Hai màu áo, một tâm hồn.

■ Gởi một thế hệ tuổi trẻ
Việt
● . . . Vì non
xanh nước biếc vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, vì dân vẫn là cái gốc trên đó
mồ mả cha ông làng quán họ hàng lề thói tập
tục tồn tại , và cũng từ đó những
chế độ cầm quyền ra đời, nên cuộc
ra đi nào cũng phải chứa cái mầm của sự
trở về. (
T.Vấn – Trở về
hay ra Đi ? )
1.
Hôm
Lễ Chiến Sĩ Trận Vong Hoa Kỳ ( Memorial Day )
cuối tháng 5 vừa qua, thấy tôi hì hục bắc thang
treo lên hai bên cửa nhà hai lá cờ, một bên là lá cờ
Mỹ, và bên kia là lá cờ Việt Nam, đứa con gái
nhỏ của tôi buột miệng hỏi tôi đại ý
Bố ơi, tại sao nhà mình lại treo hai lá cờ, trong
khi tất cả những nhà khác trong khu vực chung quanh, có
nhà không treo cờ, có nhà chỉ treo một lá cờ Mỹ,
riêng nhà mình lại có cả cờ Việt Nam nữa ? Tôi
cố tìm lời lẽ thật bình dị , dễ hiểu,
lâu lâu phải chêm vào một số từ tiếng Mỹ
để phụ giải thích cho con tôi hiểu rằng, vì
mình là người Việt Nam sống trên đất
Mỹ, có nghĩa là mình vẫn còn một tổ quốc khác để
nhớ về trong những dịp lễ lậy có tính cách
quốc gia như ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong,
tức ngày tưởng nhớ đến những
người con đất nước đã bỏ mình
để bảo vệ tổ quốc, những chiến
sĩ đã nằm xuống cho lý tưởng tự do, dân
chủ, độc lập và quyền được
sống như một con người bình đẳng
của dân tộc. Lá cờ Mỹ là dành nhớ đến những
người đã chết dưới lá cờ này
để ngày nay chúng ta có được một mảnh
đất tự do, thịnh vượng dung chứa
hơn hai triệu người Việt
Và vì
thế, việc treo hai lá cờ trong những ngày lễ
lớn, dù người Việt Nam ấy hiện sinh
sống bất cứ nơi đâu trên toàn thế giới,
là một cử chỉ nhớ về cội nguồn,
nhớ về nơi từ đó mình được sinh ra ( hay cha mẹ mình được sinh ra ) ,
từ đó mình (hay cha mẹ mình ) bước chân ra đi
và đó cũng sẽ là nơi mình sẽ trở về,
như đứa con trở về nhà cha mẹ. Và
đồng thời cũng là một cử chỉ
đầy tính cách văn hóa , trọng nghĩa thủy chung ,
ăn trái nhớ kẻ trồng cây của người
Việt
Hai màu cờ, nhưng
vẫn chỉ một tâm hồn, một con người.
Đời
một con người, từ lúc được sinh ra cho
đến lúc chết đi, có nhiều dấu mốc
năm tháng, không thể quên, không muốn quên. Thí dụ như ngày sinh,
được ghi nghiêm túc trên trang sổ hộ tịch,
được cha mẹ bạn bè thầy cô nhớ
đến hàng năm. Một dân tộc, hay
một quốc gia, cũng có đời sống riêng như
của một con người. Ngày thành
lập nước, hay còn gọi là ngày Quốc Khánh,
cũng được ghi trang trọng trong những trang
Hiến Pháp. Và hàng năm, các con dân trong nước,
vẫn làm lễ kỷ niệm . Đó là sinh hoạt cao nhất về văn hóa
của một dân tộc. Do đó, những ngày Lễ
Quốc Gia hàng năm, không chỉ là dịp mọi
người nghỉ ngơi, đi lại thăm viếng
gặp gỡ gia đình bạn bè, mà trên hết, và
trước hết, mọi người có dịp suy
nghĩ về quá khứ của dân tộc, trong đó có quá
khứ cá nhân mình. Không ai có thể tự tách
mình ra khỏi dòng sống dân tộc. Vận
nước nổi trôi sẽ kéo theo
những mảnh đời trôi nổi. Vận nước
điêu linh sẽ kéo theo những hậu
quả đau đớn, chia lìa, chết chóc cho muôn dân
trăm họ.
Tổ quốc như
chiếc thuyền.
Và nhân dân như
những người đi trên chiếc thuyền ấy.
2.
Ngày 4
tháng 7 hàng năm là Lễ Độc Lập (
Independence Day )của Hoa Kỳ, mảnh đất
đang dung chứa hơn hai triệu người Việt
Với
thế hệ thứ nhất, vốn mang tâm thức
lưu vong, hay nói cách khác, sống nơi
xứ người nhưng cõi lòng vẫn hướng
về quê nhà cũ, thì hình ảnh lá cờ Việt Nam là hình
ảnh thiêng liêng không thể thiếu, dù nằm sâu trong tâm
khảm hay biểu lộ ra bên ngoài trong những dịp
lễ lậy hội hè. Nó là tấm căn cước
về nguồn gốc của một cộng đồng,
một quần thể, là quyển gia phả truyền
từ đời nọ sang đời kia.
Trong khi đó, hình ảnh lá cờ Mỹ (
hay nước định cư ) mang ít nhiều tính
luân lý, tính ước lệ và tính nghi thức đối
với thế hệ này. Điều dễ hiểu, quá
nửa đời người họ đã sống, chiến
đấu, hy sinh, đổ máu cho lá cờ quê nhà thứ
nhất. Còn lá cờ của quê hương thứ hai,
chưa đủ yếu tố thực tiễn và thời gian để
đi vào máu tủy của thế hệ này.
Với thế hệ thứ hai, ngược
lại, mang tâm thức băn khoăn về chính mình. Sinh ra ( hay chí ít, trưởng
thành ) trên mảnh đất không phải là mảnh
đất chôn nhau cắt rốn của cha mẹ, họ
lớn lên, đi học , chơi đùa , nói cùng ngôn ngữ với lũ trẻ người
bản xứ, hấp thụ văn hóa người bản
xứ, và từ đó, cư xử như người
bản xứ. Nhưng khi về đến
mái nhà cha mẹ, họ phải thích nghi với một
nền văn hóa hoàn toàn khác biệt. Dần dà, khi
những khác biệt ấy ngày càng trở nên đối
chọi nhau, họ đã có lúc
tự hỏi mình là người Việt
Làm sao những người trẻ
Việt Nam sinh ra, trưởng thành ngoài đất
nước, lại có thể có được cái cảm
giác nổi da gà khi đứng nghiêm trang nhìn về lá
quốc kỳ Việt Nam nếu chúng chưa từng bao
giờ có những cơ hội gần gủi, nhìn, nghe, sờ , mó , cảm
và hiểu được thế nào là cuộc
sống Việt Nam, con người Việt Nam, đất
nước Việt Nam.
3.
Nhưng cây có cội,
nước có nguồn. Dù hình ảnh lá cờ Việt Nam chỉ
chiếm vị trí thứ hai trong tâm hồn những
người trẻ Việt Nam sinh ra, lớn lên ở
hải ngoại, nó vẫn là cái nền trên đó, một
con người xác định nguồn gốc của mình ( kể cả người bản xứ,
họ vẫn phân biệt các
sắc tộc di dân theo cách gọi Vietnamese-American, hay
Korean-American, Chinese-American v..v.. ), từ đó , xác
định cho mình những trách vụ xã hội khác , liên
quan đến mảnh đất còn lưu giữ mồ
mả cha ông mình, còn có những người thân thuộc mà
họ gọi bằng chú, bác, cô , dì, cậu , mợ, anh
chị em họ (cousins) sinh sống, còn có những dấu
tích khó quên của một thời chiến tranh binh lửa
tù ngục mà cha anh họ đã từng trải qua, đã
từng phấn đấu để ngày nay gây dựng cho
họ một vị trí khiến người bản xứ
cũng phải ganh tị, thèm thuồng.
Vì
thế, đối với những người trẻ
Việt Nam trưởng thành nơi hải ngoại,
những ngày lễ Quốc Gia lớn như ngày Lễ
Độc Lập 4 tháng 7 của Hoa Kỳ, ngoài những chiêm
nghiệm cần thiết về quá khứ quốc gia mình
đang sinh sống, còn cần phải có cả những suy
nghĩ liên quan đến quá khứ quốc gia mà cha mẹ
mình từ đó ra đi.
4.
Trong
lịch sử 30 năm người Việt định
cư trên đất Mỹ, đã có hàng ngàn người
trẻ thành đạt , vươn
tới những vị trí chính
trị, xã hội đáng kể trong mọi tổ chức
dân sự cũng như chính quyền vì những đóng góp
hữu hiệu và to lớn cho sự giàu mạnh của
mảnh đất họ đang sinh sống. Có
người được bổ nhậm vào các chức
vụ lãnh đạo cao cấp trong chính phủ, các
chức vụ cố vấn quan trọng trong guồng máy
hành pháp, tư
pháp và kể cả lập pháp. Có người
đã được bầu vào những chức vụ dân cử , địa phương cũng
như liên bang , góp phần nêu
tiếng nói cộng đồng mình trong sinh hoạt dân
chủ trưởng thành và lâu đời . Có người
tình nguyện tham gia quân đội, tình nguyện cầm
súng chiến đấu cho nước Mỹ và có
người đã bỏ mình vì tổ quốc thứ hai
của họ. Có người, bằng tài năng và sự
tháo vát, đã nhanh chóng tạo được một
chỗ đứng trang trọng trong các sinh hoạt văn
hóa, thể thao, nghệ thuật v..v.. Và
ngoài ra, còn hàng chục ngàn những chuyên viên trung cấp, cao
cấp có mặt trong mọi lãnh vực hoạt
động kinh tế, khoa học , giáo dục, quân
sự của guồng máy
một xã hội văn minh nhất, tiên tiến nhất
thế giới.
Trong
số những người trẻ đầy tài năng và
đáng ngưỡng mộ ấy, có không ít người
luôn ý thức mình là một người Việt Nam, mình có
trách vụ với cộng đồng từ đó mình
hiện hữu và thành đạt, xa hơn nữa, họ
còn nhìn về nguồn gốc quê hương ở tít
tắp bên kia bờ đại dương, với
những mơ ước một ngày góp bàn tay đem
lại cơm no, áo ấm, và cả dân chủ, dân quyền cho
những người đồng bào chưa một lần
biết mặt ấy.
Ngày
lễ Lao Động ( Labor Day ) 2004,
tại thành phố Baghdad, thủ đô của Iraq, một
người trẻ Việt Nam 32 tuổi tình nguyện
phục vụ trong quân
đội Hoa Kỳ, đã dựng trước doanh
trại mình trú đóng lá cờ Việt Nam , với mục
đích mà theo như anh nói “ dù
là một quân nhân Hoa Kỳ đã phục vụ 7 năm
trong quân ngũ, tôi vẫn không quên nguồn gốc Việt
Nam của mình. Tôi muốn góp phần của mình trong
cuộc chiến đấu cho tự do của tất
cả mọi dân tộc. “ , và anh cũng không quên “ nhân danh cá nhân tôi, và tất cả các quân nhân Mỹ
gốc Việt đang tham dự vào cuộc chiến tranh
chống khủng bố toàn cầu, tôi sẽ không bao
giờ bỏ mất di sản Việt Nam và nguyện
sẽ theo bước chân cha anh chúng tôi tiếp tục
chiến đấu cho Tự Do và Dân Chủ . . . “.
Một
người trẻ khác, đến Mỹ năm mới 10
tuổi với người cha còn kẹt lại trong các
Trại cải tạo ở Việt Nam, anh đã
trưởng thành trong những hồi ức về
người cha mình, một sĩ quan phi công cấp bực
Trung Tá trong Quân Đội VNCH. Tốt nghiệp Đại
Học, anh tình nguyện theo học
trường sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa
Kỳ và trở thành người Việt
5.
Tôi không
biết, với thế hệ thứ hai Việt Nam ở
hải ngoại, sẽ là một gánh nặng quá sức hay
một cơ hội tuyệt vời thách đố bản
lĩnh của họ trước nhiệm vụ kép, vừa cố gắng
vươn lên trong xã hội xứ người, vừa
cố gắng bảo tồn bản sắc dân tộc
truyền thống
để khi thời cơ thuận tiện ,
họ sẽ trang bị đủ cho mình một tấm
lòng với đất nước quê hương mà sẵn
lòng đem tài năng về phục vụ .
Để
sẵn sàng cho con em mình đối đầu với
nhiệm vụ kép đầy khó khăn ấy, thế
hệ thứ nhất phải chuẩn bị chúng ngay
từ bây giờ. Trước khi quá muộn.
Và ngày lễ, như ngày lễ Độc Lập 4
tháng 7, phải là dịp để chiêm nghiệm những
bài học của cả hai dân tộc. Nếu không, cái
căn cước chúng ta mang theo từ
quê nhà sẽ có nguy cơ mờ dần rồi mất
hẳn một khi thế hệ thứ nhất xuôi tay
nằm xuống. ▄
T.Vấn