Gọi măi tên nhau

 

 

 

 

                          • Áo xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu, gọi măi tên nhau . . .

                                   ( Trịnh Công Sơn )

 

1.

 

Sáng nay, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ. Tôi định bụng sẽ ghé nhà quàn thành phố  viếng linh cữu vợ một người bạn. Chị vừa mới mất v́ cơn Stroke bất ngờ. Sau khi làm xong công việc vệ sinh cần thiết buổi sáng, nh́n đồng hồ, tôi thấy vẫn c̣n qúa sớm. Nhưng không khí trong lành của một ngày đầu thu, cùng với những ư nghĩ ngổn ngang về người chết, khiến tôi bước chân ra khỏi nhà. Tôi quyết định  ghé qua một tiệm sách, nơi đó có một góc nhỏ bán cà phê, với ư nghĩ là tôi sẽ có dịp quan  sát sự sống của buổi sáng – thời khắc bắt đầu cho một ngày bận rộn – trước khi nh́n thấy sự chết ở nhà quàn. Tôi cho rằng, để quan sát một sự vật, một sự việc – cách dễ nhất và đúng nhất là đặt các vật, các việc tương phản bên cạnh nhau. Thí dụ, đặt một người đàn ông cạnh một người đàn bà, để quan sát người này hoặc người kia. Tương tự như vậy, với sự sống và sự chết. Với tôi, một thư viện, một tiệm sách đúng nghĩa, đó là nơi tôi sẽ t́m đến để chiêm nghiệm về sự sống và cái chết. Bởi v́, khi đắm ḿnh trong không khí đặc biệt của thư  viện hoặc tiệm sách, tôi luôn  cảm tưởng có một thế giới người chết quẩn quanh. Sáng nay,tôi chọn hiệu sách, v́ ở đây, tôi có thể nhấm nháp chút cà phê ấm một buổi sáng đầu thu se se lạnh. Để  biết chắc chắn rằng ḿnh vẫn c̣n sống, vẫn c̣n tỉnh táo  nếm được cái vị đắng hạnh phúc, vẫn c̣n sờ được cái ấm áp hạnh phúc, ngửi được cái mùi thơm hạnh phúc, dù chỉ là của cà phê. Để tự nhắc nhở ḿnh hăy yêu thương lấy cuộc đời này. Để tự khuyên nhủ ḿnh rằng, những khuôn mặt đồng loại đang hối hả bước vào một ngày sống kia đáng yêu biết bao, dẫu cho, đôi lúc họ có làm cho ḿnh bực bội. Và cũng có thể, ngày mai, trong số ấy, có người lặng lẽ biến mất khỏi trần gian này, không ai biết không ai hay. Và biết đâu, một trong số người lặng lẽ biến mất ấy, có thể là chính ḿnh.

 

2.

 

Tôi rời tiệm sách có quán cà phê với những chiêm nghiệm rất triết lư trong đầu để hướng về phía nhà quàn  thành phố, một địa điểm yên tĩnh – dĩ nhiên – bao bọc chung quanh bằng những hàng cây lá đă bắt đầu úa vàng. Tôi tưởng tượng, khi đứng trước mặt người chết – một nửa trên của linh cửu  luôn mở ra trong giờ viếng – những ư tưởng tôi quan sát, suy ngẫm sáng nay, sẽ được dịp đối chọi, cọ sát với h́nh ảnh cái chết hiện hữu , dù là trong không khí thật tinh khiết của nhà quàn nước Mỹ. Nhưng tôi đă bị bất ngờ. Đúng hơn, tôi cảm thấy bị hụt hẫng. Trong cái tịch mịch, tưởng chừng như có thể nghe thấy được  cả âm thanh của sự im lặng, anh bạn tôi đứng đó. Một ḿnh. Mắt đăm đăm nh́n vào thi thể người vợ đă bỏ anh ra đi măi măi. Anh như không nghe tiếng bước chân rất nhẹ của tôi. Cũng không có một cử chỉ ǵ chứng tỏ anh biết có người mới đi vào. Tôi nh́n hai khuôn mặt. Một của người chết nằm đó, được chải chuốt trang điểm lại trông rất đẹp. Lúc sinh thời, chị vốn là một người có nhan sắc. Mắt chị nhắm lại, thanh thản nhẹ nhàng , như người nằm ngủ. C̣n khuôn mặt kia là của người đàn ông chồng chị. Nhợt nhạt, mệt mỏi, và đôi mắt trống rỗng vô hồn. Nhưng trong đó, tôi nh́n thấy cả một trời thống khổ. Một sự mất mát không ǵ có thể bù đắp được. Họ đă đi bên nhau hơn 40 năm trời, trải qua nhiều năm tháng vui buồn, sướng khổ. Họ đă có với nhau những mặt con. Đứa c̣n sống, đứa đă chết. Đứa đă trưởng thành, có mái gia đ́nh riêng. Đứa nhỏ nhất cũng đă hơn 18 tuổi. Nay, một người ra đi, bỏ một người ở lại. Người ra đi đă yên phận người ra đi. C̣n người ở lại ? Hiển nhiên nỗi đau mất mát là không thể đo lường được. Bấy nhiêu cũng đă đủ để đánh gục ông ǵa trên 60 tuổi kia . Chưa kể đến cuộc sống của anh những ngày sắp tới. Tất cả là một sự đảo lộn. Hơn 40 năm chung sống vợ chồng, cũng có những lúc cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, nhưng anh đă quen có người bạn đời đi bên cạnh. Nh́n con người khốn khổ đang đứng thất thần, tôi tự hỏi, anh cần bao lâu để có thể điều chỉnh lại cuộc đời ḿnh, một cuộc đời thiếu đi bóng dáng người vợ ? Anh bỗng ngước nh́n tôi. Qua cái nh́n, tôi biết rằng, những ư nghĩ của tôi về anh là đúng. Là bạn của nhau từ nhiều năm, chúng tôi ít khi cần đến sự trung gian của ngôn ngữ.

 

Mới vừa lúc năy, trong góc quán cà phê của tiệm sách, ḷng tôi đă tràn ngập cái hạnh phúc được sống, được tận hưởng ân sủng trần gian là cầm trên tay ly cà phê nóng trong một buổi sáng đầu thu se se lạnh, th́ bây giờ đây, tôi lại có cảm tưởng cái chết là một sự giải thoát. V́ khuôn mặt người chết thanh thản qúa, nhẹ nhàng qúa. Mà người c̣n sống kia, là anh bạn tôi, đau đớn qúa, thống khổ qúa.Trong khoảnh khắc, những chiêm nghiệm triết lư của tôi về sự sống và sự chết bỗng trở nên mờ nhạt và vô nghĩa. Trước nỗi đau khổ của con người, mọi suy nghĩ thuần lư đều bất lực và hèn mọn.

 

3.

 

Tôi  ôm vai anh bạn tôi, chúng tôi ngồi xuống, im lặng. Không lời lẽ nào cần thiết trong lúc này. Tôi nhớ đến câu chuyện do chính Trịnh Công Sơn kể lại về bài hát “ Hạ Trắng ‘ ông viết ra trong t́nh huống nào. Dạo đó, ông ở Huế và bị một cơn sốt nặng. Trong nhiều ngày, ông nằm sốt mê man không biết ǵ. Nhưng có lúc ông như ngửi thấy mùi dạ lư hương và lạc vào khu rừng hoa trắng. Tỉnh dậy, ông thấy bên cạnh ḿnh có bó hoa dạ lư hương. Ông biết chủ nhân những bông hoa ấy là ai. Khi hết bệnh, nghe tin bố  một người bạn hấp hối, ông đến thăm. Cụ không có bệnh ǵ ngoài nỗi nhớ thương người vợ vừa mới mất. Hai ông bà tuy già nhưng vẫn ngủ bên cạnh nhau trên sập gụ xưa. Một hôm, cụ bà xuống bếp nấu nước pha trà cho cụ ông, chẳng may bị gío, ngă chết. Mấy người con vội đưa mẹ về nhà ḿnh để tẩm liệm, chôn cất và dấu cụ ông. Ông cụ thức dậy, hỏi mẹ đâu, các con trả lời bà cụ đang ở bên nhà một người con khác để chăm sóc hộ đưá cháu bị bệnh. Vài ngày sau, cụ hỏi các con có phải mẹ chết rồi phải không. Mọi người ̣a khóc. Từ đó, cụ không ăn uống ǵ cả để đợi ngày theo cụ bà về cơi vĩnh hằng. Câu chuyện ám ảnh TCS, và sau đó, kết hợp giấc mơ hoa trắng với mối t́nh già cảm động này, ông viết bài Hạ Trắng, trong đó có câu áo xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu gọi măi tên nhau . . . “.

 

Tôi đưa tay lên sờ những món tóc bạc của anh. Dường như chỉ trong một đêm, mà tóc của anh đă bạc trắng. Anh ngước mặt nh́n tôi lần nữa, tỏ ư cám ơn. Không cần đến trung gian của ngôn ngữ, chúng tôi đă hiểu nhau. Trước khi đứng dậy ra về, tôi hỏi anh c̣n nhớ hai câu thơ nổi tiếng của vua Tự Đức khóc bà Bằng Phi Đập cổ kính ra t́m lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi (*) không ,  Anh gật đầu.

 

Ra tới cửa, tôi quay đầu ngó lại. Anh bạn tôi vẫn bất động như một pho tượng. Tôi nhẹ tay khép cánh cửa nặng  nề của nhà quàn lại, để cho anh được một ḿnh với chị. Trong đầu tôi văng vẳng tiếng hát Lệ Thu – người mà TCS nhận xét là hát bài Hạ Trắng  hay hơn Khánh Ly – aó xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu gọi măi tên nhau . . .

H́nh như trời đang đổ những giọt mưa thu nhè nhẹ. Tôi thấy mặt kính lăo của ḿnh bị nhoà đi. Chẳng hiểu đó là do nước mưa hay nước mắt.

 

 Nếu là nước mắt, th́ hạnh phúc cho tôi biết bao !

 

 

T.Vấn

      

Chú thích : * Mới đây, tôi đọc được bài “ Văn đạo . . . Đạo văn “ của nhà phê b́nh văn học Đặng Tiến đăng trên Talawas ngày 22-11-2006 nói về tác giả của hai câu thơ tôi trích dẫn ( mà tôi cho là của vua Tự Đức ) ở đây, xin trích dẫn đọan ông nói về hai câu thơ này như sau :

“ . . .

Đập cổ kính ra t́m lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi


Đây không phải là thơ Tự Đức mà là thơ Nguyễn Gia Thiều. Từ điển văn học, nhà xuất bản Thế Giới, 2004, cũng ghi nhầm, tôi đă có bài góp ư, đăng ở nhiều báo, trong và ngoài nước, không nghe ai cải chính. Nay xin nhắc lại.

Bài thơ nôm "Khóc Thị Bằng" không phải của Tự Đức. Ngô Tất Tố đă chứng minh điều này từ năm 1941, trong cuốn Thi văn b́nh chú, Lê Mạc Tây Sơn, in lại lần thứ ba, Sài G̣n, 1957, trang 91. Những tuyển tập, toàn tập Ngô Tất Tố xuất bản gần đây không nhắc ǵ đến cuốn Thi văn b́nh chú này. Ngoài ra, (dường như) Trần Danh Án (1754-1794) có dịch bài thơ nôm của Nguyễn Gia Thiều ra chữ Hán. Hai câu nói trên:


Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh
Tùng phong khâm thử hộ dư hương


Sở dĩ có sự gán ghép là v́ (dường như) Tự Đức thường ưa sửa thơ thiên hạ, khi nhuận sắc có sửa hai chữ mảnh gương thành cổ kính manh áo thành tàn y, rồi xếp vào hồ sơ của ḿnh, nên Dương Quảng Hàm mới nhầm ra thơ Tự Đức và trong giáo tŕnh văn học đă ghi là của Dực Tông, rồi người sau cứ truyền tụng như thế. Ngoài Ngô Tất Tố, các chuyên gia thơ cung đ́nh triều Nguyễn, như Phan Văn Dật, Bửu Cầm, đều nói không phải của vua, v́ trong thư khố, không t́m thấy vết tích ǵ bài thơ này, và tên họ một bà phi nào tương tợ. Hơn nữa giọng thơ trữ t́nh bay bướm, khó có thể là giọng Tự Đức. Sinh thời học giả Hoàng Xuân Hăn cũng nói vậy .

( Tôi dè dặt dùng chữ “ dường như “ v́ không có văn liệu trong tay ) . . . “

 

 Đặng Tiến