Hình
như trời đã chớm thu
●Giữa đỉnh
sương mù thông đáy vực
Trên đường chênh chếch nắng mênh mang
Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc
Đã chán nhân gian ở cuối đường
( Thơ Cao Tần)

1.
Buổi
sáng ra trước nhà ,nhặt tờ báo
ngày mà người bỏ báo đã ném vào sân từ lúc
trời còn mờ tối, nhìn trên trang nhất, thấy hàng
chữ in đậm “ Ngày
đầu tiên của mùa Thu đã đến “. Tôi
hơi bị chưng hững vì không
ngờ thời gian đi nhanh như thế. Bỗng
thấy lành lạnh vì cơn gió nhẹ buổi sáng và chíêc
áo mỏng phong phanh trên người. Lại
nhớ đến câu văn của một người
bạn trẻ viết về nỗi nhớ nhà của anh,
đọc rồi thấy gai ốc cứ như nổi
khắp người. “ Tôi
bắc cái thang, leo lên nóc nhà – ngồi nhìn về cố
quận. Những lọn gió đêm đầu Thu thỉnh
thỏang thốc vào lưng áo, cái lạnh buốt lên da
lưng là thời tiết – cái lạnh buốt lên tim là quê hương . . . “. Chữ
nghĩa - nhiều lúc tôi tưởng chúng chỉ như
một thứ xa xỉ phẩm đối với một
cuộc sống đầy ắp những bận rộn,
những tất bật , những lo toan .
Nhưng , quả thật, cũng có
những lúc- như lúc này- chúng
làm tôi quên hết mọi chuyện , để chỉ
thấy những chữ và nghĩa ấy nhẩy múa trong
đầu, nhắc nhở mình về một vết
thương vừa kịp kéo da non, thì lại bị
cơn gió quái ác làm lay động những cảm xúc
chỉ chờ dịp để
tuôn trào.
2.
Chỉ trong những hòan
cảnh khắc nghiệt của đời sống,
người ta mới nhìn thấy rõ hình ảnh đậm
nét bi kịch của thân phận con người. Cụ thể nhất là con người mang thân
phận lưu vong, sống xa quê hương. Điều đó
cũng dễ hiểu . Vì
thời gian cho những người – như tôi – sống
trên mảnh đất xứ người quá ngắn
để có thể bám rễ vào được.
Mặt khác, thời gian mà chúng tôi sống ở quê nhà
cũng đã quá đủ dài để một lần
nhổ rễ là một lần nhức buốt, một
lần chết đi sống lại. Đã đành là
những ngày ấy, nếu không bỏ rễ mà đi thì
chưa chắc cái cây ấy còn tồn tại đến
ngày nay, nhưng sinh ly cũng đau đớn như
tử biệt, sự cắt đứt nào cũng là
nỗi đọan trường, để mỗi
bước đời còn lại chất đầy
cảm gíac chênh vênh như người đi bên triền
vực thẳm, một bên là núi, một bên là thung lũng
sâu hút, tay quờ quạng tìm hòai vẫn không thấy
một cành cây nào để bám vào.
3.
Vì
thế, trong cái buổi sáng đầu thu
nhợt nhạt ánh mặt trời mới hôm qua còn rực
rỡ trên những khóm hoa mười giờ đỏ chói
trước sân nhà, tôi bâng khuâng nghĩ về một ngày
mới trước mặt mà đầu óc bỗng mệt
mỏi vô cùng. Không
có cuộc sống nào đáng sống cả. Lỡ sống thì
phải sống cho hết
đời thôi. Dường như một nhân vật của
Vũ Khắc Khoan đã nói như vậy. Vô tình, trên
mặt bàn nhỏ trước hiên nhà ,
nằm trơ trọi tờ tạp chí ( Cadao) với hình
bìa chú hai câu thơ của Cao Tần:
Còng lưng gánh nốt
đời lưu lạc
Nặng trĩu ngàn cân
nhớ nước non.
Bài
thơ Cao Tần viết từ tháng 5 năm 77, mới chỉ hai
năm sau những ngày di tản hỏang hốt. Từ
ấy đến nay, đến buổi sáng mệt mỏi
này, đã 30 năm . Ba
mươi năm một phận đời lưu vong, cây
vẫn chưa chịu bám rễ vào mảnh đất
mới, dù đã ba mươi năm tưới bón mỗi
ngày. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà 30 năm
sau khi bài thơ Chốn Tạm Dung của Cao Tần ra
đời, anh bạn tôi lại chọn hai câu thơ
cuối cùng và hay nhất của bài đưa lên trang bìa
một số báo kỷ niệm 30 tháng 4. Trong đầu
tôi, những đọan thơ xóay lòng của bài thơ
hiện ra mồn một :
Giữa đỉnh
sương mù thông đáy vực
Trên đường chênh chếch nắng mênh mang
Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc
Đã chán nhân gian ở cuối đường
Chiều về lên dốc thân tơi tả
Một quả hoàng hôn đỏ kín trời
Mình mới ngoi lên ngày đã ngả
Đêm phờ lăn lóc ngủ thay chơi
Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực
Ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn
Còng lưng gánh nốt đời lưu lạc
Nặng trĩu nghìn cân nhớ nước non
( Chốn
tạm dung. Thơ Cao Tần . Tháng 5-1977)
Những
ngày ấy, giữa không khí còn sôi sục bao uất ức vì
một miền Nam bị bức tử, với tin tức
từ quê nhà hàng trăm ngàn quân nhân công chức phải
khăn gói đi vào những trại cải tạo không
biết đến ngày về, dân chúng bên ngòai thì bị ép
buộc đi kinh tế mới, bị các cuộc
đổi tiền, đánh tư sản của chính
quyền làm kiệt quệ hòan tòan , thì những bài thơ
của Cao Tần bị đánh gía là thiếu tinh thần
chiến đấu, thiếu sự hun đúc cần
thiết cho một tinh thần phục quốc, một tinh
thần giải phóng quê hương. Nhưng thời gian
đã chứng minh rằng , con
người không phải là một cái máy vô tri vô giác, không
phải lúc nào cũng cố lên gân cổ mà hô to những
khẩu hiệu hực lửa. Người chiến sĩ
ngày đêm xông pha lửa đạn, xem cái chết như là
số phận không thể tránh khỏi của mình, nhưng
vẫn có lúc chùn bước khi nhìn thấy kẻ thù
đang ào ào tràn tới như biển người; cũng
có lúc ngồi buồn bã nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ
em, nhớ cô bạn gái hàng xóm khi ra đi chưa kịp nói
lời yêu thương. Và nỗi lòng trong
thơ Cao Tần có thể được ví như
những giây phút lãng mạn ấy của một
người lính. Nỗi lòng ấy có thật, tuy
buồn bã, mệt mỏi .
Một
con người bị bứt ra khỏi quê hương,
như cái cái cây bị bão làm cho trốc gốc, không thể
nào còn xanh tươi như xưa được nữa,
dù được cắm vào mảnh đất mới , có đầy đủ phân bón
mầu mỡ. Cái bi kịch phân thân giữa những
hồi ức về quê nhà và hiện tại tuy đầy đủ
về vật chất nhưng không vừa ý về tinh
thần, giữa tình cảm gắn bó quê cha đất tổ và lý trí
của sự tồn sinh, giữa những ước
vọng thời thanh niên còn sót lại và thực tại
phũ phàng đã là nguyên nhân của nỗi lòng buồn bã,
tâm trạng mệt mỏi ấy.
4.
Đã 30 năm từ ngày ấy. Bao mái
đầu sương muối nay chỉ còn một màu
trắng như tuyết những ngày đông xứ
người. Vẫn những nỗi lòng
buồn bã, tâm trạng mệt mỏi ấy. Thứ đặc tính không thể thiếu của
những thân phận lưu vong. Cùng với thời
tiết bốn mùa thay đổi, những tâm trạng
người thay đổi theo, khi đậm
,lúc nhạt. Như buổi sáng đầu tiên của
mùa thu , tôi nghĩ đến mùa thu
cuộc đời mình, cuộc đời những
người cùng một lứa cũng như tôi. Chớm
thu thì trời chưa lạnh lắm, buổi sáng dậy
sớm, pha xong ly cà phê đầu ngày, có thể mang ra
ngồi trước hiên nhà, vừa nhấm nháp cà phê,
vừa nhìn những chiếc lá đang từ từ thay màu
giữa không gian thật im ắng không có đến cả tiếng xe
chạy vọng về từ ngòai con lộ chính, im ắng
đến độ có thể nghe được tiếng
chiếc lá rơi xuống trên mặt sỏi xào xạc. Tôi
lại nghĩ đến những người quen biết
đã lần lượt theo nhau rơi rụng xuống
đồng đất xứ người .
Không biết tâm tư họ lúc ấy có “
rơi “ nhẹ nhàng như chiếc lá nửa xanh
nửa vàng đầu mùa thu vừa rơi xuống
trước mặt tôi hay không. Nhưng mùi cà phê thơm phức lại khiến tôi đâm
sợ hãi ý nghĩ ấy, không dám nghĩ tiếp. Tôi
nhận ra sự liên hệ giữa mùi cà phê đầu ngày
và âm thanh chiếc lá rụng đầu thu.
Một bên là mùi ngào ngạt của sự sống và bên kia
là âm thanh của
cái chết. Tuy từ những ngày còn mài đũng quần
trên ghế trường trung học, tôi đã thuộc
nằm lòng câu triết lý thời thượng không có cuộc sống nào đáng
sống cả, lỡ sống thì phải sống cho
hết đời thôi phát
ra ở cửa miệng
một nhân vật của Vũ Khắc Khoan, nhưng
đến bây giờ sống gần hết một
đời người – dù là đời một
người lưu vong mệt mỏi buồn bã – tôi
chưa bao giờ có ý định từ bỏ sự lầm lỡ ấy. Ngoại
trừ mai đây khi nó lừng lững bước vào hiên
nhà gõ cửa, thì tôi đành phải mở thôi.
5.
Buổi
sáng, đầu thu trời đất và đầu thu
cuộc đời, chiếc lá nửa xanh nửa vàng
rơi rụng và mùi cà phê đầu ngày, sự sống và
cái chết, hồi ức quê nhà và thực tại quê
người, cùng với câu văn quái ác của
người bạn trẻ cái
lạnh buốt lên da lưng là thời tiết – cái
lạnh buốt lên tim là quê hương đã làm tôi
ngầy ngật như người vừa quá chén đêm hôm
trước, sáng hôm sau tỉnh dậy thấy tòan thân ê
ẩm. Tiện tay lật trang trong tờ tạp chí nằm
trơ trọi trước mặt, thấy cái tên mình
kệch cỡm nằm trước tấm hình có bước chân
người con gái nhẹ lướt như ma trơi
những bước thời gian thật vô tình.
Tôi bỗng nghe thấy
tiếng một giọt sương vừa rơi xuống
hồn mình.■
©
T.Vấn 2006