KHÓC MỘT D̉NG SÔNG *
( hay LỜI TỰA cho Truyện Dài Qua Đồi Trinh Nữ của THẢO NGUYÊN )

Viết thêm
của T. Vấn :
Nhân tháng 11 ,
với những bài viết về người lính và
chiến tranh, tôi cho post lên trang nhà của ḿnh bài viết
dưới đây , nguyên là một bài Tựa cho tác phẩm
đầu tay, truyện dài Qua Đồi Trinh Nữ
của nhà văn Thảo Nguyên. Cũng nhân đây, tôi xin
được chân thành cám ơn nhà văn Thảo Nguyên,
đă cho tôi vinh dự được viết đôi hàng
giới thiệu một trong những tác phẩm sử thi
tuyệt đẹp viết về người lính và
cuộc chiến tranh đă gắn liền với
định mệnh một thế hệ tuổi trẻ
Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc.
Tháng 11 năm
2006
T.Vấn
1.
Gần 30 năm trôi qua sau
một cuộc chiến chinh. Giờ đây, nơi đất khách
quê người – cách xa băi chiến trường cũ
hằng nửa ṿng quay trái đất – trong những đêm
không ngủ – mà tôi có nhiều lắm những đêm không
ngủ – tôi như c̣n thấy hiển hiện tất
cả những thảm khốc của chiến tranh.
Tiếng đại bác ́ ùng, âm vang ḍn tan của các loại
súng được chế tạo ở Nga, Mỹ, Tàu,
Tiệp Khắc. Những khuôn mặt căng thẳng v́
sống và chết chỉ cách nhau có một hàng rào kẽm
gai. Những xác người nằm la
liệt. Những cánh tay, bàn chân
đứt ĺa treo ṭn teng trên ngọn cây, nằm vất
vưởng trên bờ ruộng. Màu đỏ
của máu và màu đen của đất. Những tiếng rên la đau đớn, sợ
hăi. Những tiếng kêu xé ḷng. Những tiếng khóc khi nức nở, khi tức
tưởi, khi tỉ tê kể lể. Mùi thuốc súng
nồng nặc trong cái nóng chảy mỡ của buổi
trưa hè oi ả. Mùi tử khí nặng ch́nh chịch như
sương mù buổi sáng. Mùi hôi thối
của những vết thương đă lên ḍi, của
những xác người rữa ra v́ lâu ngày chưa
được chôn cất. 30 năm mà
đôi lúc qúa khứ tươi rói như vừa mới hôm
qua, như vừa mới lúc năy. Như hơi thở
người t́nh c̣n vương vất đâu đó trên
chăn gối cô gái trẻ mà thân phận người trai
thời chinh chiến đă đem chàng đến một
nơi nào vô cùng xa lạ , nhưng phút
chốc trở nên quen thuộc v́ nơi đó có người cô yêu. Như trái tim
người mẹ dù đă 30 năm vẫn c̣n thót lên
mỗi khi nghe cái
âm vang nào như tiếng đại bác vọng về
từ miền xa xôi, nơi có đứa con mẹ xẻ
thịt đẻ ra bây giờ nằm lại măi măi không bao
giờ nữa trở về bên mẹ để nghe mẹ
hát lại bài hát ngày nào mẹ đưa con vào đời .
.. à à ời. . . à à ơi.
Mang định mệnh khắc
nghiệt của những thằng lính sống sót sau
một cuộc chiến, sau những năm tháng tù đày
hết cả thời trai trẻ, và 10 năm đốt
đuốc soi rừng trên xứ người xa lạ, tôi
kiên nhẫn đi t́m một chút ǵ của ḿnh c̣n sót lại
ở bạn bè – bạn lính, bạn tù - , ở những
người không quen nhưng đă một thời chia
xẻ với nhau một số phận. Và tất nhiên, tôi
cũng đi t́m tôi và bạn bè trong những cuốn phim nói
về cuộc chiến – mà tôi đă góp một phần
đời, mà bạn bè tôi có người đă góp
cả cuộc đời - . Những cuốn
phim được thực hiện bởi những
người không phải Việt
Trước đây, tôi có dịp đọc
quyển CHINH
CHIẾN ĐIÊU LINH của
nữ kư gỉa chiến trường KIỀU MỸ DUYÊN. Phải nói đây là tác phẩm tôi đang đi
t́m. Nhưng dẫu có tấm ḷng thật ưu ái
với những người lính, cái nh́n sắc bén chiếu
rọi vào những chi tiết thật đến năo
ḷng, Kiều Mỹ Duyên không
phải là người lính, theo cái nghĩa bi tráng của
một thời đại – nói theo Nguyên Sa, bà nh́n cuộc
chiến từ lỗ châu mai . Cho đến một ngày, tôi
được đọc QUA ĐỒI TRINH NỮ của THẢO NGUYÊN trên một trang
Web của nhóm cựu SVSQ trường Đại Học
CTCT Đà Lạt. Cái tên khá xa lạ trong làng văn
chương chữ nghĩa ở hải ngoại ( dẫu
tôi biết Thảo Nguyên là bút hiệu của một
người anh khóa trên, mà chúng tôi đă từng có dịp
chia nhau từng bi thuốc lạ chết đói ngày nào trên
những đồi khoai ḿ bát ngát của vùng Trung Du Bắc
Việt, cái thuở chúng tôi c̣n bị lưu đầy ngay
trên quê nhà yêu dấu của ḿnh ). Và, một cách không
ngờ, tôi bị hút vào cuốn truyện dài mười bốn
chương với trái tim
đau đớn ngập tràn hạnh phúc .
2.
QUA ĐỒI TRINH NỮ ( QĐTN ) là bản t́nh ca bi tráng hát về
những người trẻ , rất trẻ – cả nam
lẫn nữ – tuổi đời chỉ vừa qua
khỏi hai mươi , sống trong một thời ly
loạn. Họ nổi trôi theo vận
nước với tấm ḷng trong sáng đến
độ không có ǵ có thể trong sáng hơn. Bối
cảnh là tiền đồn của một Tiểu
Đoàn Biệt Động Quân Biên Pḥng trấn đóng chi khu Ba
Tơ thuộc tỉnh Quảng Ngăi ( ôi Ba Tơ nắng cháy
da đầu, nơi tôi đă một lần
được đặt chân đến trong những ngày
c̣n là SVSQ đi công tác dân vận sau ngày kư kết Hiệp
Định PARIS 27 tháng 1 năm 1973. Ba Tơ, Minh Lang, Sơn
Tịnh , 3 quận miền núi của tỉnh Quảng Ngăi, nơi có ngọn
Thiên Aán hùng vĩ, có con sông Trà
đă đi vào văn học). Nhân vật là những
người lính thú sớm ăn măng
trúc, tối bạn cùng cỏ cây. Họ là những sĩ quan
trẻ vừa bước ra khỏi quân trường
, những thiếu úy, chuẩn uư cởi vội
bộ Đại lễ trắng lon vàng để khoác lên
người bộ quân phục rằn ri Biệt
Động Sát có con cọp ba đầu. Họ là những
người lính nhỏ nhoi hèn mọn, đi lính như
“một tất yếu và đủ”.Dầu vậy, lại
dễ dàng chấp nhận và trung thành với cấp
chỉ huy trẻ – tuy không có nhiều kinh nghiệm
chiến trường – nhưng có tư cách một
người chỉ huy và hết ḷng chăm lo cho thuộc
cấp. Họ là những
hạ sĩ quan người bản xứ, hiền lành
cả tin, sống đơn giản như cây cỏ,
như con sông Re lặng lờ chảy quanh ngọn đồi
Trinh nữ năm này qua năm khác ( Sông Re trong QĐTN
của Thảo Nguyên làm tôi yêu thêm những con sông
đất nước, những con sông đầy ắp
kỷ niệm tuổi thơ của nhiều người,
như con sông Trà Khúc của hai nhân vật chính trong truyện, như con sông
Hậu Giang của tuổi thơ tôi những ngày di cư
chạy giặc Cộng Sản ). Họ là những cô gái
tội nghiệp, sinh ra, lớn lên giữa bom đạn , chết chóc và những âm mưu
thâm độc. Suốt đời họ chỉ mơ
ước có một ngày quê hương thanh b́nh, để
yên tâm ngồi xơa tóc soi bóng ḿnh bên ḍng suối mát, nghĩ
về một người trai trẻ nào đó mà không
sợ bom đạn vô t́nh khuấy động giấc
mơ ngày mới lớn. Họ là những người
vợ lính, cũng xông pha ḥn tên mũi
đạn, cũng biết xử dụng thành thạo các
loại vũ khí, cũng sát cánh bên chồng những giây
phút dầu sôi lửa bỏng, cũng biết chửi
thề trước cái tàn bạo phi nhân của chiến
tranh, của kẻ thù. Và tất nhiên, cũng
biết khóc – khóc một cách ngọt ngào – trước
cảnh sinh ly tử biệt kẻ c̣n người mất.
Họ là những người dân sống trong vùng xôi đậu, sáng quốc chiều cộng,
đóng thuế cho cả hai và bị cả hai bên nghi
ngờ kiểm soát. Thấp thoáng trong số những nhân
vật làm nên cái sườn của câu chuyện, tôi
thấy ẩn hiện bóng dáng
một vị sĩ quan đứng tuổi, trầm
tĩnh, hiểu biết, thương yêu thuộc cấp,
thông cảm với các vị sĩ quan trẻ dưới
quyền ( có nhiều lắm những vị sĩ quan cấp trung đáng yêu như
vậy – nhưng h́nh như người ta nói nhiều
đến những sĩ quan quyền cao chức trọng
tham nhũng thối nát trên xương máu người lính
hơn là những con người đại diện
thực sự cho quân đội Việt Nam Cộng Ḥa này )
hoặc một vị sĩ quan khác – chưa ǵa nhưng không c̣n trẻ
nữa – gần gủi thuộc cấp từ những ly
cà phê chén rượu đấu láo đến những giây
phút nghiêm trọng sinh tử trong đường tơ
kẽ tóc. Lồng trong tất cả những nhân vật , những con người nhỏ nhoi b́nh
thường ấy là một vùng rừng núi hùng vĩ
nằm gần biên giới Lào, bốn phía trùng trùng
điệp điệp những
ngọn đồi cao có thấp có, trong đó sừng
sững ngọn đồi Trinh Nữ của Thảo Nguyên
, và không thể không nhắc lại con sông Re êm đềm .
Cái không gian vừa hùng vĩ, vừa lặng lẽ, vừa
bi thương trong QĐTN làm tôi liên tưởng
đến không gian trong bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của Quang
Dũng ( Ai đi Tây Tiến chiều sương ấy,
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi hay Sông Mă xa rồi Tây Tiến ơi,
nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi ). Cái không
gian chập chùng những đồi sim bát ngát, trong một
buổi hành quân dừng chân tạm nghỉ lại
, người lính nh́n thấy những sơn nữ
Phà Ca “ đói ḷng ăn nửa trái sim, uống lưng bát
nước đi t́m người thương “ ngực
trần váy rộng, miệng cười liến thoắng,
đôi con mắt có đuôi liếc chàng trai Kinh mà thầm
mong ước một ngày . . .
Đó là bối cảnh, nhân vật của
Qua Đồi Trinh Nữ. C̣n cốt chuyện
? Chỉ là
những sinh hoạt một trại lính tiền
đồn. Những quan hệ qua
lại giữa những người lính, giữa những
thân nhân của họ. Những mối
t́nh trai gái, công khai hay vụng trộm, những mối t́nh
vội vă trong thời chiến chinh. Xuyên suốt trong
14 chương của tác phẩm là câu chuyện t́nh éo le
của vị sĩ quan trẻ chỉ huy một đơn
vị tuyến đầu và cô gái vừa Kinh vừa Hre,
người đẹp và cũng là tiên nữ rừng xanh –
v́ cái thâm hiểm ác độc của tên tỉnh uỷ
Việt Cộng – đă phải nén ḷng làm nội tuyến
cho hắn, mong một ngày trả mối thù giết cha
bức mẹ. Câu chuyện không có ǵ mới
lạ trong một cuộc chiến cốt nhục
tương tàn. Nhưng cái nổi bật lên trên
hết mọi thân phận nghiệt ngă của những nhân
vật trong QĐTN là t́nh người trong thời chiến
– t́nh chiến hữu sẵn sàng hy sinh cho nhau, t́nh yêu trai gái
sẵn sàng chết cho nhau, t́nh thương yêu đồng
bào vô tội bị kẹt giữa hai lằn đạn,
ḷng nhân ái với kẻ thù một khi họ đă buông súng
đầu hàng. Cuộc chiến Ai thắng Ai đă được Thảo
Nguyên giải quyết một cách đơn giản và
dứt khoát : Yêu thương sẽ
chiến thắng Bạo lực. Những chương
cuối cùng của QĐTN là bức tranh toàn cảnh bi
thảm hào hùng sinh động của một băi chiến
trường đẫm máu. Phải là người tham
dự trực tiếp trên chiến địa mới có
thể mô tả một cách sắc sảo, thấu suốt ,xé ḷng với t́nh người
đầy ắp như thế.
3.
Tôi gấp những trang
truyện cuối cùng lại ngậm ngùi. Tôi ngậm
ngùi cho những nhân vật nửa thực nửa hư của
QĐTN. Tôi ngậm ngùi cho tác gỉa , Thảo Nguyên,
hay cho chính tôi, cho những người cùng lứa tuổi
mà 30 năm xưa hăm hở bước vào cuộc
chiến với tất cả những lăng mạn hào hùng
của tuổi trẻ. Tôi như nh́n thấy
những giọt nước mắt của tác giả.
Ông khóc cho những người lính đă vĩnh viễn
nằm xuống
cho ông c̣n sống sót, cho tôi c̣n sống sót,cho chúng
ta c̣n sống sót. Ông khóc cho
những người con gái thật b́nh thường,
trọn cuộc đời chỉ mơ ước
đất nước thanh b́nh để được
sống yên lành bên người yêu dấu. Tôi
vừa nói đến những nhân vật nửa thực
nửa hư của QĐTN. Những nhân vật
ấy có thật hay không có thật trên một bối
cảnh có thật của Chi Khu Ba Tơ những ngày mùa hè
đỏ lửa năm 1972? Điều ấy, theo tôi, cũng chẳng quan trọng ǵ cho
lắm. Xét cho cùng, cuộc đời tự
nó, vốn là hư cấu. Cái hư cấu của
tổng số những thực tại riêng lẻ kết
hợp lại, vừa ngẫu nhiên vừa cố ư.
Thảo Nguyên sáng tạo ( ? ) nên những
nhân vật của ông dựa trên những con người có
thật, những thực tại đau đớn
đến xé gan xé ruột. Một thực tại sinh
động, tự nó đă là văn chương, đă là
hư cấu.Thế th́ bận ḷng làm ǵ đến cái
hư cấu trong thực tại của văn
chương. Nhưng
tôi không nghĩ Thảo Nguyên có ư định làm văn
chương khi ông đặt bút viết QĐTN. Ông
chỉ – theo tôi – viết để thanh
thỏa món nợ với những chiến hữu đă
nằm xuống – những chiến hữu quen và không quen –
nhưng đă chọn cùng nhau ở một bên chiến
tuyến. Như kẻ sống sót sau cuộc đắm
thuyền, ông thấy ḿnh có bổn phận phải nói lên , nhắc lại, tung hê cho cả loài
người biết rằng có biết bao con người
như thế đă nằm xuống để chúng ta có
một đời sống xứng đáng hơn. Cái ngày “ quê
hương thanh b́nh “ mà những nhân vật trong QĐTN
– c̣n sống hay đă chết – mong đợi ấy, mà
chúng ta mong đợi ấy, thực ra vẫn chưa
hẳn đă đến, dù tiếng súng đă im từ ngày
30 tháng 4 năm 1975.
Dẫu sao cũng cám ơn Thảo Nguyên, ông đă cho tôi được rơi những giọt nước mắt khóc cho một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam bị nguyền rủa, khóc cho một ḍng sông quê hương mà tôi – mà chúng ta – sẽ không bao giờ được trở về tắm lại, để t́m lại chính ḿnh đă lạc lối giữa những chập chùng hệ luỵ của một đời lưu vong.
T. Vấn
© T.Vấn 2006