<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; Tháng 1 &#8211; 2007</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang1/2007-1/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Viết cho một người vừa nằm xuống</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/01/vietcho/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/01/vietcho/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 29 Jan 2007 15:06:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[1]]></category>
		<category><![CDATA[2]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 1 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/01/29/vi%e1%ba%bft-cho-m%e1%bb%99t-ng%c6%b0%e1%bb%9di-v%e1%bb%aba-n%e1%ba%b1m-xu%e1%bb%91ng/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/01/vietcho/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb4.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>●Ai hát bài ca buồn chiến mã
 Tiếng hờn còn vọng đến ngàn sau
 ( Tiếng Hờn Chiến Mã – Song Nhị )

▪ Chinh chiến cũng qua rồi em hỡi
Thiên thu còn giọt lệ cho đời
( Ngọc Phi)

<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image0024.jpg"></a>
1.
Chiến tranh đến rồi đi, mở đầu rồi tàn lụi. Chỉ có những người lính là mãi mãi bất tử với thời gian. Xưa, danh tướng MacArthur của quân đội Mỹ đã nói. Người lính gìa không bao giờ chết. Họ chỉ phai nhòa dần theo năm tháng. Nay, ngày 22 tháng 1 năm 2007, có một người lính gìa nằm xuống ở một vùng đất xa quê hương hàng nửa vòng quay trái đất . Người lính gìa ấy đã có hơn 20 năm tuổi trẻ đẹp nhất cuộc đời mình ( 1954-1975) chiến đấu cho tổ quốc. 20 năm ông đã đi những bước[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>●Ai hát bài ca buồn chiến mã</em></p>
<p><em> Tiếng hờn còn vọng đến ngàn sau</em></p>
<p><em> ( Tiếng Hờn Chiến Mã – Song Nhị )</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>▪ Chinh chiến cũng qua rồi em hỡi</em></p>
<p><em>Thiên thu còn giọt lệ cho đời</em></p>
<p><em>( Ngọc Phi)</em></p>
<p><em></em><em></em></p>
<p><em><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image0024.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb4.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="173" height="204" align="left" /></a></em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Chiến tranh đến rồi đi, mở đầu rồi tàn lụi. Chỉ có những người lính là mãi mãi bất tử với thời gian. Xưa, danh tướng MacArthur của quân đội Mỹ đã nói. <em>Người lính gìa không bao giờ chết. Họ chỉ phai nhòa dần</em> <em>theo năm tháng</em>. Nay, ngày 22 tháng 1 năm 2007, có một người lính gìa nằm xuống ở một vùng đất xa quê hương hàng nửa vòng quay trái đất . Người lính gìa ấy đã có hơn 20 năm tuổi trẻ đẹp nhất cuộc đời mình ( 1954-1975) chiến đấu cho tổ quốc. 20 năm ông đã đi những bước dài nhất mà một người trai thời lọan có thể đi được, đã trở thành một vị tướng được sự kính trọng của những người lính dưới quyền, của những người lính không phải là thuộc quyền và dù chưa một lần họ biết mặt ông, những người lính đồng minh đã từng chiến đấu bên cạnh ông , và cả những kẻ thù của ông cũng phải kiêng dè khi nhắc đến tên ông.</p>
<p><span id="more-122"></span></p>
<p>20 năm trong cuộc chiến, ông đã trở thành một huyền thọai, cả trong quân đội ( VNCH) lẫn ngòai quân đội. Vị cựu tướng ấy tên là Ngô Quang Trưởng, sinh năm 1929 tại Bến Tre, từ trần ngày 22 tháng 1 năm 2007 tại tiểu bang Virginia , Hoa Kỳ.</p>
<p>Những ngày cuối cuộc chiến, ông giữ trọng trách tư lệnh vùng I chiến thuật, vùng địa đầu giới tuyến. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông ở trong một tình thế không thể làm gì khác hơn là ra đi sống lưu vong xứ người. Nơi đây, ý thức được thế cờ đã không có cơ hội đảo ngược, ông sống ẩn dật, trầm lặng, trong chừng mực mà một vị tướng “ <em>không còn quân </em>” cần phải cư xử để giữ danh dự cho bản thân mình, danh dự cho một quân đội mà ông đã là một thành viên, một cấp chỉ huy và nhất là để cho những người lính của quân đội ấy còn giữ được một hình ảnh chưa bị vẩn đục mà hướng về, âm thầm hãnh diện và để noi theo tấm gương ấy cho những ngày tháng còn lại của cuộc đời mình.</p>
<p>Ngày ông vĩnh biệt trần gian ra đi, hình ảnh ấy còn nguyên vẹn. Và, thật là hiếm hoi trong hơn 30 năm sống lưu vong của những người lính VNCH, sự kiện một vị cựu tướng vừa qua đời đã gây nên một chấn động không nhỏ ở khắp các cộng đồng người Việt hải ngọai . Đã có những bùi ngùi thương tiếc một cách chân thành, đã có những lễ nghi quân cách trang trọng đến từ đáy lòng mọi người một cách trung thực và cảm động.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Cuộc chiến tranh 30 năm vừa qua quả là oan nghiệt. Nó gây ra bao đau thương mất mát, không chỉ trong chiến tranh, mà còn để lại nhiều di hại cho những người sống sót. Một trong những di hại ấy là sự tan vỡ của những hình ảnh lãnh tụ gây ra bởi sự thua trận một cách tức tuởi, khó hiểu của quân đội miền Nam Việt Nam. Những ngày cuối cùng của cuộc chiến, hàng trăm ngàn người lính (VNCH) ngơ ngác khi nhận được lệnh buông súng mà không kèm theo bất cứ một lời giải thích nào. Rồi sau đó, họ bị ép buộc bước vào những trại cải tạo trong nhiều năm trời dài đăng đẳng. Chính tại đây, bao gỉa thuyết nhằm lý giải cho cái cách mà cuộc chiến kết thúc đã được đặt ra, dựa trên những nguồn tin tức do tai nghe mắt thấy (?), do phỏng đóan, do suy luận từ những sự kiện riêng lẻ ( tuy có thật ). Đôi khi những suy luận, phỏng đóan ấy phát sinh từ cảm tính yêu ghét của người kể nên sự lệch lạc và sai sót khó có thể tránh khỏi. Nói cách khác, những giả thuyết ấy, phần lớn liên quan đến những vị  lãnh đạo cao cấp của quân đội, đến người bạn đồng minh Hoa Kỳ, đều không dựa trên những dữ kiện khách quan , khoa học. Từ đó, phát sinh một ấn tượng không mấy tốt đẹp về những khuôn mặt chỉ huy cũ nơi những quân nhân cấp dưới chẳng may nằm trong những nhà tù cộng sản. Có thể những ấn tượng này, ngay từ nguồn gốc của nó, đã là một thái độ không công bằng với những đối tượng , nhưng chúng ( những ấn tượng ấy ) hiện hữu và tồn tại khá dai dẳng theo với năm tháng tù đầy ngày một kéo dài. Kể cả khi lớp quân nhân này, sau một thời gian bị cải tạo, cuối cùng cũng đã đến được bến bờ tự do, và không ít người, nay có cơ hội đối diện thực sự với những vị chỉ huy cũ may mắn hơn ra đi từ những ngày tháng 4 năm 1975.</p>
<p>Cũng trên những mảnh đất tự do ngòai đất nước, khao khát muốn tìm hiểu nguyên nhân đích thực gây nên cuộc thảm bại 30 tháng 4 năm 1975 đã phần nào được thỏa mãn nhờ những tài liệu , chứng cớ còn giữ lại được, những công trình khảo cứu nghiêm túc của nhiều người trong cuộc có chức có quyền ,  của các viên chức, ký gỉa ngọai quốc có mặt ở Việt Nam trước và sau năm 1975. Tuy nhiên, cũng có những vị chức quyền cao cấp cũ đưa ra những tài liệu bị bóp méo hoặc không chính xác, mục đích nhằm chạy tội, đổ lỗi hay tệ hơn nữa là đánh bóng cá nhân mình qua những bài viết, những tập hồi ký mà nền tảng chính cho những tài liệu  ấy chỉ đơn giản dựa vào trí nhớ. Do đó, dù lớp bụi khói sa trường đã lắng lại từ hơn 30 năm nay, một cái nhìn rõ nét và trung thực về những ngày cuối cùng của cuộc chiến vẫn chưa hẳn đã có được vì vẫn còn nhiều lớp hỏa mù tung lên từ nhiều cá nhân ở hải ngọai, và tất nhiên, có cả bàn tay từ trong nước. Vì thế, những ấn tượng không mấy tốt đẹp liên quan đến hình ảnh những khuôn mặt tiếng tăm cũ hầu như không thay đổi được bao nhiêu. Đã vậy, nhiều vị ( lãnh đạo cũ ) đã lại tự tay tước bỏ chút lòng kính trọng cuối cùng còn sót lại cho mình nơi những người thuộc quyền cũ bằng những việc làm, lời nói chứa nhiều ảo tưởng (?) hơn thực tế, hoặc đơn giản , chỉ nhằm thỏa mãn những tham vọng cá nhân.</p>
<p>Mặc cho sự lạnh nhạt thiếu công bằng (?) của nhiều quân nhân thuộc quyền cũ, một số vị chỉ huy hiếm hoi vẫn giữ được tiết tháo của mình, như những ngày còn đủ quyền bính trong tay. Vị cựu tướng vừa qua đời là một trong số những vị hiếm hoi đó. Cuộc đời 30 năm quân ngũ xông pha trận mạc, vào sanh ra tử của ông cùng với tiếng tăm về đức độ, cộng với hơn 30 năm sống trầm lặng nơi xứ người, đã cho ông một chỗ đứng vững chắc và riêng biệt trong lòng những người lính của quân đội VNCH năm xưa.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Cuộc đời này vốn phù du, ngắn ngủi. Đã bước chân vào, sớm muộn cũng có ngày phải ra đi. Nếu, tất cả chúng ta, không ai có cơ hội chọn được cách thế bước vào cuộc đời, nhưng phần lớn trong chúng ta vẫn có thể có quyền lựa chọn cho mình cách thế chúng ta bước ra khỏi cuộc nhân sinh ba vạn sáu ngàn ngày oan nghiệt ấy.</p>
<p>Những ngày cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam, nhiều người, từ những vị lãnh đạo cao cấp nhất của chính quyền và quân đội miền Nam, đến những người lính, viên chức bình thường đã tự chọn cho mình cách thế bước ra khỏi cuộc đời, bước ra khỏi cuộc chiến mà không mang tiếng là những kẻ bại trận. Sự lựa chọn ấy thật can đảm và đáng kính phục. Nhưng , theo tôi, vẫn còn những sự lựa chọn khác không kém phần can đảm. Thí dụ như cố sống còn để hy vọng góp chút gì hữu ích cho các thế hệ tương lai. Nhiều người lính đã lựa chọn cách này. Họ đã sống sót, đã ra đi, đã nhen lên những ngọn lửa quê hương nhỏ nhoi nơi xứ người gía lạnh, đã trở về quê nhà mưu cầu phục quốc . Nhiều người trong số họ đã hy sinh cho sự lựa chọn của mình. Một số khác may mắn, thóat khỏi hiểm nguy, ngục tù một lần nữa, và lại tiếp tục cố gắng sống còn để ít nhất, nói cho các thế hệ mai sau biết rằng họ đã có những thế hệ cha anh cố gắng sống làm một con người như thế nào.</p>
<p>Tận thâm tâm, tôi kính trọng những người lựa chọn sống còn cũng như tôi đã từng nghiêng mình chào kính những người lính đã tuẫn tiết để bảo tòan danh dự những ngày cuối của cuộc chiến. Cuộc đời này, tuy vậy, vẫn còn nhiều lựa chọn. Vấn đề chỉ còn là tấm lòng với đất nước, với đồng bào, với đồng đội và các thế hệ mai sau.</p>
<p>Vì thế, với tôi, chưa bao giờ lòng kính trọng của tôi dành cho vị tướng vừa qua đời sút giảm, dù ông đã rời khỏi đất nước từ những giây phút tôi và các đồng đội của mình còn đang hoang mang không biết phải làm gì với bộ quân phục trên người buổi sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975  ở khắp các tỉnh thành của miền Nam Việt Nam.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Nay, vị cựu tướng đã về cõi vĩnh hằng. Tôi tiếc cho ông vô cùng khi đọc bản tiểu sử một đời binh nghiệp. Nếu không có cuộc bại trận oan nghiệt, thì hẳn ông còn làm được nhiều điều tốt đẹp nữa cho đất nước, cho quân đội, cho các thế hệ mai sau. Và cho chính bản thân ông. Ông xứng đáng được sống cuộc sống tốt đẹp hơn nhiều so với 30 năm âm thầm chịu đựng bao uất ức vò xé nơi mảnh đất xa lạ xứ người. Hẳn ông cũng đã có nhiều đêm mơ thấy đòan quân tinh nhuệ năm xưa diễn hành qua khán đài. Trong mỗi người lính, ông thấy hình ảnh của chính mình. Và , mỗi người lính, hẳn cũng sẽ thấy có chút bóng dáng của ông , như cái đích mà họ nhắm tới cho đời binh nghiệp của mình. Bóng dáng con người khắc khổ, giản dị, nhưng nụ cười thì hiền từ, và tài điều binh khiển tướng khiến kẻ thù bao phen thất kinh táng đởm.</p>
<p>Đã đành, <em>nhất tướng công thành vạn cốt khô</em>. Để tạo nên danh cho một vị tướng , đã có nhiều người lính nằm xuống. Nhưng đó là những hy sinh cần thiết và xứng đáng. Nay vị cựu tướng đã đi theo những người lính quá cố của mình. Xin cầu chúc hương hồn  ông và vong linh những người lính vô danh đời đời yên nghỉ. Vinh nhục, thành bại nào còn có ý nghĩa gì nữa khi con người đã nằm xuống. Có chăng, chỉ để dành cho người còn sống. Trong đó, có niềm an ủi thật lớn lao đến với thân nhân ruột thịt của ông. Chưa bao giờ có vị cựu tướng nào được sự tưởng nhớ chân thành của mọi người như ông. Và cả niềm hãnh diện của những người lính một thời mặc cùng bộ quân phục với ông, trong đó có tôi, về một vị chỉ huy không bao giờ chết. Ông chỉ từ từ đi dần về phía sau hậu trường mà thôi.</p>
<p>©T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/01/vietcho/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cái ngày ấy rồi cũng sẽ phải tới</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/01/caingay/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/01/caingay/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 26 Jan 2007 03:27:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[1]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 1 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/01/25/ci-ngy-%e1%ba%a5y-r%e1%bb%93i-cung-s%e1%ba%bd-ph%e1%ba%a3i-t%e1%bb%9bi/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/01/caingay/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb2.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image0012.jpg"></a>
1.
Năm 1954, tôi chỉ là một đứa bé 5 tuổi tay xách nách mang lẽo đẽo theo bố mẹ xuống tàu há mồm vào Nam để tránh nạn Cộng sản. Khi ấy, cuộc Cải cách Ruộng Đất long trời lở đất làm chết oan hàng mấy trăm ngàn nông dân miền Bắc đang đi vào giai đọan quyết liệt nhất . Sau đó, qua sách báo, phim ảnh ( phim Chúng tôi muốn sống của đạo diễn Vĩnh Nõan ), những tài liệu biên khảo, tôi được biết ít nhiều về cái “ sự biến kinh người “, “ nỗi oan khuất ám ảnh cả một thế hệ “ , những cái tên nhằm ám chỉ một giai đọan đen tối nhất của lịch sử Việt Nam cận đại .
Phần lớn những tài liệu về Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ) mà tôi được đọc, đều do[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image0012.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 5px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb2.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="116" height="137" align="left" /></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Năm 1954, tôi chỉ là một đứa bé 5 tuổi tay xách nách mang lẽo đẽo theo bố mẹ xuống tàu há mồm vào Nam để tránh nạn Cộng sản. Khi ấy, cuộc Cải cách Ruộng Đất long trời lở đất làm chết oan hàng mấy trăm ngàn nông dân miền Bắc đang đi vào giai đọan quyết liệt nhất . Sau đó, qua sách báo, phim ảnh ( phim <em>Chúng tôi muốn sống</em> của đạo diễn Vĩnh Nõan ), những tài liệu biên khảo, tôi được biết ít nhiều về cái “ sự biến kinh người “, “ nỗi oan khuất ám ảnh cả một thế hệ “ , những cái tên nhằm ám chỉ một giai đọan đen tối nhất của lịch sử Việt Nam cận đại .</p>
<p>Phần lớn những tài liệu về Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ) mà tôi được đọc, đều do những người ở phía bên đối địch với chính quyền Cộng Sản, hay những tác giả ngọai quốc biên sọan. Đọc thì có đọc, tin thì cũng có tin, nhưng tận thâm tâm, tôi vẫn không nghĩ rằng con người ( dù là con người cộng sản ) lại có thể đối xử tàn ác với nhau đến như thế. Về phía những người có trách nhiệm, hay trong cuộc, hay liên quan đến  CCRĐ , từ bao nhiêu năm nay vẫn giữ một sự im lặng đáng sợ  về những sự thật ( mà rất nhiều người khao khát muốn biết ) của lịch sử, những sự thật mà sớm muộn gì, cũng sẽ phải được phơi bày.</p>
<p>Mới đây nhất, tôi đã được đọc tác phẩm <em>Ba Người Khác</em> , nói về CCRĐ, dưới dạng tiểu thuyết của Tô Hòai, một nhà văn nổi tiếng từ thời tiền chiến với “ Dế mèn phiêu lưu ký (1941)“, “ O Chuột (1942) “ “ Giăng thề ( 1943)” “ Nhà Nghèo (1944) “ mà không một học trò nào của miền Nam trước 1975 không biết tới. Sau cách mạng tháng 8, 1945, ông theo Việt Minh, rồi gia nhập Đảng Cộng sản, giữ nhiều chức vụ trong hội Nhà Văn Việt Nam ( Cộng sản). Ông cũng đã tham gia cuộc Cải Cách Ruộng Đất với tư cách đội viên một đội cải cách. Tác phẩm Ba Người Khác, theo lời tác giả, ông viết từ 13 năm trước, nhưng không được phép in. Cuối năm 2006,  một nhà xuất bản ở Đà Nẵng bằng lòng cho ra đời quyển này. Ngay sau khi được phát hành, quyển sách đã gây nên một tiếng vang đáng kể.Trong nước, sự ra đời của quyển sách này được bình chọn là 1 trong 10 sự kiện văn hóa của năm 2006. Hội nhà văn Việt nam đã phải cho tổ chức ngay một cuộc tọa đàm trong hội để thảo luận về nội dung quyển sách.</p>
<p><em>Với tôi, quyển Ba Người Khác của nhà văn Tô Hòai, mang giá trị một bản cáo trạng đanh thép nhất về cuộc CCRĐ đẫm máu 50 năm trước ở nông thôn miền Bắc. Vì nó được viết bởi chính người trong cuộc, đã từng được hưởng bao ân sủng của chế độ , nay đến tuổi gần đất xa trời, bao ấm ức trong lòng cần được trút ra hết một lần, để khi ra đi được . . . nhẹ xác nhẹ lòng. Và vì nó là phút sự thật của một người đang ở vào những ngày tháng cuối đời, không có gì đáng sợ hơn cái chết trước mặt, nên những gì được viết ra hẳn phải là sự thật không bị che đậy.</em></p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><em>Ba Người Khác</em> của Tô Hòai kể lại câu chuyện một đội cải cách ruộng đất về một ngôi làng quê nghèo xơ xác để làm cải cách ruộng đất, có nghĩa là tịch thu ruộng của địa chủ, rồi đem chia đều cho những kẻ không có ruộng ( bần cố nông ). Nhiệm vụ chính yếu thứ hai là tìm ra và tiêu diệt những kẻ thù của cách mạng do địch còn gài lại để phá họai. Do chỉ tiêu của chiến dịch đề ra là mỗi làng phải có một tỉ lệ địa chủ, phú nông, cường hào nào đó nên bắt buộc các đội cải cách phải “ đẻ “ ra những địa chủ, phú nông, cường hào , ác bá . Kết quả là vô số người bị đưa ra đấu tố, kết tội, giết oan vì những tội tưởng tượng mà chỉ tiêu kế họach của đảng đòi hỏi. Bên cạnh những câu chuyện đại lọai như trên, có những họat cảnh đấu tố, thủ tiêu , những trò dâm ô hủ hóa của các anh đội với những cô dân quân được đảng cử làm bảo vệ cho cách mạng, với những cô gái quê con nhà bần cố nông mà các anh đội chọn để làm cơ sở tai mắt cho đội. Có cả những câu chuyện về những thủ đọan mà các anh đội dùng để triệt hạ lẫn nhau, lợi dụng nhau , dẫm lên nhau để tiến thân.</p>
<p>Bằng một giọng văn tỉnh táo, săm soi, chi tiết đến rợn người, Tô Hòai dắt người đọc ( tôi) theo bước chân ông vào chuyện. Những con người nông thôn chất phác, cục cằn, như cục đất khô bên lũy tre làng mà hồi ức của tôi còn ghi lại được đôi chút, đã hiện ra thật sắc nét. Cứ thế, người và vật, người và người và những mối quan hệ của họ, đan quyện vào nhau khi ẩn khi hiện làm cho tôi ngộp thở , như người nằm ngủ mơ thấy mình bị đè. Đến lúc thóat ra được, tức là khi tôi đọc xong quyển sách, cảm tưởng sợ hãi  vẫn như còn đọng lại đâu đó. Nếu tác giả không phải là người bao nhiêu năm hưởng ơn mưa móc của chế độ, không phải là người được tiếng là hiểu nông thôn miền Bắc hơn bất cứ nhà văn nào của thế kỷ, chắc tôi vẫn khó tin câu chuyện đó là sự thật. Nhân vật xưng tôi trong Ba Người Khác, anh đội phó cải cách kiêm phụ trách tòa án( nhờ có biết chút ít chữ nghĩa ) , hủ hóa hết dân quân cho tới gái làng, thèm ăn như thèm gái ( và cũng thèm gái như thèm ăn ), theo lời nhiều người phê bình ở trong nước, chính là Tô Hòai, ông nhà văn 87 tuổi , cán bộ văn hóa đã về hưu, để lại một sự nghiệp viết lách đồ sộ khó có ai bì được. Trong buổi tọa đàm về tác phẩm Ba Người Khác, do hội nhà văn Việt Nam ( Cộng sản ) tổ chức tại Hà Nội ngày 22 tháng 12 năm 2006, chính tác gỉa đã thú nhận rằng <em>“ </em><em>Tôi làm toà án nhưng không giết ai, nên sau tôi vẫn về lại Nông Cống, Hải Dương bình thường. Câu chuyện tôi làm toà án cũng lạ lắm, nó như thế này: Khi ta cải cách, đài Sài Gòn rêu rao nói ta vi phạm nhân quyền, CCRĐ giết người không có toà án xét xử gì cả. Lúc đó tôi ở Thanh Hoá, không biết tại sao ông Hồ Viết Thắng </em><em>( Bí thư Trung Ương Đảng, đặc trách CCRĐ – ghi chú của T.Vấn) </em><em> (đi Volga</em><em>,</em><em> mặc quần áo nâu) biết trong đội cải cách ở Thanh Hoá có anh nhà báo nhà văn, thế là tôi được gọi làm chánh án. Tôi sáng tác hàng nghìn khẩu cung (cứ nửa trang một) đem vào nhà tù cho phạm nhân điểm chỉ, ký tên. Tôi sợ họ kiểm tra nhưng rồi cũng không ai kiểm tra việc ấy. Cũng là việc &#8220;sáng tác&#8221; đó. </em>“ , và ông cũng rất “ can đảm, không xấu hổ “ khi trả lời một câu hỏi về sự hủ hóa của ông với các <em>rễ, chuỗi</em> (Những bần nông, cố nông Đội Cải cách lấy lên làm cán bộ đội được gọi là rễ, chuỗi.)” <em>Có khi có có khi không. Có khi ôm ấp rễ chuỗi nhưng nó bảo nó &#8220;có tháng&#8221;. Các cậu ở Hải Dương sau này vẫn giao thiệp với tôi, chính họ kể chuyện cho tôi nghe rằng đặc công giết Huỳnh Cự</em><em> (tức nguyên Trung tá Việt cộng, cùng với Thượng tá Tám Hà về đầu thú chính phủ VNCH –ghi chú của T.Vấn) </em><em> là người làng ấy. Tóm lại là tôi viết chuyện rất thật, nhưng cũng có đôi chút mơ màng.</em><em>”<br />
</em></p>
<p>Với tôi, Tô Hòai của <em>Ba Người Khác</em>, tác phẩm mới nhất được xuất bản, đã phục hồi được vị trí của ông trong tâm tưởng tôi , như năm xưa, tôi đọc “ Dế Mèn Phiêu Lưu Ký”, “ O Chuột” .</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Cải Cách Ruộng Đất là một biến cố rất lớn , vì nó liên quan đến nông dân, tức là đại đa số nhân dân Việt Nam. Hậu quả của nó khôn lường. Ngòai con số hàng trăm ngàn người chết oan uổng do sự xét xử của những tòa án nhân dân không một kiến thức về luật pháp, mà chỉ có lòng căm thù giai cấp gieo rắc bởi chủ thuyết cộng sản, nó còn phá vỡ cả nến tảng văn hóa làng xã Việt Nam, đảo lộn mọi gía trị truyền thống kính trên nhường dưới, tôn sư trọng đạo , ác quả ác báo mà người nông dân Việt Nam tuy ít học nhưng vẫn thấm nhuần những tư tưởng ấy bằng cách hiểu thô sơ nhưng chân chất của mình. Về mặt xã hội, nó đã tiêu diệt những tình cảm nhân bản giữa con người. Về mặt gia đình, nó phá hủy sợi dây gắn bó thiêng liêng bằng những thủ đọan thúc ép con tố cha, vợ tố chồng.</p>
<p>Vì thế, câu chuyện CCRĐ 50 năm trước không thể được xem như  là câu chuyện cũ cần được khép lại để nó ngủ yên trong quá khứ. Bao nhiêu năm nay, nó vẫn là những mối ám ảnh cho những gia đình có người là nạn nhân trong CCRĐ. Ở trong nước, nhất là miền Bắc, tuy chưa một ai, trong số những người hiểu biết về CCRĐ, lên tiếng về vấn đề gai góc này, nhưng không có nghĩa là mọi người đã muốn quên nó đi. Dấu ấn của nó nặng nề quá, như một vết thương quá khứ vẫn còn mưng mủ, vẫn còn đau nhức vì bấy lâu nó chưa được chẩn bệnh , cho thuốc. Cho nên, không có gì ngạc nhiên trước sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng với tác phẩm Ba Người Khác của nhà văn Tô Hòai. Tất nhiên, những cán bộ văn hóa trung kiên cũng cố gắng lên tiếng. Họ cho rằng tác phẩm xóay quá sâu vào những khía cạnh tiêu cực ( dâm ô, hủ hóa, giết người vô tội vạ, xét xử oan uổng v.. v..) , điều đó phản ánh  “ <em>một tâm thức chối bỏ trách nhiệm </em><em>tâm thế đánh đồng, đổ đồng, cào bằng, thiếu công bằng với hiện thực lịch sử cải cách ruộng đất. Trong một ý nghĩa nào đó, dường như tác giả chủ ý gián cách lui vào góc xa để nhìn lại toàn cảnh cải cách ruộng đất song lại lùi quá xa, đến mức khuất lấp trong bóng tối, chìm trong bóng tối và tâm thế biếm họa, phản ánh hiện thực nghiêng hẳn về gam màu tối thẫm. Tác phẩm thiếu đi nguồn sáng nhân văn, thiếu đi niềm tin vào con người, thiếu đi tính bi kịch và niềm ân hận cao cả thì thật không dễ cảnh tỉnh, thức tỉnh được con người trước bài học quá khứ.</em><em> ( Nguyễn Xuân Sơn &#8211; </em><em>(Bài tham dự Tọa đàm về tiểu thuyết Ba người khác của nhà văn Tô Hoài do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức ngày 22-12-2006) </em><em>“ . </em>Có lẽ, giữa không khí nồng nhiệt, sôi sục trước sự ra đời của một tác phẩm lớn như Ba Người Khác về một vấn đề nghiêm trọng như CCRĐ, giới cầm quyền cũng không thể làm gì khác hơn ngòai những lời lẽ kết tội mơ hồ , nhất là với một nhà văn tầm cỡ như Tô Hòai, từng được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.</p>
<p><strong>4. </strong></p>
<p>Nhắc đến Cải cách Ruộng Đất ở miền Bắc, lại không thể quên cuộc Cải tạo Tư Sản ở miền Nam sau ngày 3o tháng 4  năm 1975. Chiến dịch đánh tư sản , cải tạo công thương nghiệp miền Nam và hai lần đổi tiền cùng với chính sách đưa dân thành thị đi kinh tế mới tuy không trực tiếp gây nên những cái chết thảm cho dân chúng miền Nam như trong CCRĐ ở miền Bắc , nhưng thực chất là một vụ cướp bóc tài sản dân miền Nam có kế họach, khiến nhiều người uất ức mà chết , hàng triệu người phút chốc trở thành tay trắng, sống vất vưởng ở những nơi rừng thiêng nước độc, gia đình tan nát và hàng triệu người khác liều mình bỏ nước ra đi ( như 50 năm trước tôi cùng hơn một triệu đồng bào miền Bắc di cư để không phải là nạn nhân của các chính sách hà khắc trong đó có CCRĐ). Con số những thuyền nhân, bộ nhân bỏ mạng trên đường tìm tự do không phải là nhỏ. Tuy không bao giờ thống kê được một con số chính xác, nhưng chắc chắn là lớn hơn con số người chết vì CCRĐ 50 năm trước ở miền Bắc rất nhiều lần. Và tất nhiên, như những nạn nhân của CCRĐ, thân nhân còn sống sót của những thuyền nhân , bộ nhân bỏ mình năm xưa , hay những nạn nhân trực tiếp còn sống sót sau nhiều lần bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, hẳn vẫn không thể nguôi ngoai được nỗi đau còn cứ âm ỉ, một vết thương vẫn còn mưng mủ, thậm chí còn đau đớn hơn cả vết thương CCRĐ trên thân thể đất nước .</p>
<p><em>Vậy thì phải làm sao để “ thức tỉnh con người trước bài học quá khứ “ ? Nên khép lại tất cả những vết thương còn mở miệng, quên đi mọi nỗi buồn đau, hướng về một ngày mai tươi sáng , không có những bóng đen ghê khiếp một thời ám ảnh chăng ?</em></p>
<p><em>Nhưng lấy gì để bảo đảm rằng những thảm cảnh quá khứ sẽ không bao giờ có cơ hội lập lại , nếu người ta không dám nhìn thẳng vào những lỗi lầm, không dám đối diện thực sự với hậu quả của những lỗi lầm đó bằng cách soi rọi chúng dưới nhiều góc cạnh khác nhau, để tìm ra nguồn gốc chính, thủ phạm chính của những bi kịch ấy ? </em></p>
<p><strong>5.</strong></p>
<p>Những sôi động ở trong nước về quyển sách Ba Người Khác liên quan đến cuộc Cải cách Ruộng Đất, tuy rất đáng khích lệ trong một bầu không khí vẫn còn ngột ngạt , khó thở quen thuộc ở một nước Cộng Sản, nhưng cho đến nay, những tiếng nói phê bình cứng cỏi nhất cũng mới chỉ dừng lại ở chỗ tán dương sự can đảm đáng nể phục của một ông gìa hơn 80 tuổi, về tính chân thật và sự đởm lược cần thiết của người cầm bút, của những chứng nhân lịch sử đối với thời đại mình và các thế hệ tương lai.</p>
<p>Họ không (chưa ) dám đi xa hơn là chỉ đích danh tên thủ phạm , kẻ sát nhân tàn ác, tội phạm chính chịu trách nhiệm về những gì xảy ra hơn 50 năm trước. Tội danh này, nếu xử cho thật công bằng, còn nặng hơn gấp ngàn lần những gì Sadam đã gây ra cho nhân dân Iraq. Nhưng, như một người có máu mặt ở trong nước đã tiên đóan, sự kiện này là một dấu chỉ cho thấy tảng băng đang từ từ vỡ  ra, ít nhất là ở lãnh vực văn chương, nghệ thuật. Điều kiện để cho một cuộc đàn áp của giới cầm quyền với những người cầm bút như vụ việc Nhân Văn Giai Phẩm năm xưa chắc chắn không còn nữa, vì ngày nay, kẻ bị áp bức còn có nhiều vũ khí khác ngòai cây viết. Cho nên, sớm muộn, với những bài học quá khứ như CCRĐ, như Cải tạo công thương nghiệp miền Nam, sẽ đến lúc kẻ có tội bị chỉ đích danh.</p>
<p>Tôi hy vọng, đến lúc ấy viên cựu đội phó phụ trách Tòa Án Tô Hòai vẫn còn sống và đủ minh mẫn để “ sáng tác một bản khẩu cung cho phạm nhân ký vào “, chỉ khác với lần này, ông thực sự hài lòng . Vì ông chỉ phải ghi lại những gì đã xảy ra, không thêm không bớt. Và, tôi cũng mong ông viết lại đọan kết tiểu thuyết Ba Người Khác, để kẻ đền tội không chỉ có anh đội trưởng đội cải cách Hùynh Cự vốn chỉ là tay sai thừa hành lệnh cấp trên.</p>
<p>Cuối cùng, sau khi đọc xong Ba Người Khác của Tô Hoài, tôi tin hòan tòan những gì trước đó tôi được biết về CCRĐ qua sách báo, phim ảnh miền Nam . Chỉ cần nói thêm một chút, hình ảnh CCRĐ trong tác phẩm của Tô Hòai ghê khiếp hơn nhiều.</p>
<p>© T. Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/01/caingay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chỉ một chút tình</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/01/chimot/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/01/chimot/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 23 Jan 2007 03:19:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[1]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 1 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/01/22/ch%e1%bb%89-m%e1%bb%99t-cht-tnh/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/01/chimot/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb1.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image0011.jpg"></a>
■Kẻo mai này &#8230;
Tôi biết ông từ những năm 70s. Lúc ấy chúng tôi đang ở trại cải tạo Vĩnh Quang thuộc tỉnh Vĩnh Phú, vùng trung du nổi tiếng với những đồi trà bát ngát và dãy núi Tam đảo. Ông ở đội 14 Nông nghiệp gồm phần lớn các sĩ quan cấp tá. Tôi ở đội 8 Nông nghiệp kiêm Văn nghệ gồm phần lớn sĩ quan cấp uý. Năm ấy, ông ở vào khoảng tuổi “ tri thiên mệnh “. Nay ông đã “ thất thập cổ lai hy “. Năm ấy, tôi vẫn còn “ nhi lập “, mà nay đã là “ tri thiên mệnh “. Thời gian như bóng câu. Thấm thoát đã hơn 20 năm.
Dài hơn cả quãng đời 15 năm lưu lạc của nàng Kiều. Thế mà đã 20 năm rồi ư ? Tôi ngậm ngùi tự hỏi[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image0011.jpg"><img style="border: 0pt none; margin-right: 12px; margin-left: 12px; display: inline;" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb1.jpg" border="0" alt="clip_image001" hspace="12" width="180" height="244" align="left" /></a></p>
<p>■<strong><em>Kẻo mai này &#8230;</em></strong></p>
<p>Tôi biết ông từ những năm 70s. Lúc ấy chúng tôi đang ở trại cải tạo Vĩnh Quang thuộc tỉnh Vĩnh Phú, vùng trung du nổi tiếng với những đồi trà bát ngát và dãy núi Tam đảo. Ông ở đội 14 Nông nghiệp gồm phần lớn các sĩ quan cấp tá. Tôi ở đội 8 Nông nghiệp kiêm Văn nghệ gồm phần lớn sĩ quan cấp uý. Năm ấy, ông ở vào khoảng tuổi “ <em>tri thiên mệnh</em> “. Nay ông đã “ <em>thất thập cổ lai hy</em> “. Năm ấy, tôi vẫn còn “ <em>nhi lập</em> “, mà nay đã là “ <em>tri thiên mệnh</em> “. Thời gian như bóng câu. Thấm thoát đã hơn 20 năm.</p>
<p>Dài hơn cả quãng đời 15 năm lưu lạc của nàng Kiều. Thế mà đã 20 năm rồi ư ? Tôi ngậm ngùi tự hỏi khi cầm tập thơ “ <strong>Chuyện ngày xưa</strong> “ ông gởi tặng. Tôi có một thói quen. Khi cầm một quyển sách hoặc tờ tạp chí, tôi chỉ thoáng lướt qua tờ bìa hoặc trang nhất, rồi lật ngay qua bìa sau hoặc trang cuối. Đoạn trích bài tựa in ở bìa sau tập thơ làm tôi bùi ngùi : “ <em>Cuộc đời phù du dâu bể, vật chất phù vân sớm về tối đi, phải chăng chỉ còn lại chút tình cho người, cho ta…</em>” Tôi nhắm mắt lại. Thoáng trong trí tôi một câu văn đọc đâu đó. Đại ý về những ngày xa xưa thật xưa. Người viết muốn được ai đó cầm bút ghi lại. <strong><em>Kẻo mai này … trí nhớ tiêu hao.<span id="more-61"></span></em></strong></p>
<p>Kẻo mai này trí nhớ tiêu hao. Ôi  kiếp người còm cõi. Suốt đời là một kiếp tha hương. Bao nhiêu năm lưu đầy quê nhà và còn bao nhiêu năm nữa lưu đầy quê người. Có vui chăng chỉ là một chút tình cho người … cho ta … để :</p>
<p><strong><em>“ Mơ thấy dáng em tuổi dậy thì</em></strong></p>
<p><strong><em> Gío xuân tha thướt tà áo Việt</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong><strong><em></em></strong><strong><em> E lòng còn nặng cánh chia ly.”</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong><strong><em></em></strong><strong><em> ( Tết Ca Li – Như Hoa )</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p>■<strong><em>E lòng còn nặng cánh chia ly</em></strong></p>
<p>Tháng 5 năm 1982, phần lớn tù cải tạo trại Vĩnh Quang được chuyển vào Xuân Lộc , Long Khánh. Tại trại Z30A Xuân Lộc, tôi may mắn được biên chế ở cùng phòng, cùng đội và nằm cách ông một người tù già khác. Dù đã biết ông từ khi còn ở ngoài Bắc, nhưng chỉ đến lúc này, tôi mới biết rõ hơn về ông. Bên dưới dáng người mỏng tanh, miệng như lúc nào cũng sẵn nụ cười, chân bước thấp bước cao ( dạo ấy ông bị bệnh thần kinh tọa ) là một trái tim rất văn nghệ. Đêm thứ bảy nào, sau khi buồng giam đã tắt đèn và mọi người đã vào nằm trong mùng, tôi đều đàn và hát cho đến rất khuya. Sợ làm khó chịu các anh em không thích nghe nhạc hoặc chê tôi hát dở, tôi đàn rất nhẹ và hát rất khẽ. Nhưng giữa đêm khuya của rừng núi, tiếng đàn hát dù nhỏ và nhẹ cách mấy, cũng đều nghe rõ mồn một, ( và dù có dở cách mấy ), cũng đều gây một cảm giác ngậm ngùi. Nhất là với những người tù không biết ngày về như anh em chúng tôi. Dần dà, đã thành một thói quen. Tối thứ bảy, tôi thức khuya đàn hát. Các anh em cùng phòng thức để nghe ( hôm sau chủ nhật, mọi người được nghỉ lao động ). Những bài hát về thân phận con người. Về những mối tình tan vỡ. Về một kiếp lưu đầy. Người cuối cùng thức với tôi mỗi tối thứ bảy là ông. Sở dĩ tôi biết được là vì tiếng ông đằng hắng. Rất nhẹ và mong manh. Rồi từ từ, một cách rất khiêm tốn, ông cũng tham gia hát. Những bài hát Mỹ của thập niên 50s. Qua ông , tôi được biết bài Tennessy Waltz bất hủ. Sau này, tôi đã viết lời Việt cho bài hát và dùng để tán người sẽ là mẹ của các con tôi. Giọng hát ông, cũng như thơ ông, cũng như con người ông, nhẹ nhàng chứa chan tình cảm. Thứ tình cảm không sôi nổi nhưng rất dịu dàng. Ông kể cho tôi nghe về những ngày ông du học tại Mỹ. Về bài thơ “ <em>Gĩa từ Monterey</em> “, với cuộc chia tay người tình bản xứ không biết bao giờ gặp lại. Cuộc chia tay ấy hẳn phải là u uất nặng nề lắm. Nhưng không, những câu thơ thật nhẹ, thật mong manh :</p>
<p><strong><em>“ Hè Monterey</em></strong></p>
<p><strong><em> tôi từ biệt nàng</em></strong></p>
<p><strong><em> Cuối đường Fremont chạy dài ra bể.</em></strong></p>
<p><strong><em> Nàng hỏi, chiến tranh khi nào dứt ?</em></strong></p>
<p><strong><em> Tôi đáp, không nói được tương lai</em></strong></p>
<p><strong><em> Tôi hỏi, tình ta khi nào thôi ?</em></strong></p>
<p><strong><em> Nàng nhìn tôi</em></strong></p>
<p><strong><em> Đôi mắt xanh biếc</em></strong></p>
<p><strong><em> Chẳng nói</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em> ( Gĩa từ Monterey – Như Hoa )</em></strong></p>
<p>Ông viết bài thơ này vào tháng 4 năm 1974 tại Monterey. Ông không biết rằng, chỉ đúng một năm sau thôi, là chiến tranh sẽ chấm dứt ( một cách tức tưởi ). Và ông sẽ bị ném vào trại cải tạo. Và chân ông sẽ bước thấp bước cao, không phải ở “ <em>cuối đường Fremont chạy dài ra bể</em> “, mà là trên khắp các nẻo đường quê hương, với :</p>
<p><strong><em>“ Mùa đông gío rít lạnh</em></strong></p>
<p><strong></strong><strong><em>Nắng hè cháy thịt da</em></strong><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em> Đất cày lên sỏi đá</em></strong></p>
<p><strong><em> Khoai sắn chẳng no lòng “</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em> ( Mảnh đất tình quê – Như Hoa )</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p>Tôi chợt nhớ những đồi trà mênh mông dưới chân rặng Tam Đảo. Tôi chợt nhớ những đồi khoai mì bát ngát bao bọc lấy khu trại Vĩnh Quang. Những buổi chiều cuốc đất trên đồi vời trông về một miền cố hương xa tít. Thèm một bữa ăn no. Thèm một chén trà nóng. Thèm một đôi bàn tay mềm mại. Chỉ cầm thôi để nghe mềm nhũn cả châu thân. Trời cuối tháng mười se se lạnh. Thỉnh thoảng những cơn mưa nhẹ chỉ đủ làm ướt áo. Tấm áo vá của muôn ngàn nỗi đau. Ôi mùa thu đất Bắc. Đẹp biết bao trong văn thơ hoài cổ nhưng cũng ảm đạm biết bao cho những thân phận lưu đầy. Nhưng ở ông, những điều tưởng chừng như sẽ để lại vết hằn rất sâu trong tâm hồn nhậy cảm của ông, lại được hóa giải một cách rất nhẹ nhàng, như nụ cười ông, như giọng nói ông :</p>
<p><strong><em>“ Vận nước nổi trôi</em></strong></p>
<p><strong><em> Chí trai không tròn</em></strong></p>
<p><strong><em> Tôi đi tù</em></strong><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em> Mẹ gìa không nơi nương tựa. “</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em> ( Mẹ tôi – Như Hoa )</em></strong></p>
<p>Thời gian tôi gần gủi ông cũng vài năm. Nhưng trong trí nhớ còm cõi của tôi, tôi không moi ra được cái hình dung về khuôn mặt ông lúc giận dữ. Dù rằng, tôi biết ông có nhiều điều để giận dữ. Tôi chỉ còn nhớ được nụ cười hiền và nét đăm chiêu.</p>
<p>Tuy ông là người lúc nào cũng cười, dù trong những năm tháng đáng khóc nhất, nhưng ông lại ngạc nhiên khi thấy người con gái yêu của mình lúc nào cũng … cười :</p>
<p><strong><em>“ Đói khổ và bất hạnh</em></strong></p>
<p><strong></strong><strong><em>Cớ sao cô lại cười</em></strong><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em> Nào ai trả lời đặng</em></strong></p>
<p><strong><em> Riêng chỉ nàng biết thôi. “</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em> ( Nụ cười – Như Hoa )</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p>■<strong><em>Một chút tình &#8230;</em></strong></p>
<p>“ <em>Cuộc đời phù du dâu bể, vật chất phù vân sớm về tối đi</em> &#8230; “ Hay nói một cách khác, cuộc đời vốn bấp bênh. Mới đó mà đã mất tăm. Mới đó mà đã biền biệt. Còn chút tình nào cho nhau, xin hãy cho ngay hôm nay. Đừng nấn ná chờ đợi. Kẻo đến một lúc nào đó &#8230; qúa muộn. Tuổi ông đang mấp mé bên bờ tử biệt. Mà hình như tôi cũng vậy. Nào ai biết được, khi buổi sáng thức dậy không còn biết trước hiên nhà có vuông nắng ngọt ngào, nhìn thấy mà thèm sống đến muốn &#8230; chết được. Hay một buổi sáng không còn thức dậy được nữa. Mà đã lặng lẽ một mình về cõi quạnh hiu. Cái bến bờ hiu quạnh ấy ai cũng sẽ một lần qua, nhưng bởi không biết bao gìờ nên cuộc đời này vẫn còn được chút niềm vui.</p>
<p>Đã hơn 10 năm nay, kể từ khi qua Mỹ định cư, tôi không gặp lại ông. Sự liên lạc giũa chúng tôi chỉ là những trang thư ( mà phần lớn là ông viết. Nét chữ viết tay phóng khoáng bay bay giữa nền giấy trắng như mây ).  Và tất nhiên, những cuộc điện đàm viễn liên. Giọng ông vẫn nhẹ. Ân cần và chăm sóc. Dù đối với một người đã hơn một lần phụ lòng ông. Trước đó, khi còn ở Sài Gòn, tôi thỉnh thoảng vẫn gặp ông. Đôi khi, tình cờ gặp nhau ở một chỗ bán sách cũ. Hoặc trên đường cả hai đang còng lưng đạp vội đến một địa điểm <em>bán chữ</em> nào đó. Chúng tôi chỉ đủ thì giờ mời nhau điếu thuốc, trao đổi nhau vài “ <em>kinh nghiệm &#8230; kiếm cơm</em> “ rồi thôi. Ai cũng bát nhào với miếng cơm manh áo. Những câu chuyện văn nghệ biến mất hẳn giữa những xuôi ngược ngược xuôi của dòng sống. Một đôi khi, ông có nhẹ nhàng hỏi tôi dạo này có viết lách ca hát gì không. Tôi chỉ cười không trả lời. Ông hiểu. Nhưng tôi biết, ông vẫn có những nhóm bạn bè tụ tập đọc thơ ca hát  hàng tuần. Lúc ấy, tôi hình dung ông như viên công chức già. Sáng sáng, đủng đỉnh ra quán cà phê Tàu đầu hẻm, gọi một ly bạc xỉu ( Sữa pha chút cà phê ), rồi từ tốn nhấp từng ngụm, nhìn dòng người hỗn độn những xích lô máy, những xe lam, những xe thồ túa ra khắp các nẻo đường bụi bặm. Ly sữa cạn, ông đứng dậy, đủng đỉnh hòa vào dòng người tất tả. Nói cách khác, ông không quay lưng lại cuộc sống. Nhưng ông bước vào cuộc sống với phong cách riêng của ông. Chẳng thế mà, Trần Kiêm Đoàn, trong bài Cảm Nghĩ in ở đầu tập “ Chuyện ngày xưa “ đã nhận xét : “ <em>Thơ Như Hoa rất thật. Hầu hết bài thơ nào cũng</em> <em>hướng về một đối tượng cụ thể nào đó. Khung trời thơ Như Hoa là thế giới của con</em> <em>người chung quanh Anh&#8230;”</em> Đôi lúc tôi thèm được cái ung dung tự tại của ông. Cái ung dung tự tại của một người <em>thường </em>kiềm chế được cảm xúc của mình. Tôi nói “ <em>thường</em> “ có nghĩa là có đôi khi ông cũng “ <em>hơi buông thả</em> “.Tôi tâm đắc với nhận xét của Cao Thanh Tâm “ <em>Nếu người đọc muốn tìm trong thơ của Như Hoa Lê Quang Sinh những rung động đam mê của tình yêu thì có lẽ hơi khó, hoạ hoằn lắm mới tìm ra một bài thơ tình hiếm hoi trong tập thơ của anh như bài Đường Trăng.</em></p>
<p><strong><em>“ Có những buổi tinh cầu nhòa một nửa</em></strong></p>
<p><strong><em> ôm con buồn- ngơ ngác trộm nhìn em “</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em> ( Đường Trăng – Như Hoa )</em></strong></p>
<p><em>Ôm con buồn- ngơ ngác trộm nhìn em</em>. Thế thì buông thả lắm. Trong cái bất chợt của trời đất lúc giao mùa, ông đã không còn là ông. Nhưng tôi lại yêu ông hơn khi biết ông có những điểm &#8230; giống tôi. Chỉ khác là kẻ ồn ào sôi nổi, người lặng lẽ âm thầm. Nhưng khi những đợt sóng ngầm thúc đẩy ông đi xa hơn nữa, thì ông không chỉ “ <em>trộm nhìn em</em> “ mà còn “ <em>dám</em> “ ngỏ lời :</p>
<p><strong><em>“ Qua lối trúc em nỡ nào chẳng ngó</em></strong></p>
<p><strong><em> Anh đỉnh hồn treo lủng lẳng trái băn khoăn</em></strong></p>
<p><strong><em> Em gánh nước hay gánh tình ai đó</em></strong></p>
<p><strong><em> Để anh buồn quay quắt cả đường trăng “</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em> ( Đường Trăng – Như Hoa )</em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p>Giờ đây tôi mới biết ông bạn gìa của tôi cũng có những lúc buồn quay quắt  ( cả đường trăng ).</p>
<p>■<strong><em>Lại &#8230; một chút tình</em></strong></p>
<p>Một chút tình của ông cho tôi và của tôi cho ông ngày xưa ( nghe như từ tiền kiếp nào ), không biết bây giờ có bớt đi chút nào không. Người Mỹ có câu : <em>out of sight</em>, <em>out of mind</em> . Xa mặt cách lòng. Giờ đây chúng tôi ở xa nhau. Rất xa. Khoảng cách không gian tính bằng đơn vị dặm ngàn. Khoảng cách thời gian là kẻ “ <em>tri thiên mệnh</em> “, người “ <em>cổ lai hy</em> “. Nhưng dường như ông vẫn còn đồng cảm được với tôi. Như ông đã đồng cảm với bao người bạn khác. Và tôi, vẫn còn giữ được ở ông một chút tình. Ông ở chốn xa xôi đô hội ấy, dẫu tuổi gìa sức yếu, vẫn hòa được vào dòng sống tha hương bằng phong cách riêng của mình. <em>Từ tốn, chậm rãi, nhưng bền bỉ.</em>Và ông đã tìm được ý nghĩa cuộc sống. Tôi nghĩ vậy. Còn tôi, vẫn mải mê mê mải – không phải trong dòng sống mình hằng mơ ước – mà là “ <em>sự hội nhập</em> “ ( một khái niệm chua xót ).Ông- người ung dung tự tại dưới con mắt tôi – vẫn tìm được cho mình những giây phút “ <em>buồn quay quắt cả đường trăng</em> “.Còn tôi, mười năm đốt đuốc soi rừng đi tìm một khuôn mặt mình xa lạ. Không có được một giây phút cô đơn của riêng mình. Ngày xưa, tôi thèm được cái ung dung tự tại của ông. Ngày nay, tôi lại thèm được cái “ buồn quay quắt “ của ông. Đời tôi là một cuộc rượt đuổi, có lẽ. Hay là một bi kịch điển hình của lớp tuổi năm mươi đang lênh đênh trên biển đời xứ lạ ? Tôi không biết.  Nhưng tôi biết là tôi muốn viết về ông, như để thanh thản một chút tình. Nhưng hình như là tôi đang viết về thơ ông, như để tìm trong đó chút đồng cảm. Loay hoay mãi giữa mớ hỗn độn của chữ nghĩa, tôi lại hình như đang viết về tôi, như để tìm lại  cái tôi đã đi lạc  giữa xứ người từ 10 năm nay. Dẫu sao, ông sẽ mỉm cười độ lượng. Như ông đã từng độ lượng. Xin gởi đến ông một lần nữa mấy câu thẩn. Như những lời đồng cảm :</p>
<p><em>Thi sĩ già</em></p>
<p><em>Ngồi nặn thơ bên bờ sông lạnh</em></p>
<p><em>Mặc đời trôi dặm đường cô quạnh</em></p>
<p><em>Khóc oa oa.</em></p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/01/chimot/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vĩnh Biệt Bạo Chúa</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/01/vinhbiet/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/01/vinhbiet/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 16 Jan 2007 03:06:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[1]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 1 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/01/15/vinh-bi%e1%bb%87t-b%e1%ba%a1o-cha/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/01/vinhbiet/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001.jpg"></a>
1.
Như vậy là tay đao phủ thành Bagdad đã về với cát bụi, hay là về với nước thiên đường trong niêm tin tôn giáo của riêng ông ta. Chân lý cũ kỹ hàng ngàn thế kỷ, đã là người ai cũng phải chết. Kể cả con người ác như ác quỷ, giết người không gớm tay, không một chút đắn đo sợ hãi những hậu quả xảy đến cho mình vì tội sát hại đồng bào như ông Sadam Hussein, nhà độc tài lừng danh của thế kỷ, niềm bất hạnh của dân tộc Iraq. Hơn thế nữa, kẻ nào gieo gió thì phải gặt bão. Cái chết của ông ta là hậu quả tất nhiên cho những việc đã làm. Ông ta sống một cuộc đời đầy bạo động, và cái chết, là một hình thức bạo động khác , với biểu trưng là sợi[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="227" height="157" align="left" /></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Như vậy là tay đao phủ thành Bagdad đã về với cát bụi, hay là về với nước thiên đường trong niêm tin tôn giáo của riêng ông ta. Chân lý cũ kỹ hàng ngàn thế kỷ, đã là người ai cũng phải chết. Kể cả con người ác như ác quỷ, giết người không gớm tay, không một chút đắn đo sợ hãi những hậu quả xảy đến cho mình vì tội sát hại đồng bào như ông Sadam Hussein, nhà độc tài lừng danh của thế kỷ, niềm bất hạnh của dân tộc Iraq. Hơn thế nữa, kẻ nào gieo gió thì phải gặt bão. Cái chết của ông ta là hậu quả tất nhiên cho những việc đã làm. Ông ta sống một cuộc đời đầy bạo động, và cái chết, là một hình thức bạo động khác , với biểu trưng là sợi dây thòng lọng nặng chình chịch được đặt vào cổ ông ta buổi sáng lạnh lẽo , ảm đạm một ngày cuối năm 2006 như một dấu chấm hết trang sử đầy máu và nước mắt của hàng triệu người dân Iraq.</p>
<p>Cái tên Saddam đã trở nên quen thuộc với thế giới. Quen thuộc hơn nữa là khuôn mặt độc ác, lúc nào cũng đằng đằng sát khí, với đôi mắt đích thị là đôi mắt của những tên đao phủ chuyên nghiệp, lọai đao phủ không phải là một chọn lựa của nghề nghiệp nhằm tiếp tay thực thi công lý cho xã hội, mà là lọai đao phủ hân hoan coi việc giết người như là một cách thế khẳng định sự hiện hữu của cá nhân mình, của tôn giáo mình tin tưởng và bằng việc đặt tất cả các giá trị nhân lọai ở dưới bàn chân mình.</p>
<p>Giây phút cuối cùng của kẻ sát nhân lừng danh ấy, đã được mô tả như một sự ngoan cố và thách thức nhân lọai đến cùng. Ông ta không lộ một chút gì là ăn năn, hối tiếc về những tội ác diệt chủng, tàn sát nhiều người dân vô tội mà ông ta đã phạm phải trong suốt một phần tư thế kỷ nắm trọn guồng máy đàn áp trong tay. Vẫn sự kiêu ngạo cố hữu, ông ta tự cho mình là người đã đứng ra bảo vệ dân Iraq chống lại những kẻ thù, và rằng mình trọn đời là một chiến sĩ của cuộc thánh chiến (Jihad) , cho nên ,tuy phải đối diện với giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, ông ta không hề biết sợ hãi hay quy phục kẻ thù. Ôi! Những niềm tin mù quáng! Những kẻ mắc bệnh hoang tưởng tự cho mình có sứ mệnh đi cứu rỗi nhân lọai , để rồi nhân danh sự bình an của nhân lọai mà gieo rắc sự bất an đến cho những ai không đi theo con đường ngu muội của chúng !</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Khi tấm ván dưới chân Saddam được kéo hẳn về một bên, lỗ hổng – khỏang hư vô tăm tối chào đón tay bạo chúa – hiện ra sừng sững và hun hút. Ai biết được lúc ấy linh hồn tay đao phủ vừa mới bị treo cổ lưu lạc nơi đâu. Miền u minh mù mù mịt mịt đầy những vạc dầu và những ngạ quỷ tay cầm xiên đi tới đi lui canh chừng các linh hồn tội lỗi. Hay một cảnh thiên đường đầy hoa thơm cỏ lạ, có nhã nhạc du dương, có bao người con gái đẹp đứng hai bên đường chào đón vị chiến binh anh hùng vừa hòan tất nhiệm vụ trở về thượng giới, hân hoan nhận lãnh ly rượu trường sinh bất tử từ tay vị Thánh chủ tể của nhân lọai. Những câu chuyện hoang đường, bệnh họan ấy tưởng chỉ có thể xẩy ra trong tiểu thuyết đọc cho qua đêm dài mất ngủ, để rồi sáng hôm sau quên hết những gì đã đọc, vậy mà chúng vẫn có thể khiến cho nhiều người tin rằng có thật. Và từ đó, biết bao thảm kịch nhân lọai đã xảy ra.</p>
<p>Cuộc đời đầy vọng động của tay đao phủ thành Bagdad đã chấm dứt một cách nhục nhã trước sự chứng kiến của hàng tỉ người trên hành tinh . Chắc chắn, di sản của ông ta chẳng có một giá trị nào ngòai bài học dành cho những kẻ vẫn còn mơ mộng về một thế giới trong đó mình là chủ tể, là kẻ cứu rỗi, là anh hùng cần được nhân quần nhận ra và xưng hô vạn tuế. Một phần tư thế kỷ ông ta cai trị đất nước mình, chỉ để đưa bao thanh niên vào những cuộc chiến tranh không chính nghĩa, đổ máu một cách vô ích và biến cả một dải đất vốn là khung cảnh cho những câu chuyện thần tiên của Ngàn lẻ một đêm trở thành một nhà tù khổng lồ, những lò sát sinh dân lành vô tội . Và bây giờ, hậu quả là những cảnh nồi da xáo thịt, anh em cùng một nhà chém giết lẫn nhau như những kẻ thù, dù rằng thân xác nhà độc tài nay đang làm mồi cho giun dế .</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Cái chết của Saddam gây nhiều phản ứng khác nhau. Kẻ hân hoan hớn hở, nhảy múa reo vui trên những đường phố ăn mừng ngày tàn của một tên bạo chúa. Người dửng dưng lãnh đạm, coi đó như việc tất yếu phải xảy ra trong một thế giới đầy bất đồng, tranh chấp như hiện nay. Kẻ khóc thương cho một kiếp người, dù “ kiếp người “ này đã từng tiêu diệt sự sống còn của bao kiếp người khác. Kẻ khác lại ghê tởm cho cái cách những con người đối xử với nhau, nhân danh ích lợi chung để tiêu diệt đi những ước vọng cá nhân, dù cá nhân ấy đã thực hiện ước vọng của mình bằng cách thiêu hủy đi mọi gía trị chung nhất của nhân lọai. Nhưng, manh nha đây đó, một thái độ nghi ngờ chính mục đích tốt đẹp của mọi nỗ lực nhằm tiêu diệt đi những bạo chúa , một thái độ có gốc rễ từ thời tiền sử. Họ nói đến việc cầu cho những bạo chúa sống lâu trăm tuổi, để quần chúng khỏi phải đương đầu với những bạo chúa mới nổi, vốn thường hung hăng độc ác hơn cả những bạo chúa tiền nhiệm mà người ta vừa mới tiêu diệt.</p>
<p>Chúng ta đã không còn sống trong thời đại của những cá nhân tạo nên lịch sử nữa. Bây giờ là kỷ nguyên của quần chúng, của tập thể biết cách làm chủ vận mệnh của mình, và không bao giờ chấp nhận kẻ khác quyết định thay mình hình thức xã hội mình sống, hướng tương lai mình sẽ đi, và những tín lý mình tin tưởng. Cho nên, không có gì biện minh được những giọt nước mắt đổ xuống tiếc thương vị bạo chúa vừa qua đời .</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Cuối thế kỷ 20 là nhân chứng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và sự ra đi của những bạo chúa con đẻ của chú nghĩa ấy. Đầu thế kỷ 21, thế giới đang chúng kiến sự dãy dụa tuyệt vọng của vài tay đao phủ cộng sản còn sót lại. Nếu cái chết của nhà độc tài thành Bagdad có một gía trị nào đó, thì một trong những gía trị ấy phải là lời cảnh báo đáng sợ cho mấy tay đao phủ cộng sản còn sót lại trên thế giới. Sớm hay muộn, nhân dân sẽ đòi kẻ vay nợ phải trả nợ. Mọi sự dãy dụa cũng chỉ mua được chút thời gian ngắn ngủi, có khi chỉ làm giây phút cuối cùng đau đớn hơn mà thôi.</p>
<p>Nhưng liệu bài học nhãn tiền vừa xảy ra ngày gần cuối của năm 2006 có được những kẻ cùng một giuộc rút ra được chút gì cho chính mình không, hay lại , cà cuống chết đến đít còn cay, khiến họ trở nên điên cuồng hơn trong những ảo vọng của mình ?</p>
<p>Có lẽ chúng ta sẽ có câu trả lời trong 365 ngày sắp tới của năm 2007 trước mặt.</p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/01/vinhbiet/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thời Gian và Con Người</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/01/thoigian/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/01/thoigian/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 09 Jan 2007 00:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[1]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 1 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/01/th%e1%bb%9di-gian-v-con-ng%c6%b0%e1%bb%9di/567/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/01/thoigian/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb-100x100.gif" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a> 
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001.gif"></a>
●Lội qua dòng suối tâm linh cạn
Hát lại bài ca tuyệt mệnh trời
Ôi thôi sương tuyết pha màu tóc
Một nửa hồn tan- một nửa trôi.
( Ngọc Phi )
 
Đêm Wichita rùng mình ớn lạnh. Trận tuyết đầu mùa phủ kín những thảm cỏ mới tháng trước còn xanh mướt, bây giờ đã vàng úa. Thời gian đến rồi đi, rồi lại quay về. Những con đường khuya lại một lần nữa nhảy múa dưới ánh sáng rực rỡ của mùa Lễ hội lớn nhất trong năm. Giáng Sinh và Năm Mới. Bài hát quen thuộc lại vang lên . Dẫu cho đã có những người biến mất khỏi mặt đất này không ai hay, không ai bận tâm tới. Thời gian và con người đuổi theo nhau. Mỗi năm qua đi, thời gian tự làm già chính mình bằng những con số.[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p> </p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001.gif"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb.gif" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="162" align="left" /></a></p>
<p><em>●</em><em>Lội qua dòng suối tâm linh cạn</em></p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Hát lại bài ca tuyệt mệnh trời</span></strong></p>
<p><em>Ôi thôi sương tuyết pha màu tóc</em></p>
<p><em>Một nửa hồn tan- một nửa trôi.</em></p>
<p><em>( Ngọc Phi )</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Đêm Wichita rùng mình ớn lạnh. Trận tuyết đầu mùa phủ kín những thảm cỏ mới tháng trước còn xanh mướt, bây giờ đã vàng úa. Thời gian đến rồi đi, rồi lại quay về. Những con đường khuya lại một lần nữa nhảy múa dưới ánh sáng rực rỡ của mùa Lễ hội lớn nhất trong năm. <em>Giáng Sinh và Năm Mới</em>. Bài hát quen thuộc lại vang lên . Dẫu cho đã có những người biến mất khỏi mặt đất này không ai hay, không ai bận tâm tới. Thời gian và con người đuổi theo nhau. Mỗi năm qua đi, thời gian tự làm già chính mình bằng những con số. Con người cũng vậy, nhưng sẽ đến lúc chúng ta không thể tiếp tục làm già mình thêm được nữa.</p>
<p><em>Tôi đã nhìn thấy cái vô lý của đời sống. Cùng lúc, tôi cảm được cả cái vô lý của sự chết.</em></p>
<p><em>Trong Huyền Thoại cổ Hy Lạp, anh chàng Người tội nghiệp ngày ngày lăn tảng đá từ dưới chân núi lên đến đỉnh núi, rồi lại từ đỉnh núi lăn xuống chân núi. Cứ thế ngày này qua ngày nọ, cho đến một hôm, anh ta nhận ra được sự vô lý trong công việc hàng ngày của mình. Kể từ lúc ấy, anh ta biết thế nào là đau khổ . . .</em></p>
<p>Những ngày cuối của một năm, trong hơn 50 năm của cuộc đời mình, tôi đã có những lúc ước gì mình chỉ là một sự sống sinh vật. Không cảm, không nghĩ, không vui, không buồn. Để không sợ hãi nhìn mỗi năm qua đi thấy mình gần hơn vực thẳm tối đen của cái giới hạn đời người. Hằng đêm, ra khỏi sở trên con đường quen thuộc trở về nhà, tôi đã quen với bóng tối tĩnh lặng trong mười một tháng . Đến tháng thứ mười hai, tôi cũng đã quen với cái rực rỡ của hàng nghìn, hàng trăm nghìn những bóng đèn nhỏ li ti nhấp nháy giữa màu trắng của tuyết, màu đen của đêm. Trong khoang xe ấm áp, điệu nhạc quen thuộc lại vang lên, cùng với tiếng chuông nhà thờ, tiếng phong linh leng keng trong gió. Cái nghịch lý – thậm chí vô lý – là cùng một lúc, tôi khao khát mình sẽ tồn tại mãi mãi, thiên nhiên tồn tại mãi mãi, để mỗi năm, cứ vào dịp tháng mười hai, tôi lại được đi trên những con đường rực rỡ hoa đèn, lại  được nghe điệu nhạc quen thuộc. Mặt khác, giống như anh chàng Người tội nghiệp kia, tôi sợ hãi khi mỗi sáng mai thức dậy, thấy một ngày nữa sắp tới cũng giống y hệt ngày hôm qua; khi đến giây phút cuối cùng của một năm, thấy năm mới sắp đến không có gì hứa hẹn sẽ khác năm cũ, ngoại trừ tóc trên đầu sẽ bạc hơn, những cuộc thăm viếng phòng mạch y sĩ sẽ thường xuyên hơn, và quỹ thời gian còn lại sẽ nhỏ hơn.</p>
<p>Hôm tuần trước, nhân dịp về Dallas tham dự một buổi ra mắt sách, tôi gặp lại một người bạn vong niên. Ông bây giờ đã vượt qua con số <em>thất thập cổ lai hy.</em> Chúng tôi nhìn nhau và nhận ra được cái khủng khiếp của dấu ấn thời gian. Mới năm trước tôi gặp ông ở Sacramento, California. Bây giờ gặp lại, tưởng thời gian cách biệt phải là vài năm. Dẫu cho bây giờ ông bạn già của tôi, ngoài công việc thơ phú hội hè, còn có thêm mảnh vườn nho nhỏ để giải khuây mỗi khi nhớ đến anh chàng lăn tảng đá của thần thoại Hy lạp; còn có dăm đứa cháu nhỏ để ông cháu vui đùa mỗi khi giật mình liếc thấy bóng mình qua gương. Nói cách khác, ông chưa đến nỗi phải mường tượng về một buổi sáng nào đó, không còn thức dậy được nữa, mắt nhắm lại mà thấy bóng mình cô đơn đi về phía quạnh hiu của cõi trời. Ở đó, thời gian không là vô tận, không gian không là bao la, vì không còn con người để đóng khung những khái niệm ấy. Ở đó, không có tháng mười hai, tháng cuối cùng trong một năm, để những hoài niệm trở mình, để những hối tiếc được dịp đay nghiến, để những than van lên tiếng về một đất trời thay đổi nhanh như những vó ngựa qua cửa sổ.</p>
<p><em>Tôi chưa già như người bạn vong niên của mình, nhưng giữa bao la của bầu trời mùa Đông xám xịt, tôi hình như đã cảm thấy cái vô lý của sự chết.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Đêm hôm trời đổ trận tuyết đầu mùa xuống thành phố, các đài truyền hình địa phương nhanh chóng đưa tin về những tai nạn xe cộ xảy ra, nguyên nhân do đường xá trơn trợt. Có vài người chết và một số vào bệnh viện .</p>
<p>Sự sống biến mất thật dễ dàng. Tệ hại hơn nữa, hình như chẳng mấy ai bận tâm đến những người lặng lẽ ra khỏi đời vào một đêm tuyết trắng mở đầu cho tháng lễ hội tưng bừng trong một năm nữa sắp đi qua ấy, ngoại trừ những người thân của họ. Trong khi đó, cũng ở thành phố bé nhỏ này mấy tháng trước đây, một con mèo hoang đi lang thang rồi bị kẹt trên một thành cầu xa lộ, đã khiến Sở Cảnh Sát , cả Sở Cứu Hỏa lẫn Sở Thú Y phải huy động một lực lượng đáng kể để giải cứu con vật , khiến một đoạn đường bị kẹt xe hàng tiếng đồng hồ vào ngay giờ cao điểm của buổi sáng. Dẫu sao đó cũng là một sinh vật, dù sinh vật ấy là một con mèo hoang . Tôi cố nghĩ như vậy để tìm sự an ủi cho chính mình, nhưng cái liên tưởng rồi đây sẽ còn nhiều những sự sống lặng lẽ biến mất ngay trong khoảnh khắc tưng bừng nhất của ngày lễ hội thiêng liêng giữa sự vô tâm của nhân quần bạc bẽo chung quanh khiến tôi không hiểu nổi một sự nghịch lý tồn tại dai dẳng hàng ngàn năm.</p>
<p><em>Vòng tử sinh của vạn vật quay tròn đều đặn vô tri vô giác. Từ thuở tạo thiên lập địa đến nay nó chưa hề biết đến ngưng nghỉ. Cũng tương tự như thế là vòng thời gian, cả thời gian của đất trời lẫn thời gian của con người. Sự khác biệt chỉ ở chỗ, vòng thời gian của đất trời thì liên tu bất tận , còn vòng thời gian của con người không vượt quá khỏi trăm năm. Vì thế, ở mỗi thời điểm đánh dấu cái ngắn ngủi của chặng đường còn lại, người ta hay cảm hoài. Cái cảm hoài của một buổi chiều cuối năm đứng giữa mênh mông của đất trời cật vấn chính mình về cái vô lý của sự sống và sự chết. Cái cảm hoài khi nhìn những tờ lịch cuối mong manh như chiếc lá úa mùa thu chực chờ rơi rụng giữa thinh không mà không biết đêm nay có trận tuyết nào đổ xuống vùi chôn xác lá giữa sự thờ ơ của thế nhân.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Cuối của một ngày, cuối của một năm, cuối của một đời người. Dấu chấm hết lạnh lùng và ác nghiệt. Chẳng còn vài ngày nữa, những con số rồi sẽ lại đổi chỗ cho nhau. Một vòng quay mới bắt đầu.</p>
<p><em>Hơn hai trăm năm trước, con người hữu hạn Nguyễn Du đã từng đứng giữa cái bao la của sông nước mà lên tiếng hỏi người đời sau: </em></p>
<p><strong><em>Bất tri tam bách dư niên hậu</em></strong></p>
<p><strong><em>Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như</em></strong></p>
<p><em>( Không biết 300 năm sau, ai sẽ là người khóc Tố Như – ngoại hiệu của Nguyễn Du)</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Ích gì những giọt nước mắt, phải không Tiên sinh ? Dẫu cho có người nào đó để rơi trên mộ Tiên Sinh đôi hàng lệ nhỏ, thì tấm thân xác 300 năm của Tiên Sinh nay đã là cát bụi, cũng chẳng có phép lạ nào đem nó về lại được trần gian . Mà không có một thân xác để hiện hữu, thì dẫu một biển nước mắt cũng” cầm bằng như không biết mà thôi.” Phải không, thưa cụ Tố Như ?</em><em>■</em><em> </em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>© T.Vấn 2007</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/01/thoigian/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhân vật của năm 2006</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/01/nhanvat/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/01/nhanvat/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 02 Jan 2007 00:09:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[1]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 1 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/01/nhn-v%e1%ba%adt-c%e1%bb%a7a-nam-2006/572/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/01/nhanvat/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb14-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00116.jpg"></a>
<b>1.</b>
Tiếng người bạn tôi bên kia đầu dây, với giọng cảm hòai, đọc cho tôi nghe vài câu thơ anh còn lõm bõm nhớ được từ một bài thơ cũ đã mấy chục năm. Anh hỏi tôi có biết bài thơ ấy không, và có cách nào để tìm lại hộ anh trọn vẹn bài thơ đã từng là một kỷ niệm khó quên của anh từ thuở biết yêu lần đầu. Chỉ chưa tới một phút sau, tôi đọc như thuộc lòng nguyên văn bài thơ mà anh chỉ nhớ lõm bõm vài câu, bài thơ mà tôi chưa từng được biết tới bao giờ. Anh bạn tôi kinh ngạc, và tỏ vẻ thán phục trí nhớ “ siêu việt” của tôi, ngần ấy năm vẫn nhớ được bài thơ dài gần 30 câu ở thể thơ 7 chữ. Anh muốn tôi chép lại hộ[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00116.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 30px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" border="0" hspace="12" alt="clip_image001" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb14.jpg" width="184" height="244" /></a></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Tiếng người bạn tôi bên kia đầu dây, với giọng cảm hòai, đọc cho tôi nghe vài câu thơ anh còn lõm bõm nhớ được từ một bài thơ cũ đã mấy chục năm. Anh hỏi tôi có biết bài thơ ấy không, và có cách nào để tìm lại hộ anh trọn vẹn bài thơ đã từng là một kỷ niệm khó quên của anh từ thuở biết yêu lần đầu. Chỉ chưa tới một phút sau, tôi đọc như thuộc lòng nguyên văn bài thơ mà anh chỉ nhớ lõm bõm vài câu, bài thơ mà tôi chưa từng được biết tới bao giờ. Anh bạn tôi kinh ngạc, và tỏ vẻ thán phục trí nhớ “ siêu việt” của tôi, ngần ấy năm vẫn nhớ được bài thơ dài gần 30 câu ở thể thơ 7 chữ. Anh muốn tôi chép lại hộ anh bài thơ đó và gửi qua dạng điện thư. Cũng chưa đầy 1 phút sau, tôi bảo anh bạn tôi mở hộp thư riêng, sẽ thấy bài thơ ấy được gởi đến anh với chữ Việt có dấu đàng hòang. Lại một lần nữa, bạn tôi kinh ngạc. Làm sao mà chỉ đôi câu gợi ý lõm bõm qua điện thọai, chỉ trong vài phút ngắn ngủi, anh đã có nguyên văn bài thơ ưa thích trước mặt. Anh cứ tưởng tượng rằng, hoặc là tôi phải có một kiến thức uyên bác và trí nhớ siêu đẳng, hoặc tôi phải có một thư viện sách khổng lồ trong tay và phải xử dụng hàng ngày trời lục lọi trong đó, may ra mới có thể tìm ra được bài thơ kỷ niệm ấy của anh. Vậy mà tôi đã hòan thành công việc khó khăn ấy chỉ trong vài phút.</p>
<p>Tôi chẳng có một trí nhớ siêu việt, cũng không hề có một kiến thức uyên bác, lại càng không thể giữ được bao nhiêu sách vở cũ của gần 40 năm nay từ khi biết say mê chữ nghĩa đã nhịn ăn, nhịn mặc lấy tiền tha từng quyển về nhà. Biến cố năm Mậu Thân 1968 đã thiêu hủy sạch tủ sách học trò của tôi. Không nản chí, tôi lại ra sức gầy dựng lại gia tài của mình , chỉ để cho chúng biến thành nạn nhân của cuộc phần thư sau biến cố tháng 4 năm 1975 . Để có được bài thơ mà anh bạn tôi nhớ lõm bõm vài câu, không có tên tác gỉa, không có cả tên bài thơ, tôi chỉ cần xử dụng thành tựu đáng kể nhất năm 2006 của mạng lưới điện tử tòan cầu. Đó là việc tìm kiếm các tài liệu hiện hữu ( có thật ) trong thế giới ảo bằng dụng cụ Google Search với đủ lọai ngôn ngữ thông dụng trên mạng, trong đó có chữ Việt. Rất đơn giản, vừa nói chuyện với bạn, tôi vừa gõ mấy câu thơ ấy vào cửa sổ tìm của Google. Chỉ độ vài chục giây sau, Google Search đã tìm được cho tôi cái cửa nối kết (link) để tôi bước vào, và rất dễ dàng, tôi tìm được bài thơ có những câu thơ mà bạn tôi vừa đọc. Và cũng chỉ bằng một kỹ thuật sao chép và chuyển tiếp ( mà bất cứ người sử dụng Microsoft Word nào cũng biết ), tôi đã đưa bài thơ ấy vào điện thư, rồi chuyển ngay cho người bạn ở cách xa tôi gần hai ngàn dặm đường . Tất cả chỉ diễn ra trong một khỏang thời gian ngắn đến không thể tin được.</p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Năm 2006 qua đi với nhiều biến động, nhiều sự kiện đáng chú ý, nhiều nhân vật đã làm cả thế giới biết đến tiếng tăm của mình. Như thường lệ, hàng năm tạp chí Time lừng danh ở Mỹ đều bình chọn nhân vật nổi bật nhất, hoặc một cơ quan đòan thế đáng chú ý nhất trong năm. Đặc biệt, năm 1982, tờ báo này đã chọn chiếc máy Computer là “ nhân vật” đáng chú ý nhất của năm đó, vì nó góp phần làm thay đổi thế giới theo một chiều hướng mới lạ chưa từng thấy. Và năm nay, 2006, một lần nữa tờ Time đã đi ra ngòai thông lệ của mình, để không chọn một cá nhân làm nhân vật nổi bật nhất trong năm . Thay vào đó, (những) người nổi bật nhất của 2006 là tất cả những ai xử dụng hay góp phần tạo nên thế giới ảo ( World Wide Web) . Cũng khác với thông lệ mọi năm, khi tờ Time chọn một cá nhân nào đó làm nhân vật nổi trội của năm, họ phải giải thích tại sao họ chọn người đó và những việc làm nào của người đó đã có ảnh hưởng đến thế giới chung quanh. Năm nay, họ không bận tâm giải thích sự chọn lựa của mình. Vì thế giới ảo ( WWW) và số cư dân ngày càng tăng lên với tốc độ chóng mặt của nó đã là một hiện tượng không ai không nhìn thấy, không ai không biết tới. Ngay đến ở một làng quê nhỏ bé ở Việt nam, một quốc gia nằm trong danh sách những nước nghèo nhất thế giới, vậy mà ở đầu làng vẫn có một tiệm Internet ( nơi cho thuê máy Computer nối mạng ) để dân chúng, sau một ngày đồng áng mệt mỏi, có cơ hội gần gủi văn minh thế giới, đọc tin tức, hay thỉnh thỏang gởi vài bức điện thư cho thân nhân, bạn bè xa xôi lâu ngày không gặp. Internet , tức mạng lưới tòan cầu, đã trở thành một từ ngữ quốc tế và được sử dụng hầu như khắp thế giới.</p>
<p>Điều quan trọng hơn hết, chính mạng lưới tòan cầu cùng với sự phát triển của kỹ thuật chế tạo computer , đã thay đổi tòan diện thế giới , đem lại cho thế giới một bộ mặt mà chỉ cách đây 10 năm chưa một ai dám nghĩ đến. Đó là sự bùng nổ của kỷ nguyên thông tin (Information Age) có khả năng đem con người ngồi lại với nhau từ rất nhiều nơi xa xôi trên thế giới , có khả năng truyền đạt một sự kiện vừa xảy ra với tốc độ của ánh sáng . </p>
<p>Một cách cụ thể nhất , ảnh hưởng của World Wide Web đối với một người say mê chữ nghĩa như tôi thật to lớn. Tôi không cần phải tích trữ hàng núi sách vở để rồi bị thiêu sạch vì chiến tranh. Mọi thứ tôi cần, dường như đã có sẵn trên thế giới ảo. Tôi chỉ học biết cách mở đường để bước vào thư viện khổng lồ ấy mà thôi. Để tìm những dữ liệu cần thiết cho công việc viết lách của mình, tôi đã có thể vừa viết vừa đối chiếu những dữ liệu mới nhất qua mạng chỉ bằng vài cái nhấp chuột. Thế là, một cách mặc nhiên, tôi cùng với hàng tỉ người xử dụng Internet, hàng tỉ người làm chủ những Websites đủ lọai, từ văn học, nghệ thuật, chính trị xã hội cho đến những thông tin thực dụng khác như điện thư, các danh mục quảng cáo ,dịch vụ, mua bán trao đổi lên đến hàng mấy chục tỉ Mỹ Kim hàng năm, những trang mạng chính thức của các cơ quan công quyền trên tòan thế giới, những Bloggers ( người viết nhật ký mạng ) có khả năng ảnh hưởng đến mọi lãnh vực đời sống , đã trở thành nhân vật nổi bật nhất năm 2006 theo sự bình chọn của tờ Time, USA.</p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Vì thế, không có gì khác thường về kết quả thăm dò của Tổ hợp truyền thông đại chúng khổng lồ CNN mới đây. Trong một cuộc khảo sát kéo dài 3 tuần lễ với sự tham dự của khỏang 18 ngàn người xử dụng Internet liên quan đến việc bình chọn những sự kiện gây ảnh hưởng lớn nhất đến những sinh họat của cư dân trên mạng lưới điện tử tòan cầu, 41 phần trăm đã chọn sự xuất hiện của hệ thống truy tìm những thông tin mạng Google. Google INC. được thành lập từ năm 1998 với chỉ vài người bạn cùng một niềm say mê thế giới điện tóan như nhau. Đến tháng 9 , 2006 đã có số nhân viên là gần 10 ngàn người với tổng doanh thu năm 2006 là 7 tỉ mốt Mỹ kim. Khả năng giúp đỡ người sử dụng trong việc tìm kiếm các thông tin trên mạng của Google là một sự phát triển dựa trên những thành tựu có sẵn, nhưng ở một mức độ cao hơn hẳn và đa dạng hơn nên mau chóng thu hút người sử dụng , cũng có nghĩa là mau chóng chiếm lĩnh thị trường quảng cáo, một trong những thị trường đem lại lợi nhuận cao nhất của hệ thống kinh tế cạnh tranh. Chỉ trong 7 năm trời, bản doanh của công ty đã từ địa điểm nhà để xe (garage) của một trong những người sáng lập, nay được đặt tại một tòa nhà cao tầng uy nghi ở thành phố Mountain View, tiểu bang California. Hiện nay, hệ thống truy tìm Google chiếm gần 80 phần trăm số người sử dụng với trung bình 1 tỉ lần yêu cầu giúp đỡ trong một ngày. Hai hệ thống kỳ cựu là Yahoo và MSN chỉ còn là cái bóng mờ nhạt, Yahoo được khỏang 15 phần trăm và MSN khiêm tốn vớ 5 phần trăm còn lại. Hai tự điển Anh ngữ uy tín là <i><a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Merriam_Webster">Merriam Webster Collegiate Dictionary</a> và <a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Oxford_English_Dictionary">Oxford English Dictionary</a> </i>đã cho thêm từ Google vào ấn bản mới nhất của mình với nghĩa được chú là<i> : </i>to use the Google search engine to obtain information on the Internet ( sử dụng hệ thống truy tìm Google để nhận thông tin trên mạng Internet ) .</p>
<p><b>4.</b><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00234.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" border="0" hspace="12" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb33.jpg" width="186" height="244" /></a><b></b></p>
<p>Hồi tháng hai đầu năm 2006, Google , cùng với 3 đại công ty hàng đầu trong lãnh vực thông tin kỹ thuật toàn cầu của nước Mỹ là Yahoo, Microsoft và Cisco Systems đã phải ra điều trần trước Tiểu Ban về Quan hệ Quốc tế ( International Relations ) tại Hạ Viện Hoa Kỳ về mối quan hệ &quot; mật thiết &quot; (cozy) của họ với cơ quan cảnh sát kiểm soát mạng Internet của Trung Quốc. </p>
<p>Các nhà lập pháp Hoa Kỳ đặt vấn đề với Google vì vào đấu tháng giêng năm 2006, Google đã lưu hành một ấn bản mới cho hệ truy tìm ( Google Search) rất được ưa thích trong thế giới ảo. Ấn bản mới của Google Search, đặc biệt chỉ dùng ở Trung Quốc, đã không cung cấp cho người có nhu cầu tìm kiếm trên mạng lưới điện tử những nội dung mà nhà nước Cộng sản Trung Quốc ngăn cấm thí dụ như những từ có đề tài liên quan đến cuộc nổi dậy Thiên An Môn, Phong trào Pháp Luân Công, hoặc Phong Trào đòi độc lập ở Tây Tạng v.v.. Nói cách khác, những người điều hành Google bị nghi ngờ đã tiếp tay với các chế độ độc tài để đàn áp các phong trào đòi dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo v.. v.. </p>
<p>Qua câu chuyện của Google và các công ty lừng danh Yahoo, Microsoft, Cisco bán linh hồn cho Trung Quốc để thu về lợi nhuận, tôi cảm thấy lo ngại cho các phong trào dân chủ tự do ở trong nước ( Việt Nam) . Bấy lâu nay, nguồn yểm trợ mạnh nhất cho họ là những người cùng lý tưởng ở hải ngọai, mà phương tiện quan trọng nhất là hệ thống mạng lưới tòan cầu . Mọi hành động đàn áp, vi phạm nhân quyền của giới cầm quyền trong nước đều được phổ biến rộng rãi và cấp thời khắp nơi trên tòan thế giới . Trong tình hình đó, làn sóng phản đối của quốc tế ( và cả quốc nội ) sẽ có tác dụng không nhỏ với giới chức lãnh đạo. Mặt khác, người tranh đấu cho dân chủ tự do trong nước cũng cảm thấy sức mạnh của mình được nhân lên nhiều lần, vì họ biết rằng sau lưng họ là một tập thể đông đảo những người cùng chí hướng. Nếu như những người cộng sản Việt nam cũng học theo đàn anh Trung Quốc tạo cơ hội cho giá chứng khóan của các công ty lừng danh như Google, Yahoo nhảy vọt lên, thì khi ấy, số phận của các phong trào dân chủ nhân quyền còn non trẻ ở trong nước sẽ ra sao ?</p>
<p><b>5.</b></p>
<p>Dấu ấn quan trọng nhất của những năm đầu thế kỷ 21 , và đặc biệt năm 2006 vừa qua, là bước phát triển nhảy vọt trong lãnh vực mạng lưới thông tin tòan cầu. Khả năng trội vượt nhất của bước phát triển này , so với nhiều sự phát triển quan trọng trong nền văn minh nhân lọai, là nó có thể đưa thế giới lại gần với nhau , phá bỏ các khỏang cách về không gian, về ngôn ngữ và cả về nhiều mặt văn hóa , góp phần giải quyết nhiều vấn đề chung của thế giới với sự tham dự đông đảo của những người vốn trước đây được coi là đám đông thầm lặng. Nhưng, mặt khác, yếu tố lợi nhuận, cái bệ phóng cho những bước phát triển quan trọng ấy, lại không thể tránh khỏi khía cạnh tiêu cực mà trường hợp Google nói đến ở trên là một điển hình. </p>
<p>Biết đến bao giờ chúng ta mới sống được trong một thế giới tòan hảo về mọi phương diện ?</p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/01/nhanvat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
