Sài G̣n ngày trở lại

Vỉa
hè Sài G̣n – tranh : Trần Thanh Châu
●Tháng 6, tôi về
Trên chiếc xe
đ̣ giục gĩa
Thành phố cũ
rêu phong
( Ngày tôi về
- Thơ: Ngọc Phi. Nhạc: Trần Lê Việt)
1.
Cuối năm 1983, sau gần 9 năm xa
Sài G̣n, - thành phố của cả một thời tuổi
trẻ đấy ắp những mơ ước cho đời
, cho ḿnh – tôi đặt lại bước chân mệt mỏi
trên mảnh đất cũ với tâm trạng của một
kẻ phụ t́nh, kẻ bất lực , kẻ đáng kiếp
lưu đầy. Sau lưng tôi, những ngày tháng tù ngục
thoang thỏang như một giấc ngủ trưa dậy
muộn, bỗng bừng mắt, thấy ḿnh như cái ông Hạ
Trí Chương (1) nào đó bên Tàu . Ông này giă nhà ra đi t́m
công danh sự nghiệp từ khi c̣n rất trẻ. Sau gần
50 năm trải qua bao thăng trầm trong bước công
danh hoạn lộ, ông trở về thăm lại quê
xưa, t́m kiếm bạn bè cũ, nhưng chẳng c̣n mấy
người sống sót, duy chỉ có mặt hồ trong
như gương trước ngơ vẫn c̣n nguyên vẹn những
dợn sóng ngày xưa .Đếm bước chân buồn
tênh trên hè phố cũ, tôi bùi ngùi nhớ lại giây phút cuối
cùng chia tay với những người bạn vẫn c̣n
ṃn mỏi chờ đợi tấm giấy ra trại ( giấy
tha tù cải tạo), và h́nh ảnh ḿnh ôm cây đàn thô sơ
tự chế, hát những lời nhạc tiên tri :
Khi ta về,
nh́n Sài G̣n thật quen
Ngày đêm nào ta
chẳng thấy trong mơ
Sài G̣n ơi, sao
nh́n ta xa lạ
Bao năm rồi,
đâu phải mới hôm qua
(
Sài G̣n ngày trở lại – Nhạc và lời :Trần Lê Việt)
Và cứ thế , trong cái ngậm ngùi khi
nh́n lại thành phố tuổi trẻ và tấm thân xác “ ǵa háp” mới 33 tuổi,
bài hát của anh bạn nhạc sĩ đă từng chia sẻ
ngọt bùi với tôi hầu như gần 9 năm cuộc
đọan trường thất thanh cứ đuổi
theo từng nẻo đường tôi bước qua trong
ngày đầu tiên tái ngộ Sài G̣n. Sự ra đi của
ông Hạ Trí Chương là một
cuộc ra đi lập thân. 50 năm xa quê của ông là 50
năm ông lao vào cuộc giành giựt những hư ảo
đời người. Ông chỉ trở về lại quê
hương sau khi đă chán chê mọi thăng trầm cuộc đời vốn nhẹ
tênh như lá mùa thu. C̣n sự ra đi của chúng tôi là một
cuộc lưu đày, dẫu mới chỉ 9 năm,
nhưng có khác ǵ hai chàng Lưu Nguyễn xưa, quên mất
cả lối về :
Có mấy ngă
đường, dẫn vào thành phố
Khi bước
chân về, bối rối bơ vơ
Biết lối
đường nào về vùng kỷ niệm
T́m lại dùm ta
dáng nhỏ quen xưa
(Sài
G̣n ngày trở lại – Nhạc và lời :Trần Lê Việt)
Sài G̣n những năm đó, là một thành
phố chết. Người Sài G̣n thực sự, lớp bỏ
nước ra đi từ
tháng 4/75, lớp vượt biên, lớp tù cải tạo, lớp
đi kinh tế mới. Người Sài G̣n c̣n lại ( lúc ấy
) chỉ sống dật dờ như những cái bóng. Và câu
thơ Nguyên Sa bỗng như lời mai mỉa . Nắng Sài G̣n anh đi mà chợt
mát. Bởi v́ em mặc áo lụa Hà Đông. Thế nên,
người nhạc sĩ, dù bị che khuất bởi những
hàng rào kiên cố của trại giam ở một nơi xa
tít tắp tận miền trung du Bắc Việt , vẫn nh́n thấy được
:
Sài G̣n nay, không
c̣n áo lụa
Sao ta nghe xót bỏng
trong ḷng
(Sài G̣n ngày trở lại – Nhạc
và lời :Trần Lê Việt)
Một đêm , như thường lệ,
tôi mở truyền h́nh xem vài đọan phim trước
khi đi ngủ. T́nh cờ, cuốn phim đang được
chiếu là phim Người T́nh ( The Lover). Sài G̣n của những
năm sau khi ra tù lang thang vất vưởng lại hiện
về trong tôi. Và tất nhiên, cả bài nhạc kỷ niệm
“ Sài G̣n ngày trở lại “ của Trần Lê Việt. Đọan
cuối cuốn phim, cô gái ngồi bệt xuống sàn tàu, ôm
mặt khóc nức nở sau khi đă lần theo tiếng nhạc
Chopin , âm hưởng của một thời gắn bó với
người t́nh Trung Hoa phát ra từ căn pḥng tiếp tân
trên boong tàu. Có người nào đó vừa ngồi xuống
dương cầm lướt nhẹ một tấu khúc ,
cái tấu khúc nói về ngày hôm qua huy ḥang đẹp đẽ
đă ḥan ṭan biến mất. Từng nốt nhạc rót vào
ḷng cô, khiến cô bỗng , lần đầu tiên , nhận
ra ḿnh đă yêu người thanh niên châu Á ấy quá đỗi.
Bầu trời đêm rực rỡ những v́ sao, tiếng
dương cầm réo rắt và khuôn mặt nḥe nhọet
nước mắt của cô gái trẻ đẹp. Cùng lúc với
tiếng dương cầm nhỏ dần đi và khuôn mặt
nữ tài tử Jane March mất hẳn trong bóng tối, âm
thanh của bài hát Sài G̣n của Trần lê Việt và những
ngày tháng cũ sống lại mănh liệt. Qua cặp kính lăo
bỗng mờ đi , tôi lại thấy trên màn ảnh truyền
h́nh , bóng đ̣an xe lửa chuyển tù cải tạo từ
miền Bắc trở vào miền Nam tháng 5 năm 1981.
Đ̣an xe lửa đi qua các tỉnh miền Bắc, các tỉnh
miền Trung, rồi tới những địa danh rất
quen thuộc của miền Nam. Đến mỗi trạm
dừng, dân chúng đứng tụ tập sẵn hai bên
đường xe lửa đă ném vào khoang tàu những gói
thuốc, những chiếc bánh ân t́nh . Ở một góc cuối
toa, giữa đám tù nhân tuy thân xác tiều tụy nhưng mặt
mày sáng rỡ, hai người bạn trẻ tuổi chia
chung với nhau một chiếc c̣ng số 8, vẫn một
người đàn, một người hát . Tiếng
đàn của cây đàn tự chế thô sơ, âm thanh nghe
bung bủng như khuôn mặt thiếu ăn của người
đàn. Tiếng hát đứt hơi, giọng ngân nghẹn
v́ không có sức , vẫn cứ vang lên ngạo nghễ,
như thách thức chiếc c̣ng số 8 xiết chặt 2 cổ
tay gầy guộc, như thách thức khuôn mặt hầm hầm
của những người cai tù, và trên hết, như muốn
ngỏ lời chào tái ngộ mảnh đất quê
hương sau bao năm cách biệt . Sài G̣n ơi, sao nh́n ta
xa lạ . Bao năm rồi, đâu phải mới hôm qua.
2.

Sau một thời
gian định cư nơi xứ người, cuộc sống gia đ́nh
tương đối ổn định, anh bạn nhạc
sĩ lại thôi thúc nỗi đam mê một thời tuổi
trẻ. Đó là âm nhạc với những cung bậc trầm
bổng của ḷng người, thứ ngôn ngữ không biết
đến một biên giới nào, kể cả biên giới
của chủ nghĩa, của tín điều. Thực ra, từ
nhiều năm, anh vẫn cho ra đời những đứa
con tinh thần của ḿnh, nhưng chỉ để cất
chúng vào ngăn kéo của quên lăng và bụi bậm. Khỏang
vài năm trước, anh đă thu gom những bài nhạc
ưng ư nhất trong hơn 20 năm sáng tác, tự tay kẻ
nhạc, tŕnh bày, bất chấp các tiện nghi của
computer, xuất bản một tập nhạc lấy tên Chiến
Mă Ca. Lẽ tự nhiên, tôi được anh nhờ viết
đôi lời cho tập nhạc.
. .
. Và tôi có trong tay, tập CHIẾN MĂ CA của Trần Lê Việt, gồm
15 bài hát mà Tác giả muốn được gọi là những
t́nh khúc ,theo cái nghĩa không thông thường và nguyên thủy
của tên gọi - nỗi ḷng của con người
được diễn đạt bằng sự ḥa hợp
của âm thanh và ngôn ngữ. 15 T́nh khúc này được
thai nghén, sinh đẻ và nuôi dưỡng trong suốt chiều
dài hơn một phần
tư thế kỷ của cơn lốc lịch sử - bị
cuốn trong cơn lốc ấy là tác giả và bạn bè -
với khoảng không gian cũng rộng không kém - từ miền
đất lưu đày quê nhà đến lưu vong quê
hương của người .
Là người trong cuộc - trong thời buổi
điêu linh ấy ai mà không phải là người trong cuộc
- Trần Lê Việt đă nói lên, cho chính ḿnh và cho bạn bè,
những nỗi ḷng bi thiết nhất về quê
hương, về thân phận, về t́nh yêu và về bè bạn.
Từng ấy hệ lụy, trên bối cảnh có một
không hai trong lịch sử hiện đại , tưởng
phải tốn thật nhiều giấy mực mới có
thể ghi lại trọn vẹn được. Nhưng
chúng tôi - những người lính năm xưa mang cùng số
phận nghiệt ngă như tác giả - h́nh như đă thấy lại được
chính ḿnh trong những bài hát ấy.
Có những bài, khi hát lên, quá khứ đau thương của
chúng tôi từ nhiều năm về trước như sống
lại . V́ chúng đă từng được cất lên
trong những nhà tù khổng lồ từ Bắc vào Nam, trên
những chuyến xe chuyển tù xếp cá hộp với từng
cổ tay gầy giơ xương bị c̣ng chung một
cái c̣ng số 8. Có những bài hát về thân phận tuổi
trẻ chúng tôi cùng những ước mơ t́nh yêu ngày mới
lớn bị thui chột v́ chiến tranh, v́ tù đày. Có những
bài hát về nỗi cô đơn của chúng tôi những
ngày lưu vong quê người, thèm được ngồi
bên bạn bè để “ nhắc
chuyện người chuyện đời thương
đau “, để cùng “ nh́n về đại dương,
ta thấy bóng quê nhà ở đó “. Chúng tôi gậm nhấm những
vết thương chưa thành sẹo ấy trong cân năo
ḿnh qua âm vang những bài hát của quá khứ , của hiện
tại , để tự nhủ ḷng rằng trái tim già nua
này đây chưa hẳn đă nguội lạnh , v́ nó vẫn
c̣n biết đau đớn, biết khao khát, biết nói lời
yêu thương với cuộc đời . . .
Trong
ư nghĩa đó, CHIẾN MĂ CA
là chứng từ sống
về một thời đại nhiễu nhương, là
kinh cầu hồn cho một thế hệ tuổi trẻ
Việt Nam tội nghiệp . . .
Tập nhạc này, anh in ra chỉ để
gửi biếu bạn bè, như cố giữ lại một
chút ǵ ấm áp của những ngày anh em chúng tôi chia cay sẻ
ngọt , chút âm vang của một thời quá khứ tuy buồn
đau nhưng không kém phần lăng mạn, và chắc chắn,
rất là đáng yêu . Nhưng, nhạc in, trong thời buổi
kỹ thuật tinh xảo hiện nay, cũng không có tác dụng
đáng kể hơn những lọai h́nh văn
chương khác, v́ nó đă không có khả năng truyền
đạt trực tiếp và trung thực của âm thanh, thứ
ngôn ngữ không biên giới. Công bằng mà nói, hầu hết
những bài hát trong tập nhạc Chiến Mă Ca đă
được hoặc chính tác gỉa, hoặc bạn bè ,
giới thiệu với khán thính giả đây đó trong những
buổi họp mặt bỏ túi, hay những cuộc giúp
vui văn nghệ trong các chương tŕnh công ích xă hội.
Nhạc Trần lê Việt hơi kén người nghe. Nó
không thỏa măn tức thời cảm gíac người thưởng
ngọan, nhưng như một ly ruợu vang ngon hợp khẩu
vị, nó để lại người nghe một dư âm
man mác buồn, man mác suy tư, man mác cảm khái, để
rồi sau đó , tuy biết rằng uống thêm một ly
rượu nữa có thể hơi “ quá hớp”, tôi (
người nghe ) vẫn ch́a cái ly không ra xin anh rót thêm cho một
chút nữa. Một chút cái chất cay , đắng, thứ
cay đắng làm khóai khẩu đầu lưỡi. Dạo
sau này, Trần Lê Việt cũng có nhờ người viết
ḥa âm, nhờ người hát và thu âm những bài nhạc của
ḿnh, nhưng cũng với sự khiêm tốn và khép kín như
thường lệ, anh chỉ giới thiệu chúng với
những bạn bè thân quen, như một h́nh thức giao
duyên văn nghệ. Thực tâm, tôi cũng không muốn thúc
đẩy anh bước chân vào cơi hồng trần đầy
bụi bậm của những tên tuổi thành danh từ
bao năm nay. Mặc dù, tôi tin rằng anh là người sinh
bất phùng thời. Chỉ cần chen được một
chỗ đứng ng̣ai kia, người ta sẽ phải
chú ư đến ḍng nhạc khá đặc biệt của Trần
Lê Việt. Nhưng đă quá muộn cho anh chen chân t́m một
chỗ đứng. Qúa muộn cho một người luống
tuổi như anh mang danh xưng “ tài năng mới “ . Qúa
muộn cho một trái tim nghệ sĩ mong manh tập cho
ḿnh sức chịu đựng những thương tổn.
V́ thế, người bạn nhạc sĩ của tôi bằng
ḷng với chính ḿnh, v́ với anh, âm nhạc là cho anh, trước
khi đến với người khác, dù người khác ấy
là bạn bè.
Một điều thú vị là gần phân
nửa những bài nhạc của Trần Lê Việt là nhạc
phổ từ thơ. Anh có con mắt thẩm thơ thật
tinh tế, bài thơ nào anh chọn cũng rất hay. Bài
thơ Trần Lê Việt chọn phổ nhạc, tự nó,
nếu đứng một ḿnh , là một khí hậu riêng, một
thế giới riêng. Khi bài thơ ấy vào trong nhạc Trần
Lê Việt, cũng vẫn câu thơ ấy, cách ngắt câu ấy,
nhưng Trần Lê Việt đă thổi một khí hậu
mang tên của ḿnh vào bài thơ, đem lại cho bài thơ một
thế giới mới, với những cung bậc âm thanh mới.
Thơ là sự kết hợp hàng ngang( phải, trái) của
chữ ( và nghĩa ). Nhạc là sự kết hợp hàng dọc
( cao, thấp) của âm thanh. Thơ Nhạc ḥa quyện
để tạo nên một ṿng tṛn trọn vẹn của
trời, đất và người. Để tạo nên sự
ḥa hợp ấy thật không dễ dàng ǵ. Ngọc Phi là một
nhà thơ được Trần Lê Việt chọn khá nhiều
bài để phổ nhạc. Trong đó, nổi bật nhất
là bài Bài Tống Biệt (2). Trọn vẹn bài
thơ được đưa vào bài nhạc, không thừa
không thiếu một chữ. Ngọc Phi mở và đóng bài
thơ bằng cảm quan chữ nghĩa của người
làm thơ. Trần Lê Việt mở và đóng bài nhạc ( với
câu chữ của thơ ) bằng cảm quan âm thanh của
người viết nhạc. Hai thế giới , tuy khác biệt
mà ḥa quyện, tuy ḥa quyện mà vẫn giữ được
bản sắc riêng của chức năng ( thơ và nhạc
) , tuy vẫn giữ được bản sắc riêng của
chức năng mà không gây cảm giác “ trớt quớt “ (
thơ đi đằng thơ, nhạc đi đằng
nhạc ). Một bài thơ khác của Ngọc phi, “ Hoa Vu
lan “ , được TLV phổ nhạc, cho thấy một
cách “ tiêu hóa “ khác của người nhạc sĩ trong lúc
đem cảm quan âm thanh của ḿnh “ viết lại “ bài
thơ của thi sĩ. Bài thơ là những câu chữ ngắn
dài , nhằm biểu lộ phóng khóang nhất tâm t́nh của
đứa con “ tuổi năm mươi “ đang nghĩ về
người mẹ của ḿnh. Cũng với sự phóng
khóang ấy, TLV nhặt từng câu thơ trong bài, chỗ
này một câu, chỗ kia một câu , kết hợp chúng lại
theo một cấu trúc âm nhạc, để những câu chữ
ấy sống đời sống âm nhạc như chúng
đă sống đời sống thơ khi c̣n nằm trong
bài thơ. Sáng tạo, đó là phương châm của
người sáng tác, anh ta không thể đi theo lối ṃn của
chính ḿnh, huống ǵ người khác. Và TLV ư thức rất
rơ điều đó.
Nhạc của TLV c̣n cho thấy một mối
tương quan , tưởng chừng như ngẫu nhiên,
mà không ngẫu nhiên chút nào, giữa người viết Lời
và người viết Nhạc. Điển h́nh là bài Chiến
Mă Ca, với nhạc của TLV và lời của Lê Xuân Nho.
Đó không phải là một bài nhạc phổ từ
thơ, mà là hai người cùng góp sức để tạo
ra “ đứa con chung “ . Nội dung bài nhạc, ngay từ
tên gọi, là cái bi hùng của người tráng sĩ lúc sa
cơ. Trong một tiết tấu chậm, lắng đọng,
âm thanh khi trầm buồn u uất, khi cao vút như muốn
thét cho vỡ toang đất trời , ḥa với lời nhạc
tuy câu chữ đơn giản nhưng cô đọng :
Mài
gươm trong cô đơn. Người nuốt những
hờn căm. Ngựa nuôi móng non thay bờm, trên quê
hương sầu thương. Đường xa dẫu
xa muôn trùng trong đêm nay ngựa phi, lên đường.
Bóng dơi bóng quê hương.
Chiến
mă tiến đến sát ḍng sông, đêm quê hương mênh
mông, sao chưa hừng đông . . .
(
Chiến mă ca – Nhạc: Trần Lê Việt , Lời : Lê Xuân
Nho )
Mấy dạo trước, cứ đến
ngày 30 tháng 4 hàng năm, các trang mạng điện tử hải
ngọai lại cho lên lưới bài hát “ Tháng Tư đen
“. Bài hát này là cũng một kết hợp đáng chú ư giữa
người viết nhạc là Trần Lê Việt và người
viết lời Lê Xuân Nho. Bài nhạc có nhịp điệu
nhanh, dốn dập những câu hỏi nối đuôi nhau “
em , em có biết tại sao,
tháng tư 29 ngày. Em, em có biết tại sao, tháng tư ba
mươi mốt đêm . . . Em, em có biết tại sao . .
. “, cứ thế nhạc và lời xô đẩy nhau,
như thúc hối người nghe hăy đi t́m ngay câu trả
lời cho biến cố lớn nhất thời đại.
Gần đây nhất, Trần Lê Việt
c̣n viết nhạc phổ từ . . . văn. Bài “ Căn nhà
gỗ “ , có những đọan . . . văn quyện nhạc
:
Trên
chuyến xe chiều lên Đà Lạt, tôi ngồi buồn
đếm những căn nhà gỗ chơ vơ. Và nhớ
đến căn nhà xưa nằm cheo leo bên bờ kinh Nhiêu
Lộc, một thời gia đ́nh tôi, một thời
thơ ấu.
Tôi
nhớ tiếng rao đêm của mẹ, gánh hàng đầy
đổi lấy bao hạnh phúc cho con. Và nhớ dáng cha
ngày xưa, c̣ng lưng trên những ṿng xe cơ cực. Ṿng
nào cho niềm tin, ṿng nào cho ước mơ . . .
(
Căn nhà gỗ - Nhạc Trần Lê Việt – Ư văn : Nguyễn
văn Phương )
Tác
giả đỏan văn “ Căn nhà gỗ “, Nguyễn
văn Phương, hồi đáp cho người “ phổ
nhạc “ như sau : “ Thơ đi với nhạc, thường là
vậy. Thơ phổ nhạc ca từ đượm chất
thơ và hồn thơ được tải bởi nhạc
dễ quyện hơn. Vậy mà người nhạc sĩ,
tôi nghĩ anh c̣n nghệ sĩ hơn .. nhạc sĩ, v́
đă làm cái chuyện ... chưa ai làm : từ một entry -
một đỏan văn nhớ, một cảm xúc vu
vơ - tách cho cảm xúc thành nhạc (hay nhạc sĩ muốn
cho nó thành ... thơ luôn ?). Có lẽ chỉ có thể hiểu,
một cách hiểu duy nhất, phải chăng anh do bởi
một tấm ḷng - ngừoi nghệ sĩ - mới làm một
điều LẠ vậy ! N.V. Phương ).
3.
Âm nhạc là hồi ức,
thứ hồi ức người ta sẽ mang theo suốt
đời , cho đến lúc chết. Một bài nhạc
quen thuộc, đôi khi c̣n đóng vai tṛ một que diêm, bật
lên để soi rọi cả một khỏang quá khứ bụi
bậm.
Như giao khúc Chopin mà cô gái
Marguerite Duras của “ Người T́nh” hằng mang theo trong
ḷng, cùng với h́nh bóng khó phai mờ của người
t́nh Trung Hoa, dù sau này, cô đă trở thành một nhà văn lừng
lẫy với trên 50 tác phẩm để đời.
Cái hồi ức đó đă dẫn
cô vào con đường nghệ thuật và hẳn sẽ ở
cùng với cô ( bà) vào giây phút cuối cùng của cuộc
đời. Như bài hát về Sài G̣n, đă theo với
bước chân tôi từ những ngày c̣n lê tấm thân tàn giữa
rừng ǵa Bắc Việt , bụng th́ đói cồn cào
nhưng tâm tư vẫn cứ ngưỡng vọng Sài G̣n,
mảnh quê hương chứa đựng cả thời
tuổi trẻ. Một nhạc sĩ nổi tiếng từ
miền Bắc, khi ghé vào Sài G̣n đă có quyết định
ngay tức khắc sẽ ở lại Sài G̣n phần c̣n lại
của cuộc đời. Theo ông, Sài G̣n là thành phố “ buộc người ta chẳng
thể lướt qua mà không nhớ - (Phú Quang) “. Với
một người “ khách lạ “ của Sài G̣n c̣n như vậy,
huống ǵ tôi.
Huống ǵ người nhạc
sĩ gần suốt một đời gắn bó với
Sài G̣n. V́ thế, nhạc của anh là thứ hồi ức
ngọt ngào ấy, cái vị ngọt pha chát của ly rượu
vang , có lúc làm tôi ngần ngại không dám uống, sợ bị
say trong lúc cần tỉnh táo nhất . Vận nước
đă đẩy chúng tôi ra khỏi cái nôi của những tiện
nghi tâm hồn là thành phố thân yêu ấy, để hôm nay,
đứng từ một mảnh đất xa tít tắp,
cứ ngóng về chút dư âm ngày cũ, với đôi cánh
êm ái của âm nhạc. Mùa hè vừa rồi, anh bạn nhạc
sĩ về Sài G̣n để mong t́m lại quê hương
trong “ âm nhạc “ của ḿnh. Nhưng h́nh như anh không t́m
thấy được nhiều lắm. Cũng chỉ là “
xin một lần , nh́n
được người để nhớ - Sài G̣n ngày trở
lại – TLV). Cũng qua TLV, tôi ngắm những cơn
mưa Sài G̣n năm nay với h́nh ảnh những người
dân quê biểu t́nh co ro đứng trú mưa dưới hàng
hiên những cơ quan công quyền đồ sộ. Chợt
vang vang trong tiềm thức bài hát thuở nào chúng tôi cùng cất
tiếng giữa đồi trà mênh mông của Vĩnh Phú, Bắc
Việt :
Ta sẽ về,
ôm trọn thành phố trong tay
Nh́n hàng me
xưa già cỗi trong mong chờ
Được
bước giữa phố thênh thang
Thảnh thót tiếng
hát giáo đường
Dù phải, thở
hơi cuối cùng
( Thành phố lá
me xanh – Trần Lê Việt )
T.Vấn
Wichita – Tháng
8/2007
Quê nhà xa cách
tháng năm,
Bạn bè
thưa thớt biệt tăm phương trời
Mặt hồ
gương trước ngơ soi
Gió xuân chắc
chẳng đổi đời sóng xưa
( Hải Đà
dịch)
(2) Nguyên
văn bài thơ Bài Tống Biệt :
Nhớ mùa xuân
nào em đi
Hoa cúc hoa đào
ngơ ngác
Chiều nghiêng
tà áo vu qui
Mắt đời
xôn xao luyến tiếc
Có chàng mặc
áo t́nh si
Hát ḥai câu ca tống
biệt
Ôi em, mùa xuân sang
sông
Lệ chảy
hai hàng xanh biếc
Thương
chàng một kiếp long đong
Bàn tay lạnh
đấy sương tuyết
Nhớ câu
thơ buồn mênh mông
Câu thơ
đong đầy bóng nguyệt
Ôi em, mùa xuân sang
sông
Như chim bay xa
biền biệt
Áo chàng nay đă
sương phong
Cung đàn
rưng rưng mộ huyệt
Hư vô hai bàn
tay không
Thiên thu một
bài tống biệt
(Ngọc Phi- San
Jose 03/05)
© T.Vấn 2007