04/15/2013
Trần Lê Việt & Phan : Góc Phố

 

Cà Phê Sài Gòn – Tranh : Trần Thanh Châu

” . . . tháng hai mưa về không hẹn, không gian màu chì làm nhớ những góc phố thuở túm năm tụm ba tập tành trốn học, đốt điếu đầu đời còn sặc sữa guigoz, uống hớp cà phê chỉ nghe vị đắng. Nhưng không lâu hoá ngọt tình cờ khi người bỏ nhau đi. Nỗi buồn sóng sánh, đen tuyền, nhỏ giọt,… nói làm sao hết trong những đôi mắt ngổ ngáo đã lắng dịu như mây thấp thật gần mà vời vợi cuối chân trời. . . ” ( Phan)

Góc Phố – Văn : Phan ; Nhạc : Trần Lê Việt 

Ca sĩ: Hàn Mỹ; Hòa âm: Nguyễn Thuận

(Bấm vào đây để nghe nhạc)

GOC PHO – HAN MY

 

Tháng Hai, mưa về không hẹn

Hiên nhà đắng giọt cà phê

Nhớ em đôi mắt u huyền

Như mây thấp thật gần

Mà vời vợi cuối chân mây

Bước chân chưa lần quay về

Thôi đành bỏ lại sau lưng

Góc phố mây mù kỷ niệm

Những quán cóc chênh vênh

Còn vương gót chân người

Thôi, khâu vá chi lại một SàiGòn

Cho đau hòai vết thương xưa

Nỗi nhớ làm tim thắt lại

Bùi ngùi thương một góc phố Sài Gòn

Ghế quen mong người không về

Giữa lòng quán lạnh chơi vơi

Bóng ai nghiêng dài nẻo phố

Cuối chiều vạt nắng liêu xiêu

Trần Lê Việt

 

 

Văn :

Phan

Cà phê góc phố

Sáng tháng hai mưa về không hẹn, không gian màu chì làm nhớ những góc phố thuở túm năm tụm ba tập tành trốn học, đốt điếu đầu đời còn sặc sữa guigoz, uống hớp cà phê chỉ nghe vị đắng. Nhưng không lâu hoá ngọt tình cờ khi người bỏ nhau đi. Nỗi buồn sóng sánh, đen tuyền, nhỏ giọt,… nói làm sao hết trong những đôi mắt ngổ ngáo đã lắng dịu như mây thấp thật gần mà vời vợi cuối chân trời. Nỗi hận lòng trút vô cái thìa nhôm; khuấy muốn vỡ cái ly miểng tái sinh đầy bọt; chứa một thứ nước uống đen quánh như dòng nhớ trôi theo bước người đi. Sao người ta có thể bỏ lại sau lưng những hàng cây; những góc tường có tên hai đứa ở một quán quen nào đó, những hè phố nhớ gót chân người đến hẹn lại lên… Sao người ta có thể bỏ trái tim vào nước đá để tê dại cảm xúc – ra đi; người ngồi nghĩ suy phương hướng-mù lòa – lao theo cuộc vượt thoát đã thành phong trào vượt biển. Sao anh đành bỏ em để ra đi một mình… chưa bao giờ dòng nhạc bolero lại ướt át đến thế, sớm thế trong những phận người còn viễn mộng xa xôi; tây đòi ham hiểu… Rồi một sáng tháng hai mưa về không hẹn, không gian màu chì làm nhớ những góc phố mây mù kỷ niệm, không có ai khóc thầm bên tách cà phê lách cách tiếng muỗng nhôm như kiến bò miệng chén không lối thoát; không còn chọn lựa nào khác hơn chiếc khăn tay tha hồ gói chuyện nghìn trùng xa cách; Chuyện taxi, bến bãi… rù rì, thủ thỉ bên ly cà phê thiếu không gian tráo trở của Sài gòn làm người ta nhớ nhau rưng rưng, “ôm em trong tay mà đã nhớ em những ngày sắp tới…” nhà dự báo thời tiết Thanh Tâm Tuyền có cái nhìn xuyên thời gian, không gian đến kính nể. Để một sáng tháng hai mưa về không hẹn, không giam màu chì làm nhớ những góc phố âm hồn lảng vảng trong mưa, nhớ những mặt người đầu xanh tang tóc, túm năm tụm ba để hợp khẩn nguyện cầu cho người đến được bến bờ sớm có tương lai; người nghìn thu yên giấc dưới lòng biển mẹ… Ô kìa, cái ghế quen của người đi không về; góc hóng tình đắc địa của kẻ chết còn trinh đã bỏ trống… Không còn ai dành giật một chỗ ngồi chỉ để ngắm trời mây cây lá; ngắm như không thấy một giai nhân để đêm về huyễn mộng khi Sài gòn tứ bề thọ địch; không còn ai để kể cho nhau nghe truyện Ba con cáo ở Sài gòn thời Bình Nguyên Lộc; Sài gòn của Sơn Nam với hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…; Sài gòn-Chợ Lớn đã đời lưu manh trong mắt Bùi Giáng……

Sài gòn của Sài gòn vì không có Sài gòn thứ hai trên đời, – nhận thức ùa đến khi đứng giữa thủ đô người Việt tỵ nạn cũng chỉ gặp lại những mặt người đã một lần hớt hải bỏ lại Sài gòn. Những khâu vá lại một Sài gòn trốn chạy để thoả cơn hoài niệm hay khơi vết thương xưa? Quy tội báng bổ cũng không đành lòng với những người cón có Sài gòn trong góc nhớ đêm qua, mà làm ngơ đứt đoạn với Sài gòn cũng áy náy tâm can người chạy sau thì cũng là người trốn chạy. Sài gòn không mảnh rác giữa thủ đô tỵ nạn không phải là Sài gòn của niềm nhớ không tên; không có mùi chợ chiều ở cửa tây chợ Sài gòn; mùi sâm bổ lượng hắt hiu trong gió hay lòng gã học trò nghèo hiu hắt gió đi qua… coi như mình mới ăn xong ly sâm bổ lượng, còn thơm mùi nhãn nhục nơi cuống lưỡi. Làm sao gọi là Sài gòn khi không có cái oi bức của thời tiết, rồi trời bỗng mưa rào cho cống ngập bắp chân ai; Sài gòn không có những lọn gió hanh hao tự biển về xanh xao hoa cúc, hoa vàng mấy độ cho vừa áo em thì hoa mai đã nở rộ trước sân nhà… Sài gòn bát ngát trong thơ văn từ tiền bối đến hậu sanh. Sài gòn trong mưa sùi sụt nỗi nhớ của một du sinh: “… có lẽ bây giờ bạn bè đang chia nhau ly cà phê sáng trước cổng trường. Ngôi trường của những người học dở, không thân thế thì vào tạm qua ngày. Nhưng khi ngồi một mình với màn đêm và gió lạnh ở nơi thật xa; thèm hớp ké thằng bạn hớp cà phê buổi sáng mà nó đang uống dè, sợ hết… Nhớ ngôi trường bèo nhèo; nhớ Sài gòn; nhớ hôm bước chân đi; và nhớ…”

Sáng tháng hai mưa về không hẹn, ngồi đọc blog của người bạn trẻ nhớ Sài gòn. Bạn ơi! trước tôi đã có nhiều người nhớ từng góc phố; sau tôi có bạn nhớ ngôi trường, thèm hớp ké hớp cà phê buổi sáng của người bạn đang uống dè, sợ hết… Bạn đã làm cho tim tôi thắt lại: nỗi bùi ngùi của những người từng sống; đã có và mất đi những góc phố của Sài gòn – không có từ ngữ nào diễn tả hết tình yêu và nỗi nhớ những góc phố đã ăn sâu vào máu thịt. Hãy hớp ké ly cà phê mưa của tôi đi, ta hỏi chuyện Sài gòn với tiền nhân; kể nhau nghe về một tình yêu tự phát đến muôn đời của người đã từng ngồi xuống một góc phố ở Sài gòn-và uống ly cà phê-như uống Sài gòn vào viễn mộng. Bạn biết không, trong tờ khai sanh của tôi ghi nơi sanh là quận Nhì. Nhưng tôi chỉ nhớ tôi được sanh ra ở Hòn Ngọc Viễn Đông. Thời ấy, Sài gòn đơn sơ với tên gọi địa danh bằng số như: quận Nhứt, quận Nhì, quận Ba, quận Tư… Quận Năm – Chợ Lớn. Miệt Bà chiểu lên Gò Vấp, rẽ ra Thị Nghè, hình như tôi nhớ gọi là vùng Gia Định. Vì có mộ Tả quân Lê Văn Duyệt mà sau này chúng sanh gọi là cà phê Gò Mả, xéo ngang trường Cao đẳng Mỹ thuật, đối diện bệnh viện Nguyễn văn Học; nếu đi vào hẻm nhà xác bên hông bệnh viện, bạn có thể luồn ra rạp Đại Đồng theo hướng tay phải; bằng không theo hướng trái thì ra chợ Cây Quéo… Xin lỗi, tự nhiên đi vào cấm địa nên dòng nhớ tôi tuôn ra……

Hòn Ngọc Viễn Đông thời thiên đình sai tôi xuống bán báo, dân cư còn thưa thớt lắm. Kiến trúc mang phong cách Tây phương, làm tôi có cảm giác Sài Gòn bự sự; hay mình quá nhỏ nhoi giữa Sài gòn thuở đó – tới muôn đời sau – tôi cũng không thích trưởng thành đâu! Sài gòn của thời tôi đi bắt dế cơm, cào cuống bên hông trường Văn Khoa; đá banh mỗi ngày ở sân Hoa Lư mới thật là một Sài gòn trong trái tim tôi. Thời này tôi chưa ngồi quán… vì sợ mấy xe nước mía; nước đá xí mụi bán ế! Nhưng tôi có nghe kể, có khi đọc được trong thơ văn tiền bối về quán xá lúc bấy giờ: Sáng ra Thanh Bạch trên đường Bonnard (Lê Lợi) ăn bò kho danh bất hư truyền. Bò kho Thanh Bạch khác bò kho Chợ Lớn. Một so sánh khập khiễng quá chừng của tiền bối nên tôi không dám lạm bạm; Theo tôi, đã vô Chợ Lớn ăn sáng thì sao không ăn hủ tíu bánh bao, mì vịt tìm, mới đúng địa chỉ. Ăn rành trong Chợ Lớn rồi thì kêu một tô hủ tíu xa tế cho nồng nàn. Loại hủ tíu mà nấu bằng thịt bò; nước sauce sền sệt và cay, màu nâu nhạt ánh hồng từ màu tương với đậu phộng xay làm ngất ngây hồn ta… Ăn vào một sáng cuối năm, tiết trời se lạnh; trong tiếng chuông nhà thờ Cha Tam lạc lẻo và lạt lẽo trong bầu trời khói nhang nghi ngút của người Tàu. Sau đó, uống ly trà cúc bỏ miếng đường phèn. Mùi thơm hoa cúc xông lên xoan mũi, theo ngã tư quốc tế: mắt tai mũi họng toả đi muôn phương tới nghe mềm phế phủ như Duyên Anh rêm mé đìu hiu……

Xin lỗi bạn, tôi lạc đề qua ẩm thực mất rồi, ta về lại Sài gòn thập niên solex, có người con gái kẹp vạt áo dài xuống yên sau, chiếc nón lá lật ra sau mái tóc theo gió… cái xe đen tuyền như tiểu hắc ô, tôi thấy trên đường đến quán Phạm Thị Trước ở góc đường Pasteur-Bonnard, ăn sáng Paté Chaud với vài người quen tên trên sách vở, tôi không chơi với mấy vị này vì họ già hơn tôi nhiều quá! Buổi chiều ra Thanh Thế, trên đường Nguyễn Trung Trực lai rai, hay Kim Hoa góc Lê Lợi-Pasteur, quán Chez Albert ngoài Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao… làm ly Martell cho rõ dân trường Tây không uống rượu Mỹ. Khi màn đêm hạ cánh xuống tàn me, giật mình không ngờ ta đang sống trong thanh bình mà sao say sớm; mai giặc về tìm đâu chút bình yên. Mà thôi, ăn nhậu té xuồng chết sớm như Lý Bạch thì ai làm thơ, cà phê cũng đủ khơi nguồn sáng tạo. Ta ra Kim Sơn nhé, ở góc Bonnard-Nguyễn Trung Trực. Chiều nay nhé, hãy ngồi xuống hàng hiên quán, gọi một tách cà phê nóng. Ngồi nhâm nhi hương thơm vị ngọt thướt tha như tà áo ai trông quen mà lạ ngoài phố chiều chưa có tiếng đạn bay……

Bạn biết La Pagode không, trên đường Catinat, đường Tự Do đó. Từ khi Đồng Khởi mất Tự Do. Không biết câu thơ này thì không phải dân ngồi quán; tôi nói bạn nghe, đừng kể với ai nhé! Tôi nghe nói cây me bên kia đường của quán La Pagode, đã nhớ khách quen nên viết câu thơ này. Sau đó bị người ta cưa trừng trị – bán thớt me hết rồi. Thiệt là cái chết kẻ sĩ. Nghe nói ông Me chết để tưởng nhớ những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân… đều là khách quen của La Pagode cả đấy bạn ạ! Khi tôi lớn tôi có đến ngã tư đường Lê Thánh Tôn-Tự Do, với vài trang sách cũ, ngồi uống cà phê với quý ngài… tôi mới nổi giận ra về vì tình cờ phát hiện ra, tiếng Việt có bao nhiêu thơ từ hay, các cụ xài mẹ nó hết rồi; đời sau tịt thơ vì lắt léo cỡ nào cũng giẫm lên dấu chân các cụ. Nhưng cũng có hôm tôi trở lại, cha mẹ hư con cái cũng có trách nhiện chớ bộ. Tôi ngồi đó thả hồn vô màu xanh của lá, ngỡ hồn mình là rừng, xác mình là ăn xin vì rách rưới lắm! Mấy người ngoại quốc nhìn tôi; tôi không chịu được cái nhìn thương hại của người ngoài đâu; tôi ăn mày chữ của tiền bối tôi chứ không ngoại lai, đừng nhìn tôi như thế!

Tôi chán La Pagode, thả xuống Givral đối diện Continental, cũng trên con đường Catinat thơ mộng này, dừng chân phiếm đàm với cánh báo chí. Nghệ sĩ… đủ cả. Có khi tôi qua Brodard khi thèm cốc rượu mạnh thì ở dưới nhà, trên lầu cũng cà phê như những quán kia thôi. Ngồi chiêu vài shot thấy Sài gòn lung linh… đã lắm.

Hôm tôi theo anh bạn bán thuốc lá thùng gỗ, mà thích uống rượu chát Pháp chính hiệu nên không theo tôi vô Brodard, anh ấy dẫn tôi đi vài bước đã đến quán Imperial-Hoàng Gia của ông Tây già. Ngồi uống rượu đỏ vùng Bordeaux, nhấm trứng cá hồi Cavias, không thích thì có Fromage Camembert, nghe anh ấy nói về vùng Bordeaux như quê nhà  anh ấy, nơi phong thổ hữu tình, cấu tạo địa dư thuộc loại đất đá vôi, thích hợp cho cây nho phát triển về thể chất, trong khí hậu thích hợp nhất cho cây nho… nhưng hương vị không thể nhầm lẫn được với chùm  nho uất hận hay giống nho nào khác trên thế giới vì những cô gái hái nho ở Bordeaux đã cười nói đến thấm vào trái nho trước khi đem đi cất rượu…

Bạn trẻ à, anh còn thức hay đã say tình cô hái nho bên Bordeaux, những gì tôi kể với anh nãy giờ là sáng nay bỗng nhớ ông già vá xe đạp ở đầu ngõ nhà tôi. Ông hay kể tôi nghe thời ông làm nhà báo ở Sài gòn. Tôi qúy ông lắm, kho tàng Sài gòn của tôi đó. Ông là quán rượu cổ, quán cà phê lâu đời như chòm tóc bạc không buồn chải của ông. Ông bỏ đi rồi, nhưng tôi thỉnh thoảng cũng dừng bước ở những quán xưa, để nhớ người cũ thôi mà. Anh chê tôi không có góc phố của mình à? Tôi có đó, anh muốn nghe không? Hoài niệm của tôi bát ngát như lòng tôi hướng về Sài gòn từ ngày anh chưa bước tới – để có ngày ngồi viết blog – khêu gợi lòng tôi.

Cái quán cà phê tôi nhớ nhất, tên Thanh, nằm ở đường Nguyễn Văn Thoại, quận 3. Là ngôi nhà xưa, xây cất theo Tây, có bậc tam cấp… quán duy nhất có nhạc Pháp trong thời bưng bít, tuy không lời nhưng đã đíu lắm rồi. Tiếc là tôi không đến đó thường được vì lương đi học của tôi lúc ấy là 45 ngàn đồng/ tháng. Chỉ đủ hai ly cà phê đá với bốn điếu Jet. Tôi ngồi uống cà phê chay với bà cụ sinh ra mấy đứa con tôi bây giờ. Tôi khoái cụm từ của nhà văn T.Vấn khi giới thiệu về má xấp nhỏ; tôi người Sài gòn, không ăn nói văn chương được như bác Vấn di cư.

Tới thời mở cửa thì vô thiên lủng, quán cà phê hạng sang, cà phê đèn mờ, cà phê Ali Baba ở Trần Quang Khải – y hình quán tên Hồng hay Mây Hồng gì đó! Nhưng có cô thâu ngân y chang tài tử trong phim Ali Baba và bốn mươi tên cướp, nên bốn trăm ngàn tên giặc ở Sài gòn thời tôi đều gọi quán đó là quán Ali Baba. Sau này nữa, cà phê biệt thự sân vườn mọc lên như nấm sau mưa. Tôi cũng sau cơm mưa đói nghèo, đã có rủng rỉnh trong túi để đến những nơi… không biết không phải dân sành điệu theo quan điểm mới. Trong khi tôi thuộc loại người hoài niện nên tôi nhớ hoài những góc phố chơi vơi; những quán vỉa hè chênh vênh giữa Sài gòn đổi chủ. Cà phê Gò Mả là nơi tôi vinh hạnh được mời nhà thơ Bùi Giáng điếu thuốc lá… điếu thuốc lá cho phép tôi treo chân dung ngài chỗ bàn làm việc của tôi ngoài garage. Tôi xé tờ báo Việt Ngữ có trang tưởng niện Bùi Giáng một cách vui mừng như gặp lại ông đang bị lót dưới chảo chiên chả giò cho dầu khỏi văng. Tôi cứu ông một bàn thua trông thấy, không cảm ơn mà cứ nhìn tôi viết, rồi cười cười, làm tôi hổ thẹn.

Anh biết không, có khi tôi ngồi trên đống tiền, một chân ngoài đời một chân trong tù. Nhưng nhâm nhi cốc cà phê gốc phố, tôi nghe được linh hồn dị thảo trong thành phố tôi yêu, tôi gặp lại bạn bè đã tứ tán theo phong trào vượt biên, tôi gặp lại mình trong tình yêu mới lớn, nơi một góc phố tĩnh yên với rụt rè… Tôi ngồi hẳn trong tôi, bất động trước dòng đời, dòng nhớ chảy quanh… tôi gặp lại mình lạ hoắc lạ huơ. Chơi vơi. Chênh vênh… cho đến ngày rời xa Sài gòn mà tôi không mong hay ít nhất cũng chưa nghĩ tới ngày trở lại. Tôi ngồi nghe gót giày quen thuộc của ai đó đang đến với tôi nơi góc phố có quán cà phê thì thầm; tiếng ai cười trong veo khi hùn tiền với nhau vừa đủ hai ly cà phê dưới dạ cầu Ông Lớn. Nơi có vạt nắng chiều vừa đủ để quên nhau, “uống xong ly rượu cùng nhau/ hẹn rằng mãi mãi quên nhau muôn đời…” tôi thường so sánh thời buổi để kiểm chứng suy niệm của Bùi tiên sinh, thiệt là đi trước thời đại… những suy nghĩ miên man như lục bình tím ngát biết về đâu, nên nhớ hoài những góc phố, có quán cà phê chênh vênh một thời……

Anh bạn trẻ tôi ơi! Hôm nào mưa sụt sùi, ướt sũng nỗi nhớ Sài gòn. Anh hãy tả lại những quán cà phê góc phố trong thời đại anh, để tôi biết với. Hớp hớp cà phê của bạn bè chưa hạ cốc đã nghe nó chửi; nhưng hương vị một thời từ đó không quên… nhớ lây tới những quán cóc đã thành linh hồn con phố cao sang vì nó chơi vơi, chênh vênh như những mảnh đời không nơi nương tựa giữa đổi thay nhất thời; vạn đại vẫn là những quán cà phê bên góc phố đích thực làm chứng nhân lịch sử; chứng nhân cho một giống nòi; chứng nhân cho một cuộc tình; chứng nhân không phải mình nên còn hoài góc phố có quán cà phê……

Phan

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2013