CHỈ MỘT CHÚT T̀NH

 

 

 

 

 

Kẻo mai này ...

 

Tôi biết ông từ những năm 70s. Lúc ấy chúng tôi đang ở trại cải tạo Vĩnh Quang thuộc tỉnh Vĩnh Phú, vùng trung du nổi tiếng với những đồi trà bát ngát và dăy núi Tam đảo. Ông ở đội 14 Nông nghiệp gồm phần lớn các sĩ quan cấp tá. Tôi ở đội 8 Nông nghiệp kiêm Văn nghệ gồm phần lớn sĩ quan cấp uư. Năm ấy, ông ở vào khoảng tuổi “ tri thiên mệnh “. Nay ông đă “ thất thập cổ lai hy “. Năm ấy, tôi vẫn c̣n “ nhi lập “, mà nay đă là “ tri thiên mệnh “. Thời gian như bóng câu. Thấm thoát đă hơn 20 năm. Dài hơn cả quăng đời 15 năm lưu lạc của nàng Kiều. Thế mà đă 20 năm rồi ư ? Tôi ngậm ngùi tự hỏi khi cầm tập thơ “ Chuyện ngày xưa “ ông gởi tặng. Tôi có một thói quen. Khi cầm một quyển sách hoặc tờ tạp chí, tôi chỉ thoáng lướt qua tờ b́a hoặc trang nhất, rồi lật ngay qua b́a sau hoặc trang cuối. Đoạn trích bài tựa in ở b́a sau tập thơ làm tôi bùi ngùi : “ Cuộc đời phù du dâu bể, vật chất phù vân sớm về tối đi, phải chăng chỉ c̣n lại chút t́nh cho người, cho ta…” Tôi nhắm mắt lại. Thoáng trong trí tôi một câu văn đọc đâu đó. Đại ư về những ngày xa xưa thật xưa. Người viết muốn được ai đó cầm bút ghi lại. Kẻo mai này … trí nhớ tiêu hao.

Kẻo mai này trí nhớ tiêu hao. Ôi  kiếp người c̣m cơi. Suốt đời là một kiếp tha hương. Bao nhiêu năm lưu đầy quê nhà và c̣n bao nhiêu năm nữa lưu đầy quê người. Có vui chăng chỉ là một chút t́nh cho người … cho ta … để :

 

                                                       “ Mơ thấy dáng em tuổi dậy th́

                                                                     Gío xuân tha thướt tà áo Việt

                                                                                                                                             E ḷng c̣n nặng cánh chia ly.”

 

                                                                                                                                               ( Tết Ca Li – Như Hoa )

 

 

E ḷng c̣n nặng cánh chia ly

 

Tháng 5 năm 1982, phần lớn tù cải tạo trại Vĩnh Quang được chuyển vào Xuân Lộc , Long Khánh. Tại trại Z30A Xuân Lộc, tôi may mắn được biên chế ở cùng pḥng, cùng đội và nằm cách ông một người tù già khác. Dù đă biết ông từ khi c̣n ở ngoài Bắc, nhưng chỉ đến lúc này, tôi mới biết rơ hơn về ông. Bên dưới dáng người mỏng tanh, miệng như lúc nào cũng sẵn nụ cười, chân bước thấp bước cao ( dạo ấy ông bị bệnh thần kinh tọa ) là một trái tim rất văn nghệ. Đêm thứ bảy nào, sau khi buồng giam đă tắt đèn và mọi người đă vào nằm trong mùng, tôi đều đàn và hát cho đến rất khuya. Sợ làm khó chịu các anh em không thích nghe nhạc hoặc chê tôi hát dở, tôi đàn rất nhẹ và hát rất khẽ. Nhưng giữa đêm khuya của rừng núi, tiếng đàn hát dù nhỏ và nhẹ cách mấy, cũng đều nghe rơ mồn một, ( và dù có dở cách mấy ), cũng đều gây một cảm giác ngậm ngùi. Nhất là với những người tù không biết ngày về như anh em chúng tôi. Dần dà, đă thành một thói quen. Tối thứ bảy, tôi thức khuya đàn hát. Các anh em cùng pḥng thức để nghe ( hôm sau chủ nhật, mọi người được nghỉ lao động ). Những bài hát về thân phận con người. Về những mối t́nh tan vỡ. Về một kiếp lưu đầy. Người cuối cùng thức với tôi mỗi tối thứ bảy là ông. Sở dĩ tôi biết được là v́ tiếng ông đằng hắng. Rất nhẹ và mong manh. Rồi từ từ, một cách rất khiêm tốn, ông cũng tham gia hát. Những bài hát Mỹ của thập niên 50s. Qua ông , tôi được biết bài Tennessy Waltz bất hủ. Sau này, tôi đă viết lời Việt cho bài hát và dùng để tán người sẽ là mẹ của các con tôi. Giọng hát ông, cũng như thơ ông, cũng như con người ông, nhẹ nhàng chứa chan t́nh cảm. Thứ t́nh cảm không sôi nổi nhưng rất dịu dàng. Ông kể cho tôi nghe về những ngày ông du học tại Mỹ. Về bài thơ “ Gĩa từ Monterey “, với cuộc chia tay người t́nh bản xứ không biết bao giờ gặp lại. Cuộc chia tay ấy hẳn phải là u uất nặng nề lắm. Nhưng không, những câu thơ thật nhẹ, thật mong manh :

 

“ Hè Monterey

  tôi từ biệt nàng

  Cuối đường Fremont chạy dài ra bể.

  Nàng hỏi, chiến tranh khi nào dứt ?

  Tôi đáp, không nói được tương lai

  Tôi hỏi, t́nh ta khi nào thôi ?

  Nàng nh́n tôi

  Đôi mắt xanh biếc

  Chẳng nói

 

                        ( Gĩa từ Monterey – Như Hoa )

 

Ông viết bài thơ này vào tháng 4 năm 1974 tại Monterey. Ông không biết rằng, chỉ đúng một năm sau thôi, là chiến tranh sẽ chấm dứt ( một cách tức tưởi ). Và ông sẽ bị ném vào trại cải tạo. Và chân ông sẽ bước thấp bước cao, không phải ở “ cuối đường Fremont chạy dài ra bể “, mà là trên khắp các nẻo đường quê hương, với :

 

“ Mùa đông gío rít lạnh

  Nắng hè cháy thịt da

  Đất cày lên sỏi đá

  Khoai sắn chẳng no ḷng “

 

                         ( Mảnh đất t́nh quê – Như Hoa )

 

Tôi chợt nhớ những đồi trà mênh mông dưới chân rặng Tam Đảo. Tôi chợt nhớ những đồi khoai ḿ bát ngát bao bọc lấy khu trại Vĩnh Quang. Những buổi chiều cuốc đất trên đồi vời trông về một miền cố hương xa tít. Thèm một bữa ăn no. Thèm một chén trà nóng. Thèm một đôi bàn tay mềm mại. Chỉ cầm thôi để nghe mềm nhũn cả châu thân. Trời cuối tháng mười se se lạnh. Thỉnh thoảng những cơn mưa nhẹ chỉ đủ làm ướt áo. Tấm áo vá của muôn ngàn nỗi đau. Ôi mùa thu đất Bắc. Đẹp biết bao trong văn thơ hoài cổ nhưng cũng ảm đạm biết bao cho những thân phận lưu đầy. Nhưng ở ông, những điều tưởng chừng như sẽ để lại vết hằn rất sâu trong tâm hồn nhậy cảm của ông, lại được hóa giải một cách rất nhẹ nhàng, như nụ cười ông, như giọng nói ông :

 

“ Vận nước nổi trôi

  Chí trai không tṛn

  Tôi đi tù

  Mẹ ǵa không nơi nương tựa. “

 

                            ( Mẹ tôi – Như Hoa )

 

Thời gian tôi gần gủi ông cũng vài năm. Nhưng trong trí nhớ c̣m cơi của tôi, tôi không moi ra được cái h́nh dung về khuôn mặt ông lúc giận dữ. Dù rằng, tôi biết ông có nhiều điều để giận dữ. Tôi chỉ c̣n nhớ được nụ cười hiền và nét đăm chiêu.

Tuy ông là người lúc nào cũng cười, dù trong những năm tháng đáng khóc nhất, nhưng ông lại ngạc nhiên khi thấy người con gái yêu của ḿnh lúc nào cũng … cười :

 

“ Đói khổ và bất hạnh

  Cớ sao cô lại cười

  Nào ai trả lời đặng

  Riêng chỉ nàng biết thôi. “

 

                         ( Nụ cười – Như Hoa )

 

 

Một chút t́nh ...

 

Cuộc đời phù du dâu bể, vật chất phù vân sớm về tối đi ... “ Hay nói một cách khác, cuộc đời vốn bấp bênh. Mới đó mà đă mất tăm. Mới đó mà đă biền biệt. C̣n chút t́nh nào cho nhau, xin hăy cho ngay hôm nay. Đừng nấn ná chờ đợi. Kẻo đến một lúc nào đó ... qúa muộn. Tuổi ông đang mấp mé bên bờ tử biệt. Mà h́nh như tôi cũng vậy. Nào ai biết được, khi buổi sáng thức dậy không c̣n biết trước hiên nhà có vuông nắng ngọt ngào, nh́n thấy mà thèm sống đến muốn ... chết được. Hay một buổi sáng không c̣n thức dậy được nữa. Mà đă lặng lẽ một ḿnh về cơi quạnh hiu. Cái bến bờ hiu quạnh ấy ai cũng sẽ một lần qua, nhưng bởi không biết bao ǵờ nên cuộc đời này vẫn c̣n được chút niềm vui.

 

Đă hơn 10 năm nay, kể từ khi qua Mỹ định cư, tôi không gặp lại ông. Sự liên lạc giũa chúng tôi chỉ là những trang thư ( mà phần lớn là ông viết. Nét chữ viết tay phóng khoáng bay bay giữa nền giấy trắng như mây ).  Và tất nhiên, những cuộc điện đàm viễn liên. Giọng ông vẫn nhẹ. Ân cần và chăm sóc. Dù đối với một người đă hơn một lần phụ ḷng ông. Trước đó, khi c̣n ở Sài G̣n, tôi thỉnh thoảng vẫn gặp ông. Đôi khi, t́nh cờ gặp nhau ở một chỗ bán sách cũ. Hoặc trên đường cả hai đang c̣ng lưng đạp vội đến một địa điểm bán chữ nào đó. Chúng tôi chỉ đủ th́ giờ mời nhau điếu thuốc, trao đổi nhau vài “ kinh nghiệm ... kiếm cơm “ rồi thôi. Ai cũng bát nhào với miếng cơm manh áo. Những câu chuyện văn nghệ biến mất hẳn giữa những xuôi ngược ngược xuôi của ḍng sống. Một đôi khi, ông có nhẹ nhàng hỏi tôi dạo này có viết lách ca hát ǵ không. Tôi chỉ cười không trả lời. Ông hiểu. Nhưng tôi biết, ông vẫn có những nhóm bạn bè tụ tập đọc thơ ca hát  hàng tuần. Lúc ấy, tôi h́nh dung ông như viên công chức già. Sáng sáng, đủng đỉnh ra quán cà phê Tàu đầu hẻm, gọi một ly bạc xỉu ( Sữa pha chút cà phê ), rồi từ tốn nhấp từng ngụm, nh́n ḍng người hỗn độn những xích lô máy, những xe lam, những xe thồ túa ra khắp các nẻo đường bụi bặm. Ly sữa cạn, ông đứng dậy, đủng đỉnh ḥa vào ḍng người tất tả. Nói cách khác, ông không quay lưng lại cuộc sống. Nhưng ông bước vào cuộc sống với phong cách riêng của ông. Chẳng thế mà, Trần Kiêm Đoàn, trong bài Cảm Nghĩ in ở đầu tập “ Chuyện ngày xưa “ đă nhận xét : “ Thơ Như Hoa rất thật. Hầu hết bài thơ nào cũng hướng về một đối tượng cụ thể nào đó. Khung trời thơ Như Hoa là thế giới của con người chung quanh Anh...” Đôi lúc tôi thèm được cái ung dung tự tại của ông. Cái ung dung tự tại của một người thường kiềm chế được cảm xúc của ḿnh. Tôi nói “ thường “ có nghĩa là có đôi khi ông cũng “ hơi buông thả “.Tôi tâm đắc với nhận xét của Cao Thanh Tâm “ Nếu người đọc muốn t́m trong thơ của Như Hoa Lê Quang Sinh những rung động đam mê của t́nh yêu th́ có lẽ hơi khó, hoạ hoằn lắm mới t́m ra một bài thơ t́nh hiếm hoi trong tập thơ của anh như bài Đường Trăng.

 

“ Có những buổi tinh cầu nḥa một nửa

 ôm con buồn- ngơ ngác trộm nh́n em “

 

          ( Đường Trăng – Như Hoa )

Ôm con buồn- ngơ ngác trộm nh́n em. Thế th́ buông thả lắm. Trong cái bất chợt của trời đất lúc giao mùa, ông đă không c̣n là ông. Nhưng tôi lại yêu ông hơn khi biết ông có những điểm ... giống tôi. Chỉ khác là kẻ ồn ào sôi nổi, người lặng lẽ âm thầm. Nhưng khi những đợt sóng ngầm thúc đẩy ông đi xa hơn nữa, th́ ông không chỉ “ trộm nh́n em “ mà c̣n “ dám “ ngỏ lời :

 

“ Qua lối trúc em nỡ nào chẳng ngó

  Anh đỉnh hồn treo lủng lẳng trái băn khoăn

  Em gánh nước hay gánh t́nh ai đó

  Để anh buồn quay quắt cả đường trăng “

 

           ( Đường Trăng – Như Hoa )

 

Giờ đây tôi mới biết ông bạn ǵa của tôi cũng có những lúc buồn quay quắt  ( cả đường trăng ).

 

Lại ... một chút t́nh

 

Một chút t́nh của ông cho tôi và của tôi cho ông ngày xưa ( nghe như từ tiền kiếp nào ), không biết bây giờ có bớt đi chút nào không. Người Mỹ có câu : out of sight, out of mind . Xa mặt cách ḷng. Giờ đây chúng tôi ở xa nhau. Rất xa. Khoảng cách không gian tính bằng đơn vị dặm ngàn. Khoảng cách thời gian là kẻ “ tri thiên mệnh “, người “ cổ lai hy “. Nhưng dường như ông vẫn c̣n đồng cảm được với tôi. Như ông đă đồng cảm với bao người bạn khác. Và tôi, vẫn c̣n giữ được ở ông một chút t́nh. Ông ở chốn xa xôi đô hội ấy, dẫu tuổi ǵa sức yếu, vẫn ḥa được vào ḍng sống tha hương bằng phong cách riêng của ḿnh. Từ tốn, chậm răi, nhưng bền bỉ.Và ông đă t́m được ư nghĩa cuộc sống. Tôi nghĩ vậy. C̣n tôi, vẫn mải mê mê mải – không phải trong ḍng sống ḿnh hằng mơ ước – mà là “ sự hội nhập “ ( một khái niệm chua xót ).Ông- người ung dung tự tại dưới con mắt tôi – vẫn t́m được cho ḿnh những giây phút “ buồn quay quắt cả đường trăng “.C̣n tôi, mười năm đốt đuốc soi rừng đi t́m một khuôn mặt ḿnh xa lạ. Không có được một giây phút cô đơn của riêng ḿnh. Ngày xưa, tôi thèm được cái ung dung tự tại của ông. Ngày nay, tôi lại thèm được cái “ buồn quay quắt “ của ông. Đời tôi là một cuộc rượt đuổi, có lẽ. Hay là một bi kịch điển h́nh của lớp tuổi năm mươi đang lênh đênh trên biển đời xứ lạ ? Tôi không biết.  Nhưng tôi biết là tôi muốn viết về ông, như để thanh thản một chút t́nh. Nhưng h́nh như là tôi đang viết về thơ ông, như để t́m trong đó chút đồng cảm. Loay hoay măi giữa mớ hỗn độn của chữ nghĩa, tôi lại h́nh như đang viết về tôi, như để t́m lại  cái tôi đă đi lạc  giữa xứ người từ 10 năm nay. Dẫu sao, ông sẽ mỉm cười độ lượng. Như ông đă từng độ lượng. Xin gởi đến ông một lần nữa mấy câu thẩn. Như những lời đồng cảm :

 

Thi sĩ già

Ngồi nặn thơ bên bờ sông lạnh

Mặc đời trôi dặm đường cô quạnh

Khóc oa oa.

© T.Vấn 2007