá bên cạnh chiếc thuyền tơi tả kia nếu tác giả không đưa vào truyện thì coi như đã không có một Lão ngư ông và biển cả làm xúc động cả thế giới.

Truyện cũng gợi nhớ đến Malentendu của A. Camus, ở đó người em gái Martha đã nguyền rủa người anh vắng mặt của mình với tất cả căm hận, vì thế mới đưa đến ngộ nhận đến nỗi người mẹ giết con. Ở đây, người em không kết án người anh, tuy có ít nhiều trách móc anh đã bỏ nhà đi. Vì vậy, toàn bộ câu chuyện tuy có vẻ buồn nhưng không đến nỗi trở thành bi kịch. Vẫn có chỗ cho tình anh em, tình cha con, có chỗ cho sự dung thứ. Và đó là cái khác biệt giữa một Âu châu đổ nát sau thế chiến thứ hai với một Việt Nam sau một cuộc chiến tương tàn quá dài.

Chỉ với một truyện ngắn này thôi, ta cũng đã nhìn ra được tầm vóc của một bậc thầy. Phải chăng vì vậy mà Vũ Hạnh đã dùng cái mã tấu “phản động” để “chặt” ông khi thấy tác phẩm này được tái bản?

 

Khuất Đẩu

06/12/2012

 

 

Phụ Lục :

TIẾNG SÁO NGƯỜI EM ÚT

Truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu

Về tới đầu ngõ, người anh cả nghe thấy tiếng sáo, anh nhận ra tiếng sáo của người em út, tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay âm thanh đã trau chuốt và ở đó nghe một nỗi bồi hồi tâm sự. Người anh cả đứng im lắng nghe. Bỗng tiếng sáo như reo vui làm người anh nhảy chân sáo bước vào nhà. Cánh cổng mở rộng, vào tới sân người anh cả thấy em mình ngồi dựa cột hiên, đôi mắt như nhắm lại và tiếng sáo vẫn rộn rã. Người anh bước chậm và nhẹ tới hiên nhà rồi ngồi xuống bên. Thật lâu tiếng sáo mới ngừng lại:

-Anh đã về.

Người anh phác một nụ cười:

-Khúc nhạc của em sao hân hoan, anh nghe và thấy lòng vui.

Người em để ống sáo xuống hiên gạch, hai tay khoanh lấy đầu gối.

-Anh về bao giờ lại đi?

Người anh đứng lên, nhìn ra khoảnh vườn nhỏ, mấy cụm hoa cải vàng, mấy trái mướp thả xuống từ cái giàn thấp, giọng nhỏ êm:

-Anh về ở nhà.

Ngươi hàng xóm ló đầu lên khỏi rào dâm bụt:

-Anh út, sao không thổi tiếp, tôi đang nghe…À kìa, anh cả về đó sao?

-Dạ chào bác.

-Từ hôm qua tới giờ tôi không sao ngủ được, hóa ra có anh cả về, để chút nữa tôi sang chơi, đi đường xa thì có biết bao nhiêu chuyện…

Người láng giềng thụt xuống. Người anh nói:

-Cha đâu?

-Cha nằm trong nhà.

Người anh đứng dậy, bước lên hiên, mở cửa vào nhà. Bầu khí tĩnh lặng. Người anh từ trong nhà bước ra:

-Cha đang ngủ, anh không lên tiếng.

Người em đứng dậy gài ống sáo lên hiên nhà, bước xuống sân đi vào nhà ngang. Người anh thơ thẩn trong khoảng sân gạch. Vẫn cánh cửa xưa. Có chăng mái ngói nâu tươi nay đã rêu phong, trên sân giữa những khe gạch đã có chỗ cỏ mọc. Cây mít lớn hơn và tàn cây rộng hơn. Người anh nhớ tới người em gái kế. Người anh đi vào nhà ngang nơi người em đang xúc thóc từ cỗ quan tài ra thúng.

-Chị bé đâu em?

Người em đứng thẳng người:

-Chị bé chết ít lâu sau ngày anh đi. Súng nổ từ phía ngoài cánh đồng.

Người anh đứng im.

Người em tiếp tục xúc thóc ra chiếc thúng rồi bưng đổ vào chum để nơi góc nhà. Mồ hôi đọng trên trán, chảy trên thái dương. Người anh đứng lại bên. Người em bốc một nắm thóc đổ vào lòng bàn tay người anh:

-Anh coi, những hạt thóc có tốt không. Năm nay được mùa nhưng thu hoạch không được bao nhiêu. Đồng ruộng bỏ hoang ai nhìn thấy cũng như dao cắt ruột. Cả làng không còn một con trâu. Hôm nấu xôi mới, cha nhắc tới anh và bảo: nếu thằng cả nó ở nhà…

Người anh quay mặt đi, ngắt lời:

-Thôi để mùa sau.

-Mùa sau?

Người em nhắc lại giọng lạnh và buồn.

Những hạt thóc cuối cùng được vét ra khỏi cổ áo quan. Người anh đổ nắm thóc từ tay này sang tay kia:

-Cha vẫn thường gọi đây là những hạt ngọc. Nhiều khi ngọc cũng không giá trị bằng.

Người em nhìn người anh, nụ cười ngậm ngùi. Người anh nhìn em: nó vẫn như xưa chẳng thay đổi gì, lầm lầm lì lì…Người em quét sạch cỗ áo quan, lấy tay kỳ cọ trên lớp sơn bóng rồi gõ vào thành gỗ:

-Gỗ gì không biết, tiếng nó cũng lạ, anh nhớ không?

-Gỗ vàng tâm. Cha đã kỳ công đi tìm nó để sắm áo cho ông nội. Anh nhớ…ông nội còn sống thì nay đã hơn trăm tuổi.

-Anh nghĩ ông nội còn sống?

-Cha đã tìm bao nhiêu nơi, nào có thấy tông tích gì. Tù tội. Có khi xương còn nằm trong nhà tù nào đấy…

-Anh khéo tưởng tượng.

-Biết đâu đấy.

Người em lấy ra chiếc ruột tượng, màu xanh hoa lý đã nhạt, người em nói:

-Anh nhớ không?

-Chiếc ruột tượng của mẹ.

-Đúng rồi.

Người em gập một đầu ruột tượng lại rồi mở ra đầu kia đổ thóc vào một đoạn ngắn rồi gấp đầu thứ hai lại gọn gàng và đặt xuống sau cỗ áo quan:

-Chiếc gôi này êm lắm.

Người em sờ tay lên khắp cỗ áo quan, giọng đều đều:

-Sau khi đắp nâm mộ chung cho bốn người, trong đó có chị bé, cha vỗ tay vào cỗ áo quan nói: có sẵn áo quan đây mà nó đâu được nằm, cái số nó thế chịu thôi…Có thời nào mà chết chùm, tan xương nát thịt chẳng còn nhận ra được. Rồi cha nhìn em bảo: không lẽ tao đóng cỗ quan tài này cho mày?

Người anh lặng im lắng nghe. Bao nhiêu cảnh huống của ngày tháng cũ, khoảng trống những ngay anh vắng mặt:

-Anh nhớ ngày cỗ áo quan được đóng. Còn em?

-Những hình ảnh mơ hồ, lúc ấy anh đã lớn, em còn nhỏ. Từ đó nó ở bên em và những câu chuyện về ông nội do cha kể lại.

Người anh lại gần để tay lên thành cỗ áo quan:

-Hồi đó người ta ta định xử bắn ông nội. Cha chạy ngược chạy xuôi lo tìm gỗ về cho thợ đóng gấp. Nhưng ông nội không bị xử bắn, ngươi ta kết án chung thân khổ sai, biệt xứ. Ông nội bị đưa đi chẳng bao giờ thấy mặt. Cha kêu đám thợ mang đi sơn cỗ áo quan rồi được mang vào nhà ngang, nó ở từ đó tới nay. Những ngày đầu cỗ áo quan làm cho nhiều người sợ, nhưng dần thành quen thuộc, có khi nó dùng đựng thóc, lúc đựng ngô, lúc nhỏ có lần anh và em nằm trong đó trốn cho chị bé đi tìm…

Người em đứng ở đầu cỗ áo quan, đưa hai tay xuống dưới thử nhấc lên:

-Nặng quá. May mà có anh trở về…Lúc trước có lúc em nghĩ nếu mình chết chắc cha sẽ bỏ mình vào đây, nghĩ thế thấy khiếp quá, bây giờ thì anh đã về và em chưa chết.

-Có khi nào em hay cha cho rằng anh đã chết không?

-Mỗi lần nhắc tới anh, cha tép miệng rồi mỉm cười: nó có còn sống thì cũng như đã chết …Nhưng anh cũng đã trở về, dù sao em cũng mừng bỡi vì chỉ một mình em thì làm sao mà tha cỗ áo quan lên nhà trên. Anh giúp em một tay.

Người anh nhíu mày:

-Mang lên làm gì?

-Cho cha nằm.

Người anh lặng đi đôi mắt mở lớn nhìn người em không chớp:

-Cha chết rồi sao?

-Cha đi tối hôm qua…

Người anh vụt bỏ chạy lên nhà trên, tiếng bước chân, tiếng cửa va đập vang động rồi tiếng khóc oằn lên. Người em trở ra hiên nhà lấy cây sáo trúc xuống và bắt đầu thổi một khúc nhạc, âm thanh nhảy nhót vui tươi. Người anh từ trong nhà bước ra, nước mắt ràn rụa. Người em ngừng thổi sáo. Người anh nói giọng khô:

-Cha chết mà em không buồn sao?

-Cha già thì chết, tại sao lại buồn? Anh khóc, cha có sống lại không? Anh có hết đau khổ không? Cha nói với em: cả đời không làm điều gì quấy, không có gì phải hối hận, cha nhẹ lòng khi nhắm mắt có con ở bên. Con hãy thổi sáo cho cha nghe…Và em đã thổi sáo từ đêm qua tới giờ. Sống, chết là lẽ bình thường. Ngày tháng và đường xa đã dạy cho anh những gì?

Người em đưa sáo lên thổi, những âm thanh dìu dặt bay lượn như đang quyện vào trong gió chiếm lĩnh cả khoảng không gian bao la giữa trời và đất. Buổi chiều đang xuống nhẹ nhàng. Đàn chim sâu về kêu ríu rít trên những ngọn cau, trong tàn thấp của cây hoa ngâu. Tiếng chuông thu không vẳng đưa từ xa lại trong buổi chiều tĩnh mịch. Người em hỏi:

-Bao giờ anh lại đi?

-Đi đâu?

-Đi khỏi nhà.

-Em không muốn có anh ở nhà sao?

-Em nghĩ: anh không phải là người để sống ở trong nhà, lại nữa bây giờ cha đã mất…Từ lúc em lớn lên đến nay em thấy có mấy khi anh sống ở nhà…Chị bé đã chết, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đổi thay, anh đâu có sống với những điều đó?

Em không nghĩ là có lúc anh trở về…chuyện còn dài. Bây giờ em muốn tẩm liệm cho cha và nhập quan.

Người em đi xuống nhà ngang, người anh bước theo không nói một tiếng. Hai anh em rất khó khăn mới khiêng được cỗ áo quan lên nhà trên. Trước hết người em đốt hai ngọn nến trên bàn thờ rồi đến chỗ cha nằm cầm lên tấm nhiễu điều mở rộng trải vào trong lòng cỗ áo quan. Nhẹ nhàng, cẩn trọng người em bế người cha đặt vào trong cỗ áo quan, đầu gối lên cái ruột tượng nhồi thóc, tấm nhiễu được phủ kín lại. Hai anh em nhấc tấm ván thiên lên. Người anh ngừng lại:

-Anh muốn nhìn mặt cha lần nữa.

Người em để tấm ván thiên xuống. Người anh mở tấm nhiễu nhìn lên mặt người cha mất đã nhắm măt lại êm ả, những sợi râu bạc trắng như cươc, những nếp nhăn trên trán như những nét khắc trên mặt tượng. ngươi em nói:

-Cha nói: anh không giống cha, anh giống mẹ. Em nghĩ chắc anh giống ông nội.

Người anh không nói kéo tấm nhiễu lên mặt người cha. Người em nói:

-Em không nghĩ cha chết, cha đang ngủ.

Tấm ván thiên được đậy lại, những con cá gỗ được đặt vào đúng chỗ, người em dùng cái vồ đập vào những con cá gỗ cho tấm ván thiên khít lại. tiếng vỗ nghe vang dội. Người anh ra ngồi trên bộ ngựa ở gian bên. Người em thắp ba nén hương cắm vào chiếc lư sành. Khói hương nghi ngút. Người em nói:

-Sáng mai đưa ra đồng

-Em không báo cho họ hàng làng xóm?

-Hãy để cho mọi người thêm một đêm yên tĩnh. Bây giờ để em đi nấu cơm ăn.

Người anh ngồi lại ở nhà trên, mùi hương trầm thơm ngát. Anh sáng vàng tỏa không đều trong ba gian nhà với những thân cột lớn. Người anh đi xuống nhà dưới, người em lấy gạo vào giá mang ra bể nước ngồi vo rồi đổ vào nồi. Khi người anh bước vào nhà bếp lửa đang cháy hồng, nồi cơm đang sôi. Người em gạt những hạt bọng gạo trong bếp ra nhặt bỏ vào trong miệng. Cơm chín, người em lau chiếc mâm gỗ rồi xới bát cơm đầy, so ba đôi đũa, múc một chén tương rồi bưng lên nhà trên để nơi chiếc sập giữa nhà trước cỗ quan tài. Đứng trước mâm cơm người em nói:

-Cha kể: xưa có một người nghèo hèn phải đi làm mướn nuôi thân, ngày giỗ cha không quên chỉ còn biết kiếm một cái bát, múc lấy một bát cám lợn rồi đội lên đầu mà khấn với cha…Cha chỉ mong sau này khi cha đã chết, mỗi lần giỗ nhớ nấu cơm cho ngon, một nén hương, một bìa đậu phụ, thêm một ít rau luộc là được, suốt đời cha ăn những thứ đó…

Hai anh em bưng cơm lên, trên mâm cơm còn một bát cơm với đôi đũa để bên. Người anh đưa chén cơm lên miệng, mùi cơm thơm mộc mạc. Người anh chảy nước mắt. Người em nói:

-Sao anh khóc?

-Anh nghĩ tới những ngày xa nhà, lúc về thì cha đã mất…Người anh để bát cơm xuống mâm. Người em buông đũa và úp cái bát không xuống mâm. Một lúc người em nói với giọng kể đều đều:

-Có một câu chuyện cha kể đi kể lại nhiều lần trong hững bữa cơm tối, nó như một câu chuyện khôi hài, để em kể lại cho anh nghe: Một người cha nói với con: để có ăn hãy ra đồng làm ruộng. Người con nói chắc gì được ăn mà làm. Người con không ra đồng. Người cha kiên nhẫn cày ruộng, gieo mạ, cấy lúa, bón phân, làm cỏ, tát nước cho đến khi lúa chín. Người cha bảo con lúa chín rồi thì hãy ra gặt về mà ăn. Người con bảo gặt về có chắc được ăn không. Và người con không chịu ra đồng gặt lúa. Người cha kiên nhẫn gặt lúa, gánh lúa về, đập lúa, phơi lúa, giã gạo rồi nấu cơm. Khi ngồi xuống ăn cơm, người cha hỏi con: đã chắc ăn chưa? Người con nói: chưa vào miệng thì chưa chắc. Người cha tức giận đứng lên. Thấy người cha nổi giận, người con đứng lên bỏ chạy. Người cha cầm lấy đôi đũa cả đuổi theo. Khi trở về nồi cơm đã bị chó ăn hết. Người con đứng ở ngoài cửa nói đã chắc đâu…Mỗi khi kể tới đó cha cười lớn và nói: cái ông cha này sao nóng giận vô lối. Con hư thì phải dạy còn mình thì thấy cái phải làm thì làm thôi. Mình nhà nông, có làm thì có ăn…cha mẹ sinh con ai dễ sinh lòng…

Một khoảng lặng. Người anh nhìn bát cơm đầy để trên mâm, cạnh đôi đũa:

-Em có nghĩ là cha đã không bằng lòng anh?

-Cha nói: anh sống thay cho cha.

Người anh im lặng lúc lâu, người anh nhìn vào mặt người em hỏi:

-Còn em?

Người em út bưng bát cơm còn nguyên trên mâm ăn tiếp, lúc đặt bát xuống người em nói:

-Anh về ở nhà luôn?

-Anh không đi đâu nữa.

Người em đứng lên giọng đầy xúc động:

-Anh về rồi thì em đi. Lúc trước còn cha, em dù muốn cũng không thể đi được. Ai trông nom cha lúc về già? Anh đi hẳn anh nghĩ rằng ở nhà đã có em, cuối cùng dù thế nào cũng có chỗ để trở về. Bây giờ anh đã trở về và em có thể lên đường…

Sau bữa cơm tối, người em ra ngồi ngoài đầu hiên nhà lấy ống sáo thổi tiếp, người anh ngồi đựa lưng vào hiên lắng nghe. Đêm qua nhanh. Lúc bình minh vừa hé người em ra khỏi nhà. Lúc mặt trời lên ở ngọn cau thì người em trở về cùng với những người họ hàng và dân làng. Mọi người bắt tay khiêng cỗ quan tài trên vai đi ra cánh đồng. Không có tiếng khóc. Mọi người nói với nhau về người cha lúc còn sống, những câu chuyện không đầu không đuôi, xen kẽ là những tiếng cười vì câu chuyện cũ. Người em đi lên phía trước vừa đi vừa thổi sáo. Người anh đi phía sau cỗ quan tài. Huyệt đào trên thửa ruộng khô màu đất tươi. Cỗ quan tài được đặt xuống và đất được đổ lên. Người anh lấy bó hương rồi cắm lên ngôi mộ mới. Người em ngồi trên một bờ ruộng nhìn về phía chân trời. Mọi người đã ra về. Người anh lại gần người em:

-Bao giờ em đi?

Người em đứng lên:

-Sao anh không giữ em ở lại?

-Em đã lớn, như ngày xưa lúc anh đi, cha đã không nói gì. Đi hay ở là ở nơi em.

Người em ra đứng bên mộ cha để sáo lên môi. Người anh nghe thấy một khúc nhạc bi thiết. Khi nắng đã lên cao, người em cắm ống sáo lên mộ cha rồi cũng trở về với người anh. Người anh nói khi bước chân vào sân nhà:

-Không biết lúc em về thì anh còn sống không?

Người em đứng gần hiên nhà:

-Anh nghĩ em có thể bỏ nơi này mà đi được sao? Ai cũng bỏ đi cả thì ngôi nhà này ai coi, ruộng ai cày và những người như anh lấy đâu nơi để trở về?

Dương Nghiễm Mậu

Sài Gòn 12/1974

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2013