<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; Tháng 10 &#8211; 2006</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang10/2006-10/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Một chuyến đi</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/10/motchuyen/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/10/motchuyen/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 28 Oct 2006 16:38:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[10]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 10 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/10/m%e1%bb%99t-chuy%e1%ba%bfn-di/886/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/10/motchuyen/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb30-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00132.jpg"></a>
▪Gởi Nguyễn văn Dần  ở San Jose
 ▪ Manh chiếu trần gian nát tả tơi
 ( Ngọc Phi )
1.
Từ trên khoang máy bay nhìn xuống, tôi thấy thành phố nhỏ dần, nhỏ dần, rồi chỉ còn một mầu xanh nhạt ngút ngàn. Đây chẳng phải là lần thứ nhất tôi đến San Jose. Gần hai năm trước, cùng với gia đình, chúng tôi đã có hai tuần lễ  đáng nhớ tại thành phố nhỏ về diện tích, nhưng lại rất lớn về số người Việt cư ngụ trong vùng. Lần đó, vì bận rộn với các cuộc họp mặt lớn nhỏ cùng  những người bạn  cách biệt nhau hằng nhiều năm vì chiến tranh, rồi tù đày, rồi vượt biên  hay xuất cảnh bằng diện HO, nên tôi ít có thì giờ đi đây đó ngắm cảnh thành phố. Ngày đó, khi rời San Jose bằng[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00132.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb30.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="165" align="left" /></a></p>
<p>▪<em>Gởi Nguyễn văn </em><em>Dần  ở</em><em> San Jose</em></p>
<p><em> ▪ Manh chiếu trần gian nát tả tơi</em></p>
<p><em> ( Ngọc</em><em> Phi )</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Từ trên khoang máy bay nhìn xuống, tôi thấy thành phố nhỏ dần, nhỏ dần, rồi chỉ còn một mầu xanh nhạt ngút ngàn. Đây chẳng phải là lần thứ nhất tôi đến San Jose. Gần hai năm trước, cùng với gia đình, chúng tôi đã có hai tuần lễ  đáng nhớ tại thành phố nhỏ về diện tích, nhưng lại rất lớn về số người Việt cư ngụ trong vùng. Lần đó, vì bận rộn với các cuộc họp mặt lớn nhỏ cùng  những người bạn  cách biệt nhau hằng nhiều năm vì chiến tranh, rồi tù đày, rồi vượt biên  hay xuất cảnh bằng diện HO, nên tôi ít có thì giờ đi đây đó ngắm cảnh thành phố. Ngày đó, khi rời San Jose bằng chiếc xe thuê từ Quận Cam đi lên , tôi đã tưởng như sẽ không còn có dịp trở lại nơi đây một lần nữa . Cuộc sống với trăm thứ bề bộn hàng ngày, để có được chuyến đi hai tuần lễ đó, vợ chồng chúng tôi đã phải cố gắng lắm mới thu xếp xong các công việc nhà việc sở mà lên đường. Lập gia đình muộn màng, trong lúc các bạn cùng trang lứa đã có cháu ngoại cháu nội ẵm bồng, hoặc trễ lắm thì con cái cũng đang bước vào ngưỡng cửa đại học, còn vợ chồng chúng tôi thì hai đứa con còn quá nhỏ, muốn đi đâu cũng phải đem chúng đi theo. Nói như thế thì thực ra không được công bằng cho lắm. Nhờ các cháu còn nhỏ, nên đi đâu cũng được chúng bằng lòng đi theo. Tuy có hơi bận rộn, nhưng niềm vui lúc nào cũng đầy ắp. Và nhờ vậy, vợ chồng tôi được bạn bè khen trẻ hơn tuổi của mình.</p>
<p><em>Tôi không thể quả quyết , cảm giác tâm hồn mình trẻ hơn số tuổi mang trên vai là điều may mắn hay chỉ là cái cảm giác ảo khiến cho một người già khó sống hơn với thực tại, nhưng chuyến tái ngộ San Jose lần này của tôi – một thân một mình, không vướng bận thê nhi – quả là một kinh nghiệm mới mẻ.</em></p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Người bạn thân từ những ngày chúng tôi còn mài đũng quần trên ghế nhà trường suốt 7 năm trung học , đã đưa tôi đi hầu khắp các đường phố trong một buổi chiều nắng nhẹ, và sau cùng chúng tôi ngồi lại với nhau tại một quán cà phê lộ thiên -  như ngày xưa chúng tôi thường ngồi với nhau những buổi chiều trốn học đi hoang, tay phì phèo điếu thuốc Basto xanh thời thượng và ly cà phê đậm chát uống với đường thẻ ( một thứ thời thượng khác ) &#8211; . Chúng tôi , cũng vẫn như bao nhiêu năm về trước, chọn một chỗ ngồi, từ đó, có thể nhìn khắp những ông đi qua, bà đi lại , và thỉnh thoảng nháy mắt nhau về một bóng hồng nào đó.</p>
<p>Tôi không thể nghĩ đến một ngày, tóc bạc da mồi, &#8211; riêng anh bạn tôi thì không còn một sợi tóc trên đầu ( dù là tóc bạc ), miệng móm mém vì có bao nhiêu răng đã nhổ sạch để chuẩn bị làm hàm răng giả ( theo lời anh, để có cái mà nhai ) – và ở một vùng đất cách xa quê nhà cũ hằng nửa vòng quay địa cầu, chúng tôi lại được ngồi lại với nhau, nhắc lại với nhau những kỷ niệm cũ, những người quen biết cũ, sau biết bao nhiêu những biển dâu thăng trầm của cuộc đời. Ngày xưa, chúng tôi ngồi bên nhau, những câu chuyện là về bao mộng ước cho tương lai, bây giờ, những câu chuyện chỉ quẩn quanh những điều không như ý trong cuộc đời. Cuộc sống, với hai người bạn của gần 50 năm , dường như đứng lại trong buổi chiều dài bất tận. Cũng có những người con gái đi qua, vẫn có ánh mắt nhìn theo, nhưng cái nhìn hằn vẻ mệt mỏi. Trong trí tôi vẫn văng vẳng câu thơ của Hoàng Anh Tuấn  thuộc nằm lòng trong những buổi chiều Sài Gòn nhàn nhã . <em>Có đi qua xin em đừng ngoảnh lại.</em><em> </em><em>Tóc buông rèm lứa tuổi thích ô mai.</em><em> </em>Và anh bạn tôi thì hóm hỉnh chọc quê tên học trò si tình bằng hai câu thơ của Nguyễn Du còn nhớ được là nhờ những giờ Việt Văn buồn tẻ trong lớp. <em>Người đâu gặp gỡ làm chi. Trăm năm</em> <em>biết có duyên gì hay không</em>.</p>
<p>Thời gian quả đáng sợ. Chúng tôi đã đi qua không biết bao nhiêu con đường. Có đoạn đường bằng phẳng, có đoạn đường đầy những mìn bom, hầm hố, ở gà .Chúng tôi đã đi qua những dấu mốc không thể quên của đất nước, của tuổi trẻ thế hệ chúng tôi: cuộc chiến tranh 30 năm khốc liệt, cuộc lưu đầy nhiều năm trên hầu khắp các vùng đất quê hương,  và cuối cùng là cuộc lưu vong tự nguyện. Chúng tôi cũng đã từng ngã xuống, đã đứng dậy vịn quá khứ mà bước tới. Hơn 40 năm sau, ngồi lại bên nhau, nhìn thấy dấu ấn khủng khiếp của thời gian mà thở dài.</p>
<p><em>… Nhiều lúc, tôi tự hỏi mình. Có ích gì không khi cứ khơi lại những kỷ niệm </em><em>cũ ?</em><em> </em><em>tuổi</em><em> trẻ đã qua đi, mấy ai níu nó lại được.Dẫu cho chỉ là cái cảm giác  ảo là mình vẫn còn trẻ như ngày nào. Chẳng phải chúng ta đã từng đếm từng tháng từng ngày cho đến khi cầm được thẻ căn cước trên tay mà háo hức bước vào đời làm người lớn tự do thoát ra ngoài vòng kềm tỏa của cha của mẹ, của kỷ luật gia đình ? Chẳng phải chúng ta cứ hăm hở lao mình về phía trước, vững chãi tự tin với mớ tuổi đời mỗi ngày một thêm </em><em>nặng ?</em><em> Vậy mà, bây giờ . . . sợ hãi nhìn ngày tháng trôi qua vùn vụt , soi gương nhổ từng sợi tóc mệt mỏi trên đầu, như tìm mọi cách bịt mắt mình không cho thấy dấu vết hủy hoại của thời gian. Thân xác già nua còn có các loại thuốc men và mỹ phẩm để làm chậm lại quá trình lão </em><em>hóa .</em></p>
<p><em> Còn tâm hồn già nua thì lấy gì cứu </em><em>chữa ?</em></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Vài ngày ngắn ngủi ở thành phố thung lũng hoa vàng xinh đẹp còn cho tôi cơ hội gặp gỡ vài người bạn văn chương tóc bạc. Buổi nhạc nhẹ bỏ túi, một cây đàn thùng, căn phòng nhỏ nhắn, màu rượu lóng lánh hổ phách, và những tâm tình ẩn hiện lung linh dưới ánh sáng nến nhè nhẹ với âm thanh đầy ắp những hoài niệm. Lại những hoài niệm và những thở than cho một kiếp người và tình đời bạc bẽo.</p>
<p><em>. . . Cũng những người bạn ấy nhiều năm về trước, mỗi tối thứ bảy, chúng tôi tụ họp nhau lại đàn hát. Căn phòng không chỉ nhỏ mà còn là phòng giam ngột ngạt hàng trăm người. Không có rượu lóng lánh hổ phách, chỉ những lon guigoz nước đun sôi. Không có nến lung linh nhè nhẹ, chỉ một </em><em>ngọn  đèn</em><em> dầu con leo lét ở góc phòng. Vậy mà, khi ấy, ngoài những hoài niệm, chúng tôi vẫn có cái háo hức của tương lai, dù một ngày về còn mù mù mịt mịt giữa chập chùng của núi, của đồi, của rừng hoang, của âm u nước độc . . .</em></p>
<p>Một người bạn thi sĩ nhét vội vào túi tôi bài thơ mới viết trên trang giấy học trò với màu mực tím thuở hoa niên. <em>Gặp nhau sông núi ngời trong mắt.</em><em> </em><em>Chập chùng như thấy bóng quê xưa.</em><em> </em><em>Nhìn nhau thương khó đời phiêu bạt.</em><em> </em><em>Lệ chảy mà quên chuyện gió mưa.</em><em> </em><em>( thơ</em><em> Ngọc Phi ). </em>Tôi nghe tiếng hát mình như ống bơ dỉ và mệt mỏi. Nếu các con tôi ngồi đây chúng sẽ lại đồng ca bài ca quen thuộc <em>Thôi bố ơi đừng hát nữa</em> <em>làm chi</em> như chúng đã từng làm như vậy mỗi khi vợ tôi ấn cây đàn vào tay tôi và yêu cầu một bài hát của ngày  chúng tôi mới quen nhau. Tự nhiên , tôi nhớ vợ con quay quắt. Chỉ muốn bay về ngay lại thành phố nhỏ bé tĩnh lặng của mình. Đây là lần đầu tiên tôi đi xa một mình. Cảm giác cô đơn dưng không ập về.</p>
<p><em>. . .  Giữa tiếng nhạc hoài niệm chập chùng và lời thơ than thở, tôi nghĩ về sự cần thiết của những người thân yêu nhất của tôi trong khoảng đời mà rất nhiều lúc tôi chỉ ngoảnh cổ ngó lại phía đằng sau. </em><em>Tôi nghĩ về người vợ không còn trẻ nữa của mình và sự cần thiết chúng tôi phải đi bên nhau cho đến cuối con đường.</em><em> Tôi nghĩ về những đứa con còn rất trẻ của chúng tôi và sự cần thiết của những nương tựa, khi vui lúc buồn, khi yêu thương khi hờn giận. Tôi nghĩ về tổ ấm đơn sơ của mình và sự cần thiết của một nơi chốn lúc nào cũng mong được trở về như trở về cõi địa đàng </em><em>an</em><em> nhiên thoải mái.</em></p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Vì thế, tôi rời thành phố San Jose với tâm trạng phấn khởi không ngờ. Cũng như tôi đã mạnh dạn gạt bỏ gợi ý của người bạn thời đi học về cú điện thoại cho một người quen cũ hiện bây giờ đang ngụ cư trong thành phố. Chúng tôi ai cũng có một đời sống cùng với những đau khổ hạnh phúc riêng, tốt nhất là không nên khơi lại những kỷ niệm cũ. <em>Chỉ làm cho kỷ niệm trở nên đáng ghét thêm mà thôi.</em></p>
<p>Buổi sáng hôm tôi rời San Jose, người bạn cũ dẫn tôi ra quán cà phê lộ thiên ở khu Century một lần nữa. Tôi nhìn ông đi qua, bà đi lại, những thiếu nữ xinh xắn  trẻ trung mà lòng thanh thản. Cuộc sống cứ trôi chảy về phía trước. Nếu mình đứng lại giữa đường, dòng sống sẽ như dòng sông đẩy mình ngã xấp.</p>
<p><em>Già rồi mà còn ngã xuống, liệu có đứng dậy nổi nữa hay </em><em>không ?</em><em>■</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/10/motchuyen/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cuộc đời n&#224;y qu&#225; đỗi mong manh</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/10/cuocdoi/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/10/cuocdoi/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Oct 2006 16:32:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[10]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 10 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/10/cu%e1%bb%99c-d%e1%bb%9di-ny-qu-d%e1%bb%97i-mong-manh/882/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/10/cuocdoi/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb58-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00262.jpg"></a>
■ Gởi gia đình Rogers ở Missouri.
● Trước nỗi thống khổ của con người, mọi lý giải trần gian đều trở nên bất lực và hèn mọn. 
Hàng năm cứ vào dịp  Lễ Lao Động ( Labor Day ), là vợ chồng tôi cùng hai cháu nhỏ, chất nhau lên xe xuôi Nam hướng về Texas, để tham dự buổi họp mặt hàng năm  của nhóm anh em học cùng Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt năm xưa.
Năm nay*, thời tiết khác thường hơn mọi năm. Sau hơn hai tuần có những ngày nóng  từ 100 độ Farenheit trở lên, là những ngày mưa tầm tã. Mưa suốt buổi sáng thứ bảy lúc gia đình tôi rời nhà ở Wichita , Kansas vào xa lộ xuyên bang I-35. Qua thành phố Oklahoma, trời có hơi tạnh ráo. Rồi lại là những cơn mưa[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00262.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb58.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="233" align="left" /></a></p>
<p>■ <em>Gởi gia đình Rogers ở Missouri.</em></p>
<p><em>● Trước nỗi thống khổ của con người, mọi lý giải trần gian đều trở nên bất lực và hèn mọn. </em></p>
<p>Hàng năm cứ vào dịp  Lễ Lao Động ( Labor Day ), là vợ chồng tôi cùng hai cháu nhỏ, chất nhau lên xe xuôi Nam hướng về Texas, để tham dự buổi họp mặt hàng năm  của nhóm anh em học cùng Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt năm xưa.</p>
<p>Năm nay*, thời tiết khác thường hơn mọi năm. Sau hơn hai tuần có những ngày nóng  từ 100 độ Farenheit trở lên, là những ngày mưa tầm tã. Mưa suốt buổi sáng thứ bảy lúc gia đình tôi rời nhà ở Wichita , Kansas vào xa lộ xuyên bang I-35. Qua thành phố Oklahoma, trời có hơi tạnh ráo. Rồi lại là những cơn mưa nối đuôi nhau từ biên giới hai Tiểu Bang Oklahoma và Texas, mưa chỉ ngớt khi chiếc Mini Van  của gia đình chúng tôi chạm ven thành phố Dallas. Tối hôm đó, chúng tôi vui với gia đình những người bạn ở Kansas, Oklahoma và Houston tụ hội về Dallas. Có cả gia đình một anh bạn ở mãi tận Florida cũng bay đến để chúng tôi có cơ hội gặp nhau sau gần 30 năm xa cách. Ngày hôm sau, chủ nhật, chúng tôi dành cả buổi trưa để chuyện vãn hàn huyên tại một Câu Lạc Bộ ngoài trời, rồi mới chia tay. Gia đình tôi, trên đường về, ghé qua thành phố Oklahoma thăm vợ chồng anh chị bạn. Tại đây, anh bạn bảo tôi nên gọi điện thoại hỏi Sở Giao thông thành phố xem con đường xuyên bang về lại Wichita có trục trặc gì không, vì hình như có một đoạn đường nào đó bị đóng vì mưa lụt. Tôi  làm  như anh nói, và được biết , không có gì trở ngại cả.</p>
<p>Đêm hôm đó, tuy một phần của thành phố Oklahoma vẫn còn mưa, nhưng sau gần 3 tiếng lái xe, gia đình tôi bình an về đến nhà lúc 2 giờ sáng. Các con tôi ngủ vùi trên xe vì đã quá khuya và cũng vì mệt mỏi sau hai ngày vui chơi thoả thích với các bạn của chúng. Tôi lần lượt bế từng đứa vào giường , đắp chăn mền cẩn thận cho con, trong lúc vợ tôi thu dọn các thứ cần phải làm ngay trong xe, rồi cũng vội vàng tắm rửa và đi ngủ. Tôi vốn có thói quen vào giường trễ, nên sau khi làm các công việc vệ sinh cần thiết xong, tôi mở tủ lạnh lấy lon bia và ngồi vào phòng khách mở TV  xem một đài truyền hình địa phương phát lại chương trình buổi tối. Một mẩu tin làm tôi chú ý ngay. Hôm thứ bảy &#8211; cùng ngày  gia đình tôi xuôi Nam đi Dallas &#8211; trên xa lộ xuyên bang I-35 về hướng  Bắc , cách thành phố Wichita của chúng tôi khoảng 120 dặm, vào lúc xế chiều, do mưa quá lớn, một quãng đường I- 35 đã bị nước dâng lên cao hơn 2 mét  so với mặt đường, cuốn đi những tảng xi măng  ngăn chia hai bên Nam Bắc, cùng với 6 chiếc xe bị kẹt trên quãng đường đó lúc ấy. Trong số những xe bị kẹt , có chiếc Mini Van của một gia đình 6 người từ Missouri, gồm hai vợ chồng , 4 đứa con  nhỏ , tuổi từ 8 xuống đến 1. Nước đã cuốn đi người vợ, 4 đứa con nhỏ, còn người chồng sống sót. Trong số bị nước cuốn, có một người đến từ Fortworth, Texas. Số còn lại thoát thân an toàn. Tôi bàng hoàng ngồi chết lặng. Thì ra đó là đoạn đường bị đóng mà anh bạn tôi ở Oklahoma đã nghe nói đến.Trên màn ảnh truyền hình, là khu vực  đường bị lụt cùng với những chiếc xe nằm chỏng gọng sau khi nước rút đi. Trước mặt tôi,  người chồng người cha chẳng may sống sót sau cơn tiểu hồng thuỷ đứng bên cạnh chiếc xe Mini Van gia đình nghiêng ngả méo mó, đang cố kềm lại nỗi đau mà tôi biết vô cùng khủng khiếp. Đôi mắt anh khô khốc, thất thần và đầy vẻ kinh ngạc.Vì những sự việc vừa xảy ra với anh, có lẽ chỉ như một cơn ác mộng. Anh nói với giọng nói không phải của một con người. Anh hỏi. <em>Tại </em><em>sao ?</em> <em>tại</em><em> sao lại là tôi, là gia đình tôi vào thời khắc định mệnh này, vào quãng đường định mệnh này, mà trước đó, chưa hề xảy ra một sự việc tương tự ? </em><em>Tôi không có câu trả lời.</em><em> </em><em>Nhưng tôi có niềm tin vào Đấng Tối cao.</em><em> </em><em>Người sẽ có câu trả lời cho tôi và gia đình tôi.</em><em> </em>Giây phút này đây, không một lý lẽ nào, không một lời giải thích nào làm nguôi được nỗi đau trong lòng người đàn ông khốn khổ ấy. Chỉ trong một buổi chiều ngắn ngủi, trong lúc anh đang cùng gia đình hưởng niềm vui quây quần bên nhau  trên đường đi thăm bạn bè, thân quyến  nhân ngày  nghỉ lễ &#8211; cũng như gia đình tôi &#8211; thì bỗng dưng, tai hoạ giáng xuống , anh mất tất cả. Những người thân yêu nhất của anh biến mất trước mặt anh  , chìm nhanh dưới màn nước mà anh thì bất lực đau đớn. Anh kể lại giây phút kinh hoàng ấy, chỉ có anh và vợ anh cởi được dây Belt an toàn . 4 đứa con nhỏ của anh, tất cả vẫn còn dây belt giữ chặt vào ghế xe. Chúng kêu khóc hoảng sợ. Vợ chồng anh nhìn nhau, nhìn con, bất lực. Và rồi mọi chuyện biến mất cho đến khi anh không còn biết gì nữa. Giọng anh lạnh lẽo  đến làm tôi phát run người. <em>Trước nỗi thống khổ của con người, tất cả những lý giải trần gian đều bất lực và hèn mọn.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Tôi thoáng nhớ đến một câu chuyện trong Cựu Uớc về một người tên Job. Ông là một người giàu sang, phú quý, con cháu đầy đàn. Bỗng một hôm , ông mất tất cả, của cải, gia đình. Đã có lúc , ông vì qúa  đau khổ, đem bụng nghi ngờ lòng thương yêu của Thiên Chúa. Ông nguyền rủa, oán hận, trách móc. Nhưng rồi sau đó, ông vẫn giữ vững được lòng tin. Tôi không biết người đàn ông khốn khổ kia, trong 24 tiếng đồng hồ nửa tỉnh nửa mê nửa tin nửa ngờ ấy, có lúc nào mất đi chỗ nương tựa vững chãi nhất của anh trong lúc này  là Niềm Tin của anh hay không, nhưng nhìn nét mặt anh, mọi ham muốn trần gian của tôi bỗng hoá thành rác rưởi.Anh nghẹn ngào nói với những người đang vây quanh. <em>Bất cứ lúc nào bạn  ở bên cạnh những người thân yêu nhất của mình, hãy nói với họ rằng bạn  yêu họ, hãy ôm lấy họ , hãy hôn họ, hãy làm tất cả những gì bạn có thể làm được, cho những người thân yêu ấy được vui, được hạnh phúc . . . Bởi vì , chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra sau đó. </em><em>Cuộc sống này quá đỗi mong manh.</em> Người đàn ông gục mặt vào vai một người phụ nữ đứng bên cạnh, có lẽ là mẹ anh. Tôi thấy vai anh run lên và nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt những  người đứng chung quanh, cả người phụ nữ ở Fortworth , sau khi nhận được cú điện thoại di động kêu cứu của chồng, đã lái xe suốt đêm thứ bảy, vượt đoạn đường hơn 400 dặm  đến mong cứu được chồng, chỉ để chờ nhà chức trách tìm kiếm thi hài chồng còn kẹt ở một hốc đá nào đó.</p>
<p>Trong đêm khuya, tôi không thể nào chịu đựng được những tiếng khóc tức tưởi. Tôi tắt TV, đứng dậy. Lon bia trên tay tôi vẫn còn nguyên, chưa mất một giọt. Tôi mở cửa phòng các con tôi. Chúng đang ngủ thật say. Giấc ngủ trẻ con bao giờ cũng là những giấc ngủ thiên thần. Tôi bước tới hôn nhẹ lên trán từng đứa, như tôi vẫn làm hàng đêm. Nghĩ đến những lời nhắn nhủ nghẹn ngào của người cha khốn khổ vừa mất một lúc 4 đứa con, tôi ôm chặt lấy hai con, nước mắt tôi trào ra. Giữa đêm khuya , tôi như nghe được tiếng rơi của những giọt nước mắt của mình. Những giọt nước mắt thật hạnh phúc, cũng là những giọt  nước mắt có hơi hướm của một nỗi lo sợ viễn vông. Điều gì sẽ xẩy ra, nếu trước đây chừng một tiếng đồng hồ trên con đường xuyên bang I- 35 quen thuộc ấy, tay lái xe của tôi chỉ lạc đi một chút vì mệt mỏi ? Tôi không dám nghĩ tiếp. Nhưng tôi hiểu rằng, trên cõi trần gian tạm bợ này điều gì cũng có thể xẩy ra được. Ngay lúc  đó, một ý nghĩ  khác làm nhói lòng tôi. Đấng Tối Cao đã cho chúng ta sự sống, cho chúng ta niềm vui được làm người, rồi Ngài lại lấy những thứ ấy đi theo ý Ngài. Vậy trần gian này sẽ lấy chuẩn mực gì để lý giải những điều đó ?  Giả sử chúng ta cho một đứa bé viên kẹo. Trong lúc nó đang nhấm nháp, thưởng thức vị ngọt của kẹo, chúng ta lại giằng đi niềm vui ấy từ tay nó. Đứa bé sẽ làm gì ? Gào lên đòi lại viên kẹo đã bị giằng ? Đứng khóc tức tưởi một mình mong đợi lòng thương của người vừa lấy đi viên kẹo ? Lặng lẽ cam chịu vì dù đầu óc non nớt cũng hiểu được rằng, kẻ nào cho thì kẻ ấy có quyền lấy lại ?  Nhưng cử  chỉ cho và đòi lại ấy &#8211; ở con người &#8211; có được xem như  là một cử chỉ thân ái &#8211; theo chuẩn mực tạm bợ của trần gian &#8211; hay không ?</p>
<p>Tôi trở về phòng của mình. Trong một khoảng thời gian rất lâu, tôi đứng lặng lẽ ngắm người vợ đầu ấp tay gối của tôi đang ngon giấc. Nàng quá mệt mỏi sau một chuyến đi xa. Trong lòng tôi dâng lên một cảm xúc không biết gọi tên là gì. Tôi vào giường, nhẹ nhàng kéo chăn, ôm lấy tấm thân mềm mại ấm áp ấy  và hít thật sâu mùi da thịt  quen thuộc của người mẹ của các con yêu quý của tôi. Để biết mình vẫn còn trong tay những tặng phẩm quý giá nhất mà Thượng Đế đã ban  tặng. Một cách không ngờ, giấc ngủ đến với tôi thật mau chóng và nhẹ  nhàng, cùng với ý nghĩ, cuối tuần này, tôi sẽ bảo  hai cháu dùng số tiền chúng được các bác các chú thưởng trong đêm văn nghệ tâm giao tại Dallas , gởi đến cho gia đình bất hạnh kia,  như một sự chia sẻ, như một tấm lòng của những con người còn nghĩ đến con người.</p>
<p><em>Trong giấc ngủ, tôi nghe được những tiếng cười trẻ thơ.</em><em> Thứ </em><em>Ân</em><em> sủng quý giá nhất mà loài người có được.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>*2003.</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/10/cuocdoi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời c&#225;m ơn muộn m&#224;ng</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/10/loicamon/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/10/loicamon/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 23 Oct 2006 16:28:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[10]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 10 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/10/l%e1%bb%9di-cm-%c6%a1n-mu%e1%bb%99n-mng/878/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/10/loicamon/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb29-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00131.jpg"></a>
● Gởi đến GS Trần Anh ở Wichita
1.
 
Cả hội trường đầy ắp người. Họ im lặng, chăm chú nhìn người phụ nữ nhỏ nhắn, tha thướt trong chiếc áo dài Việt Nam màu trắng , đứng rất điềm tĩnh trên bục thuyết trình. Chị không còn trẻ nữa, nhưng vẫn phảng phất trong cung cách nét đẹp của một thời con gái. Chị được mời làm diễn giả ( key speaker ) trong một chương trình hàng năm của sở Bưu Điện thành phố nhằm cổ võ sự hiểu biết lẫn nhau trong một môi trường làm việc đa dạng với nhiều sắc dân đến từ nhiều nơi trên thế giới. Cử tọa phần lớn là người Mỹ , lẫn lộn trong đó có vài mái tóc màu đen . Họ là những di dân từ Việt Nam, Trung Hoa, Kampuchia, Đại Hàn . Tôi nhìn[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00131.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb29.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="202" height="209" align="left" /></a></p>
<p>● Gởi đến GS Trần Anh ở Wichita</p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Cả hội trường đầy ắp người. Họ im lặng, chăm chú nhìn người phụ nữ nhỏ nhắn, tha thướt trong chiếc áo dài Việt Nam màu trắng , đứng rất điềm tĩnh trên bục thuyết trình. Chị không còn trẻ nữa, nhưng vẫn phảng phất trong cung cách nét đẹp của một thời con gái. Chị được mời làm diễn giả ( key speaker ) trong một chương trình hàng năm của sở Bưu Điện thành phố nhằm cổ võ sự hiểu biết lẫn nhau trong một môi trường làm việc đa dạng với nhiều sắc dân đến từ nhiều nơi trên thế giới. Cử tọa phần lớn là người Mỹ , lẫn lộn trong đó có vài mái tóc màu đen . Họ là những di dân từ Việt Nam, Trung Hoa, Kampuchia, Đại Hàn . Tôi nhìn đám cử tọa đông đúc, nhìn người phụ nữ tuy khép nép trước bao con mắt chú mục vào mình, nhưng vẻ tự tin bộc lộ rất chững chạc. Chứng tỏ, đây không phải là lần đầu tiên chị xuất hiện trước đám đông , dù đám đông ấy là những người khác ngôn ngữ, khác những thói quen văn hóa, kể cả khác biệt về lề thói suy nghĩ, làm việc.</p>
<p>Bằng một động tác rất thùy mị của người phụ nữ Việt Nam, chị cúi đầu chào cử tọa, và cất tiếng tự giới thiệu về mình và về đề tài chính sẽ được thảo luận bằng thứ tiếng Việt thật chuẩn xác, chậm rãi như để cho người nghe có thì giờ hiểu được những gì chị muốn truyền đạt đến cử tọa. Sau một tích tắc ngạc nhiên, tôi hiểu được ý định của chị. Còn cử tọa cứ tròn xoe mắt mà thắc mắc, không hiểu người phụ nữ  xa lạ kia – <em>người hiện đang giữ một chân phụ tá trong việc giảng dậy tại trường Đại Học lớn nhất thành phố</em> – đang say mê thao thao bất tuyệt những điều gì. Vài người đưa mắt nhìn tôi dò hỏi. Tôi chỉ mỉm cười ngụ ý hãy kiên nhẫn.</p>
<p>Sau khoảng 2 phút nói bằng tiếng Việt, người phụ nữ diễn giả bỗng ngưng lại, kèm theo một nụ cười duyên dáng chị hỏi cử tọa &#8211; bằng một thứ tiếng Anh không kém phần chuẩn xác như tiếng Việt chị vừa xử dụng – rằng có ai hiểu chị đang nói gì không ? Tất nhiên , chị nhận được những cái lắc đầu có vẻ bối rối ( và cũng tất nhiên, phải loại trừ vài người Việt Nam có mặt trong đám cử tọa, họ không lắc đầu, mà chỉ cười mỉm ).</p>
<p>Từ đó, chị bắt đầu đề tài của mình. Chị nói về những rào cản ngăn chia con người khiến cho nhân loại không thể xích lại gần nhau hơn nữa được. Tất nhiên, một trong những rào cản lớn nhất là sự khác biệt về ngôn ngữ, phương tiện hữu hiệu nhất đưa con người tới chỗ cảm thông, chia xẻ , sinh sống và làm việc chung với nhau. Nhưng, theo chị, còn có những rào cản khác mà ảnh hưởng của chúng nặng nề không kém gì rào cản ngôn ngữ, đã đẩy con người xa nhau, thậm chí hận thù nhau và là một trong những nguyên nhân khiến thế giới không lúc nào không có những cuộc xung đột bạo lực hay không bạo lực, và hệ quả không thể tránh khỏi là chiến tranh bùng nổ. Đó là thành kiến, ngộ nhận, sự kém hiểu biết, lòng cố chấp hẹp hòi với người khác chính kiến, sự không độ lượng trước lỗi lầm của người khác v..v..Những rào cản này có mặt ở khắp nơi, kể cả trong những xã hội nói cùng một ngôn ngữ, chia xẻ cùng một nếp văn hóa, và thậm chí ở cả những nhóm hoạt động, những hội đoàn có cùng một mục tiêu cho sự kết hợp của mình.</p>
<p>Rồi chị nói về sự có mặt của những cộng đồng di dân trên đất Mỹ, sự tham dự của họ vào dòng sống của đất nước đã dang tay dung chứa họ, mà trước hết, là những nỗ lực hiểu biết về đất nước họ sinh sống – ngôn ngữ, tập tục, lề thói sinh hoạt, làm việc v..v.. – mặt khác, nhu cầu bảo tồn văn hóa riêng của những cộng đồng di dân cũng thúc đẩy  họ tìm cách biểu lộ chính mình, mời gọi sự học hỏi, hiểu biết, cảm thông nơi người bản xứ.</p>
<p>Chị cũng nói cho mọi người ( Mỹ ) biết lý do chị có mặt trên mảnh đất kỳ diệu này và con đường gian nan nguy hiểm mà chị đã bị buộc phải chọn để đến được bến bờ của Tự Do.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Gần một năm sau buổi nói chuyện rất thành công của người phụ nữ Việt Nam có vóc người bé nhỏ tại hội trường của Sở Bưu điện thành phố, tôi lại nhìn thấy khuôn mặt quen thuộc ấy trên trang chính  tờ báo lớn nhất thành phố. Tờ báo tuyên dương những hoạt động của chị trong hơn 20 năm từ ngày chị rời bỏ quê hương thân yêu của mình, lênh đênh trên chiếc thuyền mong manh 5 ngày đêm đói, khát, rét, sợ hãi , rồi cập bến một bến bờ bên ngoài tổ quốc bị đày ải, rồi từ đó, chị chọn định cư nơi thành phố nhỏ bé hiền hòa này. Vừa đặt chân lên vùng đất mới, chị bắt tay ngay vào việc xây dựng cuộc sống riêng mình, nhận một công việc làm tại văn phòng tiếp nhận người tị nạn đến từ các nước.  Chị đã từng giúp đỡ hàng trăm, hàng ngàn người Việt những ngày đầu tiên bỡ ngỡ đặt chân lên mảnh đất xa lạ, xa lạ từ ngôn ngữ giao tiếp cho đến cái khí hậu khắc nghiệt, khi nóng thì nóng chảy mỡ, mà khi lạnh thì cũng buốt da buốt thịt. Và đáng kể hơn hết, giúp một cộng đồng non trẻ đi từng bước lẫm chẫm thu dần khoảng cách về mọi mặt sinh hoạt giữa họ và những cộng đồng người dân bản xứ.</p>
<p>Đọc lời tường thuật về những gian nan nguy hiểm trên con đường vượt biên của một  người phụ nữ Việt Nam năm ấy còn là một cô gái trẻ can đảm , những nỗ lực học hỏi, làm việc và sinh sống nơi xứ người,  tôi nhớ đến sự thán phục mà những người bạn Mỹ của tôi dành cho chị trong buổi thuyết trình hôm xưa. Họ không tài nào hiểu nổi, làm sao mà người phụ nữ với vóc người thật bé nhỏ như thế kia, đã một thân một mình  vượt qua bao gian nan sóng gió, hiểm nguy bất trắc, và chỉ trong hơn 20 năm định cư nơi xứ sở này, đã tạo dựng cho mình một vị trí khiến nhiều người bản xứ phải ganh tị, và từ ganh tị đi đến ngưỡng mộ. Chưa kể, chị còn dùng khả năng và tấm lòng của mình giúp các cộng đồng thiểu số xích lại gần với nhau.</p>
<p>Người phụ nữ ấy, một cách thầm lặng, biến những suy nghĩ của mình thành hành động. Và cùng với bao người di dân khác, chị  nỗ lực gieo rắc sự hiểu biết cảm thông nơi những cộng đồng hoàn toàn khác biệt nhau về tiếng nói, màu da, về những sinh hoạt hàng ngày, khác biệt cả về những món ăn trong mâm cơm gia đình mỗi chiều, về cách quản lý những tờ ngân phiếu lương đem về nhà vào ngày thứ sáu của vợ, của chồng, và có khi của cả con cái còn sống chung với bố mẹ.</p>
<p>Nói cách khác, dù những khác biệt có lớn lao , nhưng những cố gắng từng chút một của mỗi người – mà người phụ nữ trên đây là một điển hình – của mỗi cộng đồng nhỏ trong một cộng đồng lớn , và góp nhặt lại từ ngày này sang ngày khác, từ năm này sang năm khác, đã biến những khác biệt lớn lao tưởng chừng như không san bằng nổi, đã nhỏ dần, nhỏ dần rồi , một ngày nào đó, sẽ từ từ mất hẳn.</p>
<p>Ngày hôm nay, sau hơn 20 năm nỗ lực, một người phụ nữ Việt Nam đã được cộng đồng bản xứ ghi nhận sự đóng góp to lớn mà chị đã âm thầm gởi đến cho mọi thành viên trong cộng đồng ấy. 20 năm trước, cộng đồng ấy còn là ân nhân của chị và đồng bào chị khi họ mở rộng vòng tay đón những người tị nạn Việt Nam, thì 20 năm sau, họ phải thú nhận rằng chính sự có mặt của những người như chị đã làm cho cuộc sống của họ ý nghĩa hơn, nền văn hóa vốn đa dạng của họ trở nên đa dạng hơn, phong phú hơn .</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Tôi biết rằng , khắp nơi trên nước Mỹ, hễ nơi nào có người Việt định cư, hẳn nơi đó sẽ – không nhiều thì ít – xuất hiện những con người như người phụ nữ đáng yêu ở nơi tôi cư ngụ. Chúng ta – nhất là những người đến nước Mỹ muộn màng – thường có khuynh hướng mặc nhiên hưởng thụ những tiện nghi ( tinh thần ) mà những người khai phá đã phải dày công phấn đấu để có được sự hiểu biết , cảm thông, tôn trọng nơi những cộng đồng khác – nhất là cộng đồng người bản xứ – ở một nước  pha trộn đủ mọi sắc dân như nước Mỹ.</p>
<p><em>Cũng như người Mỹ da đen hiện nay, họ mặc nhiên hưởng mọi quyền lợi bình đẳng như người da trắng, được tôn trọng phẩm giá với tư cách một con người không phân biệt màu da chủng tộc. Mấy ai trong số họ biết và còn nhớ tới một người phụ  nữ da đen tên là Rosa Parks ( vừa từ trần hôm 24 tháng 10 năm 2005, thọ 92 tuổi ), cách đây  đúng 50 năm đã dũng cảm nhất quyết không nhường ghế ngồi cho một người đàn ông da trắng trên một chuyến xe buýt ở thành phố Montgomery, tiểu bang Alabama, ở vào thời điểm mà tệ kỳ thị chủng tộc còn hoành hành và còn được hợp pháp hóa , nhất là tại những tiểu bang miền Nam như Alabama, Mississippi. Sau đó, bà bị bắt và đưa ra tòa. Sự kiện này đã dấy lên một phong trào đòi hỏi dân quyền do những người da đen phát động cùng với sự hỗ trợ của những người da trắng hiểu biết. Khởi đầu từ thành phố Montgomery, tiểu bang Alabama nơi diễn ra hành động phản kháng tiêu biểu với bà Rosa Parks, rồi từ từ lan rộng ra khắp nước Mỹ, cho đến cao điểm  là phong trào dân quyền dưới sự lãnh đạo của mục sư  Martin Luther King JR. Và kết quả, nạn kỳ thị chủng tộc đã bị đặt ngoài lập pháp, đặt ngoài mọi sinh hoạt xã hội kinh tế chính trị từ  trường học, nơi làm việc cho đến các cơ chế ứng cử, bầu cử cả cấp tiểu bang lẫn liên bang.</em></p>
<p>Tất nhiên, không phải chỉ một mình bà Rosa Parks có công trong việc tranh đấu cho người da đen có được một vị trí bình đẳng với tư cách con người  trong xã hội Mỹ như ngày hôm nay. Đó phải là kết quả của nhiều hoạt động, nhiều hy sinh của rất nhiều người trong cộng đồng – cả da trắng lẫn da đen – cho một một mục đích chung.</p>
<p>Cũng tương tự như vậy, cộng đồng di dân non trẻ  người Việt Nam hiện nay đang được hưởng sự tôn trọng, sự cảm thông nơi những cộng đồng khác cùng sống chung khắp nơi trên đất Mỹ không phải chỉ nhờ vào những nỗ lực như của người phụ nữ nơi thành phố tôi sinh sống, hay những con người tương tự ở các địa phương khác, mà phải ghi nhận cả những đóng góp nhỏ nhoi nhất của từng cá nhân, từ tinh thần siêng năng, kỷ luật , cầu tiến biểu lộ nơi làm việc, đến ý thức công dân, tham gia các sinh hoạt công ích, tôn trọng luật pháp và nhất là thái độ sẵn sàng chia xẻ mỗi khi có những sự không may xẩy ra trong cộng đồng mình hay những cộng đồng khác chung sống cùng địa phương.</p>
<p>Đó là thành quả tập thể của một cộng đồng. Nhưng những hạt nhân bao giờ cũng nổi bật. Và theo tôi, họ xứng đáng được hưởng sự ghi nhận ấy.</p>
<p>Như một phần thưởng cho những con người còn có một tấm lòng.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Sau khi khoe tờ báo phát hành hàng ngày của thành phố có in hình và bài viết về một người phụ nữ Việt Nam đã từng một lần đến nói chuyện nơi đây với những người bạn làm chung  sở , tôi cẩn thận lấy kéo cắt bài báo cất đi vào một nơi trang trọng trong tủ sách của mình.</p>
<p><em>Như một cử chỉ trân trọng công sức của những người Việt Nam tiên phong trên đất Mỹ đã góp phần tạo nên một môi trường thuận lợi cho những người đến sau sinh sống, làm việc và học hành.</em><em>■</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/10/loicamon/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chiến tranh v&#224; những b&#224;i học lịch sử</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/10/chientranhva/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/10/chientranhva/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 20 Oct 2006 16:23:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[10]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 10 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/10/chi%e1%ba%bfn-tranh-v-nh%e1%bb%afng-bi-h%e1%bb%8dc-l%e1%bb%8bch-s%e1%bb%ad/874/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/10/chientranhva/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb57-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00261.jpg"></a>
1.
Vừa qua, nước Mỹ &#8211; cùng với những kẻ thù của mình – đã kỷ niệm 5 năm ngày đại thảm họa ( với nước Mỹ và những người yêu chuộng tự do ) , ngày đại thắng (Great Victory – với những phần tử quá khích Hồi Giáo ) 9 tháng 11. Hơn 3 ngàn người vùi thây dưới sự đổ nát của hai tòa tháp Twin Towers ở New York. Hàng trăm người tan xác trong những chiếc máy bay bị xử dụng như một thứ vũ khí tấn công. Những ngày ấy, nước mắt của cả nước Mỹ, nước mắt của tòan thế giới đã đổ ra khóc thương không chỉ những nạn nhân vô tội , mà còn cho những giá trị nền tảng nhất của nhân loại đã bị vùi chôn ngay giữa thành phố biểu hiện nhất cho nền văn minh[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00261.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 20px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb57.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="175" height="244" align="left" /></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Vừa qua, nước Mỹ &#8211; cùng với những kẻ thù của mình – đã kỷ niệm 5 năm ngày đại thảm họa ( với nước Mỹ và những người yêu chuộng tự do ) , ngày đại thắng (Great Victory – với những phần tử quá khích Hồi Giáo ) 9 tháng 11. Hơn 3 ngàn người vùi thây dưới sự đổ nát của hai tòa tháp Twin Towers ở New York. Hàng trăm người tan xác trong những chiếc máy bay bị xử dụng như một thứ vũ khí tấn công. Những ngày ấy, nước mắt của cả nước Mỹ, nước mắt của tòan thế giới đã đổ ra khóc thương không chỉ những nạn nhân vô tội , mà còn cho những giá trị nền tảng nhất của nhân loại đã bị vùi chôn ngay giữa thành phố biểu hiện nhất cho nền văn minh thế kỷ 20. Và ngay sau khi người thân của những nạn nhân của thảm nạn 9 tháng 11 tạm lau khô nước mắt và từ bỏ mọi hy vọng còn sót lại , nước Mỹ đã tự hỏi mình : <em>Liệu chúng ta có còn được sống cuộc sống như trước khi có thảm nạn này hay không ?</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Năm năm sau , nước Mỹ ( và cả thế giới) dường như đã khẳng định được câu trả lời với một tâm trạng vừa buồn bã, vừa giận dữ. Sự giận dữ không chỉ với những kẻ cực đoan Hồi Gíao đã gây ra vết thương lớn nhất cho nước Mỹ, mà còn cả với chính quyền nước họ.</p>
<p>Ground Zero , nấm mồ chung của hơn 3 ngàn người dân New York . 5 năm đã trôi qua , Ground Zero vẫn còn là Ground Zero, như một vết thương còn mở miệng nhắc nhở nước Mỹ rằng bất kể sức mạnh quân sự với đủ lọai vũ khí và khoa học tối tân, bất kể vị trí siêu cường về kinh tế, bất kể vai trò lãnh đạo số 1 trên tòan thế giới, nước Mỹ vẫn không thể chế ngự được một nhóm kẻ cuồng tín , lấy khủng bố làm vũ khí để đối  chọi lại với những quốc gia phương Tây hùng mạnh. Đã năm năm, bất kể lời cam kết của vị Tổng tư lệnh tối cao quân đội Mỹ , sẽ xử dụng mọi phương tiện cần thiết để truy tìm, bắt giữ và đưa ra tòa án những thủ phạm chủ chốt gây nên thảm họa 9 tháng 11, kẻ đầu sỏ nhất vẫn lẩn khuất đâu đó giữa vùng rừng núi sa mạc A Phú Hãn. Đã 5 năm, vẫn chưa có một đài tưởng niệm dành cho các nạn nhân được dựng nên, vẫn chưa có một công trình nào thế vào chỗ tòa tháp đôi bị sụp đổ. Và vị Tổng thống của họ vẫn ngày ngày kêu gọi mọi người hãy cảnh giác vì đất nước đang ở trong thời chiến.</p>
<p>Điều ấy làm tổn thương lòng tự hào của nước Mỹ. Một nước Mỹ mà lịch sử cận đại chưa hề biết chiến tranh xẩy ra trên lãnh thổ của mình, một nước Mỹ bấy lâu sống trong cảm gíac an tòan dù cho súng đạn có nổ ở bất cứ nơi nào ngòai nước Mỹ, dù cho đã từng nhỏ nước mắt khóc cho 58 ngàn con em của họ ngã xuống trong cuộc chiến Việt Nam. Nhưng nay, cảm giác an tòan ấy đã biến mất. Cùng với nếp sống cũ của họ.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Tâm trạng vừa buồn bã vừa giận dữ ấy còn chi phối cả một số quốc gia thuộc phần còn lại của thế giới tự do. Những hồi ức kinh hòang về ngày 9 tháng 11 vẫn đọng lại trong tâm tư người dân châu Âu, nhưng nước mắt họ không còn đổ ra nữa, thay vào đó là cảm thức bực bội vì sau 5 năm, cuộc chiến Iraq và những chính sách mà người Mỹ theo đuổi, theo họ, đã làm cho thế giới này kém an tòan hơn là cách đây 5 năm kể từ sau biến cố 9 tháng 11.</p>
<p>Năm năm sau, những cái đầu cúi xuống để tưởng niệm hơn 3 ngàn người dân vô tội nạn nhân của một chủ nghĩa khủng bố cuồng tín, cùng lúc với những lời đe dọa mới nhất từ viên lãnh tụ số 2 của tổ chức Al-Qaida và lời phản kháng ( ở những quốc gia đồng minh của Mỹ ) về những quyền tự do , dân chủ bị hy sinh trong cuộc chiến chống khủng bố mà chính phủ Mỹ đang là quốc gia lãnh đạo.</p>
<p>Với người dân châu Âu, vụ khủng bố đánh bom vào nhà ga xe lửa ở Madrid( thủ đô Tây ban Nha ) tháng 3 năm 2004 khiến hơn 190 người chết , gần 2 ngàn người bị thương và vụ nổ trong trạm xe lửa ngầm ở Luân Đôn ( thủ đô Anh) tháng 7 năm 2005 làm 38 dân thường thiệt mạng và 300 người bị thương là những lời cảnh cáo của tổ chức khủng bố Hồi giáo Al-Qaida với tòan thể châu Âu vì Anh và Tây Ban Nha đã gởi quân đội đến Iraq để tiếp tay cho Mỹ.</p>
<p>Tòan cảnh thế giới đã thay đổi đáng kể trong năm năm sau biến cố 9 tháng 11. Một bầu không khí hỏang hốt, nghi ngờ, và cả những lời buộc tội lẫn nhau ngự trị trong mối quan hệ giữa các nước phương Tây. Người Đức cho rằng, nước Mỹ không thể xử dụng phương châm cứu cánh biện minh cho phương tiện. Trong bất cứ cuộc chiến nào, kể cả cuộc chiến chống khủng bố tòan cầu, những sự tôn trọng về quyền con người, về những khác biệt văn hóa , chủng tộc phải là phương châm hàng đầu quyết định mọi phương thức hành động và hợp tác quốc tế. Còn người Pháp, ngay giữa khi lớp bụi mù của tòa tháp đôi ở New York chưa kịp lắng xuống, họ đã bày tỏ sự đòan kết với nước Mỹ bằng khẩu hiệu lừng danh “ tất cả chúng ta đều là người Mỹ “ ( We are all Americans), nhưng nay , chính họ kết tội chính phủ Mỹ đã làm cho thế giới thêm phần bất an. Trong thực tế, cuộc chiến tranh ở A Phú hãn, ở Iraq và Li băng đã làm xấu đi trầm trọng hình ảnh của nước Mỹ , nhất là đối với các quốc gia Hồi Giáo ở Trung Đông . Và sự có mặt trực tiếp của quân đội Mỹ ở khu vực này đã là nguyên nhân chính khiến các tổ chức khủng bố Hồi Giáo thu nạp được thêm nhiều phần tử cực đoan. Ngòai ra, những tai tiếng về cách đối xử với các tù nhân chiến tranh của quân đội Mỹ cũng đã có những ảnh hưởng xấu đến sự hợp tác của những quốc gia đồng minh trong nỗ lực chống lại chủ nghĩa khủng bố tòan cầu.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Mặt khác, một phần của công luận Mỹ không chỉ chú trọng vào những gì đã không làm được trong 5 năm qua. Họ cho rằng, chỉ nhìn vào những khuyết điểm ấy thôi, người ta dễ dàng mang một tâm trạng bi quan, rồi tự đó, tự làm suy yếu chính mình. Theo họ, những kẻ quá khích chủ trương khủng bố biết rõ hơn ai hết rằng không thể sòng phẳng đối đầu với một nước Mỹ và các đồng minh hùng cường có trong tay những tài nguyên giàu có, khả năng khoa học vượt bậc , kỹ thuật vũ khí hiện đại. Vì thế, kẻ thù của nước Mỹ không có chọn lựa nào khác ngòai dùng đủ mọi phương tiện độc ác nhất để bào mòn dần ý chí của đối phương, một đối phương tuy “ <em>thừa</em><em> tiền tài, giỏi kỹ thuật nhưng mềm yếu, thiếu cả quyết và sa đọa ( decadent)”</em>. Trong con mắt của những phần tử quá khích Hồi Giáo này “ <em>người</em><em> Mỹ là thứ sinh vật nhút nhát nhất trong số những sinh vật mà Thượng Đế đã tạo ra “ ( lời một lãnh tụ tổ chức khủng bố Al-Qaida).</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Nhưng, những nhà độc tài, những lãnh tụ cực đoan , vì là kẻ thù của tự do, dân chủ, và không có cơ hội sống đời sống tự do, dân chủ nên không bao giờ hiểu hết sức mạnh mà tự do , dân chủ khơi dậy nơi con người, một khi sự tự do, dân chủ ấy bị đe dọa. Tự do , vốn là bản chất nguyên thủy của lòai người, nó dẫn đưa xã hội con người đến sự nở rộ những khả năng tiềm tàng nhất của mỗi cá thể của xã hội đó, trong tất cả mọi lãnh vực, dưới hình thái dân chủ. Khi những thành viên của một tập thể đã được hưởng cuộc sống tốt đẹp nhất vốn là thành quả của tự do dân chủ, thì họ sẽ sẵn sàng vùng lên hy sinh tất cả để bảo vệ những thành quả ấy, nếu có một thế lực nào đó đe dọa sự tồn tại của xã hội ấy. Xã hội Mỹ là một xã hội có đặc tính như vậy.</p>
<p>Vị cựu Thủ Tướng lừng danh của nước Anh trong thời Đệ nhị thế chiến , Winston Churchill , đã nhận xét về nước Mỹ , sau khi quan sát phản ứng của nước này với vụ dội bom Trân Châu Cảng ( 7 tháng 12 năm 1941)  của quân đội Nhật : “ <em>Có rất nhiều những người thiếu hiểu biết , không chỉ trong số những kẻ thù địch với nước Mỹ, cho rằng bản chất của người Mỹ là mềm yếu, thiếu tinh thần đòan kết. Người Mỹ chỉ giỏi đứng ở đằng xa hô hào, chứ không dám đến gần đối diện với kẻ thù. </em><em>Rằng họ sợ sự đổ máu.</em><em> </em><em>Và nền dân chủ cùng với những cuộc bầu cử tái diễn có định kỳ của hệ thống chính trị nước Mỹ sẽ làm tê liệt khả năng đối phó với chiến tranh khi cần thiết.</em><em> Đối với đồng minh cũng như kẻ thù, người Mỹ chỉ như một hình ảnh mờ nhạt cuối chân trời. Do đó, không ngạc nhiên gì khi người ta chỉ nhìn thấy sự yếu đuối nơi những người Mỹ giàu có và lắm chuyện ấy. Nhưng tôi đã nghiên cứu cuộc Nội Chiến của người Mỹ. Họ chiến đấu can trường cho đến giọt máu cuối cùng. Tôi nhớ đến một sự so sánh mà Edward Grey ( viên ngọai trưởng người Anh) đã nói với tôi hơn 30 năm trước, rằng nước Mỹ giống như một nồi nước khổng lồ. Một khi, ngọn lửa dưới đáy nồi bốc cháy, sẽ không có giới hạn cho sức mạnh mà nồi nước ấy tạo ra. “</em></p>
<p>Nhiều người tin rằng, ngọn lửa mà Churchill nói đến ấy, đã được châm mồi 5 năm trước đây. Rằng lửa tự do sẽ đốt cháy những thứ chủ nghĩa tôn gíao cuồng tín, như nó đã từng hỏa thiêu chủ nghĩa Quốc Xã, chủ nghĩa Phát Xít và chủ nghĩa Cộng sản trước đây.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0036.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 25px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image003" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image003_thumb6.jpg" border="0" alt="clip_image003" width="244" height="166" align="left" /></a></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Chúng ta đang sống trong thời đại của những kẻ sát nhân và những kẻ tuẫn đạo mong tìm một sự sống đời sau vĩnh cửu bằng cách tiêu diệt sự hiện hữu của đời này. Những cuộc chiến tranh ở A Phú hãn, ở Iraq và Li Băng đã là mảnh đất mầu mỡ cho sự nây nở của những đức tin mù quáng ấy. Hình như người Mỹ không rút ra được gì từ bài học chiến tranh Việt Nam. Nếu trước đây, sự có mặt trực tiếp của họ ở miền Nam Việt Nam đã vô tình đem chính nghĩa về phía những người cộng sản hiếu chiến, thì nay, cũng chính sự có mặt trực tiếp của quân đội Mỹ ở Iraq, ở A Phú Hãn đã làm cho cuộc chiến tòan cầu chống lại chủ nghĩa khủng bố trở nên khó khăn hơn, và kéo dài hơn .</p>
<p>Chả lẽ những lỗi lầm lịch sử cứ được lập đi lập lại bằng cái gía của những mạng sống con người và những nỗi đau bất tận ám ảnh hòai các thế hệ tương lai hay sao ?■</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/10/chientranhva/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhặt lại những mảnh vỡ</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/10/nhatlai/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/10/nhatlai/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 16 Oct 2006 16:19:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[10]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 10 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/10/nh%e1%ba%b7t-l%e1%ba%a1i-nh%e1%bb%afng-m%e1%ba%a3nh-v%e1%bb%a1/868/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/10/nhatlai/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb28-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00130.jpg"></a>
 
Viết thêm của tác gỉa :  Bài viết này được viết vào tháng 8 năm 2005, nhân vụ bão Katrina và Rita hòanh hành New Orleans, Biloxy, Houston, Galveston, những nơi có đông đảo người Việt cư ngụ. Mùa bão năm nay, 2006, hai cơn bão lớn Chan Chu và Xangsane tàn phá mấy tỉnh miền trung nước Việt, làm thiệt hại nặng nề cả về người vẫn của. Nhận thấy rằng những điều người viết ký gởi trong bài viết này từ hơn một năm về trước, nay vẫn giữ nguyên gía trị ấy khi ngồi nhìn những hình ảnh tan nát ở quê nhà sau một trận phong ba. Người viết xin lại được gởi đến người đọc, như một cố gắng nhặt lại những mảnh vỡ trong hồn,vốn đã không còn nguyên vẹn vì tai trời và ách nước. Tháng 10/2006. T.Vấn
▪ . .[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00130.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb28.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="173" height="244" align="left" /></a></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Viết thêm của tác gỉa : </span></strong> <em>Bài viết này được viết vào tháng 8 năm 2005, nhân vụ bão Katrina và Rita hòanh hành New Orleans, Biloxy, Houston, Galveston, những nơi có đông đảo người Việt cư ngụ. Mùa bão năm nay, 2006, hai cơn bão lớn Chan Chu và Xangsane tàn phá mấy tỉnh miền trung nước Việt, làm thiệt hại nặng nề cả về người vẫn của. Nhận thấy rằng những điều người viết ký gởi trong bài viết này từ hơn một năm về trước, nay vẫn giữ nguyên gía trị ấy khi ngồi nhìn những hình ảnh tan nát ở quê nhà sau một trận phong ba. Người viết xin lại được gởi đến người đọc, như một cố gắng nhặt lại những mảnh vỡ trong hồn,vốn đã không còn nguyên vẹn vì tai trời và ách nước. Tháng 10/2006. T.Vấn</em></p>
<p>▪ . . . <em>Có biết đâu niềm vui,</em></p>
<p><em> Đã nằm trong thiên tai . . .</em></p>
<p><em> (Tình khúc thứ nhất &#8211; Nguyễn đình Toàn, Vũ thành An)</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Từ cánh đồng nước New Orleans, anh bạn già gởi cho tôi lá thư viết tay trên giấy học trò(Mỹ), vì, theo anh, Bà mẹ Thiên nhiên ( Mother Nature ) đã nhận chìm hết những biểu hiện văn minh đầy nét kiêu bạc như máy vi tính, mạng nối, thư điện tử v..v.. mà anh vốn quen dùng. Thật lạ lùng, tờ thư khô ráo, không bị nước sông Mississippi hay nước hồ Pontchartrain  làm ướt chút nào hết. Kể cả nước mưa của cái đuôi cơn bão Katrina cũng không làm phong thư  nhạt nhòa đi nét chữ vốn đã rất quen thuộc với tôi từ những ngày chúng tôi còn ở chung một đơn vị quân đội thuộc miền Tây Nam Việt. Cầm phong thư có địa chỉ từ thành phố vốn đã nổi tiếng, nay lại càng nổi tiếng hơn ấy, tôi hình dung ra tất cả những sự cố gắng vượt bực của những người bạn đồng nghiệp ( bưu điện ) của tôi bên ấy. Đó là một trong những dấu hiệu đầu tiên của sự hồi sinh, sau khi cuộc sống đều đặn hàng ngày của anh bạn tôi ( và các cư dân vùng bão lụt ), bỗng nhiên, chỉ qua vài ngày, đã biến thành những mảnh vụn.</p>
<p>Cơn bão  chưa kịp qua đi, mọi người đã lại xắn tay áo đi nhặt những mảnh vụn của đời mình, cố hết sức chắp chắp vá vá. Dẫu không còn được như xưa, nhưng ít nhất cũng phải cho ra hình dạng một đời sống. Ăn uống, ngủ nghỉ, đi học, làm việc và lúc rảnh thì ngồi ngoảnh nhìn quá khứ. Để chợt giật mình nhận ra rằng, trên cõi đời này chẳng có gì là trường tồn, vĩnh cửu. Không có gì là không có thể mất mát, hư hao. Bất kể những thành tựu khoa học vượt bậc trong mọi lãnh vực của nền văn minh nhân lọai.</p>
<p><em>Sẽ có thể có một ngày, cả hành tinh này sẽ biến thành những mảnh vụn. Sá gì những mảnh đời còm cõi ( như anh bạn tôi). Và khi đó con  số  hàng triệu con người ở những tiểu bang miền Trung Nam nước Mỹ vừa giàu có, vừa nghèo khổ, vừa hào phóng, vừa keo kiệt kia hiện đang lang thang vất vưởng trong những trại tạm cư  cũng chỉ là con số rất khiêm tốn.</em></p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Huyền thoại về  chàng công tử Mỹ Quốc hào hoa phong nhã, giàu có đẹp trai , chỉ trong vài đêm mưa gió bão bùng sấm chớp đầy trời đã bị hai con Hồ Ly Tinh đội lốt  nàng tiên tóc trắng trời đày Katrina và Rita phá vỡ không một chút thương tiếc. Thế ra, bên cạnh những biểu hiện giàu có nhất trần gian này vẫn có những thực tại nghèo khổ mà ít người tưởng tượng ra được. Bên cạnh lòng độ lượng hào phóng ( của nước Mỹ huyền thoại, của American dream ) thường thấy mỗi khi thế giới phải lâm vào những thảm cảnh dù là do người hay trời gây ra, những tuần lễ vừa qua, người ta lại chứng kiến  hậu quả của sự bủn xỉn (?), sự kỳ thị màu da (?) trong các lãnh vực chăm lo đời sống của người dân trong nước của một nước Mỹ hùng cường. Hay ít ra, đó cũng là lời buộc tội của những tay hoạt đầu chính trị, những con người cơ hội chủ nghĩa, mà thời đại nào, chủng tộc nào, quốc gia nào cũng đều có.</p>
<p>Nhưng dù cho những tay hoạt đầu chính trị nước Mỹ có hùng hổ to tiếng đến cỡ nào nhân vụ bão Katrina về tác phong quan liêu của chính quyền nước Mỹ, thì anh bạn già của tôi – <em>người đã từng hơn một lần đi nhặt những mảnh vụn của đời mình mà</em> <em>chắp vá lại</em> – vẫn không thể không buông tiếng thở dài mà nhớ về đất nước riêng của mình với một chính quyền ngàn lần tệ hại hơn, vô trách nhiệm hơn, quan liêu hơn là những gì người dân nước Mỹ đang lên tiếng phê phán chính quyền của họ.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Như mấy chục ngàn người Việt Nam chọn thành phố New Orleans làm nơi vá lại những mảnh vỡ vụn của đời mình lần lượt từ sau cuộc di cư từ Bắc vào Nam 1954 ( những bà cụ già Việt Nam ngồi họp chợ chồm hổm Versaille vẫn không quên chiếc khăn mỏ quạ mang theo từ quê nghèo miền Bắc những ngày ấy hơn 50 năm xưa ) hay cuộc triệt thoái cao nguyên bi thảm tháng 3 năm 1975 trên đường số 7 lịch sử ( mà cuộc di tản tránh bão Rita vừa qua của gần 1 triệu người dân Houston  trên  Xa Lộ 45 nối liền Houston-Dallas cũng chỉ mới sánh được một phần trên phương diện nỗi đau khổ của con người ) hay hình ảnh những con người bám vào càng trực thăng mong tìm được một chỗ lánh nạn trên một chiến hạm Mỹ đậu ngoài khơi Thái Bình Dương những ngày tháng 4 -1975 ( mà những cuộn băng video  Thúy Nga hay Asia không lúc nào bỏ lỡ dịp cho đọan phim lịch sử ấy xuất hiện trong những phòng khách sang trọng của người Việt khắp nơi trên thế giới ) – thì với anh bạn già của tôi – một trong những cư dân gốc Việt của New Orleans – khái niệm nhặt những mảnh vỡ vụn của đời mình sau một cuộc phong ba không hề có ý nghĩa trừu tượng như trong những trang viết văn chương phù phiếm ( của tôi ). Với anh, với những cư dân gốc Việt  của thành phố New Orleans tiểu bang Louisiana, với cả những cư dân gốc Việt của thành phố Biloxi tiểu bang Mississippi, của Port Arthur, của Galveston  tiểu bang Texas, thì khái niệm ấy cụ thể và có thật như nước mắt của chính họ bao lần đổ ra khóc cho những người thân yêu nằm xuống do trận đói năm Ất Dậu, do trận bão năm Thìn , do những trận chiến ác liệt như trận chiến năm Mậu Thân; như cảm giác quặn thắt ruột gan khi nhìn sản nghiệp nhỏ bé của mình chiu chắt từ bao năm phút chốc chìm trong lửa đạn chiến tranh hay những cuộc trường chinh bỏ phiếu cho tự do bằng chính mạng sống của mình , để lại sau lưng cơ nghiệp một đời gầy dựng. Nói cách khác, đây không phải là lần đầu tiên họ làm công việc nhặt lại những mảnh vỡ vụn của đời mình. Chỉ khác một điều là nay họ không còn trẻ nữa, tuy ý chí còn đó nhưng sức khỏe đã giảm đi khi tuổi đời ngày một chồng chất.</p>
<p><em>Nhưng tôi không hề thấy trên nét mặt họ dấu hiệu của sự đầu hàng số phận. Cam chịu thì có cam chịu, nhưng không than van. Và chắc chắn không đầu hàng.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Phải chăng đó là số phận nghiệt ngã của đồng bào tôi ?</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Cộng đồng Người Mỹ gốc Việt mới chỉ có 30 năm lịch sử trên mảnh đất của những cơ hội ( Land of Opportunities ). Bài học dựa vào sức mình là chính mỗi khi phải kinh qua những biến cố đau thương đã ăn vào trong máu họ. Cho nên, những ngày vừa qua trước sự hoành hành khủng khiếp của hai cơn bão Katrina và Rita, chúng ta nhìn thấy những cộng đồng Việt Nam dang tay cứu đỡ nhau coi như đó là chuyện phải làm. Họ không trông vào chính quyền để khi không thỏa mãn, oán trách chính quyền.</p>
<p><em>Chúng ta đã quá nhuần nhuyễn cái triết lý thật đơn giản : Hãy tự cứu mình trước khi trông mong người khác đến cứu.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Nhưng những cộng đồng khác trong khu vực bị thiên tai không hẳn đã học được bài học mà người Việt Nam đã học được trong lịch sử một ngàn năm Tàu thuộc ( ngoại trừ vua Lê Chiêu Thống ) , một trăm năm Tây thuộc ( ngoại trừ chúa Nguyễn Ánh ), 50+ năm Cộng sản thuộc ( ngoại trừ cả hai bên tham chiến trong cuộc chiến tranh Quốc – Cộng) của mình.</p>
<p>Thí dụ như cộng đồng Người Mỹ gốc Châu Phi ( African- American). Định cư ở New Orleans từ thế kỷ 17 theo làn sóng người nô lệ từ Châu Phi hoặc những người nô lệ đã được giải phóng từ nước Cộng hòa Dominican , họ chiếm tỷ lệ đáng kể ( 62% &#8211; 67%) của dân số  New Orleans. Gần 300 năm sống trên một trong những mảnh đất dân chủ nhất thế giới, họ đã bị sự dễ dãi của cuộc sống bào mòn ý chí tự lập. Trận bão Katrina vừa qua , đồng thời bộc lộ khuyết điểm của chính phủ Mỹ, xã hội Mỹ và cả khuyết điểm tệ hại nhất này của cộng đồng người Mỹ gốc Châu Phi. Với tỷ lệ sống nhờ vào trợ cấp xã hội ( welfare ) cao nhất – so với các cộng đồng khác – họ phát triển một kiểu mẫu gia đình đông người ( làm mẹ sớm, đông con, một số không nhỏ vắng bóng người đàn ông – cha, chồng -). Do đó, chưa kể đến những biến cố do thiên tai gây ra, cuộc sống bình thường hàng ngày của họ vốn đã dựa vào chính quyền và các cơ  quan từ thiện. Một khi những nhu cầu của họ không được thỏa mãn, tất nhiên sẽ nẩy sinh những bất mãn , oán trách, trả thù. Đó là nguồn gốc của những bạo động, cướp bóc, hôi của song song với sự tàn phá của bão Katrina những ngày vừa qua ở New Orleans.</p>
<p>Đồng loạt với những chính trị gia hoạt đầu, cơ hội của chính trường Mỹ, các cơ quan truyền thông lớn nhất Hoa Kỳ ( và thế giới )  đã không bỏ lỡ cơ hội đưa những hình ảnh giận dữ, trách móc của những người dân Mỹ vốn đã bị chính quyền nước mình và các cơ quan từ thiện làm hư hỏng lên trên mặt truyền hình, trên trang nhất những tờ báo lớn phát hành toàn thế giớị</p>
<p><em>Nhìn những cái cổ đầy gân vì la hét đòi hỏi, tôi chợt nhớ đến những nét cam chịu của đồng bào mình.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Và hơn lúc nào hết, tôi thấy tội nghiệp cho dân tộc mình quá đỗi. Hết áp bức này đến áp bức kia, nên dù chỉ được ban phát một chút tự do nhỏ giọt , đã tưởng đó là đại dương mênh mông của nhân lọai. Cái bụng đói lép kẹp đã nhiều thế hệ, nên một bữa cơm no đã thấy mình hài lòng với chính quyền ( dù biết nó bóc lột mình đến xương tủy). Cái áo vá mặc từ đời cha đến đời con, nên khi mua cho cháu mình được chiếc áo mới, đã tự an ủi mình rằng chính quyền này, thể chế này kể ra cũng không đến nỗi nào.</p>
<p>Chẳng bù với những người Mỹ hư hỏng ( the spoiled Americans) kia.  Một nền dân chủ tiên tiến nhất thế giới đã khiến họ biến giọt nước mắt của cá nhân mình thành đại dương biển cả. Những bữa ăn từ bao lâu vốn thừa mứa no đủ  nên dù chỉ một lần không đáp ứng kịp thời cũng đủ khơi lên trong họ cảm giác bị bỏ rơi ( dù biết rằng phần đóng góp của mình cho xã hội &#8211; nếu có – hết sức nhỏ nhoi). Quần áo vốn đã quen với thời trang, màu sắc rực rỡ, là ủi thẳng thớm, nên những ngày mưa gió không điện không nước đã thúc đẩy họ đi vào những cửa hàng không có chủ mà thỏa mãn cho nhu cầu riêng tư của mình bằng sự chi phí của người khác.</p>
<p><em>Liệu những con người bị bứng ra khỏi cuộc sống dễ dãi hàng ngày ấy có đủ sức để cúi xuống nhặt nhạnh những mảnh vỡ vụn của đời mình mà chắp vá lại hay không ?</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>5.</strong></p>
<p>Tôi đã hơn một lần tự hỏi rằng liệu sau trận bão Katrina ( và mới đây trận bão Rita đã nhận chìm thành phố New Orleans một lần nữa dưới làn nước bạc ) , thành phố lừng danh thế giới với điệu kèn Jazz bất diệt của Louis Armstrong ( người nhạc sĩ da đen huyền thoại ) và lễ hội Mardi Gras cuồng nhiệt, sẽ được hồi sinh, như những mảnh đời gắn bó với New Orleans sẽ cố gắng hết sức mình để hồi sinh ?</p>
<p>Càng ngày tôi càng thấy niềm hy vọng của mình trở nên mong manh. Chẳng phải vì con số 250 tỷ Mỹ kim  mà quốc hội tiểu bang Louisiana vừa đưa ra yêu cầu ngân sách liên bang &#8211; vốn đã thâm thủng trầm trọng &#8211; trợ giúp tái thiết những đổ nát vì bão Katrina và Rita ( khiến nhiều con mắt am tường phải nhướng lên ngạc nhiên vì sự hào phóng quá mức ). Cũng chẳng phải vì sự tiếp tay rất tai hại của trận bão Rita khiến tình hình thành phố vốn đã bi đát lại càng thêm bi đát .</p>
<p>Mà trước hết là bởi những con người làm nên cái hồn của New Orleans. Qua ánh mắt, qua sự mệt mỏi chán chường, tôi biết là họ sẽ một đi không trở lại. Thành phố ấy có hồi sinh hay không hồi sinh, hẳn không phải là mối quan tâm của họ hiện naỵ Họ đã có quá đủ những rối bời của riêng mình để lo lắng đến.</p>
<p><strong>6.</strong></p>
<p>Nhưng , bằng một cảm giác tự tin quen thuộc, tôi vẫn đặt rất nhiều kỳ vọng vào 30 ngàn người Mỹ gốc Việt ở New Orleans, trong đó có anh bạn không còn trẻ nữa của tôi.  Những ngôi làng đánh cá Việt Nam dọc bờ biển New Orleans rồi sẽ lại nhộn nhịp âm thanh ríu rít như chim của tiếng Việt trên đất Mỹ. Ngôi chợ chồm hổm của làng chài Versaille sẽ lại nhóm họp trong bóng bình minh của ngày mai hứa hẹn. Và những cụ già đầu chít khăn mỏ quạ, miệng bỏm bẻm nhai trầu sẽ lại ngồi bày ra những đặc sản quê hương mà những năm xưa bước chân  ra đi các cụ đã không quên đem theo bên mình.</p>
<p><em>Nếu không thế làm sao người Việt mình có thể sống sót cho đến bây giờ, sau bao nhiêu thiên tai, hạn hán, lụt lội, chiến tranh và bao thứ tai ương khác ?</em></p>
<p><strong>7.</strong></p>
<p>Ở Việt Nam vừa có tin về trận bão áp thấp nhiệt đới ( typhoon ) Damrey , sau khi làm thiệt mạng hơn 30 người ở Trung Quốc và Phi luật Tân, đã đổ bộ vào bờ biển phía bắc Việt Nam hôm 27 tháng 9 , 2005 với sức gió 60 dặm một giờ . Khoảng 300 ngàn người dân ở vùng duyên hải bắc bộ đã phải di tản. Đã có gần  1 ngàn căn nhà bị phá hủy, 9 ngàn khác bị hư hại từ nhẹ đến nặng. Chưa có tin tức đích xác gì về những thiệt hại nhân mạng. Các giới chức khí tượng nhận định rằng đây là cơn bão mạnh nhất kể từ 10 năm nay trong vùng Vịnh Bắc Bộ.</p>
<p>Đọc mảnh tin trên, tôi có thể hình dung ra bao nỗi thống khổ, từ vật chất đến tinh thần, của người dân sống trong vùng bão lụt. Mặc chính quyền muốn khoe khoang như thế nào về mức độ cứu giúp của họ ( 25 ngàn quân nhân đã được điều động đến để giúp đỡ người di tản và tiếp tay che chắn đê điều ), tôi tin rằng những gì người dân bị nạn ở Việt Nam tiếp nhận từ phía chính quyền cũng không thể so sánh được với những gì người dân Mỹ nạn nhân của Katrina và Rita nhận được từ chính quyền nước họ. Điều đơn giản, trước hết, là vì Việt Nam nghèo quá, lạc hậu quá, và không có những phương tiện truyền thông hữu hiệu như ở Mỹ  để thúc đít chính quyền, nhất là thứ chính quyền cha truyền con nối như ở Việt Nam hiện nay.</p>
<p>Nhưng, mặt khác, tôi cũng vẫn tin tưởng người dân vùng duyên  hải bắc bộ Việt Nam có cùng một ý chí gang thép như những người Việt Nam ở New Orleans, Biloxi, Port Arthur, Galveston. Vì người dân miền Bắc, cũng như miền Nam, đã kinh qua nhiều những tai trời, ách nước, những thảm cảnh khốn cùng của địa ngục trần gian.</p>
<p><em>Và chắc chắn, không bao giờ người ta thấy được sự tức tối của người dân đối với chính quyền, vì lẽ, có bao giờ họ đặt niềm tin vào chính quyền đâu mà thất vọng.</em></p>
<p><strong>8.</strong></p>
<p><em>Xóa bài làm lại nữa ư ?</em></p>
<p>anh bạn già của tôi tự trả lời câu hỏi.</p>
<p><em>Chả lẽ ngồi khóc than</em> <em>cho đến hết đời.</em> <em>Còn người còn của.  Vả lại, biết bao người chứ chẳng riêng gì mình.</em></p>
<p><em>Trời chẳng bao giờ phụ lòng người mãi. </em></p>
<p><em>Còn mảnh vụn nào cứ nhặt hết lên. Rồi thì cũng sẽ vá được tất!</em></p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/10/nhatlai/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>H&#236;nh như trời đ&#227; chớm thu</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/10/hinhnhu/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/10/hinhnhu/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 14 Oct 2006 16:15:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[10]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 10 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/10/hnh-nh%c6%b0-tr%e1%bb%9di-d-ch%e1%bb%9bm-thu/864/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/10/hinhnhu/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb56-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00260.jpg"></a>
●Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực
Trên đường chênh chếch nắng mênh mang
Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc
Đã chán nhân gian ở cuối đường 
( Thơ Cao Tần)
 
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00260.jpg"></a>
1.
 
Buổi sáng ra trước nhà ,nhặt tờ báo ngày mà người bỏ báo đã ném vào sân từ lúc trời còn mờ tối, nhìn trên trang nhất, thấy hàng chữ in đậm “ Ngày đầu tiên của mùa Thu đã đến “. Tôi hơi bị chưng hững vì không ngờ thời gian đi nhanh như thế. Bỗng thấy lành lạnh vì cơn gió nhẹ buổi sáng và chíêc áo mỏng phong phanh trên người. Lại nhớ đến câu văn của một người bạn trẻ viết về nỗi nhớ nhà của anh, đọc rồi thấy gai ốc cứ như nổi khắp người. “ Tôi bắc cái thang, leo lên nóc nhà – ngồi nhìn[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00260.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 15px 20px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb56.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="200" height="244" align="left" /></a></p>
<p><em>●Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực<br />
Trên đường chênh chếch nắng mênh mang<br />
Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc<br />
Đã chán nhân gian ở cuối đường </em></p>
<p><em>( Thơ</em><em> Cao Tần)</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00260.jpg"></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Buổi sáng ra trước nhà ,nhặt tờ báo ngày mà người bỏ báo đã ném vào sân từ lúc trời còn mờ tối, nhìn trên trang nhất, thấy hàng chữ in đậm “ <strong>Ngày đầu tiên của mùa Thu đã đến</strong> “. Tôi hơi bị chưng hững vì không ngờ thời gian đi nhanh như thế. Bỗng thấy lành lạnh vì cơn gió nhẹ buổi sáng và chíêc áo mỏng phong phanh trên người. Lại nhớ đến câu văn của một người bạn trẻ viết về nỗi nhớ nhà của anh, đọc rồi thấy gai ốc cứ như nổi khắp người. “ <strong><em>Tôi</em></strong><strong><em> bắc cái thang, leo lên nóc nhà – ngồi nhìn về cố quận. Những lọn gió đêm đầu Thu thỉnh thỏang thốc vào lưng áo, cái lạnh buốt lên da lưng là thời tiết – cái lạnh buốt lên </em></strong><strong><em>tim</em></strong><strong><em> là quê hương . . . “</em></strong>. Chữ nghĩa &#8211; nhiều lúc tôi tưởng chúng chỉ như một thứ xa xỉ phẩm đối với một cuộc sống đầy ắp những bận rộn, những tất bật , những lo toan . Nhưng , quả thật, cũng có những lúc- như lúc này-  chúng làm tôi quên hết mọi chuyện , để chỉ thấy những chữ và nghĩa ấy nhẩy múa trong đầu, nhắc nhở mình về một vết thương vừa kịp kéo da non, thì lại bị cơn gió quái ác làm lay động những cảm xúc chỉ chờ dịp để  tuôn trào. Tay cầm tờ báo, tôi đưa mắt nhìn quanh nhà, nghĩ đến việc phải thu xếp chỗ cho những chậu cây không chịu nổi cái lạnh của thời tiết, đến việc phải tìm thời gian lo cất đi những bộ bàn ghế bầy ra sân hồi đầu mùa hè cho những dịp tụ họp gia đình bạn bè. Và nghĩ đến cả mùa thu của cuộc đời mình, liệu xem khi nào thì là thời gian thích hợp nhất, thuận tiện nhất cho việc thu xếp lại những bộn bề, ngổn ngang mà tôi đã bao lần tự hứa hẹn với chính mình, sẽ dọn dẹp, sẽ gom góp những mảnh vụn vỡ, để nếu không chắp vá được thì sẽ cố khuyên nhủ mình “ <em>cầm</em><em> bằng như không biết mà thôi</em> “. Chưa bao giờ tôi cảm thấy <em>âm </em><em>thanh</em> <em>Bước</em><em> Thời Gian</em> rõ ràng như buổi sáng ngày đầu tiên của mùa thu, đứng chênh vênh giữa thời tiết lúc giao mùa ,trên mảnh đất đã bao năm tôi cố sức làm quen , cố sức xem nó như mảnh đất quê nhà năm xưa nơi tôi bị buộc phải bỏ mà đi.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><em>Chỉ trong những hòan cảnh khắc nghiệt của đời sống, người ta mới nhìn thấy rõ hình ảnh đậm nét bi kịch của thân phận con người.</em><em> Cụ thể nhất là con người mang thân phận lưu vong, sống xa quê hương. Điều đó cũng dễ </em><em>hiểu .</em><em> </em><em>Vì thời gian cho những người – như tôi – sống trên mảnh đất xứ người quá ngắn để có thể bám rễ vào được.</em><em> Mặt khác, thời gian mà chúng tôi sống ở quê nhà cũng đã quá đủ dài để một lần nhổ rễ là một lần nhức buốt, một lần chết đi sống lại. Đã đành là những ngày ấy, nếu không bỏ rễ mà đi thì chưa chắc cái cây ấy còn tồn tại đến ngày nay, nhưng sinh ly cũng đau đớn như tử biệt, sự cắt đứt nào cũng là nỗi đọan trường, để mỗi bước đời còn lại chất đầy cảm gíac chênh vênh như người đi bên triền vực thẳm, một bên là núi, một bên là thung lũng sâu hút, tay quờ quạng tìm hòai vẫn không thấy một cành cây nào để bám vào.</em></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Vì thế, trong cái buổi sáng đầu thu nhợt nhạt ánh mặt trời mới hôm qua còn rực rỡ trên những khóm hoa mười giờ đỏ chói trước sân nhà, tôi bâng khuâng nghĩ về một ngày mới trước mặt mà đầu óc bỗng mệt mỏi vô cùng. <em>Không có cuộc sống nào đáng sống cả.</em><em> </em><em>Lỡ sống thì phải sống cho</em> <em>hết đời thôi</em>. Dường như một nhân vật của Vũ Khắc Khoan đã nói như vậy. Vô tình, trên mặt bàn nhỏ trước hiên nhà , nằm trơ trọi tờ tạp chí ( Cadao) với hình bìa chú hai câu thơ của Cao Tần:</p>
<p><em>Còng lưng gánh nốt đời lưu lạc</em></p>
<p><em>Nặng trĩu ngàn cân nhớ nước </em><em>non</em><em>.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Bài thơ Cao Tần viết từ tháng 5  năm 77, mới chỉ hai năm sau những ngày di tản hỏang hốt. Từ ấy đến nay, đến buổi sáng mệt mỏi này, đã 30 năm . Ba mươi năm một phận đời lưu vong, cây vẫn chưa chịu bám rễ vào mảnh đất mới, dù đã ba mươi năm tưới bón mỗi ngày. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà 30 năm sau khi bài thơ Chốn Tạm Dung của Cao Tần ra đời, anh bạn tôi lại chọn hai câu thơ cuối cùng và hay nhất của bài đưa lên trang bìa một số báo kỷ niệm 30 tháng 4. Trong đầu tôi, những đọan thơ xóay lòng của bài thơ hiện ra mồn một :</p>
<p><em>Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực<br />
Trên đường chênh chếch nắng mênh mang<br />
Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc<br />
Đã chán nhân gian ở cuối đường<br />
Chiều về lên dốc thân tơi tả<br />
Một quả hoàng hôn đỏ kín trời<br />
Mình mới ngoi lên ngày đã ngả<br />
Đêm phờ lăn lóc ngủ thay chơi<br />
Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực<br />
Ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn<br />
Còng lưng gánh nốt đời lưu lạc<br />
Nặng trĩu nghìn cân nhớ nước non </em></p>
<p><em><br />
</em><em>( Chốn</em><em> tạm dung. Thơ Cao </em><em>Tần .</em><em> Tháng 5-1977)</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Những ngày ấy, giữa không khí còn sôi sục bao uất ức vì một miền Nam bị bức tử, với tin tức từ quê nhà hàng trăm ngàn quân nhân công chức phải khăn gói đi vào những trại cải tạo không biết đến ngày về, dân chúng bên ngòai thì bị ép buộc đi kinh tế mới, bị các cuộc đổi tiền, đánh tư sản của chính quyền làm kiệt quệ hòan tòan , thì những bài thơ của Cao Tần bị đánh gía là thiếu tinh thần chiến đấu, thiếu sự hun đúc cần thiết cho một tinh thần phục quốc, một tinh thần giải phóng quê hương. Nhưng thời gian đã chứng minh rằng , con người không phải là một cái máy vô tri vô giác, không phải lúc nào cũng cố lên gân cổ mà hô to những khẩu hiệu hực lửa. Người chiến sĩ ngày đêm xông pha lửa đạn, xem cái chết như là số phận không thể tránh khỏi của mình, nhưng vẫn có lúc chùn bước khi nhìn thấy kẻ thù đang ào ào tràn tới như biển người; cũng có lúc ngồi buồn bã nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ em, nhớ cô bạn gái hàng xóm khi ra đi chưa kịp nói lời yêu thương. Và nỗi lòng trong thơ Cao Tần có thể được ví như những giây phút lãng mạn ấy của một người lính. Nỗi lòng ấy có thật, tuy buồn bã, mệt mỏi .</p>
<p>Một con người bị bứt ra khỏi quê hương, như cái cái cây bị bão làm cho trốc gốc, không thể nào còn xanh tươi như xưa được nữa, dù được cắm vào mảnh đất mới , có đầy đủ phân bón mầu mỡ. Cái bi kịch phân thân giữa những hồi ức về quê nhà và hiện tại tuy đầy đủ về vật chất nhưng không vừa ý về tinh thần, giữa tình cảm gắn bó quê cha đất tổ  và lý trí của sự tồn sinh, giữa những ước vọng thời thanh niên còn sót lại và thực tại phũ phàng đã là nguyên nhân của nỗi lòng buồn bã, tâm trạng mệt mỏi ấy.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Đã 30 năm từ ngày ấy. Bao mái đầu sương muối nay chỉ còn một màu trắng như tuyết những ngày đông xứ người. Vẫn những nỗi lòng buồn bã, tâm trạng mệt mỏi ấy. Thứ đặc tính không thể thiếu của những thân phận lưu vong. Cùng với thời tiết bốn mùa thay đổi, những tâm trạng người thay đổi theo, khi đậm ,lúc nhạt. Như buổi sáng đầu tiên của mùa thu , tôi nghĩ đến mùa thu cuộc đời mình, cuộc đời những người cùng một lứa cũng như tôi. Chớm thu thì trời chưa lạnh lắm, buổi sáng dậy sớm, pha xong ly cà phê đầu ngày, có thể mang ra ngồi trước hiên nhà, vừa nhấm nháp cà phê, vừa nhìn những chiếc lá đang từ từ thay màu giữa không gian thật im ắng không có  đến cả tiếng xe chạy vọng về từ ngòai con lộ chính, im ắng đến độ có thể nghe được tiếng chiếc lá rơi xuống trên mặt sỏi xào xạc. Tôi lại nghĩ đến những người quen biết đã lần lượt theo nhau rơi rụng xuống đồng đất xứ người . Không biết tâm tư họ lúc ấy có “ rơi “ nhẹ nhàng như chiếc lá nửa xanh nửa vàng đầu mùa thu vừa rơi xuống trước mặt tôi hay không. Nhưng mùi cà phê thơm phức lại khiến tôi đâm sợ hãi ý nghĩ ấy, không dám nghĩ tiếp. Tôi nhận ra sự liên hệ giữa mùi cà phê đầu ngày và âm thanh chiếc lá rụng đầu thu. Một bên là mùi ngào ngạt của sự sống và bên kia là âm thanh  của cái chết. Tuy từ những ngày còn mài đũng quần trên ghế trường trung học, tôi đã thuộc nằm lòng câu triết lý thời thượng <em>không có cuộc sống nào đáng sống cả, lỡ sống thì phải sống cho hết đời </em><em>thôi </em>phát ra<em> </em>ở cửa miệng một nhân vật của Vũ Khắc Khoan, nhưng đến bây giờ sống gần hết một đời người – dù là đời một người lưu vong mệt mỏi buồn bã – tôi chưa bao giờ có ý định từ bỏ sự <em>lầm lỡ </em>ấy. Ngoại trừ mai đây khi nó lừng lững bước vào hiên nhà gõ cửa, thì tôi đành phải mở thôi.</p>
<p><strong>5. </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Buổi sáng, đầu thu trời đất và đầu thu cuộc đời, chiếc lá nửa xanh nửa vàng rơi rụng và mùi cà phê đầu ngày, sự sống và cái chết, hồi ức quê nhà và thực tại quê người, cùng với câu văn quái ác của người bạn trẻ <em>cái lạnh buốt lên da lưng là thời tiết – cái lạnh buốt lên tim là quê hương </em>đã làm tôi ngầy ngật như người vừa quá chén đêm hôm trước, sáng hôm sau tỉnh dậy thấy tòan thân ê ẩm. Tiện tay lật trang trong tờ tạp chí nằm trơ trọi trước mặt, thấy cái tên mình kệch cỡm nằm trước  tấm hình có bước chân người con gái nhẹ lướt như ma trơi những bước thời gian thật vô tình.</p>
<p><em>Tôi bỗng nghe thấy tiếng một giọt sương vừa rơi xuống hồn mình.</em><em>■</em></p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/10/hinhnhu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sự Ho&#224;n Hảo bất to&#224;n</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/10/suhoan/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/10/suhoan/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Oct 2006 16:10:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[10]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 10 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/10/s%e1%bb%b1-hon-h%e1%ba%a3o-b%e1%ba%a5t-ton/860/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/10/suhoan/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb27-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00129.jpg"></a>
• Gởi những người bạn thi sĩ
• Thơ ca là sự hoàn hảo hoàn toàn. Vì thế, trần gian này 
 còn tồn tại  những thi sĩ, và thơ ca còn bị người đời rẻ rúng.
Thế giới loài người là một thế  giới không bao giờ toàn hảo. Con người càng cố gắng tự hoàn hảo chính mình, càng chứng tỏ với chính mình rằng sẽ không bao giờ đạt được sự toàn hảo. Thượng Đế, biểu tượng của sự hoàn hảo, nguyên nhân cao nhất, cơ bản nhất của mọi nguyên nhân , đã sáng tạo nên con người theo hình ảnh của chính mình. Nếu quả thật điều này là đúng, thì cũng chứng tỏ một điều, phiên bản ( duplicate ) không bao giờ là nguyên gốc ( original ). Con người, sản phẩm của Thượng Đế, không có nghĩa là có đủ những[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00129.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb27.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="241" align="left" /></a></p>
<p><em>• Gởi những người bạn thi sĩ</em></p>
<p><em>• Thơ ca là sự hoàn hảo hoàn toàn. Vì thế, trần gian này </em></p>
<p><em> </em><em>còn</em><em> tồn tại  những thi sĩ, và thơ ca còn bị người đời rẻ rúng.</em></p>
<p>Thế giới loài người là một thế  giới không bao giờ toàn hảo. Con người càng cố gắng tự hoàn hảo chính mình, càng chứng tỏ với chính mình rằng sẽ không bao giờ đạt được sự toàn hảo. Thượng Đế, biểu tượng của sự hoàn hảo, nguyên nhân cao nhất, cơ bản nhất của mọi nguyên nhân , <em>đã sáng tạo nên con người theo hình ảnh của chính mình.</em> Nếu quả thật điều này là đúng, thì cũng chứng tỏ một điều, phiên bản ( duplicate ) không bao giờ là nguyên gốc ( original ). Con người, sản phẩm của Thượng Đế, không có nghĩa là có đủ những đặc tính để trở thành thượng đế. Đây là ngộ nhận lớn nhất trong thời đại chúng ta, thời đại của những tiến bộ kỹ thuật vượt bực nhất trong lịch sử nhân loại, có khả năng làm đảo lộn cách thế con  người nhìn thế giới và nhìn chính mình. . .</p>
<p>Những ngày này, khi mà người ta có thể ngồi trong phòng khách yên bình của nhà mình, với những tiện nghi rất dễ dàng đạt được – máy điều hòa không khí, cửa kính cách âm, nệm da êm mát, đồ ăn thức uống ê hề – quan sát một biến cố, một sự kiện, một trận chơi thể thao, một buổi hòa nhạc, một buổi họp báo, và kể cả những trận chiến tranh có súng đạn, có người chết hiện đang xảy ra trên một phần đất nào đó của thế giới. Cùng một lúc, những thây người đổ xuống, những thành phố bị hủy hoại, những cõi lòng tan nát, thì ở những nơi khác bình yên, người ta xem những hình ảnh sống ấy như xem một cuốn phim trên màn ảnh truyền hình.</p>
<p><em>Sự thật về một thế giới bất an và mãi mãi bất toàn , được phô ra , cùng một lúc, ở nhiều nơi khác nhau, càng làm cho con người nôn nóng, giận dữ, đòi hỏi, tranh đấu, kêu gọi, khao khát, hướng về . . . một tương lai hoàn hảo cho thế giới con người.</em></p>
<p>Điều mâu thuẫn, đúng hơn là nghịch lý , ở chỗ, càng hiểu biết nhiều, người ta càng thấy được sự ngu dốt của mình. Như  nhiều ngàn năm trước, người Hy Lạp Socrates đã khiêm tốn ( hay chua chát ?) thú nhận rằng, <em>tôi biết được một điều là tôi không</em> <em>biết gì hết</em> – Sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại đang đẩy nền văn minh con người từ cục bộ địa phương lên tầm cỡ toàn cầu và tức khắc ( mà tiêu biểu là hệ thống vệ tinh truyền hình và mạng lưới Internet ). Và hệ quả của nó là những khuyết điểm của từng nền văn hóa , thể chế chính trị, từng tập đoàn xã hội được nhìn rõ, chiếu rọi, phê phán từ rất nhiều những góc cạnh, quan điểm khác nhau.</p>
<p>Cuộc chiến tranh Iraq , mà người Mỹ và các bạn đồng minh đang dính líu vào, là một thí dụ rõ nét của trạng thái nghịch lý này. Chiến tranh, thời nào cũng có. Đủ loại lớn nhỏ, tùy theo bình diện và tầm cỡ hủy diệt. Cuộc chiến hiện nay ở Iraq, được biết đến rộng rãi khắp nơi trên thế giới, &#8211; gây nhiều tranh cãi, kẻ bênh cũng lắm và người chống cũng nhiều – chẳng phải vì mức độ vô luân, bất nhân, hủy diệt của nó cao hơn những cuộc chiến tranh trong quá khứ, mà có lẽ vì khả năng khoa học kỹ thuật ngày nay đã đem cuộc chiến tranh ấy đến tận phòng khách mỗi nhà, mỗi thành phố, mỗi quốc gia trên thế giới. Trăm tai nghe không bằng một mắt được nhìn. Hơn nữa, cái nhìn ấy là cái nhìn về một sự kiện hiện đang xảy ra , dù ở nơi đâu xa, nhưng vẫn là đang xảy ra.</p>
<p>Để nói về cuộc chiến tranh ở Iraq, mà hiện nay người Mỹ đang ngày càng sa lầy vì phương cách tiến hành chiến tranh, cả hai bên , bênh và chống, đều viện dẫn đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam để đối chiếu, so sánh, phê phán , ca ngợi . . .</p>
<p>Cái mà người ta không nhìn thấy, hay cố tình không nhìn thấy, hay đã nhìn một cách lệch lạc, trong sự khác biệt giữa hai cuộc chiến : là mức độ hơn hẳn về vô luân, bất nhân, và hủy diệt của cuộc chiến tranh Việt Nam. Cũng có thể vì mức độ tác động của sự kiện qua khả năng truyền thông của từng thời kỳ.Trước đây, người ta chỉ nghe, đọc về cuộc chiến tranh Việt Nam hơn là nhìn thấy. Bây giờ thì hình ảnh chết chóc và đổ nát của Iraq được đem đến tận mỗi nhà hàng ngày. So sánh giữa hai cách tiếp cận sự việc, hiển nhiên vai trò của khoa học kỹ thuật đã ảnh hưởng không nhỏ đến cách nhìn sự việc của một con người, một xã hội, một nhân loại.</p>
<p>Chúng ta, lại một lần nữa, nhìn rõ hơn được nghịch lý của chính mình trên con đường tự hoàn thiện. Tưởng rằng khoa học kỹ thuật phát triển, chắp cánh cho văn minh con người bay lên gần hơn  đỉnh Chân Thiện Mỹ, và văn hóa sẽ là khí cụ làm cho người trở nên người hơn để qua đó, biến trần gian này thành một môi trường sống tốt đẹp hơn. Nhưng không phải vậy. Ánh sáng trần gian càng rực rỡ, càng làm rõ những nét xấu xí hơn trên khuôn mặt con người trần thế.</p>
<p>Đôi lúc , lạc giữa những nỗi thất vọng và ngờ vực về một lương tâm nhân loại, tôi lại lôi một câu hỏi triết lý vừa sáo vừa vụn, vừa cũ kỹ vẹt mòn vì đã được hỏi từ mấy ngàn năm nay, kể từ khi có chữ viết : <strong>Thượng Đế đã sáng tạo ra con người dựa theo hình ảnh của chính mình hay là Con Người đã sáng tạo ra Thượng Đế theo hình ảnh con người ?</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><em>Hỏi thì hỏi, nhưng tôi lại sợ có một câu trả lời.</em></p>
<p>©T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/10/suhoan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Th&#225;ng Mười v&#224; T&#244;i</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/10/thangmuoi/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/10/thangmuoi/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 09 Oct 2006 16:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[10]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 10 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/10/thng-m%c6%b0%e1%bb%9di-v-ti/856/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/10/thangmuoi/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb26-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00128.jpg"></a>
■Gởi các bạn hữu.
■Mười năm biệt xứ hề trôi nổi
Chiếc lá xa cành hề biệt tăm
Bao giờ ta sẽ quay về cội
Gom bụi thời gian lót chỗ nằm
(Trần Trung Hậu)
● Như vậy là, một lần nữa, mùa hè lại ra đi, kéo theo những chuyến đi xuyên bang ngắn ngày dài ngày của tôi. Hay nói đúng hơn, của gia đình tôi. Lại tạm ghi trong hồi ức những gặp gỡ, những chia tay, những cơn say túy lúy, những kỷ niệm nơi một vùng đất, một thành phố, và những người bạn cũ ( chỉ riêng các con tôi là có những bạn bè mới gặp, mới quen nhờ vào sự quen biết cũ của bố mẹ). Lại tạm cất đi trong ngăn tủ những bản đồ, những địa chỉ, những con đường xuyên bang thăm thẳm dẫn đến anh em,[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00128.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb26.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="175" align="left" /></a></p>
<p>■Gởi các bạn hữu.</p>
<p>■Mười năm biệt xứ hề trôi nổi</p>
<p>Chiếc lá xa cành hề biệt tăm</p>
<p>Bao giờ ta sẽ quay về cội</p>
<p>Gom bụi thời gian lót chỗ nằm</p>
<p>(Trần Trung Hậu)</p>
<p>● Như vậy là, một lần nữa, mùa hè lại ra đi, kéo theo những chuyến đi xuyên bang ngắn ngày dài ngày của tôi. Hay nói đúng hơn, của gia đình tôi. Lại tạm ghi trong hồi ức những gặp gỡ, những chia tay, những cơn say túy lúy, những kỷ niệm nơi một vùng đất, một thành phố, và những người bạn cũ ( chỉ riêng các con tôi là có những bạn bè mới gặp, mới quen nhờ vào sự quen biết cũ của bố mẹ). Lại tạm cất đi trong ngăn tủ những bản đồ, những địa chỉ, những con đường xuyên bang thăm thẳm dẫn đến anh em, dẫn đến bạn bè. Con đường xa, mà vẫn thấy gần. Ân tình cũ, mà tưởng chừng như luôn rất mới. Những ngày cuối hè. Các con tôi đã trở lại trường từ mấy tuần trước. Ngày nghỉ trong tuần của tôi chỉ còn để dành cho việc dọn dẹp, thu xếp vặt vãnh xung quanh nhà, cất đi những thứ vật dụng ngoài trời sẽ không còn được dùng đến trong những tháng sắp tới. Trời tháng mười đã không còn những ngày nóng chảy mỡ. Đêm ngủ đã phải đắp tấm chăn ngang bụng. Buổi sáng thức dậy ra ngắt những chiếc lá sâu trong vườn hoa trước nhà tôi đã phải khoác thêm chiếc áo mỏng bên ngoài. Mùa Thu đang lừng lững bước vào đầu ngõ. Độ này năm ngoái, lá đã bắt đầu chuyển màu. Năm nay, những bụi hồng Mini của vườn nhà tôi vẫn còn tiếp tục ra nụ. Vợ chồng anh bạn Đặng có rủ gia đình tôi cuối tháng mười đi Colorado ngắm lá vàng mùa Thu ở những thắng cảnh nổi tiếng bên xứ ấy. Thích lắm, nhưng tôi buộc lòng từ chối. Các con tôi đã đi học trở lại. Tôi không muốn chúng bị mất giờ học vì những chiếc lá vàng mùa Thu trong khi tuổi của chúng mùa Xuân vẫn còn ở phía trước. Thời tiết xứ người có đủ bốn mùa xuân hạ thu đông. Cùng với thời tiết luân chuyển, vạn vật luân chuyển, lòng người luân chuyển. Có nóng có lạnh, có nhọc nhằn âu lo, có buồn vui giận ghét. Trên dòng chảy thời gian, là những gềnh thác của đời người liên lỉ chảy qua mọi ngõ ngách không một phút dừng, dù chỉ là để ngoảnh nhìn ngày hôm qua đã qua đi như những ngày tháng đã qua đi . . .</p>
<p><em>. . . Năm ngoái, cũng trong một chuyến đi ngắn đến Oklahoma, một chiều cuối Thu, chúng tôi được nghe người bạn nhạc sĩ họ Trần hát những tác phẩm mới nhất của anh. </em><em>Đó là một buổi chiều Thu thật tuyệt diệu.</em><em> Khoảnh khắc giao thoa trọn vẹn giữa đất trời, con người và nghệ thuật. Trong cuộc sống đầy ắp những nhọc </em><em>nhằn ,</em><em> âu lo, bận rộn và không ít những phiền muộn, những khoảnh khắc như buổi chiều Thu hôm ấy ở Oklahoma là những khoảng nghỉ cần thiết cho tâm hồn con người. Năm nay, để tìm khoảng nghỉ cần thiết ấy cho cuộc sống, chúng tôi cố gắng </em><em>thu</em><em> xếp mọi việc để gặp nhau vào khoảng giữa Thu. Khi ấy, chắc lá vàng đã rực rỡ trên những con đường dẫn vào thành phố . . .</em></p>
<p>● Còn nhớ, năm ngoái khi chia tay ở Oklahoma, tôi và mấy người bạn hào hứng hẹn nhau sẽ có nhiều những buổi họp mặt như thế này, có thơ có nhạc ( và rượu, tất nhiên!), để thi vị hóa cuộc sống, hay nói đúng hơn, để tạm gác bỏ những gai góc của cuộc sống qua một bên, dù chỉ trong một buổi chiều, một buổi tối. Thực tế đã cho thấy không dễ dàng gì. Và chúng tôi cứ hẹn lần hẹn lữa. Hy vọng, lần này chúng tôi sẽ đủ mặt đến hẹn lại lên. Chỉ tiếc, không thể kéo hết nhau lên đỉnh những ngọn đồi Colorado để cùng với vợ chồng Đặng, vợ chồng Lý, vợ chồng Trần, vợ chồng Nguyễn ngắm lá vàng rơi, nghe Trần lê Việt hát tình ca, đọc thơ Phạm chinh Đông, Trần trung Hậu, Yên Đông, làm những người mẫu bất đắc dĩ cho Đặng hiếu Sinh chụp hình nghệ thuật. Quả thật, được như thế thì cũng đủ lãng quên đời. Hay , hào sảng hơn, bất cần đời hơn như trong thơ Tô Thùy yên:</p>
<p><em>Ở đây, ta có dăm người bạn</em></p>
<p><em>Phúc tự tâm, không lý đến đời</em></p>
<p><em>Ở đây, ta có dăm pho sách</em></p>
<p><em>Và một dòng sông, mấy cụm mây</em></p>
<p><em> </em><em>( Tô</em><em> thùy Yên)</em></p>
<p>● Ôi cuộc sống hàng ngày. Có những điều tưởng chừng như ở trong tầm với. Chỉ cần đưa tay ra, rướn người lên một chút. Nhưng để thực hiện động tác cuối cùng ấy, đưa tay ra, rướn người lên một chút, sao mà khó khăn quá. Có khi phải chờ đến gần hết một cuộc đời. Có khi cuộc đời đã đặt dấu chấm hết rồi, mà động tác cuối cùng ấy đành phải gởi đến thế hệ tương lai làm cánh tay nối dài. Bởi lẽ, thời gian vốn vô tình . Vô tình như những chiếc lá mùa Thu lặng lẽ ngoài kia. Để, một buổi sáng, soi bóng mình trong gương, không thấy ai ngoài một khuôn mặt xa lạ, già nua, nhầu nát, khật khùng.</p>
<p><em>Nhờ vậy, tôi mới hiểu tại sao những đêm dài thức trắng đã thành tật</em><em>,như</em><em> sợ giấc ngủ lấy đi của mình những khoảnh khắc ngắn ngủi quý báu của đêm khuya tịch mịch. </em><em>Để rồi, sáng hôm sau, phờ phạc vì thiếu ngủ, ườn người trên giường, trễ tràng xộc xệch.</em><em> </em><em>Đầu óc mụ mị quên trước quên sau những việc phải làm trong ngày.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>● Hôm rồi,có người bạn hỏi tôi về một bài thơ của một tác giả thời Tiền Chiến, vô tình trong lúc lục kho lưu trữ để tìm câu trả lời, bắt gặp một bài thơ của Nguyễn Bính nhưng không hề có chút gì chứng tỏ là tác giả của Lỡ Bước Sang Ngang. Đó là bài Hành Phương Nam.Có những câu như :</p>
<p><em>Nợ thế, trả chưa mòn một món</em></p>
<p><em>Sòng đời, thua đến trắng hai </em><em>tay</em></p>
<p><em>Quê nhà xa lắc xa lơ đó</em></p>
<p><em>Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay</em></p>
<p><em>……………………………………………………</em></p>
<p><em>Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ</em></p>
<p><em>Uống say mà gọi thế nhân ơi!</em></p>
<p><em>Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ</em></p>
<p><em>Ta với nhà ngươi cả tiếng cười</em></p>
<p><em>Dằn chén hất cao đầu cỏ dại</em></p>
<p><em>Hát rằng phương Nam ta với ngươi</em></p>
<p><em>……………………………………………………..</em></p>
<p><em> </em><em>( Nguyễn</em><em> Bính)</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Quả thật, thế nhân mắt trắng như ngân nhũ, ta với nhà ngươi cả tiếng cười.</p>
<p>Cuối tháng mười sắp tới đây, trong lúc ngắm lá vàng rơi ở Colorado, anh chàng Đặng hẳn sẽ không quên mang ra khoe số báo Ca Dao, trong đó có bài viết này, để từ trên đỉnh núi cao, nhìn về phía quê nhà xa lắc xa lơ đó, ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.</p>
<p>Riêng tôi, ngày mai, mùa Thu vẫn chưa đủ muộn màng để làm rụng đầy lá vàng trước sân nhà, nên tôi vẫn chưa phải dậy sớm, khoác áo ấm vào người mà đi gom hết những chiếc lá vàng thành đống, bỏ vào bao, cuối tuần, sở rác cho xe đến lấy đem đi một nơi nào đó cho khuất mắt. Thế nên, đêm nay, tôi vẫn còn được thức đêm dài đã thành tật của tôi mà gom lại những mảnh vụn của tâm tư mình, chắp chắp vá vá. Chỉ không thể bỏ chúng vào bao, chờ sáng đem ra ngoài để cạnh thùng rác, cho sở rác cuối tuần đến đem đi. Thế nên, những mảnh vụn tâm tư của tôi vẫn còn đó, để đêm đêm tôi gom lại, chắp chắp vá vá, bẹo dạng bẹo hình.</p>
<p>Để mai đây, khi tôi nằm xuống, các bạn tôi sẽ có được chút gì để lại trần gian  của tôi mà đem ra cái quan định luận, trong những lần có được cái khoảng nghỉ hiếm hoi của dòng chảy cuộc đời. Thế cũng đã mãn nguyện lắm rồi!■</p>
<p>©T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/10/thangmuoi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Kh&#244;ng c&#243; nơi b&#236;nh y&#234;n tr&#234;n mặt đất l&#242;ai người</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/10/khongconoi/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/10/khongconoi/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 06 Oct 2006 16:00:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[10]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 10 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/10/khng-c-n%c6%a1i-bnh-yn-trn-m%e1%ba%b7t-d%e1%ba%a5t-lai-ng%c6%b0%e1%bb%9di/852/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/10/khongconoi/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb25-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00127.jpg"></a>
1.
Ở đâu có con người, ở đó có bóng dáng của ma quỷ (evil).
Điều ấy đã được chứng thực trong những ngày vừa qua. Cộng đồng những người theo giáo phái Amish ( một chi nhánh tôn giáo hậu thân của giáo phái Tái Thanh Tẩy ( Anabaptists) có gốc gác từ Thụy Sĩ ở nhiều thế kỷ trước ), chọn cuộc sống hòan tòan tách rời khỏi thế giới văn minh, dù là ở ngay giữa lòng nước Mỹ ( thành phố Geogertown, tiểu bang Pennsylvania ), đã đau xót chứng kiến điều tệ hại nhất của văn minh nhân lọai xảy ra ngay trong lòng mảnh đất hiền hòa, biệt lập của mình. Ngôi trường tiểu học duy nhất của thành phố, vào một buổi sáng đẹp đầu thu, đã bị một người đàn ông bệnh họan ( vốn là người tài xế xe[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00127.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 20px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb25.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="132" align="left" /></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><em>Ở đâu có con người, ở đó có bóng dáng của ma quỷ (evil).</em></p>
<p>Điều ấy đã được chứng thực trong những ngày vừa qua. Cộng đồng những người theo giáo phái Amish ( một chi nhánh tôn giáo hậu thân của giáo phái Tái Thanh Tẩy ( Anabaptists) có gốc gác từ Thụy Sĩ ở nhiều thế kỷ trước ), chọn cuộc sống hòan tòan tách rời khỏi thế giới văn minh, dù là ở ngay giữa lòng nước Mỹ ( thành phố Geogertown, tiểu bang Pennsylvania ), đã đau xót chứng kiến điều tệ hại nhất của văn minh nhân lọai xảy ra ngay trong lòng mảnh đất hiền hòa, biệt lập của mình. Ngôi trường tiểu học duy nhất của thành phố, vào một buổi sáng đẹp đầu thu, đã bị một người đàn ông bệnh họan ( vốn là người tài xế xe tải vẫn giao sữa hàng ngày ) đột nhập, dùng súng uy hiếp và có hành vi nhằm xâm phạm các bé gái ( chỉ từ 6 cho đến 13 tuổi) để thỏa mãn dục tính của mình. Rồi khi nhân viên công lực tiểu bang tìm cách tổ chức việc giải cứu các bé gái bị ông ta kềm chế, con người bệnh họan này đã nổ súng vào các em, khiến 5 em bị bắn chết tại chỗ, 5 em khác trong tình trạng nguy kịch  được đưa cấp tốc đi điều trị tại bệnh viện tối tân nhất của tiểu bang. Hung thủ – cũng là người chồng và là cha của 3 đứa con nhỏ &#8211; đã tự sát chết tại chỗ.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><em>Chúng ta đang sống trong một thời đại của hàng vạn điều vô lý đến không tin được xảy ra mỗi ngày.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Đành rằng , thế giới này không bao giờ thiếu những cái chết ở mọi hình thái, xảy ra do đủ mọi lọai nguyên nhân khác nhau : chiến tranh, tai nạn, dịch bệnh, bão táp, lụt lội v . . .v. Mỗi ngày, cuộc chiến tranh ở Iraq khiến cả trăm người thiệt mạng, những cái chết bất ngờ, đau đớn, ở ngay trên những đường phố dân cư hay khu thương mại. Hay một cơn sóng thần như hồi đầu năm 2005 ở vùng Nam Á, làm chết cả hàng trăm ngàn người trong có vài tiếng đồng hồ. Hoặc nạn đói và diệt chủng lấy đi mạng sống hàng chục ngàn người ở  khu vực Phi Châu ngay giữa thế kỷ 21. Nhưng những cái chết ấy là có thể hiểu được. Chiến tranh thì phải có chết chóc, hòn tên mũi đạn vốn không có mắt. Thiên tai là tai họa từ trời, ai mà tránh được. Tai nạn xe cộ, máy bay là hậu quả không thể tránh khỏi của cuộc sống cơ khí hóa, đó là cái gía phải trả cho những hưởng thụ vật chất.</p>
<p>Nhưng có những sự mất mát , với số lượng tuy nhỏ hơn rất nhiều so với sự thiệt hại về chiến tranh, thiên tai, đã làm cho nhiều người lo sợ. Vì , những sự mất mát ấy, không thể nào lý giải nổi. Thí dụ như cái chết của 5 em bé gái  tuổi từ 6 cho đến 13 ở thành phố Georgetown vừa mới được chôn cất sáng nay, và 5 em gái khác đang đau đớn trên giường bệnh , hết sức chống chỏi với tử thần. Nếu may mắn, 5 em bé ấy vượt qua được cơn hiểm nghèo, liệu cha mẹ các em có thể dùng thứ ngôn ngữ nào, cách lý gỉai nào để giúp trả lời câu hỏi lớn duy nhất trong đầu óc non nớt của các em :</p>
<p><em>Tại sao ? Tại sao ?</em></p>
<p><strong>3. </strong></p>
<p>Cộng đồng những người theo giáo phái Amish , do lề luật riêng của tôn giáo mà họ tin tưởng, sống hòan tòan biệt lập với thế giới bên ngòai, thứ thế giới văn minh đấy dẫy những tiện nghi vật chất làm cho con người không còn thuần hóa như lời dạy trong Kinh thánh ( Bible). Họ không gia nhập quân đội, được miễn trừ thuế an ninh xã hội ( vì rất đơn giản, họ đã và sẽ không nhận bất cứ sự trợ gíup tài chánh nào về phía chính quyền).  Họ sống nhờ đất đai, các sản phẩm đến từ đất đai. Họ trồng tỉa bằng các phương tiện thô sơ, sẵn có. Thức ăn hàng ngày thanh đạm, ăn mặc đơn giản.  Ngựa và xe do ngựa kéo ( buggies) là những phương tiện vận chuyển quen thuộc trong khu vực. Họ cố hết sức tránh xa các phương tiện vật chất phải dùng đến điện năng, một phát minh đầy kiêu hãnh của con người. Điện thọai và xe hơi là hai thứ rất hiếm thấy trong cuộc sống hàng ngày của họ.</p>
<p>Vậy mà trong những ngày đầu tháng mười mới chớm thu , cộng đồng Amish hiền hòa ấy đã phải hứng chịu tai họa chỉ có thể xảy ra ngòai thế giới văn minh, nơi có khả năng chế tạo súng đạn và các phương tiện giết người khác.</p>
<p>Những tưởng sẽ có những khuôn mặt cha mẹ vừa đau khổ vừa giận dữ, đòi hỏi công lý phải được thi hành, đòi hỏi xiết chặt thêm quyền xử dụng vũ khí của công dân, đòi hỏi giới hữu trách phải làm gì để bảo vệ sự an tòan cho con em họ trong trường học. Nhưng đó không phải là cách mà những người Amish phản ứng với những tai họa trong cuộc sống.</p>
<p>Cùng một lúc, đau đớn vì sự mất mát đột ngột,to lớn ấy, họ vẫn giữ được niếm tin mãnh liệt nơi đấng Tối Cao , mục đích đầu tiên và cuối cùng của sự hiện hữu của con người trên mảnh đất đau khổ này.</p>
<p><em> Hãy yêu thương chính kẻ đã gây nên sự đau khổ cho mình, vì chỉ có lòng yêu thương mới làm nhẹ đi nỗi đau khổ.</em> Và họ, những người cha người mẹ tội nghiệp ấy, đã nói lên lời tha thứ. Chính họ, đã yêu cầu mọi người không nên gọi kẻ đã sát hại con em họ là quỷ dữ ( evil). Chính họ đã mở rộng vòng tay, chia sẻ và an ủi người vợ và 3 đứa con của hung thủ , vì họ biết rằng, những người ấy cũng đang đau khổ không kém gì họ. Người vợ tội nghiệp của kẻ sát nhân đã khóc lóc nói với những người chung quanh rằng, cái kẻ đã gây nên tội ác tầy trời vừa rồi không phải là con người đã từng là chồng của chị, đã từng là cha 3 đứa con của chị. Cùng với nỗi đau mất con của những người Amish, chị và các con của chị cũng đang đau nỗi đau mất chồng, mất cha. Và nỗi đau này có thể còn lớn hơn, khó chịu đựng hơn , vì họ không có điểm tựa để tin vào, không có những cái vai để bám vào mà nhỏ đôi giòng nước mắt.</p>
<p><em>Hệt như những lời dạy trong Thánh Kinh: kẻ nào đánh ngươi vào má trái, hãy chìa luôn má phải. </em>Cộng đồng Amish đã thực hành điều ấy một cách đáng ngưỡng mộ. Họ tìm đến gia đình “ nạn nhân “ ( hung thủ đã giết con cháu của họ ), chìa vai ra để cho kẻ đau khổ có chỗ dựa vào mà khóc . Tang lễ của hung thủ 33 tuổi, được cử hành kín đáo và sau đó chôn trong khu đất riêng của gia đình chỉ cách trường học ( nơi xảy ra cuộc thảm sát ) mấy cây số. Trong số hơn 75 người tham dự tang lễ này, có hơn một nửa là những người đến từ cộng đồng Amish. Đó là sự có mặt của lòng thứ tha và của tình yêu. Hơn ai hết, những con người chọn sống cuộc sống sơ khai giữa lòng xã hội văn minh đã hiểu rằng chính khi họ thứ tha cho lỗi lầm của kẻ khác, là lúc họ được tha thứ vì lỗi lầm của riêng mình . Trong khi đó, những người sống giữa ánh sáng chói lọi của thế giới văn minh, chỉ thấy lỗi lầm của người khác chứ không thấy được lỗi lầm của chính mình. Và họ nhất định đòi mắt trả mắt, răng đền răng, cũng không mảy may nghĩ đến một ngày chính mình cũng sẽ bị đòi nợ.</p>
<p>Nhưng có phải lúc nào cũng nên ban phát sự tha thứ cho những kẻ luôn rắp tâm hành hạ, làm đau đớn đồng lọai ? Nhất là khi nạn nhân là những bé thơ chưa hề biết đến óan thù, tranh chấp, hơn thua của thế giới con người ? Có được tấm lòng quảng đại như những người Amish không phải là dễ dàng, nhưng liệu thế giới này có trở nên tốt đẹp hơn không khi người ta yên chí rằng, dù mình có phạm một tội ác tày trời như thế nào đi nữa, rồi thì cũng sẽ được tha thứ và không bị trừng phạt ?</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Bây giờ thì 5 bé gái thiên thần ấy đã được đưa vào thiên đàng trên những chiếc xe ngựa trang nghiêm, chậm chạp đi ngang qua ngôi trường học nhỏ bé, ngang qua căn nhà của chính kẻ đã sát hại mình. Linh hồn các em trong trắng như chính chiếc áo trắng các em đang mặc trên người, được cha mẹ các em mặc cho mình lần cuối cùng, theo đúng truyền thống của người Amish. Thi hài bé bỏng của các em, trước khi đưa đi chôn cất, đã được về ở trong căn nhà cha mẹ, nằm ngay trên chiếc giường của mình , rồi sau đó sẽ được đặt vào chiếc quan tài bằng gỗ đơn giản, do chính những người trong cộng đồng đóng lấy. Một trong những chiếc quan tài ấy, nằm chung hai chị em ruột,  7 tuổi và 8 tuổi, hệt như lúc còn sống, hai chị em đã chia nhau một chiếc giường. Cha mẹ của các em tin rằng, rồi một ngày nào đó họ sẽ gặp lại được con mình ở nơi không còn những điều vô lý như thế này xảy ra nữa.</p>
<p>Và thế là một ngày đầu tháng 10 gây gây lạnh, qua màn ảnh truyền hình, cả nước Mỹ được dịp nhìn đòan xe ngựa thô sơ chở những chiếc quan tài nhỏ nhắn ra nghĩa trang, nơi có những ngôi mộ đào sẵn bằng tay, chỗ yên nghỉ cuối cùng  của những em bé gái vắn số, nơi chôn cất những điều vô lý nhất trong những điều vô lý của nhân lọai. Rồi những nắm đất sẽ được ném xuống, phủ kín quan tài, phủ kín luôn cả lương tâm nhân lọai, phủ kín luôn những gì làm con người hãnh diện mình là con người.</p>
<p><em>Vì, sau cái chết, trần thế này không là gì cả. Để cho những cái chết như thế xảy ra, con người đã phủ nhận sự hiện hữu của trần thế, phủ nhận chính gía trị sự hiện hữu của mình.</em></p>
<p><strong>5.</strong></p>
<p><em>Cái chết của trẻ thơ, không phải là cái chết theo nghĩa thông thường. Các em chỉ ra khỏi chỗ mà con mắt trần gian có thể nhìn thấy được.</em> Nhưng là người cha, người mẹ, chúng ta đã để cho những điều ác xẩy ra, khiến các em phải lìa bỏ trần gian. Liệu chúng ta có thể yên ổn bước chân lên giường ngủ hàng đêm, yên ổn làm dấu thánh gía trước khi nhắm mắt lại tìm sự nghỉ ngơi cho thân xác, yên ổn tin rằng ngày mai con em mình sẽ đến trường, sẽ được trở về nhà bình an, sẽ lại nằm thỏai mái trong căn phòng quen thuộc của chúng ?</p>
<p>Liệu chúng ta có thể tiếp tục tự đánh lừa mình rằng, tai họa có thể xẩy ra ở nơi nào đó, cho con cái của ai đó, chứ chắc chắn không thể xảy ra nơi mình sinh sống, cho chính những đứa con yêu quý của chính mình ? (*)</p>
<p>Trên mặt đất quá mong manh của trần gian, không nơi đâu được gọi là chỗ an tòan nữa. Dù đó là nơi biểu tượng cao nhất của văn minh nhân lọai như những thành phố lớn nhất của nước Mỹ, của thế giới hay những thôn xóm làng mạc hẻo lánh như khu vực sinh sống của người Amish là thành phố Georgetown , tiểu bang Pennsylvania, hay một địa danh ở miền trung nước Việt nam, có cái tên rất “ quê mùa “ Chôm Lôm. Nơi đây, vừa xảy ra một tai nạn thương tâm. Chuyến đò hàng ngày đưa các em học sinh lớp 6, 7 và 8 từ bản Chôm Lôm vượt con sông  Lam để đến trường học phía bên kia bờ , vì chở quá tải ( 60 em trên chiếc đò chỉ đủ sức chở 30 em ), khi gặp con nước xóay đã chòng chành và bị chìm , khiến 19 em bé – phần lớn là gái &#8211; quá nhỏ, không biết bơi , bị nước cuốn đi mất tích ( khi tôi viết những hàng chữ này – chủ nhật 15 tháng 10 năm 2006 – mới chỉ có thi hài của 14 em được tìm thấy sau nhiều ngày đêm nỗ lực tìm kiếm ).</p>
<p>Đó là tai nạn hay sự tắc trách ? hay lại chỉ là hệ quả của sự nghèo nàn, chậm tiến, khiến xảy ra những sự kiện đau lòng không đáng xảy ra ?</p>
<p>Vì bất cứ lý do nào, những niềm hy vọng của từng gia đình, mầm non của đất nước, đã bị phí phạm như cỏ rác . Và những nỗi đau của từng người cha người mẹ, đều xé ruột như nhau.</p>
<p>Khi một người mẹ ở Bản Chôm Lôm, nước Việt Nam mặc chiếc áo đầm thổ cẩm đẹp nhất vào thi hài con gái mình đã bị biến dạng sau 3 ngày ngâm dưới dòng sông Lam hung dữ với cõi lòng tan nát , bà không biết rằng, ở cách xa bà một nửa vòng quay trái đất cũng có một bà mẹ trẻ vừa khóc vừa thay cho con gái chiếc áo đầm đẹp nhất chỉ mặc để đi nhà thờ mổi sáng chủ nhật , vừa lấy tay ve vuốt những vết đạn lỗ chỗ trên thân xác con mình như ve vuốt những vết nứt sâu hoắm  trong tấm lòng người mẹ.</p>
<p><em>Có gì khác nhau trong hai khúc ruột bị đứt từng đọan của hai người mẹ Mỹ và Việt ấy không ?</em></p>
<p><strong>6.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Hàng đêm, trước khi lên giường đi ngủ, tôi đều bước vào phòng các con tôi xem lại chăn mền, đèn đuốc . Có đêm, tôi đứng lặng hồi lâu trong căn phòng lờ mờ bóng ngọn đèn ngủ nhỏ xíu, tai lắng nghe tiếng thở đều đặn nhẹ nhàng của giấc ngủ trẻ thơ và ứa nước mắt vì chợt nhận ra hạnh phúc mình đang có to lớn quá, tuyệt vời quá và cũng . . . mong manh quá. Trần gian này đấy dẫy những điều vô lý và những kẻ điên dại , làm sao đôi cánh tình yêu bé nhỏ của tôi có thể gìn giữ được cho chúng sự bình an cho đến hết đời.</p>
<p>Tôi chỉ biết chắp tay, nhắm mắt và ngước mặt lên cao, cầu xin một sự che chở. Vì tôi tin rằng, chưa bao giờ trong lịch sử nhân lọai, sinh vật có tên con người lại trở nên yếu đuối, bất lực như hiện nay, đến độ không bảo vệ được cả những đứa con của mình.</p>
<p>T. Vấn</p>
<p>(*) Thành phố Wichita, tiểu bang Kansas nơi tôi sinh sống là một thành phố nhỏ và hiền hòa, dân số xấp xỉ 355 ngàn người, mức độ tội phạm rất thấp. Vậy mà, ngày 12 tháng 10 , 600 học sinh trên tổng số 1,600  của một trường trung học ở thành phố đã “được “ cha mẹ giữ ở nhà, không cho đến trường vì một tin đồn bạo động có thể xảy ra , phát nguồn từ hàng trăm Text messages xuất hiện trong điện thọai di động của một số học sinh.</p>
<p>Ai biết được điều gì sẽ xảy ra  sau những vụ nổ súng chết người  tại  các trường học ở Pennsylvania, Colorado và Wisconsin. (T.Vấn)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/10/khongconoi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đời S&#244;ng, Đời Người</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/10/doisong/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/10/doisong/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 02 Oct 2006 15:56:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[10]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 10 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/10/d%e1%bb%9di-sng-d%e1%bb%9di-ng%c6%b0%e1%bb%9di/848/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/10/doisong/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb24-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00126.jpg"></a>
■ Gởi những thằng bạn già
 ■ Sông vẫn chảy  đời sông, 
 Suối vẫn trôi đời suối . . .
 ( K.Ly)

Đời người. Như đời sông. Chảy qua bao nhiêu ghềnh thác. Ghé qua bao nhiêu bến bờ. Khi trong khi đục. Khi cuồn cuộn khi lặng lờ. Và mặt sông như mặt người. Buồn hiu ảm đạm.
Đời người. Như đời sông.Đã ra đi là không bao giờ quay trở lại. Không bao giờ được phép quay trở lại. Dù chỉ để sửa chữa những lầm lỡ, may vá những vết thương. Có ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông ? Có ai sống hai lần trên cùng một mảnh đời ?
Cũng không bao giờ được dừng lại. Dù chỉ một khoảnh khắc. Dù chỉ để vuốt lại mái tóc xoà, tô lại đôi môi nhạt.
Đời người. Như đời sông. Hiền lành[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00126.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb24.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="143" align="left" /></a></p>
<p>■ <em>Gởi những thằng bạn già</em></p>
<p><em> </em><em>■</em><em> Sông vẫn </em><em>chảy  đời</em><em> sông, </em></p>
<p><em> Suối vẫn trôi đời suối . . .</em></p>
<p><em> </em><em>( K.Ly</em><em>)</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Đời người. Như đời sông. Chảy qua bao nhiêu ghềnh thác. Ghé qua bao nhiêu bến bờ. Khi trong khi đục. Khi cuồn cuộn khi lặng lờ. Và mặt sông như mặt người. Buồn hiu ảm đạm.</p>
<p>Đời người. Như đời sông.Đã ra đi là không bao giờ quay trở lại. Không bao giờ được phép quay trở lại. Dù chỉ để sửa chữa những lầm lỡ, may vá những vết thương. Có ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông ? Có ai sống hai lần trên cùng một mảnh đời ?</p>
<p>Cũng không bao giờ được dừng lại. Dù chỉ một khoảnh khắc. Dù chỉ để vuốt lại mái tóc xoà, tô lại đôi môi nhạt.</p>
<p>Đời người. Như đời sông. Hiền lành mà độc ác. Thật thà mà ngoa ngôn. Độ lượng mà hẹp hòi. Bao la mà nhỏ bé.</p>
<p>Đời người. Như đời sông. Khổ đau và hạnh phúc thể hiện trên cùng giọt nước mắt. Nước mắt rơi xuống dòng sông. Tan ra và chảy đi. Không để lại chút gì vương vấn. Như đôi môi cô gái ăn đêm. Như trái tim kẻ bạc tình.</p>
<p>Đời người. Như đời sông. Không một lằn ranh giữa trong và đục. Giữa Thiện và Ác. Giữa kẻ cướp và anh hùng. Giữa lưu đày và quê nhà. Nên gỉa biến thành thật. Thật thoái thân thành gỉa.</p>
<p>Đời người. Như đời sông. Miên man bất tận đó mà cũng gập ghềnh khúc khuỷu đó. Trùng trùng điệp điệp đó mà cũng nhỏ nhoi cây cỏ đó. Nên lòng người cứ hun hút những hố sâu.</p>
<p>Đời người.Như đời sông. Luôn đi tìm những cửa biển thênh thang để như con ếch nhỏ phình bụng cho to bằng con bò. Như những dòng sông đều tìm đường ra biển cả để cho con sóng bạc đầu đuổi xô xô đuổi. Như những cái đầu nhỏ xíu muốn lật ngược cả thế gian. Như những trái tim chật hẹp muốn thu gọn cả loài người vào trong lồng ngực lép.</p>
<p>Đời người. Như đời sông. Âm thầm lặng lẽ. Có đó mà như không có đó. Chỉ đến khi dòng sông biến thành mảnh đất khô cằn, người ta mới sực nhớ ra rằng, nơi đây, trước kia đã có một dòng sông. Chỉ đến khi một đời người biến mất khỏi thế gian này, mới được nhắc đến như một sinh vật trước đây đã từng hiện hữu.</p>
<p>Đời người. Như đời sông. Cô đơn như những mạch nước ngầm rỉ rả một mình. Như những giọt lệ chảy dài trên má giữa đêm khuya một mình. Như nỗi đau không biết tỏ cùng ai, nên sông sói mòn hai bên bờ đất lở, nên lòng người gặm nhấm chính thịt da của mình.</p>
<p>Đời người. Như đời sông. Đi trăm nẻo lại trở về chốn cũ. Xuôi trăm nhánh lại quay về cố hương. Như con ngựa già mơ đường xa vẫn tìm về được căn nhà xưa, gục đầu khóc nức nở.</p>
<p>Đời người. Như đời sông.</p>
<p>Sông chảy đời sông. Người sống đời người.</p>
<p>©T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/10/doisong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
