Lời cám ơn muộn màng

● Gởi đến
chị Trần Anh ở
1.
Cả hội trường
đầy ắp người. Họ im lặng, chăm chú nh́n
người phụ nữ nhỏ nhắn, tha thướt
trong chiếc áo dài Việt
Bằng một động tác rất thùy mị
của người phụ nữ Việt Nam, chị cúi đầu
chào cử tọa, và cất tiếng tự giới thiệu
về ḿnh và về đề tài chính sẽ được
thảo luận bằng thứ tiếng Việt thật
chuẩn xác, chậm răi như để cho người
nghe có th́ giờ hiểu được những ǵ chị
muốn truyền đạt đến cử tọa. Sau một tích tắc ngạc nhiên, tôi hiểu được
ư định của chị. C̣n cử tọa cứ
tṛn xoe mắt mà thắc mắc, không hiểu người
phụ nữ xa lạ kia – người hiện đang
giữ một chân phụ tá trong việc giảng dậy tại
trường Đại Học lớn nhất thành phố
– đang say mê thao thao bất tuyệt những điều
ǵ. Vài người đưa mắt nh́n tôi ḍ hỏi. Tôi chỉ mỉm cười ngụ ư hăy kiên nhẫn.
Sau khoảng 2 phút nói bằng tiếng Việt,
người phụ nữ diễn giả bỗng ngưng
lại, kèm theo một nụ cười duyên dáng chị hỏi
cử tọa - bằng một thứ tiếng Anh không kém
phần chuẩn xác như tiếng Việt chị vừa
xử dụng – rằng có ai hiểu chị đang nói ǵ không ? Tất nhiên , chị
nhận được những cái lắc đầu có vẻ
bối rối ( và cũng tất nhiên, phải loại trừ
vài người Việt
Từ đó, chị bắt
đầu đề tài của ḿnh. Chị nói về những
rào cản ngăn chia con người khiến cho nhân loại
không thể xích lại gần nhau hơn nữa được.
Tất nhiên, một trong những rào cản lớn nhất
là sự khác biệt về ngôn ngữ, phương tiện
hữu hiệu nhất đưa con người tới chỗ
cảm thông, chia xẻ , sinh sống và
làm việc chung với nhau. Nhưng, theo chị, c̣n có những
rào cản khác mà ảnh hưởng của chúng nặng nề
không kém ǵ rào cản ngôn ngữ, đă đẩy con
người xa nhau, thậm chí hận thù nhau và là một
trong những nguyên nhân khiến thế giới không lúc nào
không có những cuộc xung đột bạo lực hay
không bạo lực, và hệ quả không thể tránh khỏi
là chiến tranh bùng nổ. Đó là thành kiến, ngộ nhận,
sự kém hiểu biết, ḷng cố chấp hẹp ḥi với
người khác chính kiến, sự không độ lượng
trước lỗi lầm của người khác v..v..Những rào cản này có mặt ở khắp
nơi, kể cả trong những xă hội nói cùng một
ngôn ngữ, chia xẻ cùng một nếp văn hóa, và
thậm chí ở cả những nhóm hoạt động, những
hội đoàn có cùng một mục tiêu cho sự kết hợp
của ḿnh.
Rồi chị nói về sự có mặt của
những cộng đồng di dân trên đất Mỹ, sự
tham dự của họ vào ḍng sống của đất nước
đă dang tay dung chứa họ, mà trước hết, là những
nỗ lực hiểu biết về đất nước
họ sinh sống – ngôn ngữ, tập tục, lề thói sinh
hoạt, làm việc v..v.. – mặt khác,
nhu cầu bảo tồn văn hóa riêng của những cộng
đồng di dân cũng thúc đẩy họ t́m cách biểu lộ chính
ḿnh, mời gọi sự học hỏi, hiểu biết,
cảm thông nơi người bản xứ.
Chị cũng nói cho mọi người ( Mỹ ) biết lư do chị có mặt trên mảnh
đất kỳ diệu này và con đường gian nan
nguy hiểm mà chị đă bị buộc phải chọn để
đến được bến bờ của Tự Do.
2.
Gần một năm sau buổi nói chuyện
rất thành công của người phụ nữ Việt
Nam có vóc người bé nhỏ tại hội trường
của Sở Bưu điện thành phố, tôi lại nh́n
thấy khuôn mặt quen thuộc ấy trên trang chính tờ báo lớn nhất thành phố.
Tờ báo tuyên dương những hoạt động của
chị trong hơn 20 năm từ ngày chị rời bỏ
quê hương thân yêu của ḿnh, lênh đênh trên chiếc
thuyền mong manh 5 ngày đêm đói, khát, rét, sợ hăi , rồi cập bến một bến bờ
bên ngoài tổ quốc bị đày ải, rồi từ đó,
chị chọn định cư nơi thành phố nhỏ
bé hiền ḥa này. Vừa đặt chân lên vùng đất mới,
chị bắt tay ngay vào việc xây dựng
cuộc sống riêng ḿnh, nhận một công việc làm tại
văn pḥng tiếp nhận người tị nạn đến
từ các nước. Chị đă
từng giúp đỡ hàng trăm, hàng ngàn người Việt
những ngày đầu tiên bỡ ngỡ đặt chân lên
mảnh đất xa lạ, xa lạ từ ngôn ngữ giao
tiếp cho đến cái khí hậu khắc nghiệt, khi
nóng th́ nóng chảy mỡ, mà khi lạnh th́ cũng buốt
da buốt thịt. Và đáng kể hơn hết, giúp một
cộng đồng non trẻ đi từng bước lẫm
chẫm thu dần khoảng cách về mọi
mặt sinh hoạt giữa họ và những cộng đồng
người dân bản xứ.
Đọc lời tường thuật về
những gian nan nguy hiểm trên con đường vượt
biên của một
người phụ nữ Việt Nam năm
ấy c̣n là một cô gái trẻ can đảm , những nỗ
lực học hỏi, làm việc và sinh sống nơi
xứ người, tôi nhớ
đến sự thán phục mà những người bạn
Mỹ của tôi dành cho chị trong buổi thuyết tŕnh
hôm xưa. Họ không tài nào hiểu nổi, làm sao mà người
phụ nữ với vóc người thật bé nhỏ như
thế kia, đă một thân một ḿnh vượt qua bao gian nan sóng
gió, hiểm nguy bất trắc, và chỉ trong hơn 20
năm định cư nơi xứ sở này, đă
tạo dựng cho ḿnh một vị trí khiến nhiều người
bản xứ phải ganh tị, và từ ganh tị đi
đến ngưỡng mộ. Chưa kể,
chị c̣n dùng khả năng và tấm ḷng của ḿnh giúp
các cộng đồng thiểu số xích lại gần với
nhau.
Người phụ nữ
ấy, một cách thầm lặng, biến những suy nghĩ
của ḿnh thành hành động. Và cùng với bao người di dân khác,
chị nỗ
lực gieo rắc sự hiểu biết cảm thông nơi
những cộng đồng hoàn toàn khác biệt nhau về
tiếng nói, màu da, về những sinh hoạt hàng ngày, khác
biệt cả về những món ăn trong mâm cơm gia
đ́nh mỗi chiều, về cách quản lư những tờ
ngân phiếu lương đem về nhà vào ngày thứ sáu của
vợ, của chồng, và có khi của cả con cái c̣n sống
chung với bố mẹ.
Nói cách khác, dù những khác biệt có lớn lao , nhưng những cố gắng từng
chút một của mỗi người – mà người phụ
nữ trên đây là một điển h́nh – của mỗi
cộng đồng nhỏ trong một cộng đồng
lớn , và góp nhặt lại từ ngày này sang ngày khác, từ
năm này sang năm khác, đă biến những khác biệt
lớn lao tưởng chừng như không san bằng nổi,
đă nhỏ dần, nhỏ dần rồi , một ngày nào
đó, sẽ từ từ mất hẳn.
Ngày hôm nay, sau hơn 20 năm nỗ lực,
một người phụ nữ Việt Nam đă
được cộng đồng bản xứ ghi nhận
sự đóng góp to lớn mà chị đă âm thầm gởi
đến cho mọi thành viên trong cộng đồng ấy.
20 năm trước, cộng đồng ấy c̣n là ân
nhân của chị và đồng bào chị khi họ mở
rộng ṿng tay đón những người tị nạn Việt
Nam, th́ 20 năm sau, họ phải thú nhận rằng chính sự
có mặt của những người như chị đă
làm cho cuộc sống của họ ư nghĩa hơn,
nền văn hóa vốn đa dạng của họ trở
nên đa dạng hơn, phong phú hơn .
3.
Tôi biết rằng , khắp
nơi trên nước Mỹ, hễ nơi nào có người
Việt định cư, hẳn nơi đó sẽ – không
nhiều th́ ít – xuất hiện những con người như
người phụ nữ đáng yêu ở nơi tôi cư
ngụ. Chúng ta – nhất là những người đến
nước Mỹ muộn màng – thường có khuynh hướng
mặc nhiên hưởng thụ những tiện nghi ( tinh thần ) mà những người khai phá
đă phải dày công phấn đấu để có được
sự hiểu biết , cảm thông, tôn trọng nơi
những cộng đồng khác – nhất là cộng đồng
người bản xứ – ở một nước pha trộn đủ mọi sắc
dân như nước Mỹ.
Cũng như
người Mỹ da đen hiện nay, họ mặc nhiên
hưởng mọi quyền lợi b́nh đẳng như
người da trắng, được tôn trọng phẩm
giá với tư cách một con người không phân biệt
màu da chủng tộc. Mấy ai trong số họ biết
và c̣n nhớ tới một người phụ nữ da đen tên là Rosa Parks (
vừa từ trần hôm 24 tháng 10 năm 2005, thọ 92 tuổi
), cách đây đúng 50 năm
đă dũng cảm nhất quyết không nhường ghế
ngồi cho một người đàn ông da trắng trên một
chuyến xe buưt ở thành phố Montgomery, tiểu bang
Alabama, ở vào thời điểm mà tệ kỳ thị
chủng tộc c̣n hoành hành và c̣n được hợp pháp
hóa , nhất là tại những tiểu bang miền Nam như
Alabama, Mississippi. Sau đó, bà bị bắt và đưa ra
ṭa. Sự kiện này đă dấy lên một phong trào đ̣i
hỏi dân quyền do những người da đen phát
động cùng với sự hỗ trợ của những
người da trắng hiểu biết. Khởi đầu
từ thành phố Montgomery, tiểu bang Alabama nơi diễn
ra hành động phản kháng tiêu biểu với bà Rosa Parks,
rồi từ từ lan rộng ra khắp nước Mỹ,
cho đến cao điểm
là phong trào dân quyền dưới sự lănh đạo
của mục sư Martin
Luther King JR. Và kết quả, nạn kỳ thị chủng
tộc đă bị đặt ngoài lập pháp, đặt
ngoài mọi sinh hoạt xă hội kinh tế chính trị từ trường học, nơi làm
việc cho đến các cơ chế ứng cử, bầu
cử cả cấp tiểu bang lẫn liên bang.
Tất nhiên, không phải chỉ một ḿnh
bà Rosa Parks có công trong việc tranh đấu cho người
da đen có được một vị trí b́nh đẳng
với tư cách con người trong xă hội Mỹ như
ngày hôm nay. Đó phải là kết quả của nhiều
hoạt động, nhiều hy sinh của rất nhiều
người trong cộng đồng – cả da trắng lẫn
da đen – cho một một mục đích chung.
Cũng tương tự như vậy, cộng
đồng di dân non trẻ người
Việt Nam hiện nay đang được hưởng sự
tôn trọng, sự cảm thông nơi những cộng đồng
khác cùng sống chung khắp nơi trên đất Mỹ
không phải chỉ nhờ vào những nỗ lực như
của người phụ nữ nơi thành phố tôi sinh
sống, hay những con người tương tự ở
các địa phương khác, mà phải ghi nhận cả
những đóng góp nhỏ nhoi nhất của từng cá
nhân, từ tinh thần siêng năng, kỷ luật , cầu
tiến biểu lộ nơi làm việc, đến ư thức
công dân, tham gia các sinh hoạt công ích, tôn trọng luật pháp
và nhất là thái độ sẵn sàng chia xẻ mỗi khi
có những sự không may xẩy ra trong cộng đồng
ḿnh hay những cộng đồng khác chung sống cùng địa
phương.
Đó là thành quả tập
thể của một cộng đồng. Nhưng
những hạt nhân bao giờ cũng nổi bật.
Và theo tôi, họ xứng đáng
được hưởng sự ghi nhận ấy.
Như một phần thưởng cho những
con người c̣n có một tấm ḷng.
4.
Sau khi khoe tờ báo phát hành hàng ngày của
thành phố có in h́nh và bài viết về một người
phụ nữ Việt Nam đă từng một lần đến
nói chuyện nơi đây với những người bạn
làm chung sở
, tôi cẩn thận lấy kéo cắt bài báo cất đi
vào một nơi trang trọng trong tủ sách của ḿnh.
Như một cử
chỉ trân trọng công sức của những người
Việt Nam tiên phong trên đất Mỹ đă góp phần tạo
nên một môi trường thuận lợi cho những người
đến sau sinh sống, làm việc và học hành.■
© T.Vấn 2006