Xưa nay chiến địa dường
bao
Trung sĩ Darrell R. Griffin, 36 tuổi
Ta là chim biệt
xứ
Đậu trên
cành bi ai
Nhớ ḥai
điệu kèn cũ
Hồn tử
sĩ u ḥai
( Ngọc Phi)
1.
Lịch sử các cuộc chiến tranh
luôn luôn được viết bằng máu và nước
máu. Trước hết là máu của những người
lính và nước mắt của các góa phụ tử sĩ.
Câu chuyện một người lính bộ
binh Hoa Kỳ vừa nằm xuống trên chiến trường
Iraq , được phổ biến rộng răi trên các
phương tiện truyền thông của nước Mỹ,
một lần nữa khẳng định điều mặc
nhiên ấy qua những mảnh điện thư trao đổi
giữa người lính ng̣ai chiến địa và thân nhân ở quê nhà.
4 ngày trước khi tử trận v́ một
viên đạn bắn sẻ của đối
phương trong lúc đi tuần tra trên một đường
phố ở Iraq, người lính vừa đền nợ
núi sông đă gởi cho vợ của ḿnh một điện
thư :
Ở
nước Hy Lạp xưa, những người vợ
lính chủng tộc Spartan thường nói với chồng
ḿnh trước khi họ lên đường đi vào chiến
trận rằng, hoặc anh trở về b́nh an với cái
khiên trên tay, hoặc anh đă can đảm hy sinh và được
vinh dự đặt nằm trên cái khiên ấy . Nhưng nếu
anh trở về mà không có cái khiên, th́ anh là một kẻ hèn
nhát đă bỏ chạy trước khi cuộc chiến kết
thúc. Hèn nhát không phải là đức tính của người
Spartan. Vậy th́ em yêu ơi , hăy yêu và đón anh về bên em
cũng với một trái tim dù anh có trở về với
cái khiên trên tay hay nằm bất động măi măi trên cái
khiên ấy. . .
Vài ngày sau khi nhận được điện
thư của chồng gởi về từ Iraq, người
vợ trả lời :
Anh
có b́nh an không ? từ hôm Chủ nhật đến nay, em
không nhận được chút tin tức nào về anh, mà
hôm nay đă là thứ Tư rồi. Em nhớ, anh có bảo
rằng, anh đang tham dự vào một cuộc hành quân rất
nguy hiểm. Không nghe được
tin tức ǵ về anh làm em lo quá. Không điện thư,
cũng chẳng điện thọai. Em chỉ c̣n biết
hy vọng và cầu nguyện cho anh thôi, anh yêu dấu ! . . .
Người lính ấy đă không bao giờ
đọc được mảnh điện thư đầy
lo lắng và hỏang sợ của vợ ḿnh. Ông tử trận
ngày 21 tháng 3 năm 2007 trong lúc đi tuần hành ở Sadr
City, một trong những thành phố trực diện với
bạo động nhiều nhất của Iraq.
Trên Website chính thức của Bộ Quốc
Pḥng Hoa Kỳ, văn pḥng phụ tá bộ trưởng phụ
trách về các vấn đề giao tế dân sự đă
cho đăng tải bản thông cáo chính thức “ Trung sĩ Darrell R. Griffin JR. , 36 tuổi,
thuộc thành phố Alhambra, tiểu bang California, đă tử
trận ngày 21 thảng 3, năm 2007 tại Balad, Iraq, sau khi
bị thương trong lúc giao tranh bằng vũ khí nhẹ.
Griffin tùng sự tại tiểu đ̣an 2, trung đ̣an 3,
sư đ̣an 2 bộ binh, căn cứ đồn trú ở
Fort Lewis, tiểu bang Washington. “
Người vợ, sau khi chồng lên
đường theo đơn vị nhận nhiệm vụ
ở Iraq, đă rời bỏ Fort Lewis, Wasington dọn về ở miền Nam
California để được gần gủi gia
đ́nh. Cũng tại nơi đây, bà đă mở cửa
đón tiếp vị tuyên úy quân đội có nhiệm vụ đến báo
tin buồn : “ Tổng thống
Hoa Kỳ . . . “ . Cho đến giờ, bà chỉ c̣n nhớ
được câu mở đầu đó của vị Tuyên
úy. Trí nhớ của bà đă đóng băng khi vừa nghe
câu mở đầu của lời ai điếu đến
từ vị Tổng tư lệnh quân đội. Trong ngày
tang lễ của chồng, bà giữ im lặng , và từ chối lời
mời phát biểu trước khi hạ huyệt quan tài.
Chỉ sau khi tiếng âm vang của 21 phát súng tiễn
đưa đă ḥan ṭan im ắng
trên con đường xa lộ mênh mông đưa bà về
lại căn nhà từ nay không c̣n bóng dáng người chồng,
lúc ấy, bà mới th́ thầm
với gió : “ Hôm nay, anh
đă thực sự trở về nhà trên tấm khiên của
ḿnh “.
Người cha của Griffin, sau khi nhận
tin con chết, đă ở trong tâm trạng nửa tỉnh
nửa mê trong nhiều ngày. Nỗi xúc động của
ông đi từ giận dữ, rồi buồn bă, tới
tuyệt vọng, tới việc sẵn ḷng chấp nhận
cái chết của đứa con yêu quư như một điều
không thể tránh khỏi. Nhiều người bạn của
ông đă thúc giục ông hăy tham gia phong trào phản chiến
và xử dụng câu chuyện về cái chết của con
ông để giúp chấm dứt cuộc chiến ở
Iraq. Nhưng ông từ chối. Ông tin rằng người
ta không hiểu, hay cố t́nh không hiểu rằng, người
lính ( con trai ông ) đă yêu mến quân đội như thế
nào ( Griffin đă phục vụ hai nhiệm kỳ ở
Iraq). Ông nhấn mạnh rằng, con ông, người lính
đă nằm xuống với màu áo của một quân đội
đă từng cứu sống anh nhiều lần, thù ghét nhất việc người ta đem chính
trị can thiệp vào nỗ lực t́m kiếm một giải
pháp cho đất nước Iraq. Trong hai lần phục vụ
tại Iraq, anh đă dành th́ giờ ghi chép những điều
tai nghe mắt thấy, những chứng từ sống của
một người lính ngay trên chiến địa cũng
như thâu thập các h́nh ảnh mà người hậu
phương có lẽ chẳng bao giờ nh́n thấy, dù là
trên trang nhất những tờ báo lớn nhất nước
Mỹ. Anh làm công việc đó với tham vọng , sau khi
tṛn nhiệm vụ người lính, anh sẽ dành hết
tâm lực cho một cuốn sách nói về những sự
thực trong chiến tranh. Thực ra, 3 tuần lễ
trước khi viên đạn bắn sẻ cướp
đi mạng sống của
người lính có trái tim nhân bản, anh đă bằng
ḷng để cho một phóng viên của tờ báo lớn US
News & World Report phỏng vấn, quay phim và giao cho người
phóng viên này một số những
ghi chép ,cũng như h́nh ảnh của anh và đồng đội trong
những t́nh huống bi tráng nhất. Nguyện vọng duy
nhất của anh là tất cả mọi người
được nh́n thấy, được nghe những câu
chuyện có thực về nỗi đau khổ của con
người trong chiến tranh, về những nguy hiểm,
đau đớn, những nỗi buốt ḷng mà người
lính phải đối diện hàng ngày trong khi thi hành nhiệm
vụ.
Một trong những câu chuyện ấy được
anh kể như sau.
Ngày 3 tháng 1, năm 2005, ở thành phố
Tal Afar , đơn vị của Griffin đang trú đóng ở
một ṭa lâu đài cũ dùng
làm căn cứ th́ được
lệnh tiến vào thành phố xem xét thi thể bị chặt
đầu của con trai một viên cảnh sát Iraq .
“
Chúng tôi dẫn theo mấy người cảnh sát Iraq. Đến
nơi, chúng tôi thấy một cái xác bị chặt cụt
đầu, nằm ngửa trên mặt đất. Cái đầu
nạn nhân th́ lại được đặt nằm ngay
ngắn trên ngực . Chúng tôi chia nhau giữ an ninh hiện
trường để 3 viên cảnh sát người Iraq
đến xem xét và nhận dạng thi thể người
chết. Khi họ c̣n cách xa cái xác khỏang vài bước,
th́ từ cái xác phát ra một tiếng nổ lớn, làm chết
tại chỗ một người và hai người c̣n lại
bị thương nặng . . . Chúng tôi phải đem thi thể
không nguyên vẹn ấy về khu lâu đài cũ tạm dùng làm căn cứ
và để cho thân nhân họ đến nhận diện bằng
cách nh́n vào đôi giầy vẫn
c̣n ở trên chân người chết.
Sau
đó, vào buổi chiều, viên cảnh sát Iraq có con bị
chết không ṭan vẹn thi thể nói trên, bắt đầu
uống rượu say. Rồi một người trong gia
đ́nh ông ta lấy súng ra xả
đạn vô tội vạ vào ḍng xe cộ đông đúc
phía bên ng̣ai khu lâu đài cũ
( mà chúng tôi tạm dùng làm căn cứ). Chúng tôi bất lực
đứng nh́n ông ta giết chết một cô gái 17 tuổi,
một bé gái 7 tuổi và một thanh niên 28 tuổi. Chúng tôi
không thể can thiệp v́ sự việc xảy ra với
những nguyên nhân rất phức tạp. Hôm ấy là một
trong những ngày kinh khủng nhất mà 34 năm làm người
của tôi đă trải qua trên mặt đất này. Tôi cảm
thấy ḿnh đần độn, run rẩy v́ sợ hăi
khi phải đứng giữa tâm điểm của cuộc
tàn sát man rợ . Liệu tôi có thể nói lên được
điều ǵ ? Ngày hôm nay, Chúa đang ở đâu ? . . .”
Như thế đó là chiến tranh. Và
cũng chỉ là một góc rất nhỏ của những
cuộc tàn sát hàng ngày. Cái bi kịch của người lính
là anh bước vào cuộc chiến với không một
chút mảy may ư niệm của hận thù. Không có ai là kẻ
thù của anh. Anh chỉ giết người để tự
vệ, để có thể trở về nhà gặp lại
cha mẹ vợ con với cái khiên trên tay, chứ không muốn
nằm trên đó để cho đồng đội khiêng
về. Dù vậy, anh cũng đă nằm xuống. Trước
khi nằm xuống, anh cũng kịp ḥan tất việc
tiêu hủy 8 mạng sống con người. Và đây là câu
chuyện về cái chết của “ kẻ thù “ thứ 8 .
“
Tôi mở cửa của một căn pḥng với ư nghĩ
đó cũng chỉ là một căn pḥng không có người.
Nhưng khi bước vào, tôi thấy xác chết nằm la
liệt trên nền nhà. Có vẻ như căn pḥng được
dùng làm nơi tập trung những xác chết và người
bị thương. Một người bị thương
vẫn c̣n sống, cố t́m cách chỉ vào cái chân bị
thương của anh ta và muốn được tôi giúp
đỡ. Tôi không muốn bước vào pḥng khi tôi không
nh́n thấy được phía bên tay trái của tôi. Ở
đó có thể có người c̣n sống sót sẵn sàng nhả đạn vào tôi. Căn pḥng , ng̣ai
xác người chết, c̣n lổn ngổn những khẩu
súng AK-47, băng đạn, lựu đạn và các lọai
vũ khí giết người khác. Tôi ra hiệu cho người
bị thương hăy ḅ ra ng̣ai. Anh ta dường như
không muốn làm theo lời tôi hay không thể ḅ được.
Bỗng nhiên, anh ta nh́n thẳng vào mắt tôi với cái nh́n
của thần chết, rồi chợt mỉm cười
trong lúc tay với khẩu súng AK-47 nằm gần đó. Tôi
nâng súng lên và nhả hết trọn
8 viên trong băng đạn của cây súng vào đúng giữa
trán anh ta từ một khỏang cách chưa tới 3 bước
chân. . . “
Trên chiến địa, kẻ chiến thắng
và người chiến bại có thể đổi chỗ
cho nhau trong tích tắc. Đồng thời , kẻ chiến
thắng ( sống sót ) hôm nay, có thể trở thành người
chiến bại ( hy sinh ) ngày mai.
Cổ
lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Xưa nay, mấy
ai chinh chiến mà c̣n sống sót trở về.
Nước Mỹ, dù bất đồng với
các chính trị gia về phương cách tiến hành chiến
tranh ở Iraq, nhưng họ đă đón những người
lính con em của họ nằm xuống trên chiến địa
xa xôi ấy bằng lễ nghi dành cho những anh hùng. V́ họ
xứng đáng được hưởng như vậy
sau khi đă kinh qua những điều kinh khủng nhất
của chiến tranh. V́ cái chết của người lính
là cái chết đẹp nhất của nhân lọai. Cái chết
để cho người khác sống. Hay ít nhất đó
cũng là điều anh tin tưởng khi bước chân
vào trận địa.
2.

Tháng 5 có lễ Chiến sĩ trận vong
( Memorial Day) theo lịch của người Mỹ. Cũng
là dịp nhớ đến những người lính đă
hy sinh cho tổ quốc, như người lính tôi vừa
nhắc đến ở trên. Sự hy sinh của người
lính, luôn luôn là sự hy sinh cao quư và người ta không thể
dùng khái niệm thắng bại, đúng sai thông thường
khi nói về những sự hy sinh ấy. Trong ư nghĩa
đó, tôi trân trọng đón nhận tác phẩm “ Can trường
trong chiến bại – Hành tŕnh của một thủy thủ
“ của ông Hồ văn Kỳ Thọai, cựu phó đề
đốc hải quân Việt Nam Cộng Ḥa, vừa
được ông cho ra mắt công chúng mới đây. Theo
tôi, đây là tập hồi kư của một vị cựu
tướng lănh quân lực VNCH xứng đáng được
trân trọng nhất từ 32
năm nay, dù tác gỉa đă rất khiêm tốn “ . . . ngại rằng quyển sách này
không phải lọai hồi kư mà độc gỉa trông
đợi nên chỉ coi đây như những trang kư ức
để lại cho con cháu, cho tất cả các chiến hữu
đă từng phục vụ bên cạnh tác gỉa và hy vọng
một vài chi tiết kể lại cũng có thể giúp các
sử gia sau này . . . “ (1).
Ngay cái tên tập sách “ Can trường
trong chiến bại “ mà ông chọn, cũng hàm một ư
nghĩa , như ông giải thích : “Hai mươi
bẩy năm sau khi chiến tranh chấm dứt, vào Tháng
Sáu năm 2002, trong dịp tôi dự một hôn lễ
hết sức đơn giản của một cặp nam
nữ trẻ tuổi người Hoa Kỳ tổ chức
trong nhà kho của một sở cứu hỏa trong làng
nhỏ gần Leesburg thuộc tiểu bang Virginia Hoa Kỳ,
trên tường có treo một tấm bảng gỗ có viết
một câu để vinh danh người lính cứu
hỏa. Tôi rất cảm xúc khi đọc và nghĩ ngay
tới người chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa
nói chung, các thủy thủ và biệt hải nói riêng: 'Let me win, if I cannot win, let me be
brave in the attempt' (xin tạm dịch: Xin để tôi chiến
thắng, và nếu tôi không thể thắng xin để tôi
can trường trong nỗ lực của ḿnh - TG).
Đọc xong câu trên, tôi nghĩ tại sao chúng ta tiếp
tục tự dầy ṿ chúng ta với sự chiến
bại mà không hănh diện về sự can trường
của biết bao anh hùng của các quân binh chủng?... ” (
2)
Trong
tinh thần đó, ông đă trung thực , cần mẫn ghi
chép lại những sự kiện mà cuộc đời
binh nghiệp của ông đă chứng kiến. Điều
quan trọng nhất, ông đă giữ không cho cảm tính chi
phối sự ghi chép ấy bằng những nhận xét
riêng của ḿnh, nhất là với những sự kiện
xảy ra trong những ngày cuối cùng của cuộc
chiến. Lịch sử cần sự kiện ( facts), nó
bỏ qua một bên những phán xét ( judgements). V́ mọi
phán xét của người trong cuộc đều bị
què quặt v́ sự yêu ghét, khen chê, v́ chỗ đứng
giới hạn của từng cá nhân, đó là chưa
kể những ư đồ thiếu lương thiện
của một vài người muốn bóp méo sự kiện
để biện minh, chạy tội, hay tự đánh
bóng cá nhân như đă xảy ra trong quá khứ. Đáng trân
trọng hơn nữa, những ghi chép của ông chính xác
đến từng ngày, giờ sự kiện xảy ra,
chứng tỏ một tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa
học, chứ không phải chỉ đơn thuần
dựa vào trí nhớ. Điều đó cũng chứng
tỏ tư cách, tiết tháo và khả năng của
một vị tướng của quân lực VNCH. Hay nói như nhà
văn Vũ Ánh trong bài điểm sách “ Đọc Can trường
trong chiến bại : hành tŕnh của một thủy
thủ “ ( Vietnam Review – 11/03/2007) : “Cách viết của ông cho chúng ta thấy nguyên vẹn
nhân cách của những người lính VNCH giữa
những cơn lốc của thời đại. Nhân cách
ấy đă khiến cho người đọc khi
đọc hết cuốn sách thấy ḿnh có thể trút
bỏ chút bi phẫn c̣n vương lại sau những
năm tháng ảm đạm tại quê nhà hay những ngày
lưu lạc tha hương. Những bi phẫn ấy
đă từng hành hạ phần đông những cựu
quân nhân VNCH suốt trong 32 năm qua.”
Tôi
gập quyển hồi kư dày 331 trang của cựu phó
đề đốc hải quân quân lực VNCH Hồ
văn Kỳ Thọai lại với những h́nh ảnh
hỗn độn của ngày 30 tháng 4 năm 1975 cứ váng
vất ở trong đầu. Nhất là những ḍng
chữ tâm huyết ông viết
ở trang cuối cùng của tập sách, mà tôi tin rằng
v́ những suy nghĩ ấy mà ông cho ra đời tập
hồi kư này :
“Dù thắng hay
bại, trong một cuộc chiến, tất cả các
chiến sĩ hai bên đều làm nhiệm vụ của
ḿnh theo lư tưởng khác nhau.
Sau cuộc chiến, những chiến sĩ dù hy sinh cho
một lư tưởng nào đó, khi chết trong bộ quân
phục đều là những anh hùng th́ khi đă nằm
xuống phải được sự kính nể của
những thế hệ sau. Hai trăm năm nữa, con cháu
chúng ta khi học lịch sử Việt
3.
Đă
từng là một người lính, nên mỗi khi tôi
đọc về cái chết của người lính, tôi
lại không thể không liên tưởng đến
những đồng đội của ḿnh đă hy sinh cho cuộc chiến. Như
người lính Mỹ vừa qua đời trên chiến
trường Iraq, chúng tôi đi vào trận địa không
phải như lời giả
dối ( trong bài hát “ Trường sơn Đông,
Trường sơn Tây “ nổi tiếng một thời
của bộ đội miền Bắc ) Đường ra trận mùa này đẹp lắm , mà
là với một ư thức rất rơ ràng về thân phận
của ḿnh, về sự tàn ác của chiến tranh, về
sự hủy diệt một cách vô luân mọi giá trị
con người khi người ta v́ bản năng sinh
tồn phải bắn giết đồng loại. Các
đồng đội của
tôi khi nằm xuống, cũng đă để lại bao
đau xót cho những người vợ trẻ, cho những
người t́nh đầu đời chưa kịp
một lần đến với nhau trọn vẹn. Và dù
chúng tôi là những kẻ chiến bại, nhưng điều
đó cũng không thể làm giảm đi tính cách cao quư trong sự hy sinh của
người đă nằm xuống và ḷng can trường
của kẻ sống sót, như lời tâm huyết của
một người lính già vừa kể lại câu
chuyện đời ḿnh trong nỗi thăng trầm
của vận nước điêu linh.
Nỗi đau của
chiến tranh th́ vô tận. Bởi v́ lịch sử nhân loại
được viết bằng máu và nước mắt của
con người trải qua nhiều thế hệ, với
những lỗ hổng chỉ được lấp đầy
bởi hằng hà sa số xác
người nằm xuống trên chiến địa. Bao lâu
c̣n lịch sử nhân loại, sẽ vẫn c̣n những cuộc
chiến tranh, v́ đó là hoạt động tất yếu
và cách thức chứng minh sự tồn tại duy nhất
của mọi quần thể chủng tộc. Và tất
nhiên, đội ngũ những oan hồn tử sĩ chập
chờn trong cơi vô h́nh sẽ ngày một thêm đông đảo.
Không tôn trọng và
tưởng nhớ những người lính đă nằm
xuống cho sự tồn tại của một tập thể,
một quốc gia, một dân tộc, th́ tập thể ấy,
quốc gia ấy, dân tộc ấy chỉ là một đàn
thú hoang tụ tập nhau lại nhằm mục đích
đi kiếm mồi mà thôi.( T.Vấn – Chiến
sĩ trận vong )
Tôi mượn những
ḍng viết cũ, như nén tâm hương hàng năm gởi
đến những anh linh đồng đội của tôi
đă nằm xuống cho lư tưởng mà chúng tôi đă một
thời cùng nhau theo đuổi.
T.Vấn
Tháng
5-2007
(1)
Can Trường Trong Chiến Bại
– Hành tŕnh của một thủy thủ. Hồ văn Kỳ-Thọai.
Trang 18
(2)
Sách đă dẫn, trang 18
(3) Sách
đă dẫn, trang 323.
©
T.Vấn 2007