Thêm một ngày 30 tháng 4
● Chợt
nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy
điệu mộng xưa
(
Thanh Nam )

1.
Tháng 4 . Lại tháng 4. Tháng 4 năm 2007 hay
tháng 4 năm 1975 dường như không khác nhau nhiều lắm.
Sau ngày ấy, thời gian không c̣n chuyển động nữa.
Nó đă bị đóng băng. Duy chỉ có không gian là thay
đổi. Mỹ, Pháp, Na Uy ,
Úc . . . chứ không phải Việt Nam.
C̣n con người ? h́nh như cũng không
khác xưa nhiều lắm. Những mái tóc đen nay đổi
màu bạc trắng, dấu chỉ
duy nhất của thời gian. Có lẽ , chính ở khía cạnh
này, chúng ta chứng kiến một bi kịch lớn nhất
của thời đại, của dân tộc và của chính
ḿnh. 32 năm mà tưởng chừng như mới hôm qua. Trong
trường hợp này, kư ức con người là một
tai họa.
Cảm giác chông chênh
của ngày tháng ám ảnh trên mọi suy nghĩ của những
người ít nhiều dính líu đến biến cố lịch
sử khó quên ấy. Chỉ v́ quá khứ nặng hơn hiện
tại. Dù
những xác chết đă chỉ c̣n là những mẩu
xương khô khốc. Dù những nấm mồ chôn sơ
sài góc rừng, ven suối, bờ mương đă không c̣n
có thể nhận ra được nữa. Dù có những
góa phụ, tử sĩ đôi lúc quên rằng ḿnh đă một
thời là góa phụ, tử sĩ.
Tôi đă hơn một lần đặt
câu hỏi : Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh đă chấm
dứt chưa ? Trong câu hỏi, đă chứa đựng sẵn
một phần của câu trả lời.
Dư vị sau cuộc chiến, giữa
hai bên đối nghịch cùng máu đỏ da vàng, quả
thực không ngọt ngào ǵ.Bên thua trận không tin rằng
ḿnh thua v́ bất tài, v́ đă không dốc sức chiến
đấu , mà là v́ bị bán đứng bởi đồng
minh, bị bỏ rơi bởi các cấp chỉ huy. Bên thắng
trận , vừa phải trả cái gía quá đắt cho sự
thắng trận, vừa bị nhồi nhét một thứ
ư thức hệ lấy hận thù (giai cấp) làm nền tảng,
nên đă phạm nhiều sai lầm trong cách hành xử sau
ngày tiếng súng chấm dứt, và cùng lúc, bỏ qua nhiều
cơ hội ḥa giải , đ̣an kết dân tộc để
xây dựng đất nước vốn đă kiệt quệ
v́ chiến tranh kéo dài. Trong con mắt kẻ thắng trận,
cái được thua sau cùng không phải là giữa người
Việt với nhau.
Và
có lẽ, đó là nguồn gốc của mọi hệ lụy
từ bấy đến nay.
32 năm đă trôi qua. Người chết
th́ cũng đă chết. Chết trong cuộc chiến, chết
trước ngày 30 tháng 4 năm 75 hay chết sau ngày đó,
chết trên đường vượt biên v́ súng đạn
của công an biên pḥng, mă tấu của hải tặc, hay
chết v́ sóng, băo, đói, khát , chết v́ bệnh tật
nơi vùng kinh tế mới hay các trại cải tạo ,
cũng chẳng có ǵ khác nhau. V́ cái chết nào cũng có ư
nghĩa cuối cùng là hết. Chỉ tội cho người
c̣n sống. Họ sẽ c̣n bị cuộc chiến ấy
ám ảnh cho đến ngày xuôi tay nhắm mắt. Kẻ
chiến thắng có cái ám ảnh của kẻ chiến thắng.
Người chiến bại cũng có cái ám ảnh dành cho
người chiến bại.
H́nh ảnh một vị linh mục hai tay
bị c̣ng, đứng trước ṭa án của kẻ chiến
thắng, vẫn dơng dạc lên tiếng phủ nhận sự
hiện hữu của chế độ, chỉ làm gia
tăng cường độ nỗi ám ảnh của kẻ
chiến thắng. Bàn tay đưa ra bịt lấy miệng
vị linh mục, là một phản ứng rất bản
năng. Hành động ấy biểu trưng cho bản chất
của chế độ, đồng thời cũng biểu
lộ sự sợ hăi mà kẻ chiến thắng đă mang
trong ḷng từ 32 năm nay, kể từ ngày họ tiến
vào Sài G̣n, treo lá cờ đỏ trên nóc Tổng thống phủ
của người chiến bại. Hơn ai hết, họ
nh́n thấy sự bất lực của ḿnh trong việc
chinh phục một nửa đất nước có nền
văn hóa cao hơn . V́ thế, mới có những sự kiện
đốt sách, lừa những thành phần ưu tú nhất
của phe bại trận vào những nhà tù không biết ngày
về, đẩy dân chúng miền Nam vào những khu kinh tế
mới nơi rừng thiêng nước độc, cải
tạo công thương nghiệp nhằm bần cùng hóa lớp
thị dân vốn là cái gai dưới con mắt kẻ cai
trị.
Với kẻ chiến bại, nỗi ám ảnh
của cuộc chiến 30 năm là điều tất
nhiên. Cái cách mà cuộc chiến kết thúc, đă làm cho nỗi
ám ảnh ấy càng thêm khắc nghiệt. Nhiều người
tin rằng, thế cờ có thể lật ngược
được, và 32 năm lưu vong xứ người, họ
đă cố nhúm lên ngọn lửa hâm nóng ước vọng
của một ngày trở về. Năm tháng qua đi, tuổi
đời ngày một chồng chất, cảm giác bất
lực cũng tăng dần theo với nỗi ám ảnh về
một sứ mạng không bao giờ được chu
ṭan. Và họ nghĩ đến việc giao phó trách nhiệm
ấy cho thế hệ nối tiếp, thế hệ chỉ
biết đến chiến tranh qua những hồi ức
mờ nhạt của tuổi ấu thơ, qua những lời
kể của cha anh, qua những trang sách đọc lơm bơm
v́ mớ từ vựng tiếng Việt ít ỏi của
ḿnh.
2.
Những h́nh ảnh
bi tráng nhất của ngày 30 tháng 4 năm 1975 vẫn c̣n
được lưu trữ . Và chúng sẽ được
sống lại vào những ngày kỷ niệm hàng năm.
Bên thắng trận sẽ chỉ xem , chỉ phô bày những
h́nh ảnh nào được coi là hào hùng, vinh quang và cố
t́nh bỏ qua một bên bao h́nh ảnh đau thương mất
mát để có được những giây phút lịch sử
ấy. Bên thua trận sẽ giở ra những h́nh ảnh
năo ḷng nhất trong những ngày cuối cùng của cuộc
chiến, để tự tra vấn ḿnh tại sao lại
có thể cho phép những điều ấy xảy ra, và
cũng để tự an ủi ḿnh rằng , cuộc chiến
đă kết thúc theo sự sắp xếp của những
thế lực bên ng̣ai, chứ không phải v́ ḿnh tài hèn sức
mọn. Trong lịch sử dân tộc,
đă từng có cuộc phân tranh Trịnh –Nguyễn ở
thế kỷ 17 kéo dài hơn 40 năm , nhưng con sông Gianh
ngăn đôi hai bên Trịnh Nguyễn 400 năm xưa hay
con sông Bến Hải ngăn đôi hai miền Nam Bắc 30
năm về trước cũng không khó vượt qua bằng
lằn ranh vô h́nh ngăn chia ḷng người Việt Nam như
hiện nay. Oan nghiệt kéo theo oan nghiệt. Thiên kiến và
cố chấp là những tác nhân không thể tránh khỏi.
Những bài học lịch sử vừa cay đắng, vừa
khó nuốt, nên ít người chịu đựng được.
Những bài học ấy, nếu trước đây ( 20
năm, 30 năm về trước ) không học được,
th́ bây giờ lại càng không thể học được.
Và thế là bi kịch một thế hệ cứ kéo dài.
Cho đến ngày họ nhắm mắt nằm xuống,
đem theo xuống mồ những hệ lụy của một
thời chiến tranh. Có lẽ, chỉ đến khi ấy,
may ra thế hệ kế tiếp mới thóat ra khỏi
được cái bóng quá lớn, quá ảm đạm của
cha anh, mà cương quyết phủ sạch lớp bụi
qúa khứ, đi con đường thẳng tắp của
thế hệ ḿnh, không có những ngă rẽ của cố
chấp, của hận thù, của kẻ Nam người Bắc,
của kẻ trong nước, người ngoài nước,
của những bảng giá trị đă lỗi thời
nhưng vẫn c̣n tồn tại nhờ vào thái độ
hèn nhát không dám nhận rằng đó là sai lầm chết (
bao con ) người của một thời nhiễu
nhương.
3.
Xét cho cùng, kẻ chiến thắng ngày 30
tháng 4 năm 1975 không cần thiết phải rùm beng kỷ
niệm ngày thắng trận của ḿnh mấy chục
năm sau ngày cuộc chiến kết thúc để che dấu
nỗi sợ hăi có gốc rễ từ 32 năm trước.
Ngày nay, cái nhân cho một sự bùng nổ làm tan vỡ chế
độ không nằm ở
Little Sài G̣n, Sydney, Paris hay Oslo. Nó nằm ở ngay chính
trong ḷng chế độ, ở Hà Nội, ở Sài G̣n. Những
phong trào đ̣i dân chủ, đ̣i xóa bỏ chế độ
độc đảng, có nguồn gốc ngay từ trong
nước và được đề xướng, xiển
dương bởi nhiều người đă từng một
thời gắn bó với chế độ và những
người trẻ tuổi. Những phong trào ấy không có gốc rễ ǵ từ cuộc
chiến tranh 30 năm . V́ thế, những đ̣i hỏi của
họ không xuất phát từ óan thù, sân hận lưu cửu
trong suốt 32 năm sau chiến tranh. Đó là những
đ̣i hỏi chính đáng , đến từ sự phát triển
tất yếu của thời đại , đến từ
những nhu cầu bức bách nhất của dân tộc , không
phân biệt người Nam kẻ Bắc, không phân biệt
trước đây họ sinh sống ở bên nào khi cuộc
chiến tranh Quốc Cộng nổ ra.
Vấn đề không phải là hóan đổi
vị trí , để kẻ thắng trận ngày 30 tháng 4
cúi đầu chịu làm người chiến bại và
người chiến bại năm xưa nay bước ra
khỏi bóng tối tay giơ cao ngọn cờ tự do dân
chủ, cho dù, thực sự cũng sẽ đến lúc mọi
thế lực độc tài ṭan trị phải lui bước
nhường chỗ cho dân chủ, cho tự do theo đúng với
cái tầm mà thời đại đă vạch ra . Chính thế
hệ những người trẻ - cả trong nước
lẫn ng̣ai nước – đă tạo nên xu thế ấy,
đă kiên tŕ tranh đấu bằng mọi h́nh thức tùy
nơi tùy lúc, kể cả h́nh thức dùng khoa học kỹ
thuật xuyên thủng lớp màn sắt mà nhà cầm quyền
trong nước đă dựng nên ḥng ngăn chặn không
cho những tư tưởng dân chủ phóng khóang từ
ng̣ai nước từ từ thẩm thấu vào nếp suy
nghĩ của những người dân sinh sống trong
nước. Nếu cần phải xác định người
chiến thắng, th́ chính họ - những người trẻ
ở cả trong lẫn ngoài nước – là những
người chiến thắng. Và cũng có nghĩa là dân tộc
chiến thắng. Một chiến thắng mang đúng ư
nghĩa của chiến thắng. Một chiến thắng
không cần biết đến có hay không những kẻ chiến
bại. Một chiến thắng mang lại trọn vẹn
những ước mơ ngàn đời của những
người con xứ Việt : đất nước có
dân chủ, tự do, người dân được sống
trong ấm no, hạnh phúc.
4.
Chúng ta đă chôn cất người chết. Tất
nhiên, người chết – nhất là những người
chết v́ chiến tranh – đáng được tưởng
nhớ đến nhưng không ai sống với người
chết.
Chúng ta đă
cố quên đi những nỗi đau, dù không thể một
sớm một chiều, nhưng dẫu cho chúng vẫn canh
cánh bên ḷng, cũng không ai muốn sống với những nỗi
đau, v́ như thế có nghĩa là tự hủy họai
chính ḿnh.
Và dù người
chết ( đồng bào, đồng đội ) và những
nỗi đau ( thể xác lẫn tâm hồn ) có ám ảnh
chúng ta đến thế nào đi chăng nữa, th́ – một
cách công bằng – chúng ta không có quyền buộc những thế
hệ nối tiếp phải nhớ đến những
người chết , theo cái cách như chúng ta đă nhớ,
phải đau những nỗi đau, theo cái cách như
chúng ta đă đau. Họ có sứ mạng riêng của thời
đại họ sống. Và chắc chắn, họ
cũng sẽ có những trăn trở nhức nhối trong
khi ḥan thành sứ mạng ấy, như chúng ta đă từng
trăn trở nhức nhối trong thời đại của
ḿnh. Đừng bắt họ mang thêm gánh nặng của
quá khứ một cách không cần thiết.
Lịch sử
đă sang trang. Những người trẻ sẽ ḥan thành
những điều chúng ta chỉ mơ ước. Điều
đó quan trọng hơn rất nhiều so với mặc
cảm thắng bại trong tâm tưởng chúng ta, mỗi
khi đối diện với ngày 30 tháng 4 trên tờ lịch
hàng năm.
Tháng 4 -2007
© T.Vấn