Con bão
đầu mùa và một miền quê hương nghèo khó
●
T. Vấn

Quê hương em nghèo
lắm ai ơi,
Mùa đông thiếu áo, hè
thời thiếu ăn.
Trời rằng, trời
hành cơn lụt mỗi năm . . .
Khiến đau
thương thấm tràn, lấp Thuận An,
để lan biển khơi . . .
( Tiếng Sông Hương - Phạm Đình Chương ).
Bài hát cũ hàng gần nửa thế kỷ. Tác giả bài hát cũng
đã hóa ra người thiên cổ từ nhiều năm
về trước, nhưng , miền Trung nước
Việt vẫn cứ nghèo , mùa đông vẫn cứ thiếu
áo và hè thì vẫn cứ thiếu ăn. Và ,
những cơn bão lụt, hàng năm cũng vẫn cứ
theo với thời gian mà quay về.
Những
ngày giữa tháng 5 vừa qua, cơn bão số 1 – còn có tên là Chan
Chu, đã tràn vào vùng biển miền Trung, phủ một màu
tang trắng xóa lên nhiều tỉnh miền Duyên Hải,
nặng nhất là ở Đà Nẵng, rồi Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Thừa Thiền –Huế, Bình Định, Bình
Thuận –Phan Thiết . . .
1.
Khởi
đi từ biển Thái Bình Dương ngày 8/5/2006, Chan Chu
băng qua quần đảo Phi Luật Tân, rồi
đổ vào biển Đông . Bất ngờ, ngày 15/5/2006
cơn bão quay chiều , ngược thẳng lên hướng Bắc .
Vừa bị bất ngờ, vừa thiếu phương
tiện thông tin liên lạc, những đòan tàu ngư dân
Việt Nam thuộc Đà Nẵng, Quảng Nam , Quảng
Ngãi đã trở thành những nạn nhân trực tiếp
của cơn bão Chan Chu, cơn bão đầu mùa vùng
biển Thái Bình Dương, cơn bão đầu mùa một
vùng quê hương nghèo khó.
Tính cho đến sáng ngày 20/5/2006 , con số người chết ghi
nhận được từ 30 cho đến 50 ngư dân.
Con số mất tích thì khác biệt khá lớn
, từ 143 cho đến 300. Đó là chưa kể
những đòan tàu đánh cá mà đất liền vẫn
chưa có cách nào liên lạc được ,
nên không được nằm trong danh sách mất tích.
Theo một phóng viên ở trong nước, thì “không khí tang tóc bao trùm cả
dọc bãi biển Thanh Bình (Thanh Khê, Thành phố Đà
Nẵng). Khi hi
vọng sống sót của những người bị
nạn càng trở nên mỏng manh thì trên bờ biển
từng chiếc lán được thân nhân, gia đình
những người bị nạn dựng lên. "Dù gì thì cũng mong còn tìm được xác mà
đưa về chôn cất". Đó là lời một
người vợ tức tưởi khi nói về người
chồng mất tích của mình,
hòa với tiếng tức tưởi của chị
là tiếng khóc thút thít của đứa con gái nhỏ 4 tuổi,
và đứa em 17 tháng tuổi thẫn thờ bên
người mẹ mắt đã hóm sâu sau mấy đêm
thức trắng nhưng chứa đầy nỗi
tuyệt vọng.
Ở một chỗ khác, là những bàn thờ
được dựng lên ngay trên bãi cát, hướng
về bờ biển. Những bát nhang nghi ngút, những tấm
ảnh đàn ông trụ cột trong gia đình, và những
lời khấn vái , khóc lóc , kể
lể và cả nguyền rủa sự độc ác
của thiên nhiên .
Cả
những hình ảnh người mẹ gìa ngất đi khi
không có tin con ( có bà mẹ không phải
chỉ mất một đứa con). Những đôi
mắt khô khốc của người cha nhắm lại
cũng hình dung ra được cái phút giây cơn bão
cuốn con mình vào dưới đáy biển khơi, vì
đời ông, cũng đã bao phen sống sót qua những
cơn thịnh nộ của đất trời.
Trong
một căn chòi xơ xác cuối làng, 5 đứa bé
nằm co quắp ôm nhau.Đứa lớn nhất mới
14 tuổi và đứa nhỏ nhất 14 tháng. Người cha đi biển đã mấy hôm không
tin tức. Người mẹ , nghe
tin bão , đã hóa điên , cứ lang thang suốt ngày
suốt đêm trên bãi biển vừa gọi tên chồng
vừa cười sằng sặc
Đã bảo rằng “ Trời hành cơn lụt mỗi năm . .
. “
20 năm trước, một người mẹ
đã trở thành góa bụa vì một cơn bão cuốn
đi mất người chồng, người cha trong gia
đình. Bà
ở vậy nuôi 2 đứa con gái, lo cho chúng có
được tấm chồng chăm chỉ làm ăn . Nay, cùng với hai con gái phút chốc
trở thành góa bụa như bà, đau lại nỗi
đau từ 20 năm trước , bà kinh nghiệm
rằng, nỗi đau 20 năm trước và nỗi
đau 20 năm sau đều quá mức chịu
đựng như nhau . Với bà, cuộc
đời này quả thật bất công. Ông Trời này, quả thật không có mắt.
Người sống
sót trở về thì như những cái xác không hồn.
Anh thanh niên ngồi bệt xuống giữa
bãi cát, mắt vẫn đăm đắm nhìn ra biển
khơi, nơi anh vừa được cứu thoát sau
nhiều ngày tưởng chết, ôm mặt khóc như
một đứa trẻ. Nhiều bạn bè, thân nhân
của anh không có được may mắn như anh nên
đã không sống sót trở về. Anh đau
lắm, vì bây giờ làng đánh cá chỉ còn lại
được vài người đàn ông hiếm hoi, trong
đó có anh.
Chuyện bão ở những làng ven biển chuyên
sống bằng nghề chài lưới vốn không có gì
lạ.
Nhiều gia đình cha truyền con nối với nhiều
thế hệ ngày đêm lênh đênh trên sông , trên biển ,
cho nên , cái lời nguyền rủa “ nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá “ cũng
chẳng làm họ nao núng , nghĩ đến việc bỏ nghề , dù biết “ sinh nghề, tử nghiệp “
. 50 năm trước, 30
năm trước, 20 năm trước, 10 năm
trước, bão đã từng gieo tang thương cho
nhiều gia đình ngư dân trên miền Duyên Hải Việt
Nam. Nhưng không phải vì thế mà người ta ( các
giới chức chính quyền ) cứ để mặc cho
những mất mát đau thương ấy tiếp
tục tái diễn hàng năm , khi mà khoa học kỹ
thuật ngày nay đã có thể tiên đóan một cách chính
xác mọi thay đổi của thiên nhiên, khiến
những “ cơn thịnh nộ “ khủng khiếp trong quá
khứ như gió xóay ( tornado), sóng thần ( tsunami ) và bão
cấp 8 ( hurricane ) nay đã không còn gây nên những thiệt hại về nhân
mạng như xưa nữa.
Sống giữa thời
đại bùng nổ về thông tin ,
về khả năng thần sầu của kỹ
thuật. mà sao vẫn còn những
thảm cảnh lẽ ra có thể tránh được.

2.
Thực ra, đường đi của cơn bão
Chan Chu không có gì bất ngờ. Ngày 13/5, tin bão vào
đến Phi Luật Tân. Ngày 15/5, trên màn hình các máy dò
tâm bão ở Phi Luật tân, ở Hawaii, ở Hồng Kông,
ở bộ chỉ huy viễn dương Hải quân
Mỹ xác định rõ ràng hướng đi của Chan Chu
đang trở lên phía Bắc, khu vực Đảo Hải
Nam và Đài Loan . Các tỉnh Duyên hải
miền Trung Việt
Nhưng
các tàu bè đánh cá của Việt nam thì không biết
được hướng đi mới của bão mà
đất liền đã biết từ rất sớm. Trên các tàu, không có những phương tiện liên
lạc hữu hiệu, ngọai trừ một số máy
móc cũ kỹ chỉ họat động khi trời trong
gió nhẹ. Vì thế, các ngày 17 và 18 tháng 5, họ
bị lọt vào đường đi của tử
thần mà các các máy dò thông dụng đã vẽ ra từ ngày
15 tháng 5.
Trước tình trạng đó, báo chí trong
nước đã đặt được những
vấn đề một cách khá sắc sảo. Họ nêu
vấn đề trách nhiệm. Theo họ,” không thể đổ trách
nhiệm cho cơn bão Chan Chu vô tri vô gíac, không thể
đổ trách nhiệm cho những tàu đánh cá, cho
những người đi biển, bởi họ không còn
lựa chọn nào khác trong cuộc mưu sinh này. . . Lâu nay
chúng ta cứ hồ hởi hô: tiến ra biển khơi,
đánh cá xa bờ, nhưng gần như "quên" trang
bị cho ngư dân đánh cá xa bờ những phương
tiện thông tin liên lạc tốt, những kiến
thức cần thiết nhất khi gặp bão gặp
nạn, và phổ biến cả những kinh nghiệm tránh
bão chứ không chỉ là kinh nghiệm đánh bắt cá. Hình
như chúng ta chưa bao giờ nghĩ phải huấn
luyện, tập huấn cho ngư dân
đánh cá xa bờ thành những người đi biển
chuyên nghiệp, những thủy thủ đánh bắt
hải sản theo đúng nghĩa. Chúng ta chỉ cho họ
vay vốn đóng thuyền, và thế là hết, coi như
xong nhiệm vụ. Và không chỉ đến khi tai họa
xảy ra, mới lo giải quyết hậu quả.
. . ( Thanh Thảo – Thanh Niên On-line
21/5/06)”.
Về
phía những người có trách nhiệm, trong khi những
ngư dân Việt Nam đang ở trong vùng tâm bão chiến
đấu tuyệt vọng với sóng to gió cả , thì họ
, hoặc là “ không biết có tàu
đánh cá của dân mình trong vùng bão ( Phó ban chỉ huy phòng
chống bão lụt thành phố Đà Nẵng ) , hoặc “ không nghĩ mật độ
tàu thuyền cao như vậy. Với phạm vi quá xa,
hơn 1,400 km, là vượt khả năng thông tin của
chúng ta . . .( Trưởng ban phòng
chống bão lụt trung ương ).
Ngay
cả khi biết tin hàng trăm ngư dân của các
tỉnh duyên hải cùng với hơn 30 chiếc thuyền
đánh cá hiện đang lâm nạn ngòai xa khơi, mãi
đến ngày 20/5/06 một cuộc họp liên ngành các
cơ quan trách nhiệm mới được triệu
tập tại thành phố Đà Nẵng, nơi có sự
thiệt hại nhân mạng cao nhất, để bàn các
biện pháp nhằm cứu nạn và khắc phục
hậu quả thảm họa.
Về
khả năng đối phó với việc cứu hộ
cứu nạn tầm xa, “Việt
nam hiện có 7 chiếc tàu cứu nạn hàng hải ( có tên gọi là SAR, tại miền
Trung có 3 chiếc neo ở Đà Nẵng ) được
xem là hiện đại nhất hiện nay, cũng chỉ
họat động trong tầm 250 hải lý, nếu đi
xa hơn sẽ có thể mắc nạn do không đủ
nhiên liệu ( Minh Tư- Tuổi trẻ on-line- 23/5/06)”.
Một
quốc gia đã từng có một đạo quân hùng
mạnh được liệt vào hàng nhất nhì thế
giới, với 80 triệu dân đã phải bó tay
để mặc cho hàng trăm đồng bào mình thiệt
mạng vì sóng, vì bão, đơn giản chỉ do thảm
cảnh xảy ra “ quá xa . . . vượt khả năng
thông tin “, “ không biết có dân mình ở đó “, “ không có
phương tiện cứu nạn hữu hiệu “ ,
trong khi đó, ở vài nơi khác trên thế giới, ngay
đến một con chó, một con mèo mắc nạn
người ta vẫn huy động các phương
tiện máy móc tối tân để cứu sống cho
bằng được.
3.
Người chết đã chết, mặc cho
những óan than trách móc, họ sẽ không sống lại
được. Những gia đình tan nát vì mất đi
người trụ cột trong nhà – người chồng,
người cha – cũng sẽ không bao giờ tìm lại
được cuộc sống an vui ngày
cũ. Và dù những tấm lòng “ máu chảy ruột mềm
“ trong nước đã không quản ngại bớt đi
một phần trong bữa ăn khiêm tốn hàng ngày đã
mau chóng có những cử chỉ nhường cơm xẻ
áo, nhanh hơn cả phản ứng của những
người có trách nhiệm, để gởi chút lòng
đến những người đồng bào bất
hạnh, những cử chỉ ấy bao giờ cũng làm
cho cả người cho lẫn người nhận
ấm lòng, vì nhờ đó, người ta thêm yêu
thương trần gian khốn khổ này. Nhưng, quan
trọng hơn hết, vẫn phải làm sao để
những thảm cảnh như thế không bao giờ tái diễn . Bởi vì, trong khả năng con
người thế kỷ 21, những thảm cảnh
như thế có thể tránh được một cách
dễ dàng, nhờ vào hệ thống vệ tinh tòan cầu,
công nghệ tin học hiện đại và mạng
lưới thông tin nhanh chóng đến từng giây. Chỉ cần sự đầu tư và quan tâm
của những cơ quan thẩm quyền và trách nhiệm.
4.
Cộng
đồng người Việt tại Hải Ngọai
đã bao lần chứng tỏ tấm lòng con người
đau với nỗi đau của con người từ
thảm họa Tsunami ở vùng biển Nam Á cuối năm
2004 cho đến cơn bão Katrina mới đây ở
nước Mỹ, nay, trước thảm nạn bão Chan Chu
ở miền Trung Việt Nam hẳn cũng sẽ không
ngỏanh mặt làm ngơ. Tôi có đọc
được đâu đó có người nói rằng tình
thương rồi cũng sẽ một ngày mệt
mỏi. Tôi không nghĩ vậy.
Chỉ có những nỗi đau mới biết đến
sự mệt mỏi, vì không ai có thể sống mãi với
những nỗi đau, dù đó là nỗi đau riêng
của mình hay nỗi đau chung của đất
nước, dù nỗi đau ấy có khó quên đến như thế nào. Nhưng, tình thương, đặc tính nổi
bật nhất của những con người đúng
nghĩa con người, thì luôn luôn tươi rói dù có
phải trải qua thật nhiều những trạng
huống xé lòng của đồng lọai.
Xét cho cùng, con người
chỉ thực sự tồn tại khi còn biết
đến yêu thương và chia xẻ.
T.
Vấn
( Mùa bão 2006)