Nhặt lại những mảnh vỡ

Viết thêm của tác
gỉa : Bài viết
này được viết vào tháng 8 năm 2005, nhân vụ
băo Katrina và Rita ḥanh hành
▪ . . . Có biết đâu niềm vui,
Đă
nằm trong thiên tai . . .
(T́nh khúc thứ
nhất - Nguyễn đ́nh Toàn, Vũ thành An)
1.
Từ cánh đồng nước New Orleans,
anh bạn già gởi cho tôi lá thư viết tay trên giấy
học tṛ(Mỹ), v́, theo anh, Bà mẹ Thiên nhiên ( Mother Nature
) đă nhận ch́m hết những biểu hiện văn
minh đầy nét kiêu bạc như máy vi tính, mạng nối,
thư điện tử v..v.. mà anh vốn quen dùng. Thật
lạ lùng, tờ thư khô ráo, không bị nước sông
Cơn băo
chưa kịp qua đi, mọi người đă lại
xắn tay áo đi nhặt những mảnh vụn của
đời ḿnh, cố hết sức chắp chắp vá vá.
Dẫu không c̣n được như xưa, nhưng ít nhất
cũng phải cho ra h́nh dạng một đời sống.
Ăn uống, ngủ nghỉ, đi học, làm việc và
lúc rảnh th́ ngồi ngoảnh nh́n quá khứ. Để chợt
giật ḿnh nhận ra rằng, trên cơi đời này chẳng
có ǵ là trường tồn, vĩnh cửu. Không có ǵ là không
có thể mất mát, hư hao. Bất kể những thành tựu
khoa học vượt bậc trong mọi lănh vực của
nền văn minh nhân lọai.
Sẽ có thể
có một ngày, cả hành tinh này sẽ biến thành những
mảnh vụn. Sá ǵ những mảnh đời c̣m cơi (
như anh bạn tôi). Và khi đó con
số hàng triệu con
người ở những tiểu bang miền Trung Nam
nước Mỹ vừa giàu có, vừa nghèo khổ, vừa
hào phóng, vừa keo kiệt kia hiện đang lang thang vất
vưởng trong những trại tạm cư cũng chỉ là con số rất
khiêm tốn.
2.
Huyền thoại về chàng công tử Mỹ Quốc hào
hoa phong nhă, giàu có đẹp trai , chỉ trong vài đêm
mưa gió băo bùng sấm chớp đầy trời đă bị
hai con Hồ Ly Tinh đội lốt nàng tiên tóc trắng trời đày
Katrina và Rita phá vỡ không một chút thương tiếc.
Thế ra, bên cạnh những biểu hiện giàu có nhất
trần gian này vẫn có những thực tại nghèo khổ
mà ít người tưởng tượng ra được.
Bên cạnh ḷng độ lượng hào phóng ( của
nước Mỹ huyền thoại, của American dream )
thường thấy mỗi khi thế giới phải lâm
vào những thảm cảnh dù là do người hay trời
gây ra, những tuần lễ vừa qua, người ta lại
chứng kiến hậu quả
của sự bủn xỉn (?), sự kỳ thị màu da
(?) trong các lănh vực chăm lo đời sống của
người dân trong nước của một nước
Mỹ hùng cường. Hay ít ra, đó cũng là lời buộc
tội của những tay hoạt đầu chính trị,
những con người cơ hội chủ nghĩa, mà thời
đại nào, chủng tộc nào, quốc gia nào cũng
đều có.
Nhưng dù cho những tay hoạt đầu
chính trị nước Mỹ có hùng hổ to tiếng đến
cỡ nào nhân vụ băo Katrina về tác phong quan liêu của
chính quyền nước Mỹ, th́ anh bạn già của tôi
– người đă từng
hơn một lần đi nhặt những mảnh vụn
của đời ḿnh mà chắp
vá lại – vẫn không thể không buông tiếng thở
dài mà nhớ về đất nước riêng của ḿnh với
một chính quyền ngàn lần tệ hại hơn, vô
trách nhiệm hơn, quan liêu hơn là những ǵ người
dân nước Mỹ đang lên tiếng phê phán chính quyền
của họ.
3.
Như mấy chục ngàn người Việt
Nam chọn thành phố New Orleans làm nơi vá lại những
mảnh vỡ vụn của đời ḿnh lần lượt
từ sau cuộc di cư từ Bắc vào Nam 1954 ( những
bà cụ già Việt Nam ngồi họp chợ chồm hổm
Versaille vẫn không quên chiếc khăn mỏ quạ mang
theo từ quê nghèo miền Bắc những ngày ấy hơn
50 năm xưa ) hay cuộc triệt thoái cao nguyên bi thảm
tháng 3 năm 1975 trên đường số 7 lịch sử
( mà cuộc di tản tránh băo Rita vừa qua của gần 1
triệu người dân Houston
trên Xa Lộ 45 nối liền
Houston-Dallas cũng chỉ mới sánh được một
phần trên phương diện nỗi đau khổ của
con người ) hay h́nh ảnh những con người bám
vào càng trực thăng mong t́m được một chỗ
lánh nạn trên một chiến hạm Mỹ đậu
ngoài khơi Thái B́nh Dương những ngày tháng 4 -1975 ( mà
những cuộn băng video
Thúy Nga hay Asia không lúc nào bỏ lỡ dịp cho đọan
phim lịch sử ấy xuất hiện trong những pḥng
khách sang trọng của người Việt khắp
nơi trên thế giới ) – th́ với anh bạn già của
tôi – một trong những cư dân gốc Việt của
New Orleans – khái niệm nhặt những mảnh vỡ vụn
của đời ḿnh sau một cuộc phong ba không hề
có ư nghĩa trừu tượng như trong những trang viết
văn chương phù phiếm ( của tôi ). Với anh, với
những cư dân gốc Việt
của thành phố New Orleans tiểu bang Louisiana, với
cả những cư dân gốc Việt của thành phố
Biloxi tiểu bang Mississippi, của Port Arthur, của
Galveston tiểu bang Texas, th́
khái niệm ấy cụ thể và có thật như nước
mắt của chính họ bao lần đổ ra khóc cho những
người thân yêu nằm xuống do trận đói năm
Ất Dậu, do trận băo năm Th́n , do những trận
chiến ác liệt như trận chiến năm Mậu
Thân; như cảm giác quặn thắt ruột gan khi nh́n sản
nghiệp nhỏ bé của ḿnh chiu chắt từ bao năm
phút chốc ch́m trong lửa đạn chiến tranh hay những
cuộc trường chinh bỏ phiếu cho tự do bằng
chính mạng sống của ḿnh , để lại sau
lưng cơ nghiệp một đời gầy dựng.
Nói cách khác, đây không phải là lần đầu tiên họ
làm công việc nhặt lại những mảnh vỡ vụn
của đời ḿnh. Chỉ khác một điều là nay
họ không c̣n trẻ nữa, tuy ư chí c̣n đó nhưng sức
khỏe đă giảm đi khi tuổi đời ngày một
chồng chất.
Nhưng tôi không
hề thấy trên nét mặt họ dấu hiệu của
sự đầu hàng số phận. Cam chịu th́ có cam chịu,
nhưng không than van. Và chắc chắn không đầu hàng.
Phải chăng đó là số phận nghiệt
ngă của đồng bào tôi ?
4.
Cộng đồng Người Mỹ gốc
Việt mới chỉ có 30 năm lịch sử trên mảnh
đất của những cơ hội (
Chúng ta đă quá
nhuần nhuyễn cái triết lư thật đơn giản
: Hăy tự cứu ḿnh trước khi trông mong người
khác đến cứu.
Nhưng những cộng đồng khác
trong khu vực bị thiên tai không hẳn đă học
được bài học mà người Việt Nam đă học
được trong lịch sử một ngàn năm Tàu thuộc
( ngoại trừ vua Lê Chiêu Thống ) , một trăm
năm Tây thuộc ( ngoại trừ chúa Nguyễn Ánh ), 50+
năm Cộng sản thuộc ( ngoại trừ cả hai
bên tham chiến trong cuộc chiến tranh Quốc – Cộng)
của ḿnh.
Thí dụ như cộng đồng Người
Mỹ gốc Châu Phi ( African- American). Định cư ở
New Orleans từ thế kỷ 17 theo làn sóng người nô lệ
từ Châu Phi hoặc những người nô lệ đă
được giải phóng từ nước Cộng ḥa
Dominican , họ chiếm tỷ lệ đáng kể ( 62% -
67%) của dân số New Orleans.
Gần 300 năm sống trên một trong những mảnh
đất dân chủ nhất thế giới, họ đă
bị sự dễ dăi của cuộc sống bào ṃn ư chí tự
lập. Trận băo Katrina vừa qua , đồng thời bộc
lộ khuyết điểm của chính phủ Mỹ, xă hội
Mỹ và cả khuyết điểm tệ hại nhất
này của cộng đồng người Mỹ gốc
Châu Phi. Với tỷ lệ sống nhờ vào trợ cấp
xă hội ( welfare ) cao nhất – so với các cộng đồng
khác – họ phát triển một kiểu mẫu gia đ́nh
đông người ( làm mẹ sớm, đông con, một số
không nhỏ vắng bóng người đàn ông – cha, chồng
-). Do đó, chưa kể đến những biến cố
do thiên tai gây ra, cuộc sống b́nh thường hàng ngày của
họ vốn đă dựa vào chính quyền và các cơ quan từ thiện. Một khi những
nhu cầu của họ không được thỏa măn, tất
nhiên sẽ nẩy sinh những bất măn , oán trách, trả
thù. Đó là nguồn gốc của những bạo động,
cướp bóc, hôi của song song với sự tàn phá của
băo Katrina những ngày vừa qua ở
Đồng loạt với những chính trị
gia hoạt đầu, cơ hội của chính trường
Mỹ, các cơ quan truyền thông lớn nhất Hoa Kỳ
( và thế giới ) đă
không bỏ lỡ cơ hội đưa những h́nh ảnh
giận dữ, trách móc của những người dân Mỹ
vốn đă bị chính quyền nước ḿnh và các
cơ quan từ thiện làm hư hỏng lên trên mặt
truyền h́nh, trên trang nhất những tờ báo lớn
phát hành toàn thế giớị
Nh́n những cái
cổ đầy gân v́ la hét đ̣i hỏi, tôi chợt nhớ
đến những nét cam chịu của đồng bào
ḿnh.
Và hơn lúc nào hết, tôi thấy tội
nghiệp cho dân tộc ḿnh quá đỗi. Hết áp bức
này đến áp bức kia, nên dù chỉ được ban
phát một chút tự do nhỏ giọt , đă tưởng
đó là đại dương mênh mông của nhân lọai.
Cái bụng đói lép kẹp đă nhiều thế hệ,
nên một bữa cơm no đă thấy ḿnh hài ḷng với
chính quyền ( dù biết nó bóc lột ḿnh đến
xương tủy). Cái áo vá mặc từ đời cha
đến đời con, nên khi mua cho cháu ḿnh được
chiếc áo mới, đă tự an ủi ḿnh rằng chính
quyền này, thể chế này kể ra cũng không đến
nỗi nào.
Chẳng bù với những người Mỹ
hư hỏng ( the spoiled Americans) kia. Một nền dân chủ tiên tiến
nhất thế giới đă khiến họ biến giọt
nước mắt của cá nhân ḿnh thành đại dương
biển cả. Những bữa ăn từ bao lâu vốn
thừa mứa no đủ
nên dù chỉ một lần không đáp ứng kịp
thời cũng đủ khơi lên trong họ cảm giác
bị bỏ rơi ( dù biết rằng phần đóng góp
của ḿnh cho xă hội - nếu có – hết sức nhỏ
nhoi). Quần áo vốn đă quen với thời trang, màu sắc
rực rỡ, là ủi thẳng thớm, nên những ngày
mưa gió không điện không nước đă thúc đẩy
họ đi vào những cửa hàng không có chủ mà thỏa
măn cho nhu cầu riêng tư của ḿnh bằng sự chi phí
của người khác.
Liệu những
con người bị bứng ra khỏi cuộc sống dễ
dăi hàng ngày ấy có đủ sức để cúi xuống
nhặt nhạnh những mảnh vỡ vụn của
đời ḿnh mà chắp vá lại hay không ?
5.
Tôi đă hơn một lần tự hỏi
rằng liệu sau trận băo Katrina ( và mới đây trận
băo Rita đă nhận ch́m thành phố New Orleans một lần
nữa dưới làn nước bạc ) , thành phố lừng
danh thế giới với điệu kèn Jazz bất diệt
của Louis Armstrong ( người nhạc sĩ da đen huyền
thoại ) và lễ hội Mardi Gras cuồng nhiệt, sẽ
được hồi sinh, như những mảnh đời
gắn bó với New Orleans sẽ cố gắng hết sức
ḿnh để hồi sinh ?
Càng ngày tôi càng thấy niềm hy vọng của
ḿnh trở nên mong manh. Chẳng phải v́ con số 250 tỷ
Mỹ kim mà quốc hội tiểu
bang Louisiana vừa đưa ra yêu cầu ngân sách liên bang - vốn
đă thâm thủng trầm trọng - trợ giúp tái thiết
những đổ nát v́ băo Katrina và Rita ( khiến nhiều
con mắt am tường phải nhướng lên ngạc
nhiên v́ sự hào phóng quá mức ). Cũng chẳng phải
v́ sự tiếp tay rất tai hại của trận băo
Rita khiến t́nh h́nh thành phố vốn đă bi đát lại
càng thêm bi đát .
Mà trước hết là bởi những con
người làm nên cái hồn của
6.
Nhưng , bằng một cảm giác tự
tin quen thuộc, tôi vẫn đặt rất nhiều kỳ
vọng vào 30 ngàn người Mỹ gốc Việt ở
New Orleans, trong đó có anh bạn không c̣n trẻ nữa của
tôi. Những ngôi làng đánh cá
Việt Nam dọc bờ biển New Orleans rồi sẽ lại
nhộn nhịp âm thanh ríu rít như chim của tiếng Việt
trên đất Mỹ. Ngôi chợ chồm hổm của
làng chài Versaille sẽ lại nhóm họp trong bóng b́nh minh của
ngày mai hứa hẹn. Và những cụ già đầu chít
khăn mỏ quạ, miệng bỏm bẻm nhai trầu sẽ
lại ngồi bày ra những đặc sản quê hương
mà những năm xưa bước chân ra đi các cụ đă không quên
đem theo bên ḿnh.
Nếu không thế
làm sao người Việt ḿnh có thể sống sót cho đến
bây giờ, sau bao nhiêu thiên tai, hạn hán, lụt lội, chiến
tranh và bao thứ tai ương khác ?
7.
Ở Việt Nam vừa có tin về trận
băo áp thấp nhiệt đới ( typhoon ) Damrey , sau khi làm
thiệt mạng hơn 30 người ở Trung Quốc và
Phi luật Tân, đă đổ bộ vào bờ biển phía
bắc Việt Nam hôm 27 tháng 9 , 2005 với sức gió 60 dặm
một giờ . Khoảng 300 ngàn người dân ở vùng
duyên hải bắc bộ đă phải di tản. Đă có
gần 1 ngàn căn nhà bị
phá hủy, 9 ngàn khác bị hư hại từ nhẹ đến
nặng. Chưa có tin tức đích xác ǵ về những
thiệt hại nhân mạng. Các giới chức khí tượng
nhận định rằng đây là cơn băo mạnh nhất
kể từ 10 năm nay trong vùng Vịnh Bắc Bộ.
Đọc mảnh tin trên, tôi có thể h́nh
dung ra bao nỗi thống khổ, từ vật chất
đến tinh thần, của người dân sống trong
vùng băo lụt. Mặc chính quyền muốn khoe khoang như
thế nào về mức độ cứu giúp của họ
( 25 ngàn quân nhân đă được điều động
đến để giúp đỡ người di tản
và tiếp tay che chắn đê điều ), tôi tin rằng
những ǵ người dân bị nạn ở Việt Nam
tiếp nhận từ phía chính quyền cũng không thể
so sánh được với những ǵ người dân Mỹ
nạn nhân của Katrina và Rita nhận được từ
chính quyền nước họ. Điều đơn giản,
trước hết, là v́ Việt Nam nghèo quá, lạc hậu
quá, và không có những phương tiện truyền thông hữu
hiệu như ở Mỹ
để thúc đít chính quyền, nhất là thứ
chính quyền cha truyền con nối như ở Việt
Nam hiện nay.
Nhưng, mặt khác, tôi cũng vẫn tin
tưởng người dân vùng duyên hải bắc bộ Việt Nam
có cùng một ư chí gang thép như những người Việt
Nam ở New Orleans, Biloxi, Port Arthur, Galveston. V́ người
dân miền Bắc, cũng như miền
Và chắc chắn,
không bao giờ người ta thấy được sự
tức tối của người dân đối với
chính quyền, v́ lẽ, có bao giờ họ đặt niềm
tin vào chính quyền đâu mà thất vọng.
8.
Xóa bài làm lại
nữa ư ?
anh bạn già của tôi tự trả lời
câu hỏi.
Chả lẽ
ngồi khóc than
cho đến hết đời.
C̣n người c̣n của. Vả lại, biết bao người
chứ chẳng riêng ǵ ḿnh.
Trời chẳng
bao giờ phụ ḷng người măi.
C̣n mảnh vụn
nào cứ nhặt hết lên. Rồi th́ cũng sẽ vá
được tất!
© T.Vấn 2006