<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; Tháng 11 &#8211; 2006</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang11/2006-11/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>V&#224;i cảm nghĩ nh&#226;n đọc một người l&#237;nh viết về chiến tranh</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/vaicamnghi/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/vaicamnghi/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 29 Nov 2006 06:10:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/vi-c%e1%ba%a3m-nghi-nhn-d%e1%bb%8dc-m%e1%bb%99t-ng%c6%b0%e1%bb%9di-lnh-vi%e1%ba%bft-v%e1%bb%81-chi%e1%ba%bfn-tranh/1057/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/vaicamnghi/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb39-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00141.jpg"></a>
Người lính – Tranh của Trần Thanh Châu
( Trích đoạn bài nói chuyện trong buổi ra mắt truyện dài Qua Đồi Trinh Nữ của nhà văn Thảo Nguyên Nguyễn Bá Thuận ngày 20 tháng mười một năm 2004 tại thành phố Dallas &#8211; Texas và 6 tháng ba năm 2005 tại thành phố San Jose- CA.)
. . .Truyện dài QUA ĐỒI TRINH NỮ của Thảo Nguyên là tác phẩm viết về chiến tranh của một người trong cuộc, theo cái nghĩa trung thực nhất và giản dị nhất của người trong cuộc. Cuộc chiến 30 năm đã chấm dứt cách đây 30 năm. Khoảng thời gian 60 năm một đời người ngắn ngủi chưa đủ dài hay sao để ngày hôm nay, cách xa bãi chiến trường cũ hàng nửa vòng quay quả đất, những người sống sót sau một cuộc chiến  vẫn còn tiếp tục[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00141.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb39.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="164" align="left" /></a></p>
<p><em>Người lính – Tranh của Trần Thanh Châu</em></p>
<p>( <em>Trích đoạn bài nói chuyện trong buổi ra mắt truyện dài Qua Đồi Trinh Nữ của nhà văn Thảo Nguyên Nguyễn Bá Thuận ngày 20 tháng mười một năm 2004 tại thành phố Dallas &#8211; Texas và 6 tháng ba năm 2005 tại thành phố San Jose- CA.)</em></p>
<p>. . .Truyện dài QUA ĐỒI TRINH NỮ của Thảo Nguyên là tác phẩm viết về chiến tranh của một người trong cuộc, theo cái nghĩa trung thực nhất và giản dị nhất của người trong cuộc. Cuộc chiến 30 năm đã chấm dứt cách đây 30 năm. Khoảng thời gian 60 năm một đời người ngắn ngủi chưa đủ dài hay sao để ngày hôm nay, cách xa bãi chiến trường cũ hàng nửa vòng quay quả đất, những người sống sót sau một cuộc chiến  vẫn còn tiếp tục nói và viết về nó. Tôi gọi đây là thảm kịch chưa từng có tiền lệ trong lịch sử hàng ngàn năm chiến tranh của đất nước chúng ta. Tiếng súng đã im từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng cái ngày quê hương thanh bình  mà những nhân vật nửa thực nửa hư trong Qua Đồi Trinh Nữ &#8211; còn sống hay đã chết &#8211; mong đợi ấy, mà tất cả chúng ta mong đợi ấy , chưa hẳn đã đến. Chính vì thế , mà chúng ta &#8211; những kẻ sống sót &#8211; phải lưu vong quê người , sau nhiều năm tháng bị lưu đầy ngay trên chính quê hương của mình. Cơn lốc chiến tranh, tàn bạo như chính tên gọi của nó, đã không chừa một ai trên đường đi hủy diệt con người, từ thể xác &#8211; những người đã nằm xuống -, đến tâm linh &#8211; tức chúng ta, những người còn sống sót. Chính vì thế,viết về cuộc chiến tranh ấy, không phải là nhắc đến những ngày vinh quang cũ &#8211; làm sao gọi là vinh quang cho được khi đồng bào máu mủ của mình ở cả hai miền đã chịu bao tang tóc điêu linh chỉ vì sự ngông cuồng của một thứ chủ nghĩa vay mượn từ bên ngoài nay đã hoàn toàn dãy chết vì chính sự ngông cuồng của no. Viêt về cuộc chiến tranh ấy, không phải chỉ nhắc đến cái hào hùng của một thời vó câu yên ngựa. Đã đành là hào hùng, nhưng cái hào hùng trọn vẹn thuộc về những người đã nằm xuống. Những người còn sống, đã từng mặc chiếc áo trận của chính mình, nhưng không phù hiệu đơn vị, không cầu vai, không cấp bực, lê bước chân trần lưu đầy trên khắp nẻo quê hương từ Nam Quan cho đến Cà Mau qua các nhà tù tiền sử dựng lên vội vàng sau ngày miền Nam thua trận, thì cái hào hùng ấy , dù chúng ta thú nhận hay không thú nhận , cũng phần nào không được gọi là trọn vẹn. Và chắc chắn đó chẳng phải là trọng tâm khi người lính cầm bút viết về những ngày tháng ấy. Càng không phải sự nuối tiếc một thứ quá khứ mà có người đã khuyên chúng ta hãy quên nó đi. Có ai lại đi nuối tiếc một quá khứ gian khổ nhọc nhằn, ranh giới giữa sống và chết chỉ cách nhau có một hàng rào kẽm gai, và bao khổ đau mất mát không một thứ bút mực ngôn ngữ nào có thể diễn đạt đầy đủ.</p>
<p><em>Vậy thì tại sao lại cần phải viết về cuộc chiến mà ai cũng muốn nó hãy ngủ yên trong quá </em><em>khứ ?</em></p>
<p>Cần thiết là vì, thứ nhất, cuộc chiến ấy liên quan sinh tử đến hầu như tất cả những người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Cuộc chiến ghi một dấu ấn khủng khiếp đến tất cả những người tham dự trực tiếp vào cuộc chiến, tự nguyện hay bắt buộc, ở cả hai miền Nam Bắc. Ở một tầm mức to lớn như thế, một trăm năm sau, lịch sử sẽ vẫn còn bàn cãi, tranh luận, phẩm bình.</p>
<p>Thứ hai, tầm vóc hủy diệt, vô luân của cuộc chiến, không chỉ trong chiến tranh, mà còn sau chiến tranh, dù đã 30 năm. Chiến tranh nào mà không có những tàn bạo phi nhân, những chết chóc hủy diệt. Nhưng cái tiền lệ chưa từng có trong lịch sử  của cuộc chiến này nằm ở những gì xảy ra sau chiến tranh. Mức độ tàn bạo vô luân đã được đẩy lên đến mức giới hạn của sức tưởng tượng con người. Hàng trăm ngàn người bị ngược đãi, nhục hình trong các trại cải tạo. Cả miền Nam bị bóc lột, đày đọa như những ngoại nhân ngay trên quê hương của mình. Hàng triệu người liều mình vượt biển, băng rừng,  bỏ nước ra đi, tìm sự sống trong cái chết, mang trong lòng niềm tin: Tự Do hay là Chết. Và cho đến ngày hôm nay, là bi kịch kẻ trong nước người ngoài nước, nghi kỵ nhau, chỉ trích nhau, thù hằn nhau.</p>
<p>Thứ ba, bên thua trận lại là những người cầm ngọn cờ giương cao những lý tưởng cao cả nhất của nhân loại: Tự Do, Công Bằng , Bác Ai. Kẻ thắng trận, hay kẻ tự cho mình là bên thắng trận, đã để lộ bộ mặt giả nhân giả nghĩa sau khi chiếm được thế thượng phong. Bức bình phong của họ là chủ nghĩa cộng sản đã không còn đánh lừa được ai. Và giờ đây, trên quê hương, nơi chúng ta phải bỏ ra đi vì, trên đất nước của mình, chúng ta không được quyền nặng lòng với quê hương, nơi ấy, vẫn còn tiếp tục những đày đọa, khổ ải, nghèo đói, bất công.</p>
<p>Thứ tư, những bài học xương máu của cuộc chiến vừa qua, cần được nghiền ngẫm, rút tỉa, hầu tránh cho dân tộc, và cả nhân loại, ở những thế hệ sau, không còn phải đau nỗi đau của cha ông.</p>
<p>Vì những lý do nêu trên, bên cạnh những công trình biên khảo đứng đắn, nghiêm cẩn, rất cần thiết phải có những tác phẩm văn học viết về cuộc chiến vừa qua, như truyện dài Qua Đồi Trinh Nữ của nhà văn Thảo Nguyên . Vì văn học, với khả năng  thẩm thấu lòng người trực tiếp , và tùy thuộc ở trình độ nghệ thuật, nhiều khi có ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều công trình biên khảo cộng lại. Đã đành, hiện nay có rất nhiều những Đặc San, Nội San của từng tập thể , từng binh chủng, quân trường, nơi đó,qua những hồi ký, tùy bút,  những bài viết về chiến tranh, tấm lòng người lính được dàn trải, những u ẩn được tỏ bầy, những trạng huống xác thực được kể lại, nhưng thiếu đi tầm mức khái quát cần thiết của một tác phẩm dài hơi, và quan trọng hơn hết, chỉ với tới được những đối tượng rất giới hạn  là anh em bạn bè mình trong cùng một môi trường sinh hoạt, giao lưu. Trong khi đó, công chúng rộng rãi, cả hôm nay và ngày mai, cả trong nước lẫn ngoài nước, đều xứng đáng được đáp ứng cho nỗi quan tâm của mình, xứng đáng được quyền biết đến những gì đã xảy ra trong cuộc chiến tranh 30 năm cốt nhục tương tàn, nhất là , với những người còn nặng trĩu một tấm lòng.</p>
<p>Giá trị nhân bản của một tác phẩm viết về chiến tranh như Qua Đồi Trinh Nữ nằm ở chỗ nó chuyển tải được nỗi đau của nhân vật, lính cũng như dân, sự khủng khiếp của chiến tranh,  đến người đọc. Người đọc Qua Đồi Trinh Nữ, khi gấp trang cuối cùng lại, không thể không ngậm ngùi tưởng tượng hình ảnh nhân vật chính quỳ xuống hôn từng ngôi mộ đắp sơ sài bên đồi trinh Nữ . Trong những ngôi mộ ấy là hình hài đẫm máu của người con gái rất mực yêu thương, là thi thể không toàn thây của những người lính thuộc quyền, thà chết, không chịu lùi bước trước bạo lực , không chịu bỏ rơi bạn đồng ngũ. Hình ảnh ấy, qua sự khắc họa của Thảo nguyên, đã trở thành Sử Thi và mang một giá trị vượt thời gian và không gian, vì qua đó, người ta sẽ làm hết sức để tránh cho những nỗi đau ấy, sự khủng khiếp ấy, tái diễn.</p>
<p>Chúng ta đã trải qua một cuộc chiến tranh, và hai cuộc lột xác đổi đời: một lần là lưu đày quê nhà và một lần là lưu vong quê người. Ngần ấy tuổi đời và thương đau, chúng ta hiểu hơn ai hết rằng, chúng ta có thể chôn cất hận thù, chúng ta có thể chôn cất quá khứ, như chúng ta đã chôn cất người chết,  nhưng chúng ta không thể chôn cất những nỗi đau. Đã bao nhiêu năm rồi, đâu phải mới hôm qua, đâu phải mới tháng trước, vậy mà, mỗi khi trái gió trở trời, mỗi khi nghe tiếng khóc quen thuộc, những nỗi đau từ dưới đáy mồ đã chôn cất từ lâu, lại thức dậy nhắc nhở , tra tấn, hành hạ, đay nghiến và than van. Người lính già chấp nhận nỗi đau ấy cho riêng mình. Ong sẽ mang theo nó xuống mồ một ngày không xa. Nhưng ông không muốn thế hệ con cháu ông phải đau nỗi đau của ông, và ông tin rằng, không quản ngại những nhọc nhằn cuối đời lưu lạc, một chút đóng góp nhỏ nhoi của mình, biết đâu, có thể góp phần cứu chuộc được cả một nhân loại đang bước dần đến ngày Phán  Xử Cuối  Cùng. Theo tôi, đấy là giá trị và chỗ đứng của Qua Đồi Trinh Nữ. Tác phẩm ,viết cho hương hồn những người đã nằm xuống, cảnh tỉnh người còn sống, để cho sự nằm xuống ấy, không trở thành vô nghĩa.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00276.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 0px 10px 10px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb71.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="184" align="right" /></a></p>
<p>Nhà văn Thảo Nguyên ( người đứng thứ nhất, bên tay phải ) trong buổi lễ ra mắt tác phẩm QĐTN tại thành phố San Jose , CA ngày 6 tháng 3 năm 2005.</p>
<p>Vấn đề cuối cùng đặt ra ở đây, khi người lính cầm bút viết về một thời cầm súng của mình, thì chiến tuyến, có làm giới hạn tầm nhìn của tác giả hay không ? Vấn đề quả thật là khá tế nhị. Bởi vì, ngay trong cách đặt vấn đề, đã hàm chứa phần nào tính một chiều của câu trả lời. Đã có rất nhiều những tác phẩm chiến tranh mang giới hạn ấy.Nhất là những tác phẩm gọi là văn chương tuyên truyền được viết bởi phần lớn các nhà văn miền Bắc. Mặt khác, viết về chiến tranh trên tư cách kẻ ngoài cuộc, kẻ đứng từ trên cao ở một chỗ thật an toàn nhìn xuống, thì cũng giống như người ngồi xem một cuốn phim chiến tranh được thực hiện bởi các đạo diễn tài ba của Holywood, với đầy đủ những xảo thuật của kỹ thuật hiện đại, rồi quay qua trang giấy trắng, viết như tường thuật lại cuốn phim mình vừa được coi. Rất bao quát, rất khách quan, nhưng vô hồn.</p>
<p>Với tầm vóc bi tráng có một không hai trong lịch sử của cuộc chiến ba mươi năm vừa qua, khi người trong cuộc viết về cuộc chiến mà mình tham dự, giá trị đích thực của tác phẩm nằm ở những điều mà nếu không phải là người trong cuộc, thì không một nhà văn nào có thể diễn đạt được thực tại ấy một cách chân thực nhất. Những thực tại ấy, đôi khi vượt lên trên mọi giới hạn của chiến tuyến, của tầm nhìn. Nói cách khác, phải sống cái chết của cuộc chiến, mới hiểu được hết cái chết của sự sống những ngày ấy. Phải đọc , với tấm lòng thật rộng mở, những chương cuối cùng của Qua Đồi Trinh Nữ, mới nhận chân được rằng, phải là người trong cuộc, phải là người lính cầm súng, phải là người biết căm thù cái ác, phải là người biết khóc, biết đau, mới viết được những trang sách như thế. Không một nhà văn nào, dù tài ba đến đâu, nếu không phải là người xông pha hòn tên mũi đạn, có thể diễn đạt được như Thảo Nguyên đã diễn đạt.</p>
<p>Mấy lúc gần đây, giới văn học hải ngoại và một số tác giả ngoại quốc, nhắc nhiều đến tác phẩm viết về chiến tranh của một nhà văn trong nước hiện nay. Đó là tác phẩm Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh. Cũng như Thảo Nguyên, Bảo Ninh là một người cầm súng, chỉ khác là ông ở trong lực lượng Quân đội Cộng Sản từ Bắc vào Nam. Nói cách khác, Bảo Ninh cũng là người trong cuộc, viết về cuộc chiến mà mình tham dự. Tôi không nói dài dòng về tác phẩm của Bảo Ninh, nhưng sự chấp nhận, tuy vẫn còn chưa rộng rãi, của một số tác giả hải ngoại cũng như ngoại quốc đối với tác phẩm của Bảo Ninh, chứng tỏ rằng, chiến tuyến, tầm nhìn, chưa hẳn đã giới hạn  giá trị nhân bản của một tác phẩm viết về chiến tranh bởi người đã từng trực tiếp tham dự cuộc chiến tranh ấy.</p>
<p><em>Chiến tranh là sự nguyền rủa của định mệnh con người, là những lỗ hổng oan nghiệt của lịch sử chỉ được lấp đầy bởi những xác người, kẻ xấu cũng như người tốt. Vì thế, không </em><em>một  người</em><em> có lương tri nào ưa thích chiến tranh, kể cả những người hăm hở bước vào cuộc chiến, cũng chỉ là để hoàn tất số phận nghiệt ngã của mình. Vì thế, với người lính trực tiếp trên chiến địa, không hề có một cuộc chiến tranh sai hay đúng, không hề có sự căm thù giữa người và người, dù là ở hai bên của một cuộc đối đầu. Có căm thù chăng, là sự căm thù điều ác, đã đẩy đưa cho hai người không hề biết mặt nhau quyết giết nhau để sinh tồn. Cái sai hay đúng của một cuộc chiến là cái sai và đúng của những người đã gây ra cuộc chiến, trực tiếp hay gián tiếp. Vì thế, đối với người lính, chiến tranh không phải là kết quả của việc thành bại luận anh hùng. Vì thế, khi viết về chiến tranh, người lính không bận tâm tô hồng chuốt lục cho một thực tại máu, nước mắt và nỗi đau, thể xác cũng như tâm hồn. Với tác phẩm Qua Đồi Trinh Nữ, người lính Thảo Nguyên </em><em>chỉ ,</em><em>- qua thân phận mình và đồng đội, còn sống hay đã chết, &#8211; gởi đến các thế hệ mai sau bức thông điệp của lòng nhân ái và về sự hy sinh cao quý của những người đã nằm xuống cho lý tưởng Tự Do, đồng thời, cảnh tỉnh rằng, sự hy sinh nào cũng cao quý, nhưng tốt nhất, đừng để sự hy sinh ấy phải xảy ra.</em></p>
<p>Có lẽ đó cũng là lời cầu nguyện hằng đêm của tất cả những con người còn tin tưởng có một Đấng Tối cao khuất mặt.</p>
<p>©T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/vaicamnghi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Gọi m&#227;i t&#234;n nhau</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/goimai/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/goimai/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 26 Nov 2006 01:47:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/g%e1%bb%8di-mi-tn-nhau/1025/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/goimai/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb66-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00271.jpg"></a>
• Áo xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu, gọi mãi tên nhau . . .
( Trịnh Công Sơn )
 
1.
 
Sáng nay, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ. Tôi định bụng sẽ ghé nhà quàn thành phố viếng linh cữu vợ một người bạn. Chị vừa mới mất vì cơn Stroke bất ngờ. Sau khi làm xong công việc vệ sinh cần thiết buổi sáng, nhìn đồng hồ, tôi thấy vẫn còn qúa sớm. Nhưng không khí trong lành của một ngày đầu thu, cùng với những ý nghĩ ngổn ngang về người chết, khiến tôi bước chân ra khỏi nhà. Tôi quyết định ghé qua một tiệm sách, nơi đó có một góc nhỏ bán cà phê, với ý nghĩ là tôi sẽ có dịp quan sát sự sống của buổi sáng – thời khắc bắt đầu cho một ngày bận rộn – trước[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00271.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb66.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="194" height="244" align="left" /></a></p>
<p><strong><em>• Áo xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu, gọi mãi tên nhau . . .</em></strong></p>
<p><strong><em>( Trịnh Công Sơn )</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Sáng nay, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ. Tôi định bụng sẽ ghé nhà quàn thành phố viếng linh cữu vợ một người bạn. Chị vừa mới mất vì cơn Stroke bất ngờ. Sau khi làm xong công việc vệ sinh cần thiết buổi sáng, nhìn đồng hồ, tôi thấy vẫn còn qúa sớm. Nhưng không khí trong lành của một ngày đầu thu, cùng với những ý nghĩ ngổn ngang về người chết, khiến tôi bước chân ra khỏi nhà. Tôi quyết định ghé qua một tiệm sách, nơi đó có một góc nhỏ bán cà phê, với ý nghĩ là tôi sẽ có dịp quan sát sự sống của buổi sáng – thời khắc bắt đầu cho một ngày bận rộn – trước khi nhìn thấy sự chết ở nhà quàn. Tôi cho rằng, để quan sát một sự vật, một sự việc – cách dễ nhất và đúng nhất là đặt các vật, các việc tương phản bên cạnh nhau. Thí dụ, đặt một người đàn ông cạnh một người đàn bà, để quan sát người này hoặc người kia. Tương tự như vậy, với sự sống và sự chết. Với tôi, một thư viện, một tiệm sách đúng nghĩa, đó là nơi tôi sẽ tìm đến để chiêm nghiệm về sự sống và cái chết. Bởi vì, khi đắm mình trong không khí đặc biệt của thư viện hoặc tiệm sách, tôi luôn cảm tưởng có một thế giới người chết quẩn quanh. Sáng nay,tôi chọn hiệu sách, vì ở đây, tôi có thể nhấm nháp chút cà phê ấm một buổi sáng đầu thu se se lạnh. Để biết chắc chắn rằng mình vẫn còn sống, vẫn còn tỉnh táo nếm được cái vị đắng hạnh phúc, vẫn còn sờ được cái ấm áp hạnh phúc, ngửi được cái mùi thơm hạnh phúc, dù chỉ là của cà phê. Để tự nhắc nhở mình hãy yêu thương lấy cuộc đời này. Để tự khuyên nhủ mình rằng, những khuôn mặt đồng loại đang hối hả bước vào một ngày sống kia đáng yêu biết bao, dẫu cho, đôi lúc họ có làm cho mình bực bội. Và cũng có thể, ngày mai, trong số ấy, có người lặng lẽ biến mất khỏi trần gian này, không ai biết không ai hay. Và biết đâu, một trong số người lặng lẽ biến mất ấy, có thể là chính mình.</p>
<p><strong>2. </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Tôi rời tiệm sách có quán cà phê với những chiêm nghiệm rất triết lý trong đầu để hướng về phía nhà quàn thành phố, một địa điểm yên tĩnh – dĩ nhiên – bao bọc chung quanh bằng những hàng cây lá đã bắt đầu úa vàng. Tôi tưởng tượng, khi đứng trước mặt người chết – một nửa trên của linh cửu luôn mở ra trong giờ viếng – những ý tưởng tôi quan sát, suy ngẫm sáng nay, sẽ được dịp đối chọi, cọ sát với hình ảnh cái chết hiện hữu , dù là trong không khí thật tinh khiết của nhà quàn nước Mỹ. Nhưng tôi đã bị bất ngờ. Đúng hơn, tôi cảm thấy bị hụt hẫng. Trong cái tịch mịch, tưởng chừng như có thể nghe thấy được cả âm thanh của sự im lặng, anh bạn tôi đứng đó. Một mình. Mắt đăm đăm nhìn vào thi thể người vợ đã bỏ anh ra đi mãi mãi. Anh như không nghe tiếng bước chân rất nhẹ của tôi. Cũng không có một cử chỉ gì chứng tỏ anh biết có người mới đi vào. Tôi nhìn hai khuôn mặt. Một của người chết nằm đó, được chải chuốt trang điểm lại trông rất đẹp. Lúc sinh thời, chị vốn là một người có nhan sắc. Mắt chị nhắm lại, thanh thản nhẹ nhàng , như người nằm ngủ. Còn khuôn mặt kia là của người đàn ông chồng chị. Nhợt nhạt, mệt mỏi, và đôi mắt trống rỗng vô hồn. Nhưng trong đó, tôi nhìn thấy cả một trời thống khổ. Một sự mất mát không gì có thể bù đắp được. Họ đã đi bên nhau hơn 40 năm trời, trải qua nhiều năm tháng vui buồn, sướng khổ. Họ đã có với nhau những mặt con. Đứa còn sống, đứa đã chết. Đứa đã trưởng thành, có mái gia đình riêng. Đứa nhỏ nhất cũng đã hơn 18 tuổi. Nay, một người ra đi, bỏ một người ở lại. Người ra đi đã yên phận người ra đi. Còn người ở lại ? Hiển nhiên nỗi đau mất mát là không thể đo lường được. Bấy nhiêu cũng đã đủ để đánh gục ông gìa trên 60 tuổi kia . Chưa kể đến cuộc sống của anh những ngày sắp tới. Tất cả là một sự đảo lộn. Hơn 40 năm chung sống vợ chồng, cũng có những lúc cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, nhưng anh đã quen có người bạn đời đi bên cạnh. Nhìn con người khốn khổ đang đứng thất thần, tôi tự hỏi, anh cần bao lâu để có thể điều chỉnh lại cuộc đời mình, một cuộc đời thiếu đi bóng dáng người vợ ? Anh bỗng ngước nhìn tôi. Qua cái nhìn, tôi biết rằng, những ý nghĩ của tôi về anh là đúng. Là bạn của nhau từ nhiều năm, chúng tôi ít khi cần đến sự trung gian của ngôn ngữ.</p>
<p>Mới vừa lúc nãy, trong góc quán cà phê của tiệm sách, lòng tôi đã tràn ngập cái hạnh phúc được sống, được tận hưởng ân sủng trần gian là cầm trên tay ly cà phê nóng trong một buổi sáng đầu thu se se lạnh, thì bây giờ đây, tôi lại có cảm tưởng cái chết là một sự giải thoát. Vì khuôn mặt người chết thanh thản qúa, nhẹ nhàng qúa. Mà người còn sống kia, là anh bạn tôi, đau đớn qúa, thống khổ qúa.Trong khoảnh khắc, những chiêm nghiệm triết lý của tôi về sự sống và sự chết bỗng trở nên mờ nhạt và vô nghĩa. Trước nỗi đau khổ của con người, mọi suy nghĩ thuần lý đều bất lực và hèn mọn.</p>
<p><strong>3. </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Tôi ôm vai anh bạn tôi, chúng tôi ngồi xuống, im lặng. Không lời lẽ nào cần thiết trong lúc này. Tôi nhớ đến câu chuyện do chính Trịnh Công Sơn kể lại về bài hát “ Hạ Trắng ‘ ông viết ra trong tình huống nào. Dạo đó, ông ở Huế và bị một cơn sốt nặng. Trong nhiều ngày, ông nằm sốt mê man không biết gì. Nhưng có lúc ông như ngửi thấy mùi dạ lý hương và lạc vào khu rừng hoa trắng. Tỉnh dậy, ông thấy bên cạnh mình có bó hoa dạ lý hương. Ông biết chủ nhân những bông hoa ấy là ai. Khi hết bệnh, nghe tin bố một người bạn hấp hối, ông đến thăm. Cụ không có bệnh gì ngoài nỗi nhớ thương người vợ vừa mới mất. Hai ông bà tuy già nhưng vẫn ngủ bên cạnh nhau trên sập gụ xưa. Một hôm, cụ bà xuống bếp nấu nước pha trà cho cụ ông, chẳng may bị gío, ngã chết. Mấy người con vội đưa mẹ về nhà mình để tẩm liệm, chôn cất và dấu cụ ông. Ông cụ thức dậy, hỏi mẹ đâu, các con trả lời bà cụ đang ở bên nhà một người con khác để chăm sóc hộ đưá cháu bị bệnh. Vài ngày sau, cụ hỏi các con có phải mẹ chết rồi phải không. Mọi người òa khóc. Từ đó, cụ không ăn uống gì cả để đợi ngày theo cụ bà về cõi vĩnh hằng. Câu chuyện ám ảnh TCS, và sau đó, kết hợp giấc mơ hoa trắng với mối tình già cảm động này, ông viết bài Hạ Trắng, trong đó có câu “ <em>…áo xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau . . .</em> “.</p>
<p>Tôi đưa tay lên sờ những món tóc bạc của anh. Dường như chỉ trong một đêm, mà tóc của anh đã bạc trắng. Anh ngước mặt nhìn tôi lần nữa, tỏ ý cám ơn. Không cần đến trung gian của ngôn ngữ, chúng tôi đã hiểu nhau. Trước khi đứng dậy ra về, tôi hỏi anh còn nhớ hai câu thơ nổi tiếng của vua Tự Đức khóc bà Bằng Phi <strong><em>Đập cổ kính ra tìm lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi (*) </em></strong>không<strong><em> , </em></strong>Anh gật đầu.</p>
<p>Ra tới cửa, tôi quay đầu ngó lại. Anh bạn tôi vẫn bất động như một pho tượng. Tôi nhẹ tay khép cánh cửa nặng nề của nhà quàn lại, để cho anh được một mình với chị. Trong đầu tôi văng vẳng tiếng hát Lệ Thu – người mà TCS nhận xét là hát bài Hạ Trắng hay hơn Khánh Ly – <em>aó xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau . . .</em></p>
<p>Hình như trời đang đổ những giọt mưa thu nhè nhẹ. Tôi thấy mặt kính lão của mình bị nhoà đi. Chẳng hiểu đó là do nước mưa hay nước mắt.</p>
<p><em>Nếu là nước mắt, thì hạnh phúc cho tôi biết bao !</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>© T.Vấn 2006</em></p>
<p>Chú thích : * Mới đây, tôi đọc được bài “ Văn đạo . . . Đạo văn “ của nhà phê bình văn học Đặng Tiến đăng trên Talawas ngày 22-11-2006 nói về tác giả của hai câu thơ tôi trích dẫn ( mà tôi cho là của vua Tự Đức ) ở đây, xin trích dẫn đọan ông nói về hai câu thơ này như sau :</p>
<p>“ . . .</p>
<p><em>Đập cổ kính ra tìm lấy bóng</em><br />
<em>Xếp tàn y lại để dành hơi</em></p>
<p>Đây không phải là thơ Tự Đức mà là thơ Nguyễn Gia Thiều. <em>Từ điển văn học</em>, nhà xuất bản Thế Giới, 2004, cũng ghi nhầm, tôi đã có bài góp ý, đăng ở nhiều báo, trong và ngoài nước, không nghe ai cải chính. Nay xin nhắc lại.<br />
Bài thơ nôm &#8220;Khóc Thị Bằng&#8221; không phải của Tự Đức. Ngô Tất Tố đã chứng minh điều này từ năm 1941, trong cuốn <em>Thi văn bình chú</em>, Lê Mạc Tây Sơn, in lại lần thứ ba, Sài Gòn, 1957, trang 91. Những tuyển tập, toàn tập Ngô Tất Tố xuất bản gần đây không nhắc gì đến cuốn <em>Thi văn bình chú</em> này. Ngoài ra, (dường như) Trần Danh Án (1754-1794) có dịch bài thơ nôm của Nguyễn Gia Thiều ra chữ Hán. Hai câu nói trên:</p>
<p><em>Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh</em><br />
<em>Tùng phong khâm thử hộ dư hương</em></p>
<p>Sở dĩ có sự gán ghép là vì (dường như) Tự Đức thường ưa sửa thơ thiên hạ, khi nhuận sắc có sửa hai chữ <strong><em>mảnh gương </em></strong>thành <strong><em>cổ kính </em></strong>và <strong><em>manh áo</em></strong> thành <strong><em>tàn y</em></strong>, rồi xếp vào hồ sơ của mình, nên Dương Quảng Hàm mới nhầm ra thơ Tự Đức và trong giáo trình văn học đã ghi là của Dực Tông, rồi người sau cứ truyền tụng như thế. Ngoài Ngô Tất Tố, các chuyên gia thơ cung đình triều Nguyễn, như Phan Văn Dật, Bửu Cầm, đều nói không phải của vua, vì trong thư khố, không tìm thấy vết tích gì bài thơ này, và tên họ một bà phi nào tương tợ. Hơn nữa giọng thơ trữ tình bay bướm, khó có thể là giọng Tự Đức. Sinh thời học giả Hoàng Xuân Hãn cũng nói vậy .</p>
<p>( Tôi dè dặt dùng chữ “ dường như “ vì không có văn liệu trong tay ) . . . “</p>
<p>Đặng Tiến</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/goimai/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>&#194;n t&#236;nh th&#225;ng mười một</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/antinhthang/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/antinhthang/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 23 Nov 2006 01:45:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/n-tnh-thng-m%c6%b0%e1%bb%9di-m%e1%bb%99t/1031/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/antinhthang/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb67-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>Mùa thu đang bay là là trước mặt. Những lớp sương mù đọng lại trên hàng cây trụi lá nhắc nhở rằng thời gian sắp sửa hết. Mùa thu cuộc đời và sương mù quá khứ. Năm ngóai, năm kia, năm nay. Rồi sẽ đến lúc chẳng còn năm nào nữa. Sẽ chỉ còn lời di chúc. Về một mùa thu năm nào. Về những ân tình của tháng Mười Một mỗi năm mỗi đuợc nhắc đến. Cho đến khi không còn sức mà nhắc nữa. Cho đến khi không còn chữ mà nhắc nữa.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00272.jpg"><br />
</a></p>
<p><strong>Viết thêm của tác giả :</strong></p>
<p>Tháng Mười Một của năm ngóai, năm kia, hay năm nay ? Tôi ngồi trước hiên nhà một buổi chiều ( của năm ngóai, năm kia hay năm nay ? ). Cũng vẫn không gian đó. Cũng vẫn thời gian đó. Chỉ có tôi là khác. Khác cả thể xác lẫn tâm hồn. Đọc lại bài viết cũ vẫn cảm thấy chút gì xao xuyến của những năm tháng ấy. Tháng Mười Một, trời lạnh, đất lạnh. Lòng người cũng lạnh. Lòng người trẻ hay lòng người già ? Tôi đang tự hỏi mình.</p>
<p>Khi viết những dòng chữ đó tôi chưa già như hôm nay. Phải chăng cái nguội lạnh trong lòng là không còn những háo hức của mỗi ngày thức dậy, thấy mình vẫn còn sống và khỏe mạnh, sẵn sàng cho những bất ngờ đang chờ đợi trước mặt ? Nếu quả thế thì lòng tôi lạnh thật. Lạnh hơn cả cái lúc tôi ngồi viết chữ Lạnh nhiều năm trước.</p>
<p>Văng vẳng trong đầu câu hát từ thời chiến tranh .<em>Trời vào thu, Việt Nam buồn lắm em ơi !</em></p>
<p>Trời vào thu ở đây cũng buồn lắm. Còn buồn hơn nữa vì mùa thu ở đây lạnh cả bên ngòai lẫn bên trong, lạnh từ trời đất lạnh đến lòng người. Cái lạnh da thịt còn có thể khóac trên vai tấm áo dầy cho đỡ lạnh. Cái lạnh trong lòng biết làm sao đây cho vơi nỗi cô đơn ?</p>
<p><em>Rượu cạn ly, uống say lòng còn gía !</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Mùa thu đang bay là là trước mặt. Những lớp sương mù đọng lại trên hàng cây trụi lá nhắc nhở rằng thời gian sắp sửa hết. Mùa thu cuộc đời và sương mù quá khứ. Năm ngóai, năm kia, năm nay. Rồi sẽ đến lúc chẳng còn năm nào nữa. Sẽ chỉ còn lời di chúc. Về một mùa thu năm nào. Về những ân tình của tháng Mười Một mỗi năm mỗi đuợc nhắc đến. Cho đến khi không còn sức mà nhắc nữa. Cho đến khi không còn chữ mà nhắc nữa.</p>
<p>Còn bây giờ. Cứ :</p>
<p><em>Đếm lá úa mùa thu. Đo sầu ngập tim tôi. </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong><em>T.Vấn</em></strong></p>
<p><strong><em>Tháng Mười Một năm Hai ngàn không trăm lẻ chín</em></strong></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00272.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb67.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="184" align="left" /></a></p>
<p><strong><em><br />
</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p>■Tháng Mười Một. Muốn ngồi trước hiên nhà vào buổi chiều để nhìn <em>Ngọn gió thu</em> <em>phong rụng lá vàng </em>( thơ Tản Đà ) phải khoác vào người thêm chiếc áo ấm. Đi đâu cũng phải phòng hờ thêm chiếc dù, vì trời có thể mưa bất chợt. Những trận mưa nhẹ, mang theo chút buốt giá, dấu hiệu của mùa Đông đang theo chu kỳ trời đất trở về. Vạn vật trở mình , cất giấu đi năng lượng dự trữ. Tâm hồn người cũng theo đó đằm thắm lại, dịu dàng lại, và bớt đi cái chộn rộn của mùa hè tràn đầy sức sống. Người trẻ thì dường như chững chạc hơn. Người già thì, hẳn nhiên, trở nên già hơn. Hôm qua, một cặp vợ chồng già gọi điện thoại đến chào tạm biệt. Hàng năm, cứ vào cuối tháng 10, đầu tháng 11, hai người bạn già này lại tạm dời về phương Nam, nơi có khí hậu tương đối ấm áp hơn. Họ có một trang trại ở vùng San Antonio , Texas. Qua Xuân, khoảng dịp Lễ Phục Sinh, họ lại quay về đây. Cặp vợ chồng đáng yêu này chính là hình ảnh có thật mà tôi đã thể hiện trong một bài viết về sự tuần hoàn vũ trụ, sự tương sinh tương khắc giữa con người, trời đất và vạn vật , cái hữu hạn của sự sống . . .</p>
<p><em>Lại giật mình soi bóng mình trong gương. Những món tóc bạc đã bắt đầu xuất hiện. Hai bên đuôi con mắt loáng thoáng những dấu chân chim. Một cảm tưởng mơ hồ rằng sinh lực của mình cũng đã hao mòn đi theo năm tháng. Vụt qua trong trí nhớ một hình ảnh buồn bắt gặp đâu đó.Hình ảnh về đôi vợ chồng gìa. Để kỷ niệm 50 năm ngày cưới, thay vì tổ chức tiệc tùng mời khách khứa đến tham dự, thì ông bà quyết định ngồi bên nhau ôn lại quãng đời chung từ những ngày họ còn lén cha lén mẹ hẹn hò.</em></p>
<p><em>Hình ảnh vợ chồng gìa – hai mái đầu bạc trắng – trong buổi chiều vàng lặng lẽ giữa khu vườn đầy hoa vàng lặng lẽ, rất lặng lẽ ngồi bên nhau ôn lại những năm tháng cũ, từ những ngày xanh cho đến những ngày vàng. Chợt một con gà trống từ đâu xao xác chạy đến nhảy lên lưng con gà mái. Rồi những âm thanh gù gù . .. </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Hình ảnh đậm nét ở đây là thời gian, không gian , vạn vật và con người cùng nắm tay nhau đi trên con đường ngập lá vàng , hướng về phía hun hút thăm thẳm của hư vô, như bằng lòng với lẽ hữu hạn của vũ trụ. Bởi lẽ, không còn lựa chọn nào khác.</p>
<p>Và thế là tháng Mười Một cứ trở về, mang theo thông điệp của mùa Đông . Cùng nỗi ngậm ngùi về sự quạnh hiu của tuổi già, tuổi gần đất xa trời, tuổi chỉ biết ngoái nhìn lại phía sau, rồi hối tiếc. Tháng Mười Một, trời lạnh, đất lạnh, lòng người lạnh. Không khí im và nhẹ, <em>đến độ nghe được tiếng lá rơi, và tiếng hồn khe khẽ thở dài.</em></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00426.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 0px 0px 10px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb25.jpg" border="0" alt="clip_image004" width="244" height="182" align="right" /></a></p>
<p>■Tháng Mười Một, thực ra còn mang theo thông điệp của những ngày lễ hội . Kể cả ngày Lễ Cựu Chiến Binh. Dịp để nhìn lại khuôn mặt những người lính già. Người đã chết cũng như kẻ vẫn còn sống. Cuộc chiến tranh Iraq đang dẫn nước Mỹ vào những cuộc tranh cãi không có lối ra cùng với sự thương vong ngày càng nhiều của quân đội Hoa Kỳ, khiến dịp lễ Cựu Chiến Binh năm nay càng như có vẻ lôi kéo sự chú ý của công chúng nhiều hơn. Với những người lính già của cuộc chiến tranh Việt Nam, thì tháng Mười Một và lễ Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ còn là dịp đọc lại những trang sử cũ, đọc lại những tác phẩm viết về chiến tranh. Có người ( lính cũ ) cũng đã cầm bút viết lại những trang sử thi rất thật về những ngày tháng ấy. Và nhờ vậy, ngày hôm nay trang sử những người lính già có thêm nhiều sự đóng góp cần thiết và quý báu. Đâu đó, có người nhận xét rằng, khi người lính cầm bút viết về cuộc chiến mà mình tham dự là chỉ viết có một nửa sự thực. Chiến tuyến làm tầm nhìn bị giới hạn bởi chỗ đứng của người viết – trong và sau cuộc chiến -. Nhận xét ấy không phải là không có sở cứ xác đáng, nhưng ở tầm vóc bi tráng có một không hai trong lịch sử của cuộc chiến ba mươi năm vừa qua, khi người trong cuộc viết về cuộc chiến mà mình tham dự, giá trị đích thực của tác phẩm nằm ở những điều mà nếu không phải là người trong cuộc, thì không một nhà văn nào có thể diễn đạt được thực tại ấy một cách chân thực nhất. Những thực tại ấy, đôi khi vượt lên trên mọi giới hạn của chiến tuyến, của tầm nhìn. Nói cách khác, phải sống cái chết của cuộc chiến, mới hiểu được hết cái chết của sự sống những ngày ấy. Ở một nghĩa nào đó, đó là lời cảnh tỉnh nhân loại về sự hủy diệt của chiến tranh. Những giá trị nhân bản trong một tác phẩm viết về chiến tranh phải có khả năng vượt lên trên thời gian và không gian, nếu không, nó chỉ là một sản phẩm tuyên truyền nhất thời.</p>
<p>■Tháng Mười Một. Còn có lễ Tạ Ơn. Dịp để nhìn lại chung quanh và chính mình. Mà biết ơn Ơn Trên vẫn ưu ái cho mình một chỗ tồn tại trên cuộc đời vốn quá đỗi mong manh . Biết ơn những người thân yêu vẫn độ lượng ban phát hào phóng lòng thương hàng ngày. Biết ơn cuộc đời và bạn hữu, vẫn còn nhìn mình khác hơn là sự hiện hữu của một sinh vật. Ngày thứ Bảy đầu tiên của tháng Mười Một tại căn nhà ấm cúng của một người bạn đã cho tôi cái cảm giác mình mang ơn quá nhiều cuộc đời này. Có những người bạn ở xa như từ Dallas, Oklahoma. Và dĩ nhiên, những người bạn ở gần, chung quanh thành phố Wichita xứ lạnh tình nồng của tôi. Một buổi tối họp mặt có thơ, có nhạc và . . . rượu và sự tận tụy của những người phụ nữ Việt nam , khiến tôi , trong một khoảnh khắc hiếm hoi, chợt nhận ra rằng, mình và các bạn hữu, đã rất may mắn sinh ra làm người Việt Nam để được lấy vợ Việt Nam. Những người nữ tuyệt vời của buổi tối tháng Mười Một se se lạnh, không chỉ là những người vợ tuyệt vời, mà còn là những người tình tuyệt vời. Không chỉ khéo léo trong việc nấu nướng, tận tụy trong phục vụ chồng và bạn của chồng, mà còn là những nghệ sĩ có khả năng kéo đất trời xuống thế hòa nhập với con người, tạo nên khoảnh khắc giao thoa hiếm hoi mà, dù không nói nửa lời, tôi và người bạn thân từ Dallas nhìn vào mắt nhau, thấy trong đó muôn vàn sự biết ơn cuộc đời. Tôi đã hơn một lần nhắc đến sự cần thiết của những khoảng nghỉ trong dòng sống liên lỉ một đời người. Những buổi họp mặt như thế này , đóng vai trò của những khoảng nghỉ cần thiết ấy. Thế nên, trong 6 tiếng đồng hồ ngắn ngủi , chúng tôi đã được nghe đọc những bài thơ hay, những bài nhạc mang sắc thái rất Vũ Thông, rất Lê Việt của hai người bạn nhạc sĩ Vũ Thông và Lê Việt. Những giọng hát,- dù áo cơm cuộc đời , dù nách nặng con thơ, dù xơ xác chồng già – vẫn không phai nhạt chút nào cái đam mê trót mang từ ngày biết thế nào là ma lực của âm thanh phù thủy. Và trên hết, là sự tham dự không kém phần nghệ sĩ của một cử tọa chọn lọc, hiểu biết . Không có một cử tọa như thế, sẽ không thể có nghệ thuật. Đó là một tương quan hai chiều vô cùng cần thiết cho những sinh hoạt văn học nghệ thuật . Cho nên, không chỉ người thưởng ngoạn biết ơn người đóng góp nghệ thuật, mà cả những nghệ sĩ cũng rất biết ơn người thưởng ngoạn.</p>
<p><em>Cuộc đời – vốn được coi như nhiều đoạn trường hơn hạnh phúc – không phải lúc nào cũng độc ác như những mụ phù thủy già nua xấu xí. Thấp thoáng đằng sau những giọt nước mắt, luôn có nhiều nụ cười. Chúng ta chỉ cần đưa vạt áo lên lau nước mắt, nụ cười sẽ tươi rói như chưa hề biết đến khổ đau. Thấp thoáng giữa những hận thù, ganh ghét, tị hiềm, nhỏ nhoi, ti tiện , dối trá có những điều tốt đẹp đến độ Thượng Đế cũng phải ganh tị. Và tự hào vì chính mình là Đấng tạo ra những con người đi rao giảng sự tốt đẹp ấy. Người nghệ sĩ – đúng nghĩa một người nghệ sĩ – thuộc về cái đa số đáng yêu ấy của cuộc nhân sinh. Họ đem đến cho chúng ta niềm tin tưởng rằng, giữa những lao xao chộn rộn của một đời đầy ắp những âu lo phiền muộn, vẫn có những khoảnh khắc nghỉ ngơi, để tâm hồn bụi bậm được thanh tẩy, để thể xác mệt mỏi được cấy thêm sinh lực, để cả hai lại hân hoan dìu nhau đi nốt đoạn đường đã được vạch sẵn bởi định mệnh làm người.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Thế nên, tháng Mười Một tôi xin được tạ ơn Ơn Trên, tạ ơn đời, tạ ơn bằng hữu, tạ ơn em đã cho tôi cái hạnh phúc được say sưa viết những dòng tạ ơn này.■</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/antinhthang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nỗi &#225;m ảnh của chiến tranh (2)</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/noiamanhcua/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/noiamanhcua/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 21 Nov 2006 00:35:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/n%e1%bb%97i-m-%e1%ba%a3nh-c%e1%bb%a7a-chi%e1%ba%bfn-tranh-2/1043/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/noiamanhcua/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb68-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00273.jpg"></a> 
 
 
1.
 
Cuộc chiến tranh Việt Nam quả thật đã để lại nhiều dấu ấn khó quên cho nước Mỹ. Trong số đó, không thể không nhắc đến bức hình đọat giải Pulitzer năm 1973 , và sau đó đọat nhiều giải thưởng quốc tế khác , của nhiếp ảnh gia người Việt nhưng làm việc cho hãng thông tấn Associated Press là Hùynh công Út , tức Nick Út. Bức hình chụp một em bé gái Việt Nam trần truồng ( và một số trẻ em khác ) vừa chạy vừa khóc trên Quốc Lộ 1 ( Trảng bàng –Tây Ninh). Các em bị bom Napalm làm cháy phỏng hết người. Ngay trên quốc lộ 1, em bé gái ấy cùng với các em khác đã được cứu chữa và đưa đi bịnh viện. Theo lời kể lại của các phóng viên ngọai quốc có mặt hôm[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00273.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 35px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb68.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="192" align="left" /></a><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Cuộc chiến tranh Việt Nam quả thật đã để lại nhiều dấu ấn khó quên cho nước Mỹ. Trong số đó, không thể không nhắc đến bức hình đọat giải Pulitzer năm 1973 , và sau đó đọat nhiều giải thưởng quốc tế khác , của nhiếp ảnh gia người Việt nhưng làm việc cho hãng thông tấn Associated Press là Hùynh công Út , tức Nick Út. Bức hình chụp một em bé gái Việt Nam trần truồng ( và một số trẻ em khác ) vừa chạy vừa khóc trên Quốc Lộ 1 ( Trảng bàng –Tây Ninh). Các em bị bom Napalm làm cháy phỏng hết người. Ngay trên quốc lộ 1, em bé gái ấy cùng với các em khác đã được cứu chữa và đưa đi bịnh viện. Theo lời kể lại của các phóng viên ngọai quốc có mặt hôm đó, chính Nick Út đã xử dụng xe công tác của mình ( do văn phòng AP tại Sài Gòn cấp) để cấp tốc đưa em bé gái ấy ( cùng với những em bị thương khác ) đến bệnh viện Củ Chi , Tây Ninh. Tại đây, các em đã được các bác sĩ và y tá bệnh viện hết sức cứu chữa. Riêng bé gái ( trung tâm điểm của bức hình trứ danh ) bị phỏng rất nặng, tưởng không qua khỏi, nhưng sau 14 tháng nằm bệnh viện cùng với 17 lần giải phẩu, em đã bình phục .</p>
<p>Em bé gái ấy tên là Phan thị Kim Phúc, năm nay 43 tuổi, hiện là một nhân vật được cả thế giới biết tới như một “ biểu tượng của sự tàn bạo của chiến tranh “.</p>
<p>Sau khi miền Nam hòan tòan sụp đổ vào tháng 4 năm 1975, Kim Phúc ( và bức hình trứ danh của nhiếp ảnh viên Nick Út ) đã bị nhà cầm quyền cộng sản xử dụng như một vũ khí nhằm lên án “ tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ và ngụy quân Sài Gòn “ .</p>
<p>Do chịu đựng không nổi những áp lực từ phía nhà cầm quyền mới, năm 1986, Kim Phúc tìm cách vận động để được đi du học ngành Dược ở Cu Ba. Tại đây, Kim Phúc gặp người chồng tương lai của mình là Bùi Huy Tuấn ( Tòan ?), một sinh viên du học từ Việt Nam. Năm 1992, hai người kết hôn và đi hưởng tuần trăng mật ở Moscow, Nga. Sau đó, trên đường trở về từ Moscow, lợi dụng khi máy bay phải đáp xuống Newfoundland, Canada để tiếp tế nhiên liệu, hai vợ chồng Kim Phúc đã xin tị nạn chính trị và được chấp thuận cho định cư ở Toronto, Canada.</p>
<p>Tháng 11, năm 1996, nhận lời mời của hội cựu chiến binh Hoa Kỳ, bà đến thủ đô Washington D.C. tham dự ngày lễ Cựu chiến binh Mỹ và đã được mời phát biểu trong buổi lễ. Sau đó, với sự giúp đỡ của một số cựu binh Mỹ, bà đã thành lập “ Kim Foundation “, một tổ chức từ thiện nhằm cứu giúp những trẻ em nạn nhân của chiến tranh trên tòan thế giới.</p>
<p>Tháng 11, năm 1997, Phan thị Kim Phúc được cử làm Đại sứ Thiện Chí ( Goodwill Ambassador) của tổ chức Văn Hóa Giáo Dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO).</p>
<p>Tháng 10 năm 2004, bà được trường đại học York ( York University ) ở Toronto, Canada trao bằng Tiến sĩ danh dự nhờ những họat động của Kim Foundation.</p>
<p>Mới đây nhất, tháng 9 năm 2006, cùng với 5 phụ nữ khác, bà được Hiệp Hội Phụ Nữ TrẻThiên Chúa Giáo ( YWCA) Mỹ tuyên dương nhờ những họat động xã hội nhằm nêu cao vai trò của người phụ nữ.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Vào thời điểm tháng 6 năm 1972, cuộc chiến tranh Việt Nam đang ở vào một trong những giai đọan khốc liệt nhất. Cuộc hòa đàm ở Paris , bắt đầu từ sau biến cố Mậu Thân năm 1968, đang trong lúc bị bế tắc. Ở Mỹ, cũng như trên thế giới, phong trào chống chiến tranh lên cao. Cuộc chiến tranh vừa tốn kém, về cả nhân mạng (Mỹ) lẫn tiền bạc, vừa kéo dài ở Việt Nam đã làm dư luận Mỹ chán ngán. Họ muốn chiến tranh chấm dứt bằng mọi giá, bất kể hậu quả một miền Nam bị thống trị bởi chủ nghĩa cộng sản.</p>
<p>Bức hình của nhiếp ảnh viên Nick Út , xuất hiện đúng lúc vào thời điểm này, đã gây một tác động sâu sắc đến cách nhìn của thế giới ( nhất là công luận Mỹ ) về cuộc chiến tranh Việt Nam. Hình ảnh một bé gái 9 tuổi, bị phỏng nặng vì bom Napalm, vừa chạy vừa khóc, vừa chìa tay như một cử chỉ xin được cứu giúp đã làm thế giới bàng hòang. Cùng với một số yếu tố tâm lý khác, nó đã góp phần định hình một cảm thức ghê tởm chiến tranh của quần chúng, đồng thời ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành những quyết định sau này đã đưa đến việc nước Mỹ hòan tòan rút chân ra khỏi Việt Nam.</p>
<p>Về phía nhà cầm quyền Bắc Việt, lúc ấy, họ không bỏ lỡ dịp xử dụng bức hình cho những mục đích tuyên truyền của mình, kể cả khi chiến tranh đã chấm dứt. Năm 1982, một ký giả Tây Đức đã tìm ra tông tích của cô bé gái trong bức hình trứ danh. Đó cũng là lúc Phan thị Kim Phúc đang bị khai thác triệt để bởi nhà cầm quyền cộng sản. Họ buộc bà phải xuất hiện trong những cuốn phim tuyên truyền , bị quản chế không cho tiếp xúc với những nhà báo phương Tây. Chính vì lẽ đó, mà Phan thị Kim Phúc đã tìm mọi cách để đi sinh sống ở nước ngòai. Mới đây nhất, báo chí trong nước đã đăng tải những tin tức liên quan đến họat động từ thiện của bà, nhưng họ lờ đi hòan tòan sự việc bà đang sống với tư cách tị nạn chính trị ở Canada và nguyên nhân khiến bà có sự lựa chọn đó.</p>
<p>Với thế giới phương Tây, bức hình ( và Phan thị Kim Phúc ) đóng vai trò một nhân chứng sống cho tất cả những gì tàn bạo, độc ác mà chiến tranh đã gây ra cho con người, đặc biệt là những trẻ em vô tội, những thường dân bị kẹt giữa hai lằn đạn. Nhờ biểu tượng đó, họat động từ thiện của Kim Foundation được sự yểm trợ mạnh mẽ về tài chánh của nhiều tổ chức và cá nhân trên thế giới. Cũng qua biểu tượng đó, cá nhân bà Phan thị Kim Phúc đã đón nhận được nhiều ưu đãi và trọng vọng từ phía những nhà họat động xã hội , cũng như dư luận phương Tây.</p>
<p><strong>3</strong>.</p>
<p>Đối với những cựu chiến binh Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam, thì bức hình ấy còn là một ám ảnh khó quên. Vì nó nhắc nhở họ đến một cuộc chiến gây quá nhiều tranh cãi , kẻ bênh người chống, và họ, người lính bị kẹt giữa trách vụ và ý kiến cá nhân . Mặt khác, các phương tiện truyền thông báo chí không bỏ lỡ một cơ hội nào, để qua bức hình và cá nhân bà Phan thị Kim Phúc, nhấn mạnh đến sự sa lầy của chính sách nước Mỹ những năm 1960s và đầu 1970s ở Việt Nam , mỗi khi họ có dịp chỉ trích chính sách đối ngọai của các chính phủ đương nhiệm. Đó là một thứ áp lực thật không công bằng , góp phần đẻ ra một thứ hội chứng gọi là “ hội chứng Việt Nam “ ở các cựu binh Hoa Kỳ.</p>
<p>Tháng 11 năm 1996, trong buổi lễ kỷ niệm nhân ngày Cựu chiến binh Hoa kỳ ở Washington D.C., bà Phan thị Kim Phúc đã trở thành một trong những chủ đề chính trong buổi lễ Kỷ Niệm ấy, với những lời phát biểu có tính cách tha thứ cho những lỗi lầm đã xảy ra trong chiến tranh (Việt Nam). Trong số cử tọa, có một vị mục sư, trước đây là quân nhân với cấp bực Đại Úy của quân đội Mỹ, đã từng tham chiến ở Việt Nam. Vị mục sư này bước ra nhận chính mình là người đã ra lệnh cho phi cơ ném bom Napalm xuống một ngôi làng ở Trảng bàng trong trận đánh làm cháy phỏng Kim Phúc và những thiệt hại khác của mùa hè đỏ lửa năm ấy.</p>
<p>Nhiều tài liệu sau này được bạch hóa, cho thấy, vị cựu Đại Úy tên John Plummer này không có liên quan gì đến cuộc ném bom vì không có trách vụ, không có thẩm quyền để làm việc đó, mặc dù ông tin rằng, với tư cách sĩ quan phối hợp hành quân với các lực lượng quân đội ở quân đòan 3 , dù không trực tiếp thì ông cũng đã gián tiếp trách nhiệm cuộc ném bom một ngày tháng 6 năm 1972 ở Trảng Bàng.</p>
<p>Tất nhiên, nhiều cựu binh Mỹ không đồng ý với quan điểm của mục sư cựu đại úy John Plummer. Họ nói đến sức ép vô hình của tâm lý chống chiến tranh và thái độ hầu như vô trách nhiệm của các chính trị gia trong những mùa tranh cử. Những phát biểu mị dân, kiếm phiếu của họ phần nào tạo nên mặc cảm phạm tội nơi những cựu binh đã từng tham chiến ở Việt Nam.</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>“ Cảm giác nhẹ nhõm “, sau khi xưng tội, khiến cho người bị ám ảnh bởi những bóng ma chiến tranh ( Việt Nam ) có nhu cầu nhận vơ vào mình những điều mà họ chưa từng làm, hay cho rằng , nếu ở trong tình huống đó, họ sẽ bị bắt buộc phải làm như vậy. Trong trường hợp này, bức thông điệp về Tha Thứ của nạn nhân chiến tranh và mặc cảm tội lỗi của người tự cho mình là thủ phạm, là một khí cụ thật hữu hiệu để những người Mỹ phản chiến ( trong chiến cuộc Việt Nam ) xua đuổi nốt chút mặc cảm tội lỗi riêng của mình ( sau khi nhìn thấy một miền Nam quằn quại vì thù hằn, vì tù đày, vì độc tài, áp bức dưới chính quyền cộng sản , mà chính họ, những người phản chiến, đã vô tình tiếp tay để dẫn đến kết qủa bi thảm như thế ).</p>
<p>Tha thứ và được tha thứ. Mới nghe qua, tưởng như sự việc đã được giải quyết. Bởi vì không có ai đòi nợ ai và không có ai phải chịu sự bất an trong tâm hồn mình mãi mãi. Nhưng, mặt khác, sự tha thứ và nhận lỗi ấy lại làm nặng thêm nỗi bất công cho những người lính chỉ đơn giản làm nhiệm vụ đất nước giao phó. Đã đành là bất nhân như lính, nhưng như danh tướng Patton đã nói, người lính phục vụ hữu hiệu cho tổ quốc mình bằng cách bắt phe đối phương phải chết cho tổ quốc của họ. Do đó, sự tha thứ và nhận lỗi ấy, vô tình, làm u uẩn thêm cái hồi ức buồn thiu của những người còn sống, đã vượt thóat được địa ngục Việt Nam. Đối với người chết, sẽ chẳng có gì đáng nói. Còn người sống, những cựu chíến binh Mỹ của cuộc chiến tranh Việt nam, những tha thứ và nhận lỗi ấy chỉ như một nhắc nhở rằng, bất kể họ chiến đấu anh dũng như thế nào để phục vụ tổ quốc ( Mỹ) , họ sẽ sống cho đến ngày nhắm mắt với mặc cảm của kẻ có tội.</p>
<p>10 năm sau ngày Tha thứ và nhận lỗi với Phan thị Kim Phúc, chẳng dư luận Mỹ nào luận tội Cộng sản Bắc Việt, kể cả Kim Phúc, người bị họ dùng như một lợi khí tuyên truyền , và sau cùng, chịu đựng không nổi, bà phải xin tị nạn ở phương Tây.</p>
<p>Xét cho cùng, nếu cộng sản Bắc Việt không dùng những người dân vô tội ở Trảng Bàng ( trong đó có anh em nhà bà Kim Phúc ) làm bia đỡ đạn thì chắc hẳn chẳng bao giờ có một Phan thị Kim Phúc như ngày nay.■</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/noiamanhcua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>C&#244; đơn</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/codon/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/codon/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 17 Nov 2006 00:39:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/c-d%c6%a1n/1035/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/codon/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb37-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00139.jpg"></a>
■Mười năm biệt xứ hề trôi nổi
Chiếc lá xa cành hề biệt tăm
Bao giờ ta sẽ quay về cội
Gom bụi thời gian lót chỗ nằm
(Trần Trung Hậu)
 
1.
 
Trời tháng mười một đã không còn những ngày nóng chảy mỡ. Đêm ngủ phải đắp tấm chăn ngang bụng. Buổi sáng thức dậy ra ngắt những chiếc lá sâu trong vườn hoa trước nhà tôi đã phải khoác thêm chiếc áo mỏng bên ngoài. Mùa Thu đang lừng lững bước vào đầu ngõ. Độ này năm ngoái, lá đã bắt đầu chuyển màu. Năm nay, những bụi hồng mini của vườn nhà tôi vẫn còn tiếp tục ra nụ. Vợ chồng anh bạn Đặng có rủ gia đình tôi đi Colorado ngắm lá vàng mùa Thu ở những thắng cảnh nổi tiếng bên xứ ấy. Thích lắm, nhưng tôi buộc lòng từ chối. Các con[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00139.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb37.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="184" align="left" /></a></p>
<p>■<em>Mười năm biệt xứ hề trôi nổi</em></p>
<p><em>Chiếc lá xa cành hề biệt tăm</em></p>
<p><em>Bao giờ ta sẽ quay về cội</em></p>
<p><em>Gom bụi thời gian lót chỗ nằm</em></p>
<p><em>(Trần Trung Hậu)</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Trời tháng mười một đã không còn những ngày nóng chảy mỡ. Đêm ngủ phải đắp tấm chăn ngang bụng. Buổi sáng thức dậy ra ngắt những chiếc lá sâu trong vườn hoa trước nhà tôi đã phải khoác thêm chiếc áo mỏng bên ngoài. Mùa Thu đang lừng lững bước vào đầu ngõ. Độ này năm ngoái, lá đã bắt đầu chuyển màu. Năm nay, những bụi hồng mini của vườn nhà tôi vẫn còn tiếp tục ra nụ. Vợ chồng anh bạn Đặng có rủ gia đình tôi đi Colorado ngắm lá vàng mùa Thu ở những thắng cảnh nổi tiếng bên xứ ấy. Thích lắm, nhưng tôi buộc lòng từ chối. Các con tôi đã đi học trở lại. Tôi không muốn chúng bị mất giờ học vì những chiếc lá vàng mùa Thu trong khi tuổi của chúng mùa Xuân vẫn còn ở phía trước.</p>
<p>Thời tiết xứ người có đủ bốn mùa xuân hạ thu đông. Cùng với thời tiết luân chuyển, vạn vật luân chuyển, lòng người luân chuyển. Có nóng có lạnh, có nhọc nhằn âu lo, có buồn vui giận ghét. Trên dòng chảy thời gian, là những ghềnh thác của đời người liên lỉ chảy qua mọi ngõ ngách không một phút dừng, dù chỉ là để ngoảnh nhìn ngày hôm qua đã qua đi như những ngày tháng đã qua đi . Như những mùa hè đã qua đi và những mùa thu tiếp nối.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><em>Mùa Thu</em> . Những hàng cây trút lá chờ Đông. Những con đường ngập lá vàng và những âm thanh xào xạc . <em>Em không nghe mùa Thu. Lá Thu rơi xào xạc. Con nai vàng ngơ ngác. Đạp trên lá vàng khô.</em></p>
<p>Mùa Thu rất cổ điển của Lưu trọng Lư và màu vàng những ngọn lá khô làm gợi tưởng đến cảm thức cô đơn của con người giữa sự chuyển mình lặng lẽ và cam chịu của Đất trời. Mùa Thu – những chiếc lá vàng lơ lửng giữa thinh không, như muốn níu kéo khoảnh khắc ngắn ngủi của một đời lá để rồi vĩnh viễn nằm dưới những gót chân nai ngơ ngác, những gót chân người cô đơn.</p>
<p><em>Cô đơn</em> – cảm thức vong thân của những người trẻ tuổi đang hăm hở trên đường đi tìm một nửa kia của đời mình để hoàn tất trọn vẹn sứ mệnh của con người.</p>
<p><em>Cô Đơn</em> – cũng đồng thời là cảm thức vừa đau đớn vừa hạnh phúc của những người mà tuổi hoa niên đã nằm vĩnh viễn trong quá khứ. Cái cảm thức vừa tìm lại được chính mình. Cái cảm thức về một Bản Ngã không còn nguyên vẹn vì những vết xước của bao mùa Thu cuộc đời. Những vết xước, có vết đã thành sẹo nhăn nheo, có vết vừa kéo da non, có vết vẫn còn hành hạ đau đớn mỗi khi trời đất giao mùa.</p>
<p>Từ đó , tôi nghiệm ra một điều. Khởi từ Cô-Đơn-cảm-thức-vong-thân thời chúng ta tóc còn xanh, mắt còn sáng, môi còn tươi cho đến khi chúng ta tìm lại được chính mình là con đường đời của mỗi người, là tiến trình hành hương tìm về nơi an nghỉ cuối cùng của đứa trẻ được nuôi lớn lên thành người già – <em>chẳng phải trong mỗi người già đều có một đứa trẻ được nuôi lớn lên đó sao? Tôi được nhắc nhở điều này nhờ đọc tập truyện của một tác giả tuổi vừa xấp</em> <em>xỉ 30,</em> – Lúc này đây, lúc mùa thu cuộc đời – và cũng là mùa Thu của Đất Trời – lại vẫn là cảm thức cô đơn. Nhưng là Cô Đơn của tổng số những hợp tan tan hợp, những gặp gỡ những chia ly, những yêu thương những mất mát . . . Khép lại những hẹn hò một kiếp nhân sinh lại cũng là Cô-đơn .</p>
<p><em>Con người – kết tinh của Trời và Đất . Buổi mai là nắng. Buổi chiều là sương. Thế nên, tuổi già giọt lệ lóng lánh như sương.</em></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Hôm rồi, một người bạn nhạc sĩ tuổi không còn trẻ nữa gởi đến tôi tập nhạc, do anh tự tay làm lấy mọi việc từ kẻ nhạc, trình bày đến in ấn , ngoại trừ hai bức vẽ bìa trước và bìa sau là của một người bạn cảm tác từ những bài nhạc anh viết. Dù đã biết trước công việc của bạn mình, nhưng khi cầm tập nhạc trên tay, tôi vẫn cứ bùi ngùi. Hơn 20 năm thai nghén, ấp ủ, để cuối cùng anh tự mình đỡ đẻ lấy , cho ra đời được đứa con tinh thần, cũng chỉ để – như trong bài hát kết thúc tập nhạc – nhìn thấy chính mình , ngồi ôm đàn hát lẻ loi – <em>ta cất tiếng ca, giọng ca già như cổ thụ ( Cô Đơn – Trần Lê Việt )</em> – giữa lặng lẽ của chiều thu ơn ớn lạnh và cơn rùng mình của quạnh hiu.</p>
<p><em>Bóng ta, dài theo bóng nắng</em></p>
<p><em>Và chỉ,</em></p>
<p><em>Một bóng ta thôi</em></p>
<p><em>( Cô Đơn – Trần Lê Việt )</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Đất trời bao la, mà người nhạc sĩ già, với cây đàn – <em>ôi những người khóc( hát) lẻ loi một mình ( Thanh Tâm Tuyền ) – </em>chỉ nhìn thấy bóng mình , và hồi ức về những vết xước cuộc đời .</p>
<p>Tưởng tượng một bóng người cô đơn , giữa chiều vàng ngập lá khô, mắt đăm đắm nhìn về phía chân trời xa, như cố tìm trong đó bóng những ngày tháng cũ đã qua đi, trong đó, có tuổi trẻ ( của một thời ảo vọng ), có người tình ( của một thời say đắm ), có bạn bè ( của một thời hào sảng ), có những ly rượu rộn rã . . . thủy tinh reo . . . . , để thấy mình, <em>cầm đàn tay hờ hững rơi,</em> để thấy ly, <em>ly cũng thấy buồn</em>, thèm nghe tiếng thủy tinh reo, để thấy ngoài sân, <em>con chó già chợt thức, buông tiếng ngáp dài trả lời ta ( Cô đơn – Trần Lê Việt ). </em></p>
<p>Bi kịch của con người là đây. Luôn luôn ngoái nhìn lại sau lưng để mà nuối tiếc.</p>
<p><em>Those are good old days.</em> Câu nói của người bạn già bản xứ hôm buổi tiệc chia tay anh về hưu dưỡng già. Anh ám chỉ những ngày anh còn trẻ, còn khỏe mạnh, còn ngày ngày đến sở làm chăm chỉ, còn biết bao những bận bịu lo toan. Bây giờ thì đã xong cái khoảng đời ấy.Nhìn lại, cảm khái mà thốt lên, <em>those are good old days</em> , với đôi mắt đỏ hoe và cái nắm tay run run. Tôi chưa đủ già lắm để có thể cảm được như anh bạn bản xứ này, nhưng , vẫn thấy được viễn tượng một ngày tôi ngậm ngùi : <em>Thế là đã hết rồi những ngày tươi đẹp ấy !</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Nhưng , có phải vì chúng ta – những người không còn trẻ – cứ ngoái nhìn lại ngày hôm qua, nên không tận hưởng hết được ngày hôm nay ? Hệt như những năm tháng tuổi trẻ, chúng ta cứ kiễng chân nhìn về phía trước . . . </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Cuối cùng, hình như chúng ta chưa bao giờ sống trọn vẹn cho chính cuộc đời mình. Người bản xứ có câu : Easier said than done. Nói thì dễ lắm, nhưng có làm được như vậy không ? tôi đang tự hỏi chính tôi câu hỏi ấy !</em></p>
<p>Chúng tôi &#8211; những người bạn của nhau từ mấy chục năm – trong một chiều chớm thu của thành phố nhiều đồi núi và sương mù Oklahoma , đã được dịp quây quần nhau lại, bên ly rượu ngập “ <em>tiếng thủy tinh reo</em> “, bên người bạn nhạc sĩ “ <em>cầm đàn tay hờ hững rơi</em> “ , nghe anh cất “ <em>tiếng ca già như cổ thụ “</em> mà réo gọi “ <em>bạn bè ơi, sao sớm bỏ ta đi</em> “ . . .</p>
<p>Trong cái chập choạng của hoàng hôn, cái gây gây của ngọn gió thu vừa chớm, âm thanh khàn đục của cây đàn cũ và giọng ca già nua của người nghệ sĩ, dường như, chúng tôi không ai còn đủ sức đứng dậy, dù chỉ là để bước vào cõi cô đơn của riêng mình.</p>
<p>Đêm nay, sẽ lại là một đêm thức trắng, để sáng mai nhìn vuông nắng trước sân mà sợ hãi không dám soi tóc mình trong gương.</p>
<p><em>Ta tìm một mái am tịnh ẩn</em></p>
<p><em>Gối đầu cho ấm chút tro than</em></p>
<p><em>(Ngọc Phi )</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Cũng dạo này , năm ngoái khi chia tay ở Oklahoma, tôi và mấy người bạn hào hứng hẹn nhau sẽ có nhiều những buổi họp mặt có thơ có nhạc ( và rượu, tất nhiên!), để thi vị hóa cuộc sống, hay nói đúng hơn, để tạm gác bỏ những gai góc của cuộc sống qua một bên, dù chỉ trong một buổi chiều, một buổi tối. Thực tế đã cho thấy không dễ dàng gì. Và chúng tôi cứ hẹn lần hẹn lữa.</p>
<p>Ôi cuộc sống hàng ngày. Có những điều tưởng chừng như ở trong tầm với. Chỉ cần đưa tay ra, rướn người lên một chút. Nhưng để thực hiện động tác cuối cùng ấy, <em>đưa tay ra, rướn người lên một chút</em>, sao mà khó khăn quá. Có khi phải chờ đến gần hết một cuộc đời. Có khi cuộc đời đã đặt dấu chấm hết rồi, mà động tác cuối cùng ấy đành phải gởi đến thế hệ tương lai làm cánh tay nối dài. Bởi lẽ, thời gian vốn vô tình . Vô tình như những chiếc lá mùa Thu lặng lẽ ngoài kia. Để, một buổi sáng, soi bóng mình trong gương, không thấy ai ngoài một khuôn mặt xa lạ, già nua, nhầu nát, khật khùng.</p>
<p><strong>5.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Nhờ vậy, tôi mới hiểu tại sao những đêm dài thức trắng đã thành tật,như sợ giấc ngủ lấy đi của mình những khoảnh khắc ngắn ngủi quý báu của đêm khuya tịch mịch. Để rồi, sáng hôm sau, phờ phạc vì thiếu ngủ, ườn người trên giường, trễ tràng xộc xệch. Đầu óc mụ mị quên trước quên sau những việc phải làm trong ngày.</p>
<p>. . . <em>ngày mai, mùa Thu vẫn chưa đủ muộn màng để làm rụng đầy lá vàng trước sân nhà, nên tôi vẫn chưa phải dậy sớm, khoác áo ấm vào người mà đi gom hết những chiếc lá vàng thành đống, bỏ vào bao, cuối tuần, sở rác cho xe đến lấy đem đi một nơi nào đó cho khuất mắt. Thế nên, đêm nay, tôi vẫn còn được thức đêm dài đã thành tật của tôi mà gom lại những mảnh vụn của tâm tư mình, chắp chắp vá vá. Chỉ không thể bỏ chúng vào bao, chờ sáng đem ra ngoài để cạnh thùng rác, cho sở rác cuối tuần đến đem đi. Thế nên, những mảnh vụn tâm tư của tôi vẫn còn đó, để đêm đêm tôi gom lại, chắp chắp vá vá, bẹo dạng bẹo hình.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Để mai đây, khi tôi nằm xuống, các bạn tôi sẽ có được chút gì để lại trần gian của tôi mà đem ra <em>cái quan định luận</em>, trong những lần có được cái khoảng nghỉ hiếm hoi của dòng chảy cuộc đời.</p>
<p><em>Thế cũng đã mãn nguyện lắm rồi</em>!▄</p>
<p>© T. Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/codon/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nỗi &#225;m ảnh của chiến tranh</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/noiamanh/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/noiamanh/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Nov 2006 05:54:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/n%e1%bb%97i-m-%e1%ba%a3nh-c%e1%bb%a7a-chi%e1%ba%bfn-tranh/1004/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/noiamanh/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb64-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00268.jpg"></a>
 
1.
Người bạn gìa làm việc cùng phòng, hôm nay vừa thấy mặt tôi đã nói như khóc về việc con bà có lệnh đi đóng quân ở Iraq trong khi anh ta mới có đứa con đầu lòng được mấy hôm. Bà cho rằng chính quyền nước nào, ở thời nào cũng rất độc ác. Rồi như sực nhớ rằng tôi cũng đã từng “ dính líu “ đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam mấy chục năm trước, bà kể cho tôi câu chuyện về người chồng quá cố  của bà mà quên rằng đã hơn một lần tôi được nghe câu chuyện này cũng từ miệng bà. Người chồng cũ của bà , năm 1969 , là sĩ quan chỉ huy một đơn vị Lục quân Hoa Kỳ. Đầu năm ấy, bà vừa hạ sinh đứa con duy nhất của hai người thì ông được[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00268.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 25px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb64.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="199" height="244" align="left" /></a></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>1</strong>.</p>
<p>Người bạn gìa làm việc cùng phòng, hôm nay vừa thấy mặt tôi đã nói như khóc về việc con bà có lệnh đi đóng quân ở Iraq trong khi anh ta mới có đứa con đầu lòng được mấy hôm. Bà cho rằng chính quyền nước nào, ở thời nào cũng rất độc ác. Rồi như sực nhớ rằng tôi cũng đã từng “ dính líu “ đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam mấy chục năm trước, bà kể cho tôi câu chuyện về người chồng quá cố  của bà mà quên rằng đã hơn một lần tôi được nghe câu chuyện này cũng từ miệng bà. Người chồng cũ của bà , năm 1969 , là sĩ quan chỉ huy một đơn vị Lục quân Hoa Kỳ. Đầu năm ấy, bà vừa hạ sinh đứa con duy nhất của hai người thì ông được lệnh lên đường đi phục vụ ở Việt Nam. Vài tháng sau, ông tử trận ở một địa danh mà bà không thể nào đánh vần được, càng không thể phát âm tương đối “giông giống” để ít nhất người khác ( tôi) có thể đóan được đó là nơi nào trên mảnh đất ( tuy quen thuộc với tôi ) nhưng lại vô cùng xa lạ với một người Mỹ trẻ,  là bà . Dù mỗi buổi chiều bà ngồi trước màn ảnh truyền hình, nghe những tin tức chiến sự mới nhất trên mảnh đất ấy và cố hình dung ra những gian truân, nguy hiểm mà chồng bà đang trải qua. Ngày bế con tiễn chồng lên đường, bà đã vừa nén nỗi buồn, vừa nén cơn giận dữ  hỏi chồng : <em>Tại sao nước Mỹ phải tham chiến ở Việt Nam ?</em> Ông không trả lời trực tiếp vào câu hỏi, chỉ nói rằng là một người lính , ông phải làm nhiệm vụ một người lính. Ông không có lựa chọn nào khác.</p>
<p>Ngày được tin chồng chết, bà khóc như bất cứ người vợ trẻ nào được tin chồng chết trận. Sau đó, bà tham gia tích cực vào đội ngũ những người phản chiến trên tòan nước Mỹ.</p>
<p>Vừa đưa cho người bạn gìa hộp khăn giấy trên bàn, tôi vừa hỏi bây giờ thì bà có tham gia vào phong trào phản chiến do một phụ nữ có con trai chết trận ở Iraq cầm đầu không , với sự việc lịch sử đã lập lại ( ít nhất là một nửa, tôi ám chỉ việc con trai bà nhận lệnh đi Iraq khi vợ mới sinh con đầu lòng mấy ngày ) một lần nữa trong gia đình bà ? Bà do dự trả lời rằng mình đã quá gìa cho những chuyện như vậy. Tuy nhiên, bà cũng cầu mong chính phủ Mỹ có quyết định rút quân ra khỏi Iraq để ít nhất con trai bà chóng trở về nhà.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Không riêng gì cá nhân người bạn Mỹ gìa của tôi, cả công luận Mỹ và thế giới , mỗi khi nhắc đến cuộc chiến tranh Iraq hiện nay , lại đem cuộc chiến tranh Việt Nam ra so sánh, đối chiếu, thậm chí tiên đóan luôn cái cách cuộc chiến ở Iraq sẽ kết thúc, theo đó, người Mỹ sẽ tuyên bố chiến thắng ở Iraq, rằng chính quyền dân cử Iraq đã đủ vững mạnh để cai quản đất nước, và rút tòan bộ quân đội Mỹ ra khỏi lãnh thổ Iraq. Kết quả , trong thực tế ( theo những giả thuyết nêu trên), đất nước Iraq sẽ lâm vào một cuộc nội chiến tồi tệ nhất trong lịch sử, mà hiện nay đã khởi đầu, với số thương vong cả thường dân lẫn binh lính các phe lên đến hàng trăm người mỗi ngày.</p>
<p>Và như thế, lại một lần nữa lịch sử được lập lại. Lần này, kẻ nhận mình chiến thắng là những tổ chức khủng bố cực đoan Hồi Giáo.</p>
<p>Và hẳn lịch sử Iraq sau khi người Mỹ rút đi sẽ lại có nhiều chương rất cay đắng, rất thất vọng không thua gì những chương sử của cuộc chiến tranh Việt nam .</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Trong chiến tranh, hai bên đối địch đều có lý tưởng của riêng mình. Thông thường, những người tham dự cuộc đối đầu ý thức được lý tưởng ( hay mục tiêu ) của mình, và sẵn sàng hy sinh cho lý tưởng ấy. Thí dụ như quân đội hai miền Nam Bắc trong cuộc chiến Việt Nam. Mỗi bên đều tin vào chính nghĩa  của mình, dè bỉu cái gọi là chính nghĩa của phe bên kia. Đúng hay Sai, của mỗi bên, trong lúc còn mịt mùng khói súng, khó có ai nhìn thấy và phân giải cho hợp lý, hợp tình. Nhiều khi, chiến tranh chấm dứt đã lâu, cuộc tranh cãi bên nào có chính nghĩa vẫn cứ kéo dài, dù những người lính trực tiếp tham dự đã chết hết từ lâu.</p>
<p>Nhưng vấn đề lý tưởng và chính nghĩa lại càng khó lý gỉai hơn  với những người lính thuộc lực lượng thứ ba đến  chiến đấu bên cạnh một bên để chống lại bên kia. Đó là hòan cảnh của những người lính Mỹ có mặt ở Việt Nam  gần 40 năm trước và ở Iraq hiện nay.</p>
<p>Để trả lời câu hỏi : Tại sao người Mỹ tham dự vào chiến tranh Việt nam, trên cương vị người lính, ông chồng quá cố của người bạn tôi đã chỉ viện dẫn vào trách nhiệm của người lính là tuân theo lệnh của vị chỉ huy. Và câu hỏi đặt ra từ hơn 40 năm trước, cũng như câu hỏi hiện nay : tại sao người Mỹ tham chiến ở Iraq, lại một lần nữa được đặt nằm song song với nhau, như thể , nếu người ta tìm được câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này, cũng có nghĩa là sẽ có câu trả lời không kém phần thỏa đáng cho câu hỏi kia.</p>
<p>Hôm Lễ Lao Động (Labor Day) vừa qua, nhân một dịp họp mặt ở Houston (TX), tôi gặp lại người bạn cùng phục vụ chung một đơn vị hồi trước 75. Trong câu chuyện về những ngày tháng ấy, anh có đưa cho tôi xem một bài báo cắt ở Nhật báo USA Today phát hành ngày 23 tháng 8 năm 2006 , tác gỉa là nhà văn Mỹ Michael Peck hiện đang nghiên cứu về lịch sử Vệ Binh Quốc Gia Mỹ ở Iraq.</p>
<p>Trong bài báo ấy, Michael Peck cho rằng, ông mang ơn cuộc chiến tranh hiện nay ở Iraq, vì nó giúp ông tìm ra được cách lý giải cho câu hỏi đã ám ảnh ông ngay từ khi còn nhỏ : Tại sao người Mỹ tham chiến ở Việt Nam ? Michael sinh năm 1963. tất cả những hồi ức ông còn nhớ được về chiến tranh Việt Nam là những buổi chiều xem tin tức thời sự trên đài truyền hình CBS với người phụ trách chương trình là Walter Cronkite, nghe ông này đếm số  lính Mỹ tử trận ở Việt Nam trong ngày cùng với những địa danh hòan tòan xa lạ với mình. Năm lên 10 tuổi, Michael nhìn thấy Hà nội bị ném bom trên màn ảnh truyền hình. Năm 12 tuổi, ông chứng kiến ( cũng trên màn ảnh truyền hình ) những chiếc trực thăng vội vã cất cánh từ trên nóc Tòa Sứ Qúan Mỹ ở Sài Gòn. Với Michael, thế hệ của ông còn quá nhỏ khi chiến tranh Việt Nam xảy ra, nên không có cơ hội tham dự hay ngược lại  , phản đối nó. Và dù đó không phải là cuộc xung đột của nước Mỹ, nhưng cuộc chiến ở Việt Nam đã dính chặt với lịch sử cận đại của nước Mỹ như một thứ tội tổ tông. Báo chí, truyền hình và các phương tiện truyền thông khác ở nước Mỹ đã hàng ngày thông báo cho người dân Mỹ biết rằng cuộc chiến ấy đã làm suy đồi quân đội (Mỹ), hủy họai kinh tế và xói mòn uy tín nước Mỹ trên thế giới. Trong thập niên 70s, Việt nam không phải là bi kịch duy nhất . Nhưng mỗi khi có  bất cứ điều gì sai lầm, lời giải thích dường như luôn luôn là Việt Nam.</p>
<p>Michael nhấn mạnh, trẻ con tuy ngây thơ nhưng không xuẩn ngốc. Chúng biết chọn lọc những điều nghe được từ người lớn. Những ngày ấy, thông điệp mà thế hệ của Michael nhận được là thời vàng son của nước Mỹ đã qua, rằng nước Mỹ đã phạm phải một sai lầm rất nghiêm trọng, cho nên phải trả gía cho sự sai lầm ấy. Các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo và cả những chính trị gia đều tỏ vẻ hoang mang và bi quan. Thế hệ trẻ ( Michael) lây nhiễm sự bi quan ấy, tin  đó là sự thực cho đến khi họ không còn tin tưởng vào bất cứ ai nữa.</p>
<p>Nhưng, có phải thực sự là thế hệ cha anh ( của Michael ) đã cảm thấy bi quan ? Hay mặc cảm tội lỗi vì đã để lại cho thế hệ tương lai một nước Mỹ nghèo nàn cả về tinh thần lẫn vật chất ? Michael khẳng định  rằng, người ta không thể hiểu được lịch sử nếu không có trí tưởng tượng, không có khả năng tự đặt mình vào vị trí những bậc tiền bối của giai đọan lịch sử ấy. Khi ông cố gắng tìm hiểu cuộc chiến Việt Nam, Michael thấy rằng, những cái tên và ngày tháng lịch sử, cùng với những lời buộc tội, những lời giải thích đã đan quyện vào nhau thành một mớ bòng bong vừa tối tăm , vừa dày đặc khiến mọi ánh sáng tìm cách soi rọi vào chúng đều bị che khuất. Ông tự hỏi : Chẳng lẽ các giới chức lãnh đạo chính quyền lúc ấy đã không tiên đóan được rằng nước Mỹ sẽ sa lầy trong cuộc chiến ? Làm thế nào mà giới chỉ huy quân sự có thể theo đuổi một chiến lược phản du kích vô hiệu như thế hết năm này đến năm khác ? Tại sao chính phủ vẫn tiếp tục đổ người, đổ của vào một cuộc xung đột kể cả khi họ đã tin  rằng không thể có một triển vọng chiến thắng trong tương lai ? Và câu hỏi nghiêm trọng nhất : Làm sao mà các bậc cha anh của thế hệ Michael đã để cho điều đó xảy ra ?</p>
<p>Nhà văn Michael Peck đã thú nhận, lẽ ra không cần phải viện dẫn đến một cuộc chiến tranh ở vùng Trung Đông để giải thích một cuộc chiến tranh khác đã xảy ra vùng Đông Nam Á. Nhưng, ông không có lựa chọn nào khác . Đã 3 năm nay, Michael nhìn thấy tận mắt từng giai đọan một nước Mỹ bước vào chiến tranh, bắt đầu từ những lời buộc tội, rồi đến tối hậu thư, rồi là cuộc xâm lăng , sau cùng là chiếm đóng. Ông hoa mắt vì những cuộc tranh luận không mệt mỏi giữa hai bên chủ chiến và chủ hòa. Lần đầu tiên, ông bắt đầu hiểu được sự xung đột giữa những hy vọng và sợ hãi mà thế hệ cha anh chắc đã phải trải qua trong cuộc chiến tranh Việt Nam, về những sự lẫn lộn , bối rối của họ khi một mặt, chính quyền lớn tiếng nói về sự nghiệp bảo vệ tự do, chiến đấu cho hòa bình trong danh dự , và mặt khác, những phong trào phản chiến lên án những sự thất bại của chính phủ, những sự tàn bạo xảy ra trong chiến tranh.</p>
<p>Cuối cùng, nhà văn kết luận rằng, ông không nghĩ là mình biết phải làm gì trong cuộc chiến ở Iraq, nhưng, ông biết chắc một điều, giữa khi súng vẫn nổ, thây người vẫn ngã xuống ở Iraq, sẽ có một đứa bé nào đó vừa được sinh ra ở nước Mỹ. Giả sử như cuộc chiến Iraq có kết quả là một thảm họa khác cho nước Mỹ, có nghĩa là nó sẽ nghiền nát uy tín và lòng tự tin của dân Mỹ, đứa bé ấy trong tương lai sẽ đổ lỗi cho thế hệ cha anh ( chúng ta ) đã để cho điều ấy xảy ra. Khi ấy, đến lượt ông ( Michael Peck) phải chịu trách nhiệm.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Ngày thứ bảy 11 tháng 11 tới đây là ngày lễ Cựu Chiến Binh ( Veteran‘s Day ) Hoa Kỳ. Như thường lệ hàng năm, tôi được may mắn tiếp tay với nhóm cựu chiến binh Mỹ làm cùng sở tổ chức lễ kỷ niệm, gồm các nghi thức chào cờ, tưởng niệm và suy ngẫm, dù tôi không phải là một cựu binh Mỹ. Nhưng mẫu số chung giữa cá nhân tôi với họ là hầu như phần lớn những cựu binh Mỹ trong nhóm này đã từng tham dự cuộc chiến tranh Việt Nam, hay nói cách khác, chúng tôi đã từng cùng nhau đứng ở một bên chiến tuyến.  Trong các buổi kỷ niệm như thế, nội dung những trao đổi trong phần suy ngẫm có phần nào phản ánh cái trăn trở như của nhà văn Michael Peck nói đến ở phần trên, nhưng không lúc nào những cựu chiến binh Mỹ giấu đi niềm kiêu hãnh rằng họ đã từng đem một phần đời tươi trẻ nhất phục vụ cho đất nước, cái danh dự được phục vụ trong quân đội và những thành tích mà họ đạt được trong sứ mạng mà tổ quốc họ giao phó. Họ đem ra trưng bày những huy chương, những bằng khen, những bức hình chụp trong các khu rừng rậm , trên các chiến hào ở những địa danh  vốn quen thuộc với tôi , nhưng nay đã là những kỷ niệm xa vắng với họ. Họ cũng hãnh diện kể về những người quen biết, con cháu họ hàng hay bạn bè hiện đang có mặt trong hàng ngũ những người lính Mỹ ở Iraq. Theo sự cảm nhận của tôi, những cựu binh Hoa Kỳ ấy luôn đặt ý thức quân nhân cao hơn những trăn trở cá nhân, kể cả lúc còn tại ngũ đối diện thực sự với chiến tranh ( như người chồng quá cố của người bạn già làm cùng sở của tôi), hay sau khi đã giải ngũ, trở về đời sống dân sự.</p>
<p>Tất nhiên, để lý giải ý nghĩa một cuộc chiến, luôn luôn có những cái nhìn khác từ phía người trong cuộc hay kẻ đứng ngòai nhìn vào . Như nhà văn Mỹ Michael Peck đã nhận định, người ta phải đặt chính mình vào trong một hòan cảnh lịch sử nhất định, mới có thể có cái nhìn tương đối chính xác. Vì thế, ông chọn chỗ đứng của ông trong cuộc chiến Iraq hiện nay để nhìn lại chiến tranh Việt Nam. Điều tôi rút ra được từ những nhận định của Michael Peck là người ta đã vẽ nên bức tranh chiến tranh Việt Nam ảm đạm hơn thực tế, kéo theo cái nhìn bi quan lẽ ra không nên có, rồi cứ thế làm méo mó hình ảnh thực sự , tạo nên những nhận định cường điệu khiến ảnh hưởng đến cách giải quyết cuộc xung đột, giống hệt như ngày nay các chính trị gia, các phương tiện truyền thông Mỹ đã chỉ xóay vào những thất bại của chính sách Mỹ ở Iraq. Và ông không lọai trừ khả năng lịch sử cuộc chiến Việt Nam lập lại ở Iraq.</p>
<p><strong>5.</strong></p>
<p>Người lính, chọn binh nghiệp không thuần túy là một nghề nghiệp, mà còn là trách nhiệm của những người con tổ quốc. Cũng không thể đem sự sai lầm của những người làm chính sách một quốc gia đổ lên vai người lính. Cá nhân tôi có thể không đồng ý với quyết định của chính phủ Mỹ đem quân vào Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, nhưng tôi luôn trân trọng và biết ơn sự đóng góp xương máu của những người lính Mỹ cho lý tưởng mà tôi và các bạn hữu của tôi theo đuổi. Vì thế, giữa những lời chỉ trích của các chính trị gia và giới truyền thông về chính sách của nước Mỹ trước đây về cuộc chiến ở Việt Nam cũng như cuộc chiến Iraq hiện nay, tôi luôn tin rằng , đối với người lính , không có cuộc chiến tranh sai hay đúng, vì người lính nào ra trận cũng là để đổ máu cho màu cờ tổ quốc của họ, kể cả người lính Mỹ nằm xuống trên những chiến trường bên ngòai nước Mỹ.</p>
<p>Trong ý nghĩa đó, quốc gia nào cũng có những ngày lễ kỷ niệm nhớ về người lính như ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong hay ngày lễ Cựu Chiến Binh.</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/noiamanh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Kh&#243;c một d&#242;ng s&#244;ng *</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/khocmot/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/khocmot/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 12 Nov 2006 00:38:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/khc-m%e1%bb%99t-dng-sng/1039/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/khocmot/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb38-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>( hay LỜI TỰA cho Truyện Dài Qua Đồi Trinh Nữ của THẢO NGUYÊN )
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00140.jpg"></a>
Viết thêm của T. Vấn :
 
Nhân tháng 11 , với những bài viết về người lính và chiến tranh, tôi cho post lên trang nhà của mình bài viết dưới đây , nguyên là một bài Tựa cho tác phẩm đầu tay, truyện dài Qua Đồi Trinh Nữ của nhà văn Thảo Nguyên. Cũng nhân đây, tôi xin được chân thành cám ơn nhà văn Thảo Nguyên, đã cho tôi vinh dự được viết đôi hàng giới thiệu một trong những tác phẩm sử thi tuyệt đẹp viết về người lính và cuộc chiến tranh đã gắn liền với định mệnh một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. 
 
Tháng 11 năm 2006
T.Vấn
 
1.
Gần 30 năm trôi qua sau một cuộc chiến chinh. Giờ đây,[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><em>( hay LỜI TỰA cho Truyện Dài Qua Đồi Trinh Nữ của THẢO NGUYÊN )</em></strong></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00140.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb38.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="154" height="244" align="left" /></a></p>
<p><em><span style="text-decoration: underline;">Viết thêm của T. Vấn :</span></em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Nhân tháng 11 , với những bài viết về người lính và chiến tranh, tôi cho post lên trang nhà của mình bài viết dưới đây , nguyên là một bài Tựa cho tác phẩm đầu tay, truyện dài Qua Đồi Trinh Nữ của nhà văn Thảo Nguyên. Cũng nhân đây, tôi xin được chân thành cám ơn nhà văn Thảo Nguyên, đã cho tôi vinh dự được viết đôi hàng giới thiệu một trong những tác phẩm sử thi tuyệt đẹp viết về người lính và cuộc chiến tranh đã gắn liền với định mệnh một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Tháng 11 năm 2006</em></p>
<p><em>T.Vấn</em></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Gần 30 năm trôi qua sau một cuộc chiến chinh. Giờ đây, nơi đất khách quê người – cách xa bãi chiến trường cũ hằng nửa vòng quay trái đất – trong những đêm không ngủ – mà tôi có nhiều lắm những đêm không ngủ – tôi như còn thấy hiển hiện tất cả những thảm khốc của chiến tranh. Tiếng đại bác ì ùng, âm vang dòn tan của các loại súng được chế tạo ở Nga, Mỹ, Tàu, Tiệp Khắc. Những khuôn mặt căng thẳng vì sống và chết chỉ cách nhau có một hàng rào kẽm gai. Những xác người nằm la liệt. Những cánh tay, bàn chân đứt lìa treo tòn teng trên ngọn cây, nằm vất vưởng trên bờ ruộng. Màu đỏ của máu và màu đen của đất. Những tiếng rên la đau đớn, sợ hãi. Những tiếng kêu xé lòng. Những tiếng khóc khi nức nở, khi tức tưởi, khi tỉ tê kể lể. Mùi thuốc súng nồng nặc trong cái nóng chảy mỡ của buổi trưa hè oi ả. Mùi tử khí nặng chình chịch như sương mù buổi sáng. Mùi hôi thối của những vết thương đã lên dòi, của những xác người rữa ra vì lâu ngày chưa được chôn cất. 30 năm mà đôi lúc qúa khứ tươi rói như vừa mới hôm qua, như vừa mới lúc nãy. Như hơi thở người tình còn vương vất đâu đó trên chăn gối cô gái trẻ mà thân phận người trai thời chinh chiến đã đem chàng đến một nơi nào vô cùng xa lạ , nhưng phút chốc trở nên quen thuộc vì nơi đó có người cô yêu. Như trái tim người mẹ dù đã 30 năm vẫn còn thót lên mỗi khi nghe cái âm vang nào như tiếng đại bác vọng về từ miền xa xôi, nơi có đứa con mẹ xẻ thịt đẻ ra bây giờ nằm lại mãi mãi không bao giờ nữa trở về bên mẹ để nghe mẹ hát lại bài hát ngày nào mẹ đưa con vào đời . .. à à ời. . . à à ơi.</p>
<p>Mang định mệnh khắc nghiệt của những thằng lính sống sót sau một cuộc chiến, sau những năm tháng tù đày hết cả thời trai trẻ, và 10 năm đốt đuốc soi rừng trên xứ người xa lạ, tôi kiên nhẫn đi tìm một chút gì của mình còn sót lại ở bạn bè – bạn lính, bạn tù &#8211; , ở những người không quen nhưng đã một thời chia xẻ với nhau một số phận. Và tất nhiên, tôi cũng đi tìm tôi và bạn bè trong những cuốn phim nói về cuộc chiến – mà tôi đã góp một phần đời, mà bạn bè tôi có người đã góp cả cuộc đời &#8211; . Những cuốn phim được thực hiện bởi những người không phải Việt Nam, bởi những người Việt Nam nhưng ở phía bên tự nhận mình là kẻ chiến thắng. Chúng chỉ làm tôi buồn nôn và giận dữ. Tôi cũng kiên nhẫn – và háo hức – tiếp tục cuộc kiếm tìm trong những cuốn sách hiếm hoi – viết bởi những người trong cuộc chiến, ngoài cuộc chiến, Việt Nam hay không Việt Nam, bên này hay bên kia &#8211; . Trong đó,tôi cũng vẫn không thấy tôi, không thấy bạn bè tôi – những sĩ quan trẻ hăm hở bước vào cuộc chiến với vầng trán phẳng chưa hề biết tới những nếp nhăn của số phận, với trái tim trong sáng chưa hề biết đến những dối gian của cuộc đời – không thấy những người lính thuộc quyền tội nghiệp của chúng tôi, tình nguyện hay bắt buộc, đã bỏ mẹ bỏ em bỏ người yêu bé bỏng, bước vào trận địa mà lòng đau như cắt. Tôi chỉ thấy những người đứng trên cao – ở một nơi an toàn &#8211; - nhìn xuống cuộc chiến. Có bao quát thật nhưng chỉ là cái khung hình chung chung. Có chi tiết thật, nhưng chỉ là những con số thống kê về số địch ta thương vong, về số vũ khí tịch thu, về những vùng đất còn hay mất, về sự tráo trở của người bạn đồng minh. Trong những cuốn sách ấy, tôi không nghe được tiếng thét đau đớn của người lính nhìn lại mình đã mất một cánh tay, tiếng kêu xé ruột của người chiến hữu khi thấy xác đồng đội nổ tung ra từng mảnh ngay trước mắt mình. Trong những cuốn sách ấy, tôi không nhìn thấy những người lính – cả thầy lẫn trò – chuyền tay nhau điếu thuốc quân tiếp vụ hiếm hoi đằng sau những ụ cát phòng thủ. Tôi không nhìn thấy thân phận của những người đàn bà – những bà mẹ lính , những bà vợ lính, những cô gái có người yêu là lính – Những thân phận cũng tơi tả không kém gì thân phận của người lính Việt Nam Cộng Hòa.</p>
<p>Trước đây, tôi có dịp đọc quyển CHINH CHIẾN ĐIÊU LINH của nữ ký gỉa chiến trường KIỀU MỸ DUYÊN. Phải nói đây là tác phẩm tôi đang đi tìm. Nhưng dẫu có tấm lòng thật ưu ái với những người lính, cái nhìn sắc bén chiếu rọi vào những chi tiết thật đến não lòng, Kiều Mỹ Duyên không phải là người lính, theo cái nghĩa bi tráng của một thời đại – nói theo Nguyên Sa, bà nhìn cuộc chiến từ lỗ châu mai . Cho đến một ngày, tôi được đọc QUA ĐỒI TRINH NỮ của THẢO NGUYÊN trên một trang Web của nhóm cựu SVSQ trường Đại Học CTCT Đà Lạt. Cái tên khá xa lạ trong làng văn chương chữ nghĩa ở hải ngoại ( dẫu tôi biết Thảo Nguyên là bút hiệu của một người anh khóa trên, mà chúng tôi đã từng có dịp chia nhau từng bi thuốc laò chết đói ngày nào trên những đồi khoai mì bát ngát của vùng Trung Du Bắc Việt, cái thuở chúng tôi còn bị lưu đầy ngay trên quê nhà yêu dấu của mình ). Và, một cách không ngờ, tôi bị hút vào cuốn truyện dài mười bốn chương với trái tim đau đớn ngập tràn hạnh phúc .</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>QUA ĐỒI TRINH NỮ ( QĐTN ) là bản tình ca bi tráng hát về những người trẻ , rất trẻ – cả nam lẫn nữ – tuổi đời chỉ vừa qua khỏi hai mươi , sống trong một thời ly loạn. Họ nổi trôi theo vận nước với tấm lòng trong sáng đến độ không có gì có thể trong sáng hơn. Bối cảnh là tiền đồn của một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng trấn đóng chi khu Ba Tơ thuộc tỉnh Quảng Ngãi ( ôi Ba Tơ nắng cháy da đầu, nơi tôi đã một lần được đặt chân đến trong những ngày còn là SVSQ đi công tác dân vận sau ngày ký kết Hiệp Định PARIS 27 tháng 1 năm 1973. Ba Tơ, Minh Lang, Sơn Tịnh , 3 quận miền núi của tỉnh Quảng Ngãi, nơi có ngọn Thiên Aán hùng vĩ, có con sông Trà đã đi vào văn học). Nhân vật là những người lính thú sớm ăn măng trúc, tối bạn cùng cỏ cây. Họ là những sĩ quan trẻ vừa bước ra khỏi quân trường , những thiếu úy, chuẩn uý cởi vội bộ Đại lễ trắng lon vàng để khoác lên người bộ quân phục rằn ri Biệt Động Sát có con cọp ba đầu. Họ là những người lính nhỏ nhoi hèn mọn, đi lính như “một tất yếu và đủ”.Dầu vậy, lại dễ dàng chấp nhận và trung thành với cấp chỉ huy trẻ – tuy không có nhiều kinh nghiệm chiến trường – nhưng có tư cách một người chỉ huy và hết lòng chăm lo cho thuộc cấp. Họ là những hạ sĩ quan người bản xứ, hiền lành cả tin, sống đơn giản như cây cỏ, như con sông Re lặng lờ chảy quanh ngọn đồi Trinh nữ năm này qua năm khác ( Sông Re trong QĐTN của Thảo Nguyên làm tôi yêu thêm những con sông đất nước, những con sông đầy ắp kỷ niệm tuổi thơ của nhiều người, như con sông Trà Khúc của hai nhân vật chính trong truyện, như con sông Hậu Giang của tuổi thơ tôi những ngày di cư chạy giặc Cộng Sản ). Họ là những cô gái tội nghiệp, sinh ra, lớn lên giữa bom đạn , chết chóc và những âm mưu thâm độc. Suốt đời họ chỉ mơ ước có một ngày quê hương thanh bình, để yên tâm ngồi xõa tóc soi bóng mình bên dòng suối mát, nghĩ về một người trai trẻ nào đó mà không sợ bom đạn vô tình khuấy động giấc mơ ngày mới lớn. Họ là những người vợ lính, cũng xông pha hòn tên mũi đạn, cũng biết xử dụng thành thạo các loại vũ khí, cũng sát cánh bên chồng những giây phút dầu sôi lửa bỏng, cũng biết chửi thề trước cái tàn bạo phi nhân của chiến tranh, của kẻ thù. Và tất nhiên, cũng biết khóc – khóc một cách ngọt ngào – trước cảnh sinh ly tử biệt kẻ còn người mất. Họ là những người dân sống trong vùng xôi đậu, sáng quốc chiều cộng, đóng thuế cho cả hai và bị cả hai bên nghi ngờ kiểm soát. Thấp thoáng trong số những nhân vật làm nên cái sườn của câu chuyện, tôi thấy ẩn hiện bóng dáng một vị sĩ quan đứng tuổi, trầm tĩnh, hiểu biết, thương yêu thuộc cấp, thông cảm với các vị sĩ quan trẻ dưới quyền ( có nhiều lắm những vị sĩ quan cấp trung đáng yêu như vậy – nhưng hình như người ta nói nhiều đến những sĩ quan quyền cao chức trọng tham nhũng thối nát trên xương máu người lính hơn là những con người đại diện thực sự cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa này ) hoặc một vị sĩ quan khác – chưa gìa nhưng không còn trẻ nữa – gần gủi thuộc cấp từ những ly cà phê chén rượu đấu láo đến những giây phút nghiêm trọng sinh tử trong đường tơ kẽ tóc. Lồng trong tất cả những nhân vật , những con người nhỏ nhoi bình thường ấy là một vùng rừng núi hùng vĩ nằm gần biên giới Lào, bốn phía trùng trùng điệp điệp những ngọn đồi cao có thấp có, trong đó sừng sững ngọn đồi Trinh Nữ của Thảo Nguyên , và không thể không nhắc lại con sông Re êm đềm . Cái không gian vừa hùng vĩ, vừa lặng lẽ, vừa bi thương trong QĐTN làm tôi liên tưởng đến không gian trong bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của Quang Dũng ( <em>Ai đi Tây Tiến chiều sương ấy, Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi hay Sông Mã xa rồi Tây Tiến</em> <em>ơi, nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi</em> ). Cái không gian chập chùng những đồi sim bát ngát, trong một buổi hành quân dừng chân tạm nghỉ lại , người lính nhìn thấy những sơn nữ Phà Ca “ <em>đói lòng ăn nửa trái sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương</em> “ ngực trần váy rộng, miệng cười liến thoắng, đôi con mắt có đuôi liếc chàng trai Kinh mà thầm mong ước một ngày . . .</p>
<p>Đó là bối cảnh, nhân vật của Qua Đồi Trinh Nữ. Còn cốt chuyện ? Chỉ là những sinh hoạt một trại lính tiền đồn. Những quan hệ qua lại giữa những người lính, giữa những thân nhân của họ. Những mối tình trai gái, công khai hay vụng trộm, những mối tình vội vã trong thời chiến chinh. Xuyên suốt trong 14 chương của tác phẩm là câu chuyện tình éo le của vị sĩ quan trẻ chỉ huy một đơn vị tuyến đầu và cô gái vừa Kinh vừa Hre, người đẹp và cũng là tiên nữ rừng xanh – vì cái thâm hiểm ác độc của tên tỉnh uỷ Việt Cộng – đã phải nén lòng làm nội tuyến cho hắn, mong một ngày trả mối thù giết cha bức mẹ. Câu chuyện không có gì mới lạ trong một cuộc chiến cốt nhục tương tàn. Nhưng cái nổi bật lên trên hết mọi thân phận nghiệt ngã của những nhân vật trong QĐTN là tình người trong thời chiến – tình chiến hữu sẵn sàng hy sinh cho nhau, tình yêu trai gái sẵn sàng chết cho nhau, tình thương yêu đồng bào vô tội bị kẹt giữa hai lằn đạn, lòng nhân ái với kẻ thù một khi họ đã buông súng đầu hàng. Cuộc chiến <strong>Ai thắng Ai </strong>đã được Thảo Nguyên giải quyết một cách đơn giản và dứt khoát : <strong>Yêu thương sẽ chiến thắng Bạo lực</strong>. Những chương cuối cùng của QĐTN là bức tranh toàn cảnh bi thảm hào hùng sinh động của một bãi chiến trường đẫm máu. Phải là người tham dự trực tiếp trên chiến địa mới có thể mô tả một cách sắc sảo, thấu suốt ,xé lòng với tình người đầy ắp như thế.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Tôi gấp những trang truyện cuối cùng lại ngậm ngùi. Tôi ngậm ngùi cho những nhân vật nửa thực nửa hư của QĐTN. Tôi ngậm ngùi cho tác gỉa , Thảo Nguyên, hay cho chính tôi, cho những người cùng lứa tuổi mà 30 năm xưa hăm hở bước vào cuộc chiến với tất cả những lãng mạn hào hùng của tuổi trẻ. Tôi như nhìn thấy những giọt nước mắt của tác giả. Ông khóc cho những người lính đã vĩnh viễn nằm xuống cho ông còn sống sót, cho tôi còn sống sót,cho chúng ta còn sống sót. Ông khóc cho những người con gái thật bình thường, trọn cuộc đời chỉ mơ ước đất nước thanh bình để được sống yên lành bên người yêu dấu. Tôi vừa nói đến những nhân vật nửa thực nửa hư của QĐTN. Những nhân vật ấy có thật hay không có thật trên một bối cảnh có thật của Chi Khu Ba Tơ những ngày mùa hè đỏ lửa năm 1972? Điều ấy, theo tôi, cũng chẳng quan trọng gì cho lắm. Xét cho cùng, cuộc đời tự nó, vốn là hư cấu. Cái hư cấu của tổng số những thực tại riêng lẻ kết hợp lại, vừa ngẫu nhiên vừa cố ý. Thảo Nguyên sáng tạo ( ? ) nên những nhân vật của ông dựa trên những con người có thật, những thực tại đau đớn đến xé gan xé ruột. <em>Một thực tại sinh động, tự nó đã là văn chương, đã là hư cấu.Thế thì bận lòng làm gì đến cái hư cấu trong thực tại của văn chương. </em>Nhưng tôi không nghĩ Thảo Nguyên có ý định làm văn chương khi ông đặt bút viết QĐTN. Ông chỉ – theo tôi – viết để thanh thỏa món nợ với những chiến hữu đã nằm xuống – những chiến hữu quen và không quen – nhưng đã chọn cùng nhau ở một bên chiến tuyến. Như kẻ sống sót sau cuộc đắm thuyền, ông thấy mình có bổn phận phải nói lên , nhắc lại, tung hê cho cả loài người biết rằng có biết bao con người như thế đã nằm xuống để chúng ta có một đời sống xứng đáng hơn. Cái ngày “ <em>quê hương thanh bình</em> “ mà những nhân vật trong QĐTN – còn sống hay đã chết – mong đợi ấy, mà chúng ta mong đợi ấy, thực ra vẫn chưa hẳn đã đến, dù tiếng súng đã im từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.</p>
<p>Dẫu sao cũng cám ơn Thảo Nguyên, ông đã cho tôi được rơi những giọt nước mắt khóc cho một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam bị nguyền rủa, khóc cho một dòng sông quê hương mà tôi – mà chúng ta – sẽ không bao giờ được trở về tắm lại, để tìm lại chính mình đã lạc lối giữa những chập chùng hệ luỵ của một đời lưu vong.</p>
<p>Wichita, Kansas một ngày cuối năm 2002</p>
<p>T. Vấn</p>
<p>* <em>Tên một truyện ngắn của Thảo Nguyên.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>© T.Vấn 2006</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/khocmot/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sống kh&#243; hay dễ ?</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/songkho/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/songkho/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 05 Nov 2006 00:33:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/s%e1%bb%91ng-kh-hay-d%e1%bb%85/1047/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/songkho/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb69-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00274.jpg"></a>
( gởi những người bạn tù Vĩnh Quang ở San Jose. CA. và anh TVH )
• Sống là sống với, chứ không đơn giản là sự hiện hữu của một sinh vật.
( Sách Người )
Sống ở đời dễ hay khó ? Biết trả lời thế nào để thuyết phục được chính mình ?
Dễ ư ? thế còn bao nhiêu những khổ đau hệ lụy chờ chực hai bên đường dẫn ta đi từ bụng mẹ đến huyệt mộ cô đơn ?
Khó ư? thế còn bao nhiêu những mảnh đời đẹp đẽ ngoài kia đang nở những nụ hoa rực rỡ cho mình, cho đời, một cách tự nhiên, một cách như cuộc đời vốn nó phải thế ?
Sống ở đời này dễ hay khó ? Câu hỏi tưởng chừng như rất dễ trả lời ấy cứ bám chặt lấy đầu óc tôi[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00274.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb69.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="154" height="179" align="left" /></a></p>
<p>( gởi những người bạn tù Vĩnh Quang ở San Jose. CA. và anh TVH )</p>
<p>• <em>Sống là sống với, chứ không đơn giản là sự hiện hữu của một sinh vật.</em></p>
<p>( <strong>Sách Người</strong> )</p>
<p><em>Sống ở đời dễ hay khó</em> ? Biết trả lời thế nào để thuyết phục được chính mình ?</p>
<p>Dễ ư ? thế còn bao nhiêu những khổ đau hệ lụy chờ chực hai bên đường dẫn ta đi từ bụng mẹ đến huyệt mộ cô đơn ?</p>
<p>Khó ư? thế còn bao nhiêu những mảnh đời đẹp đẽ ngoài kia đang nở những nụ hoa rực rỡ cho mình, cho đời, một cách tự nhiên, một cách như cuộc đời vốn nó phải thế ?</p>
<p><em>Sống ở đời này dễ hay khó</em> ? Câu hỏi tưởng chừng như rất dễ trả lời ấy cứ bám chặt lấy đầu óc tôi như con đỉa đói năm nào giữa những mảnh ruộng bậc thang miền Trung Du Bắc Việt, bám chặt vào cổ chân khẳng khiu của những thằng tù nửa sống nửa chết, nửa làm người nửa làm thú ăn bất cứ thứ gì có thể ngọ nguậy được để sinh tồn.</p>
<p>. . . <em>Người tù TVH &#8211; tên của anh có ý nghĩa tương tự như một ngàn năm Văn Hiến – đứng thẳng người trên bờ ruộng, mặc cho chiếc áo rách với hàng trăm mảnh vá không đủ sức che được cơn gió bấc quái ác của mùa đông Bắc Việt, rồi cúi tấm thân gầy gò, dùng cả hai cánh tay trơ xương dứt mạnh con đỉa ra khỏi cổ chân mình, đưa lên miệng nhai ngấu nghiến . Máu của chính anh –những giọt máu hiếm hoi còn sót lại đã bị con đỉa hút không thương tiếc – chảy trào ra hai bên mép, làm nổi bật hàm răng đã trống trải theo những năm tháng lưu đầy . Anh cần lấy lại những giọt máu ấy để sống còn cho đến ngày nào không biết, nhưng trước hết anh phải sống còn . . .</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Những năm tháng ấy dậy tôi rằng cuộc đời vốn nó phải như thế. Đừng bận tâm tra vấn những ý nghĩa cao hơn cuộc đời. Sống là ăn uống thở ngủ. Là cho đi phải lấy lại. Là mắt trả mắt, răng đền răng.</p>
<p>Cuộc sống tự nó rất đơn giản và dễ dàng, chỉ có con người làm cho nó trở nên phức tạp và khó sống mà thôi ? Mặc cho những rối ren hỗn loạn của hôm nay, ngày mai, trên mặt đất loài người này vẫn sẽ có những con người được sinh ra , những con người chết đi và cuộc sống vẫn sẽ như dòng sông nước chảy, liên lỉ từ thế hệ này đến thế hệ khác, cho đến ngày cuối cùng của nhân loại – <em>nếu quả thật có một ngày như thế !</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Đã có lúc, nhớ đến người bạn tù năm xưa với hành động đưa con đỉa lên miệng cắn để lấy lại những giọt máu hiếm hoi của mình, tôi cũng muốn thu hết sức mạnh trong cái dày đặc của đêm khuya , rứt con đỉa độc ác khát óc người ra khỏi cái đầu đầy ắp những tư tưởng nửa mê nửa tỉnh của mình. Quả thật, ở một khía cạnh nào đó trong cuộc sống bị phức tạp hóa bởi chính con người, cuộc sống đã không làm cho người ta nhẵn nhụi đi, mà lại xói vào những góc cạnh khiến cho người ta trở nên độc ác với nhau hơn, làm cho cuộc sống trở nên khó chịu đựng hơn.</p>
<p>Ngày xưa, khi còn ở quê nhà, miếng cơm manh áo là cuộc vật lộn hàng ngày, hàng giờ. Ăn hôm nay nhưng không biết ngày mai có còn cái mà ăn hay không. Cuộc sống được tính bằng từng bữa ăn , tuy đạm bạc, nhưng miễn no lòng. Vậy mà tôi có cảm tưởng ngày xưa dễ sống hơn bây giờ. Khi cùng đói nghèo, khi cùng hoạn nạn với nhau, con người ta dễ dàng chia xẻ với nhau sự thiếu thốn, sự đau khổ và nhất là, ít hành hạ nhau hơn.</p>
<p>Giờ đây, chốn quê người, cuộc sống cũng vẫn là cuộc vật lộn, nhưng không đến nỗi chỉ là vật lộn với những nhu cầu sơ đẳng của con người. Ở một nghĩa nào đó, cuộc sống của chúng ta đã được thăng hoa. Những ưu tư hàng ngày vẫn có, đôi khi còn nặng nề hơn, nhưng là ưu tư về những điều cao hơn mặt đất con người. Vậy mà, tôi có cảm tưởng như cuộc sống bỗng trở nên khó khăn hơn, không khí chung quanh dường như khó thở hơn. Nhịp sống ở nơi đây vội vã hơn, đó là điều hiển nhiên. <strong>Nhưng sự vội vã ấy không thể là lý do thuyết phục để biện minh cho những gai góc của cuộc sống mà chúng ta đang – một cách hết sức vô thức – gởi đến cho nhau, kể cả giữa những người thân thuộc nhất. </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><em>Máu là thành tố căn bản nhất để cho một sinh vật sống còn về vật lý. Khi trong cơ thể một sinh vật không còn máu nữa, hay khi máu đã bị hủy hoại để không làm tròn chức năng của mình là giữ sự sống cho cơ thể, khi ấy, người ta gọi đó là cái chết. Cái chết vật lý. Tương tự như vậy khi trong tâm hồn một con người, những thành tố đặc trưng cấu tạo nên tính cách con người bị cạn kiệt hay bị hủy hoại để không làm tròn chức năng của mình là làm cho một con người trở nên một con người nữa, khi ấy, người ta cũng gọi đó là cái chết. <strong>Cái chết tâm linh</strong>. </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Đã nhiều lần đối diện với chính mình trong giờ phút lặng lẽ của đêm khuya, sau một ngày chộn rộn với đủ mọi thứ ồn ào của cuộc sống, có lúc tôi giật mình nhìn thấy con đỉa khát óc người , khát lòng người đang hiện diện đâu đó một cách rất tinh ma quỷ quái.</p>
<p>Những lúc ấy, tôi thèm cái can đảm của người bạn tù năm xưa trong hành động rứt con đỉa ra khỏi thân mình và đưa nó lên miệng hút lại cái nó đã hút của mình.</p>
<p>Bản năng sinh tồn để duy trì một sự sống vật lý bao giờ cũng tiềm ẩn và rất nhiều khi trở nên vô cùng mạnh mẽ. Mặt khác, để duy trì sự sống tâm linh, con người ta có một bản năng sinh tồn khác rất không ổn định, giống hệt như công phu Nhất Dương Chỉ của nhân vật Đoàn Dự trong truyện kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung.Thứ công phu khi thì mạnh như vũ bão, khi thì yếu ớt không một chút sinh khí.</p>
<p>Vì thế, đôi khi mặc dù biết rất đích xác con đỉa khát lòng người đang cần mẫn hút no nê lương tri nhân loại, nhưng sự kháng cự – của tôi – có lúc rất yếu ớt, chiếu lệ.</p>
<p>Đôi khi, giận dữ với chính mình, tôi tự hỏi, Đó có phải là biểu hiện của tuổi gìa, tuổi chỉ biết ngóai cổ lại nhìn về phía sau và chỉ muốn trầm mình trong những hòai niệm buồn nhiều hơn vui, thua thiệt nhiều hơn thành tựu ?</p>
<p>Hay chẳng qua chỉ vì đã sống gần hết một đời ngườI, tôi nghiệm rằng, mọi vọng động cá nhân đều không thóat khỏi vòng kiềm tỏa của định mệnh, thường rất khắc nghiệt và không công bằng ?</p>
<p>Và từ đó, tôi mang cái não trạng phó mặc mọi sự cho dòng đời ?</p>
<p><strong><em>Như vậy thì, sống khó hay là dễ ?</em></strong></p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/songkho/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>T&#244;i sợ b&#243;ng m&#236;nh</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/toiso/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/toiso/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Nov 2006 00:31:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/ti-s%e1%bb%a3-bng-mnh/1051/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/toiso/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb70-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00275.jpg"></a>
 
 Ngựa về gục khóc trường giang lạnh
Gươm súng đưa chàng theo núi sông
( Khúc Minh )
 
1.
Đã lâu lắm rồi, tôi không được hưởng cái thú vui thời trẻ là đi dạo trên những khu phố đông người, được ngồi bên một mái hiên, uống ly cà phê đậm đặc buổi chiều trời vừa đổ cơn mưa vội vã. Dễ cũng hơn 15 năm, từ ngày tôi rời quê đi định cư xứ người. Nơi tôi ở là một thành phố nhỏ miền Trung Tây. Người Việt không nhiều lắm , mà lại ở rải rác. Hơn 15 năm nay, tôi như một kẻ sống lạc loài, cố tìm cách thích nghi với cuộc sống bản xứ, nhưng biết rằng , dù cố gắng cách mấy, tôi vẫn là kẻ xa lạ.
Chiều nay, như một tình cờ định mệnh, tôi thấy mình có mặt[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00275.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb70.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="185" align="left" /></a></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong><em>Ngựa về gục khóc trường giang lạnh</em></p>
<p><em>Gươm súng đưa chàng theo núi sông</em></p>
<p><em>( Khúc Minh )</em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Đã lâu lắm rồi, tôi không được hưởng cái thú vui thời trẻ là đi dạo trên những khu phố đông người, được ngồi bên một mái hiên, uống ly cà phê đậm đặc buổi chiều trời vừa đổ cơn mưa vội vã. Dễ cũng hơn 15 năm, từ ngày tôi rời quê đi định cư xứ người. Nơi tôi ở là một thành phố nhỏ miền Trung Tây. Người Việt không nhiều lắm , mà lại ở rải rác. Hơn 15 năm nay, tôi như một kẻ sống lạc loài, cố tìm cách thích nghi với cuộc sống bản xứ, nhưng biết rằng , dù cố gắng cách mấy, tôi vẫn là kẻ xa lạ.</p>
<p>Chiều nay, như một tình cờ định mệnh, tôi thấy mình có mặt trên một khu phố có nhiều người (Việt) qua lại . Lần đầu tiên &#8211; sau nhiều năm xa xứ &#8211; tôi đi trên một khu phố mà từ lâu tôi chỉ nghe kể lại, hoặc đọc đâu đó. Cũng chẳng khác lắm so với những gì tôi được nghe kể bao nhiêu. Nhưng , một cách kỳ lạ, những thứ chung quanh chẳng thu hút tâm trí của tôi nhiều lắm. Khi đập bước chân trên những hè phố này, tôi chỉ nghĩ về qúa khứ. Về những ngày tháng chập chững bước vào đời. Về một thời tuổi trẻ đẹp và buồn. Đẹp vì đó là tuổi trẻ. Buồn vì tuổi trẻ của tôi bị bóng ma một cuộc chiến tranh khốc liệt ám ảnh. Về những mối tình đã qua đi. Về những cuộc hẹn hò giữa phố đông người, nhưng vẫn dễ dàng tìm thấy nhau. Về những người bạn &#8211; bạn học , bạn lính. Những người bạn mà chúng tôi đã từng chia sẻ với nhau bao nhiêu ước vọng đội đá vá trời. Nay, những người tình không biết ở đâu, sống hay chết, hạnh phúc hay đau khổ. Những người bạn , có kẻ đã lặng lẽ ra khỏi đời này , có người còn vất vả quê nhà, có người mãi long đong quê người.</p>
<p>Bước chân trên một hè phố đông đúc, nhộn nhịp mà lòng tôi chỉ nghĩ về qúa khứ. Tôi hiểu là mình đã già thật sự rồi. Hình như có tiếng một cô gái gọi tên tôi. Tôi giật mình quay lại. Không phải! Một người nào đó gọi một người nào đó. Ảo ảnh ? tôi dụi mắt quay bước. Nhưng cũng gặp một người quen. Một người bạn tù dạo còn ở ngoài Bắc. Chúng tôi bắt tay chào hỏi nhau như vừa mới chia tay hôm qua.</p>
<p>Khi rời khu phố, một cảm giác hụt hẫng làm lòng tôi nôn nao, lo sợ. Cả một khu phố người Việt đông đảo, sầm uất, giàu có trên miền đất lưu vong này không làm tôi sợ, mà sao khi rời nó về lại nơi tôi quen thuộc, thì cảm giác sợ hãi kia lại xâm chiếm lấy tôi. Hay , sau bao nhiêu năm tôi đánh mất mình giữa biển đời xa lạ, nay tình cờ bắt gặp lại được cái tôi lưu lạc giữa khu phố Bolsa, tôi đã sợ chính tôi. Hay tôi sợ bóng mình ? Nói theo lời một nhà thơ nào đó lâu ngày tôi đã quên.</p>
<p><em>Chiều nay tôi sợ bóng mình.</em></p>
<p>Cái bóng của tôi. Tưởng chừng như nó đã mất tăm giữa bao điêu linh của 30 năm chinh chiến ngục tù lưu vong . Tưởng chừng như nó đã thuộc về một phần đời cổ tích nào đó thật xa xăm. Tưởng chừng như nó đã ngủ yên. Một phận đời. Bao phủ bởi thật nhiều lớp sương mù qúa khứ. Hồi tưởng lại, cái ngày tôi đánh mất bóng của mình. Đó là một ngày ảm đạm , ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975. Giữa dòng người hốt hỏang trên Quốc Lộ 4 nối liền thành phố Sài Gòn và các tỉnh miền Tây Việt Nam, tôi đã cởi bộ quân phục mặc trên người, đủ bình tĩnh để xếp chúng lại thật ngay ngắn phẳng phiu, cẩn thận cột giây đôi giầy trận theo đúng quy cách quân trường, rồi đặt chúng nằm cạnh bộ quân phục . Tôi còn nhớ cái bóng của mình đã đứng thật nghiêm, bàn tay trái nắm chặt để ngón cái chạy xuôi theo đùi chân trái, tay phải đưa lên ngang tầm mắt, thật dõng dạc chào một lần cuối những thứ tôi vừa cởi bỏ trên người ở chân cầu Bến Lức khi giọt nắng cuối cùng vừa biến mất phía sau nhà lồng chợ quận.</p>
<p>Dòng người , như dòng đời, cuốn tôi mất hút trong đó. Tôi đi về một phía, và em đi về một phía. Bóng tôi xiêu đổ theo cả một nửa đất nước đổ xiêu cái ngày tháng 4 định mệnh ấy. Ngày ấy, với đôi chân trần rướm máu lê những bước mệt mỏi về lại thành phố Sài Gòn, tôi không biết rằng, rồi đây , cũng đôi chân trần ấy tôi sẽ bước những bước lưu đầy trên khắp miền đất nước : Trảng Lớn, Long Giao, Kà Tum, Suối Máu, Yên Bái, Lào Cai, Vĩnh Phú . . .</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Lại nhớ đến bóng em chiều cuối cùng mình chia tay trước cửa rạp Rex. Cái bóng tất tả như đời em. Cái bóng còm cõi như đời tôi. Cái bóng đã bị đám đông nuốt chửng giữa buổi chiều , sau cơn mưa bất chợt rất Sài Gòn. Trước đó, chúng ta đã đi khắp các khu phố quen thuộc một lần cuối. Để được cùng nhau nhìn Sài Gòn một lần cuối. Để cùng ưu tư khi nghe qua làn sóng điện đài Phát thanh Sài Gòn truyền đi trực tiếp buổi lễ bàn giao Nội Các giữa Cụ Hương và ông Minh. Những ưu tư đã bị nhận chìm trong những chai bia 33 cuối cùng mình uống với nhau trên vỉa hè Lê Lợi. Và chúng ta chia tay nhau lần cuối&#8230;</p>
<p>Từ bấy đến nay, đã bao lâu rồi em nhỉ ? Hình như chúng ta đã đi gần hết cuộc đời mà cứ tưởng như chưa bao giờ bắt đầu. Vận nước nổi trôi kéo theo biết bao nhiêu những anh hùng và thục nữ. Có phải chúng ta đã sống dật dờ như những thanh củi mục trên dòng sông nước cạn, loay hoay mãi cũng không qua được một bến bờ. Cuối cùng , khi biết mình sắp chết đuối trên những hòai niệm thì lại quá muộn cho những lời trăn trối.</p>
<p>Hôm rồi, tôi có gặp lại những người bạn cũ. Những người bạn chưa một lần gặp kể từ ngày cuối cùng năm ấy. Họ hỏi tôi về em. Về con đường Bình Thới quen thuộc của chúng ta. Bây giờ em ở đâu ? Cõi u minh mù mù mịt mịt hay miền trần gian như điên như dại ? Có phải tiếng gọi tên tôi ban chiều giữa biển người đông đúc là tiếng của em gọi tôi về từ trong qúa khứ ? Có phải bà cụ già ngồi ngắm nắng chiều buồn bã trước hàng hiên một cửa tiệm trông ra khu phố Bolsa chiều nay tôi thoáng thấy chính là em ? Có phải cô gái nhỏ mặc cái váy ngắn trên đầu gối vừa bước ra khỏi chiếc xe xinh xắn trước mắt tôi kia chính là em ?</p>
<p><em>Chính là em đó ư em ?</em></p>
<p><em>Mà sao lạ cả người quen thế này ?</em></p>
<p><em>( Hoàng trúc Ly )</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Thực ra, từ ngày rời nước ra đi, tôi đã có lần quay về lại thành phố xưa, và đi trên những con đường cũ. Nhưng không còn ai quen thuộc ở những nơi tôi quen thuộc ấy. Những con đường, những quán xá đã đổi tên. Dù vậy, ký ức còm cõi của tôi vẫn có thể nhận ra được từng gốc cây, từng mặt đường , từng bầu trời cũ. Tôi cũng có về ngồi lại chỗ tôi và em chia nhau chai bia 33 cuối cùng lần cuối cùng của buổi chiều cuối cùng ấy trên vỉa hè Lê Lợi. Phía cuối đường, cũng vẫn một đám đông, cái đám đông đã nuốt chửng em buổi chiều hôm ấy. Và trời Sài Gòn vẫn những cơn mưa vội vã , vẫn những chiếc dù xanh đỏ, vẫn những đôi trai gái đứng trú mưa dưới hàng hiên , vẫn những bàn tay nắm chặt lấy nhau hạnh phúc. </em></p>
<p><em>Qua làn nước mưa nhòe nhọet trên mặt, tôi thóang thấy cái bóng tôi và em trong số những đôi trai gái ấy.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p>Chiều nay, tôi tìm lại được bóng tôi. Chiều nay, tôi bắt gặp lại bóng em. Cái bóng của những hoài vọng không bao giờ trở thành thực tại.</p>
<p>Chiều nay, tôi nhìn lại tuổi trẻ đã qua đi. Tôi ước gì mình có thể bắt đầu lại đời mình . Chiều nay, tôi ý thức hơn lúc nào hết , buổi chiều là hoàng hôn.</p>
<p><em>Hoàng hôn một ngày.</em></p>
<p><em>Hoàng hôn một đời.</em></p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/toiso/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
