Đi
hay Về ?
●Gởi
người bạn cũ.
● Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Ngỏanh lại tha hồ mây trắng bay
(Hành Phương

Tôi vừa mới từ Việt
Vẫn
c̣n cảm thấy ngầy ngật sau một chuyến
đi dài, những thay đổi quá nhanh về thời
tiết, về thói quen của cơ thể, về giờ
giấc trái khoáy, về h́nh ảnh những người
thân và quê nhà ḿnh vừa bỏ lại sau lưng, nhất là
về h́nh ảnh hai đứa con gái nhỏ của tôi
nước mắt lưng tṛng, đến đứng
trước mỗi người bà con ruột thịt
của ḿnh – bà nội, bà ngoại, chú, cậu, cô , d́, thím,
mợ , anh chị em họ – khoanh tay cúi đầu , nói
lời chào từ biệt bằng thứ tiếng Việt
giọng Bắc pha Sài G̣n, bằng cách xưng hô chuẩn
gốc Việt Nam ngay tại phi trường Tân Sơn
Nhất trước khi gia đ́nh chúng tôi bước
hẳn vào khu biệt lập dành cho hành khách làm các thủ
tục cần thiết để quay lại Mỹ sau 3
tuần lễ đầy ắp những xúc động,
những an ủi, những thân thiết gia đ́nh. V́ thế , mảnh điện thư của
người bạn lại làm cho tôi cảm thấy
ngầy ngật hơn, bâng khuâng hơn và mệt mỏi
hơn.
Về Việt
Liệu
có nên coi cách dùng chữ Đi hay Về trong mỗi trường hợp như là
sự biểu lộ một thái độ chính trị ,
một trạng thái tâm linh ước lệ không, hay thực ra, đó chỉ
là sự phản ánh một thực tại của những
cộng đồng di dân bỏ xứ ra đi định
cư nơi quê người v́ những lư do chung như chính
trị ( tỵ nạn ) hay xă hội ( tha phương
cầu thực ) hay rất đơn giản, v́ những
lư do cá nhân như đ̣an tụ với người thân v..v.. ?
Với
những cộng đồng di dân khác sống trên
đất Mỹ, câu trả lời h́nh như đă có và
đơn giản. Người ta không nh́n thấy sự
khác biệt về ư nghĩa giữa hai chữ Đi và
Về. Ngay cả trong trường hợp cộng
đồng người Cuba – mà đa số định
cư ở Miami ( tiểu bang Florida )
từ những năm đầu bán thế kỷ 20 –
cũng không hẳn đă khó khăn trong việc t́m câu
trả lời liên quan đến Đi ( Cuba, Mỹ) và
Về ( Cuba, Mỹ).
Nhưng
với cộng đồng người Việt, ( không
kể đến số du học sinh từ miền Nam
Việt Nam rời nước trước 1975 ) bắt
đầu từ hàng trăm ngàn người may mắn
thoát ra khỏi nước trước khi Bắc Việt
Nam phất lá cờ thắng
trận trên nóc Dinh Độc Lập – Tổng Thống
Phủ của Nam Việt Nam - sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975,
kế tiếp là những làn sóng người bất
chấp sự ngăn chặn , bắt bớ của nhà
cầm quyền Cộng sản, t́m mọi cách –
đường biển, đường bộ – bỏ
nước ra đi t́m đến những bến bờ
tự do vào những năm 78, 79 và đầu 80s , rồi
đến lớp người ra đi chính thức do
được thân nhân của ḿnh hiện đang sinh
sống ở hải ngoại bảo lănh để đoàn
tụ với gia đ́nh. Nổi bật hơn hết là
hàng chục ngàn quân nhân, viên chức của miền Nam
Việt Nam sau khi được thả ra khỏi các
trại cải tạo, với sự can thiệp của
chính phủ Hoa Kỳ, đă cùng với gia đ́nh chính
thức lên máy bay rời nước đến Mỹ
với danh xưng Tỵ Nạn Chính Trị (
chương tŕnh H.O ) vào đầu những năm 90s
và kéo dài đến những năm cuối của thập
kỷ này. Cũng vào đầu thập kỷ 90s, cùng
với sự sụp đổ hàng loạt của các chính
quyền Cộng sản từ các nước Đông Âu
đến Liên Bang Xô Viết ( gồm 15 nước mà
lớn nhất là nước Nga ), sự đập bỏ
bức tường Bá Linh ngăn đôi nước
Đức , những người Việt ( mà đa số
từ miền Bắc ) lúc ấy đang sinh sống ở
các quốc gia này với tư cách du học sinh, hay xuất
khẩu lao động, hay chính các viên chức ngoại giao,
các viên chức chính quyền đi tu nghiệp , đă t́m mọi cách để
trở thành công dân chính thức của nước sở tại,
hay luồn lách, sống bất hợp pháp trên xứ
người. Một số là v́ lư do chính trị, không
muốn sống dưới sự kềm kẹp
, độc tài của nhà nước Cộng sản.
Một số v́ lư do kinh tế, cuộc sống ở các
nước Đông Âu, dù có kém xa các nước Tây Âu hay các
quốc gia khác không theo chủ nghĩa Cộng sản –
nhưng vẫn khá hơn nhiều so với cuộc
sống ở quê nhà trong những năm ấy.
V́
thế, cộng đồng người Việt hải
ngọai là một cộng đồng
không đơn giản chút nào về phương diện
thành phần, về lư do định cư nơi xứ
người. Cho nên, để trả lời cho câu hỏi
Đi ( Việt
Trước
đây, trong những năm tháng cùng cực nơi quê nhà,
ngoài cái đói, cái nghèo, tương lai con cái là một
vực thẳm đen ng̣m không đáy, chúng ta c̣n phải
chịu đựng biết bao những áp bức, những
đe dọa từ phía nhà cầm quyền đặt
nền tảng cai trị trên sự căm thù giai cấp.
Khi ấy, rất nhiều người trong chúng ta đă
ở trong hoàn cảnh tuyệt vọng, không c̣n sự
lựa chọn nào khác ngoài ở đâu có tự do , có
cơm ăn áo mặc, có trường học cho con cái
đến học làm người, có bệnh viện
chữa trị những khi ốm đau bệnh tật,
nơi đó là quê hương. Nói cách khác, khi ấy ,
thực tại tối đen của cuộc sống trên
quê cha đất tổ và
bản năng sinh tồn đă tạm bỏ qua một bên
khái niệm về quê hương như là nơi có mồ
mả cha ông, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi một
con người lớn lên, trưởng thành và có những
kỷ niệm từ thuở hoa niên dẫu sau này có lang
bạt kỳ hồ đến tận phương
trời nào, nhưng khi cuối đời vẫn t́m cách
trở về cố hương mà gởi nắm
xương tàn .
Tôi nhớ một cuốn
phim được chiếu ở Sài G̣n những năm
đầu thập kỷ 60s với tài tử chính là
diễn viên lừng danh người Pháp Alain Delon. Trong phim, Alain Delon đóng vai một anh lính
Lê-dương phiêu bạt khắp các chiến trường
từ châu Á sang Châu Phi , những nơi là thuộc
địa của Pháp. Trong một trận đánh sau cùng
của cuộc đời đầy vọng động
của anh, người lính Lê-dương bị
thương nặng. Biết ḿnh không thể sống
được lâu, anh trốn bệnh viện t́m cách
trở về căn nhà xưa, nơi có người vợ
chung thủy và đứa con trai chưa
một lần biết mặt cha vẫn mong anh về.
Đoạn cuối của cuốn phim là h́nh ảnh nhân
vật chính đứng trước hiên nhà ḿnh, mệt
mỏi, xúc động, mở to mắt nh́n một cậu
bé đang ngồi ăn điểm tâm
trong bếp. Anh chập choạng bước vào
, ngă lăn ra chết giữa căn nhà, ngay chỗ mà
trong một đêm cuồng nhiệt năm xưa, anh và
mẹ của cậu bé đă dọn chỗ cho cậu
bước vào đời. Người lính trút hơi thở cuối
cùng trước khi nh́n thấy vẻ hoảng hốt
của cậu bé và trước khi nghe
được tiếng người vợ từ trong
bếp hỏi vọng ra . Khuôn mặt anh thanh thản,
mặc dù từ đôi mắt bất động vẫn
chảy ra những giọt nước mắt hiếm hoi.
40
năm về trước, tôi không hề nghĩ rằng
sẽ có một ngày tôi nghĩ về và nhớ mồn
một từng h́nh ảnh cuối cùng của cuốn phim,
với những xúc động vẫn tươi rói như
ngày nào trái tim non trẻ thổn thức
xót thương cho một kiếp người lưu
lạc xa nhà. Chỉ có khác chăng , ngày nay, tôi nh́n thấy h́nh ảnh
của ḿnh trên khuôn mặt thanh thản của người
lính.
Về hay Đi
? Về , hay
đúng hơn, trạng thái tâm linh của một con
người nghĩ đến nơi chốn trở về là một miền
đất b́nh yên và quen thuộc, là căn nhà xưa
đầy ắp những kỷ niệm thuở ấu
thời, là mái hiên đất nện lồi lơm vừa nh́n
thấy là ngửi ngay được mùi rơm khô chất
đống sau mỗi mùa gặt dù đă nhiều năm
về sau . C̣n Đi hay trạng thái tâm linh
của những chuyến viễn du về vùng trời xa lạ,
hứa hẹn nhiều điều mới mẻ nhưng
cũng không kém phần bất trắc, là cái háo hức
của những tâm hồn non trẻ muốn t́m nơi
tự khẳng định ḿnh.
Về là h́nh ảnh
của quá khứ, nơi ḿnh đă từng đặt chân
đến. Đi là bóng dáng của
tương lai, là con đường gập gềnh phía
trước chứa đựng muôn vàn ẩn số
của cuộc sống.
Về
hay Đi, có phải đó là câu hỏi nhói ḷng của
một thế hệ Việt Nam hiện đang sống
rải rác khắp nơi trên thế giới, và sẽ c̣n là
câu hỏi nhói ḷng không kém cho nhiều những thế
hệ Việt Nam mai sau trưởng thành nơi xứ người.
Người lính Lê-dương trong cuốn phim
chiếu ở Sài G̣n hơn 40 năm về trước
nằm xuống với nét mặt thanh thản. V́ anh đă xác định
được nơi nao là chốn quê nhà. C̣n tôi, và những
người bạn cùng một lứa bên trời lận
đận, liệu khi nhắm mắt, có được
cái an b́nh quư báu là khuôn mặt thanh thản ấy không, hay mắt vẫn
cứ mở trừng trừng, tiếp tục vấn
nạn trái tim khô đét của chính ḿnh : Về hay Đi ? Đi hay Về ?▄
T.Vấn
( Quê
Nhà, Quê Người )